Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát về Trường Đại học Hà Nội

Trường Đại học Hà Nội là một trong những trường đại học công lập đầu tiên của Thủ đô Hà Nội, Trường Đại học Hà Nội (tên gọi tắt là HANU) luôn gắn kết kinh nghiệm giảng dạy với giá trị di sản văn hóa giàu truyền thống của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Với diện tích 8 héc-ta và tọa lạc ở quận Nam Từ Liêm, phía Đông Nam của thành phố. Quần thể kiến trúc và cảnh quan các tòa nhà giảng đường với trang thiết bị hiện đại và một không gian xanh cho sinh viên.

Là một trường đại học có truyền thống lâu đời về giảng dạy ngoại ngữ, Trường Trường Đại học Hà Nội tự hào là một môi trường đa văn hóa nhưng vẫn giữ vững các giá trị bản sắc Việt Nam, nơi ươm mầm những công dân toàn cầu, đầy sáng tạo và năng động vì sự phát triển bền vững. Trường Đại học Hà Nội luôn cam kết mạnh mẽ quốc tế hóa các chương trình giảng dạy của mình nhằm đưa chất lượng đào tạo đạt chuẩn khu vực và quốc tế trong tương lai. Hiện nay, Trường Đại học Hà Nội đang đào tạo 11 ngành ngoại ngữ (gồm cả tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài), 9 chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh ở các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Nhờ thế mạnh ngoại ngữ, Trường cũng đang triển khai 13 chương trình đào tạo liên kết với các trường đại học uy tín của Anh, Úc, Áo, Italia, Vương quốc Bỉ. Hanu coi sinh viên là trung tâm của sự phát triển. Với đội ngũ giảng viên tài năng, giàu tâm huyết và đội ngũ cán bộ, chuyên viên luôn hết lòng chăm lo cho sinh viên.

Trong công tác quản lý sinh viên nội trú những năm qua nhà trường đã có nhiều sự đổi mới, từ tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đến những chính sách hỗ trợ cho sinh viên đóng góp không nhỏ trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Nhà trường đặc biệt là nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên, tạo được nhiều sân chơi, môi trường lành mạnh cho sinh viên và trau dồi những kỹ năng cần thiết phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai.

Những năm qua nhà trường đã đầu tư về cơ sở vật chất, sửa chữa và cải tạo khu nội trú cho sinh viên. Đã đưa vào khai thác và sự dùng với 245 phòng và 09 khu ký túc xá (khu nội trú) với gần 2.200 chỗ ở cho sinh viên. Được lắp đặt điều hòa, tủ lạnh, bếp.. phục vụ điều kiện về cơ sở vật chất cho sinh viên. Ngoài việc chăm lo về cơ sở vật chất cho sinh viên, phòng Quản lý SV nội trú, Phòng Công tác SV, Đoàn thanh niên và các đơn vị phòng ban khác trong nhà trường đã thường xuyên tổ chức những hoạt động thiết thực cho sinh viên tại khu nội trú đạt được một số kết quả sau:

Công tác giáo dục truyền thống được triển khai với nhiều nội dung phong phú nhân các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại của Nhà trường, tổ chức kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, gặp mặt lãnh đạo Đoàn Thanh niên Trường Đại học Hà Nội các thời kỳ; chào mừng kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2028) với chủ đề “Tuổi trẻ Trường Đại học Hà Nội nhớ lời di chúc theo chân Bác”; Tổ chức chương trình thắp nến tri ân, thăm hỏi, tặng quà cho những gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với Cách mạng, gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thông qua các đợt tình nguyện tại Huyện Thanh Oai, Thái Bình, Hòa Bình, Hà Nam nhân dịp ngày 27/7; Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11; các liên chi đoàn và chi đoàn đã tổ chức thiết thực, hiệu quả các hoạt động như: Các cuộc thi; Hội diễn văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; hội trại nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn thông qua đó giúp sinh viên hiểu và tự hào về truyền thống cách mạng của đất nước, bồi đắp lòng yêu nước trong đoàn viên, sinh viên. Chương trình Tết Việt, Tham quan Bảo tàng lịch sử Quốc gia; Bảo tàng Hồ Chí Minh; Bảo tàng Phòng không Không Quân và các hoạt động ngoại khóa khác của sinh viên… Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Thực hiện các nội dung chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà trường đã bám sát các yêu cầu đề ra và triển khai kế hoạch về tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân đầu khóa” cho sinh viên hệ đào tạo chính quy, khóa 2027-2023. Nội dung cụ thể: Phổ biến quy chế đào tạo, quy chế sinh viên, chế độ chính sách, công tác Đoàn TN, Hội SV; tuyên truyền giáo dục cho sinh viên thực hiện tốt các quy định về an ninh chính trị, trật tự an toàn trong trường học, chấp hành nghiêm các chủ trương chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước; an toàn khi tham gia giao thông; tuyên truyền nội dung chủ quyền Biển đảo và chiến lược biển đảo Việt Nam…

Quản lý chặt chẽ các hoạt động ngoại khóa, văn hóa, văn nghệ đối với các câu lạc bộ sinh viên, bảo đảm tốt về chính trị, tư tưởng và tạo sân chơi lành mạnh trong sinh viên.

Tuyên truyền, giáo dục sinh viên trong toàn trường thực hiện tốt các quy định về an toàn giao thông dịp hè, Quốc khánh 2/9; Tết dương lịch, Tết Nguyên đán; triển khai dự án an toàn giao thông của Quỹ API. Quản lý, giáo dục chính trị tư tưởng đối với sinh viên thông qua môi trường mạng, viết bài tuyên truyền trên website Nhà trường

Triển khai công tác phối hợp liên ngành với cơ quan công an địa phương thực hiện Thông tư liên tịch 06/2023/TT-LT giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an (Kế hoạch, quy chế phối hợp, giao ban, phối hợp kiểm tra,..). Xây dựng được mô hình trường học an toàn. Thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội theo Quyết định số 46/2015/QĐ –BGDĐT ngày 20/08/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Nhà trường thường xuyên tuyên truyền công tác xây dựng văn hóa học đường, môi trường sư phạm lành mạnh, văn minh thông qua các hoạt động cụ thể hóa cuộc vận động “Xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên Việt Nam thời kỳ đổi mới”; các mô hình “Cổng trường an toàn”, “Trường học không khói thuốc”, “Giảng đường xanh – Ký túc xá xanh; “Nói không với tệ nạn xã hội” xây dựng một môi trường sư phạm, môi trường văn hoá lành mạnh, cảnh quan “xanh, sạch, đẹp” và thực hiện tốt quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học, khu giảng đường, ký túc xá, nhà ăn, văn hóa ứng xử nơi công cộng cho giảng viên và sinh viên. Nhà trường đưa nội dung giáo dục, phổ biến về các quy định, quy chế, khen thưởng kỷ luật, quyền và nghĩa vụ của sinh viên. Nhà trường sử dụng các khẩu hiệu trong khuôn viên trường có nội dung phù hợp như: “Sáng tạo trong dạy và học”; “Năng động, sáng tạo, hội nhập và phát triển” “Tầm nhìn sứ mệnh”; “Giá trị cốt lõi”; ngoài ra, cán bộ, giảng viên mặc đồng phục trong các buổi lễ trọng đại; các giảng đường có biển chỉ dẫn; nội quy sử dụng phòng học; thang máy; văn hóa xếp hàng khi sử dụng thanh máy; không hút thuốc; nội quy phòng chống cháy nổ; hòm thư góp ý…

2.2 Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hà Nội Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Đánh giá thực trạng quản lý thực hiện quy chế SV nội trú của sinh viên và thực trạng hoạt động ngoài giờ chính khóa của sinh viên trường Đại học Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 2 nhóm đối tượng là sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên.

Mục đích của việc khảo sát nhằm thu thập những dư liệu thực tế về thực trạng công tác quản lý thực hiện quy chế SV nội trú của sinh viên trường Đại học Hà Nội, việc này được thực hiện với 2 mẫu phiếu dành cho 2 nhóm đối tượng khác nhau: cán bộ quản lý, giảng viên (mẫu 01) và sinh viên (mẫu 02)

Tại mẫu khảo sát 01, chúng tôi chọn khảo sát với cán bộ tại các phòng ban chức năng như: Phòng Công tác sinh viên, Phòng Quản lý đào tạo, Phòng Quản lý SV nội trú và các Khoa đào tạo trong nhà trường với tổng số 113 phiếu/478 chiếm tỉ lệ 40% cán bộ, giảng viên nhà trường.

Với mẫu 02, chúng tôi chọn khảo sát trên toàn trường và số lượng phiếu thu được là 399 phiếu, mẫu khảo sát được rải đều tại khu nội trú trong đó bao gồm sinh viên năm I đến sinh viên năm thứ IV, với 13 khoa chuyên ngành đào tạo khác nhau.

2.2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, GV, sinh viên về hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Nhận thức luôn đóng vai trò quan trọng, khi nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thì cán bộ quản lý, giáo viên thì sẽ thực hiện tốt các chức năng quản lý như: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra giám sát hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú. Còn đối với sinh viên, khi nhận thức đầy đủ được vai trò và ý nghĩa của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú và sự cần thiết khi tham gia vào các hoạt động này thì việc tham gia sẽ tích cực hơn, tiếp thu hiệu quả hơn, đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

  • Bảng 2.1 Mức độ cần thiết của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú
  • Biều đồ 2.1 Cơ cầu mức độ cần thiết của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Theo kết quả khảo sát tại bảng 2.1 và biểu đồ 2.1 phản ảnh về thực trạng nhận thức của sinh viên và cán bộ quản lý và GV về sự cần thiết của hoạt động thực hiện quy chế SVNT, theo như kết quả ta thấy đa số cán bộ quản lý và GV đều đánh giá cao sự cần thiết của hoạt động này. Ở mức độ “Rất cần thiết” thì cán bộ quản lý và GV thì có tỉ lệ lựa chọn là 47.8% và sinh viên là 35.9%, còn ở mức độ “Cần thiết” thì sinh viên lựa chọn là 51.9% và cán bộ quản lý & GV là 38.1%. Điều này cho thấy hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú là một hoạt động cần thiết đối với sinh viên tại khu nội trú và còn ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đào tạo toàn diện của nhà trường. Hoạt động này giúp sinh viên, tự rèn luyện bản thân, tự hoàn thiện mình từ chính cuộc sống sinh hoạt hằng ngày tại khu nội trú đến giảng đường lớp học. Sinh viên có ý thức tuân thủ các quy định, nội quy cũng như thực hiện tại ký túc xá. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại tỉ lệ lựa chọn ở mức độ đánh giá “Không cần thiết” như theo đánh giá của một số cán bộ quản lý là 5.3% và của sinh viên là 4.3%. Điều này cũng là cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các kế hoạch hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú cũng như sự tham gia của sinh viên vào hoạt động này.

Kết quả nhận thức của cán bộ quản lý, GV, sinh viên về hoạt động thực hiện quy chế SVNT trên cho thấy rằng mức độ Rất cần thiết và cần thiết của hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú còn khiêm tốn. Quản lý hoạt động này là Rất cần thiết đối với cán bộ quản lý chiếm tỉ lệ 47.8%, Sinh viên đống ý Cần thiết chiếm tỉ lệ 51,9%. Từ thực tiễn trên cho thấy nhà quản lý cần nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức, kỹ năng cho tập thể đội ngũ cán bộ nhân viên trong cơ sở, đồng thời trang bị các cơ sở vật chất đáp ứng được yêu cầu của hoạt động quản lý sinh viên nội trú. Làm rốt công tác tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức cho cán bộ quan lý, giáo viên và sinh viên để họ thấy được mức độ sự cần thiết của hoạt động quản lý sinh viên nội trú đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả trong qua trình quản lý sinh viên.

2.2.2 Mục tiêu của hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Khi các sinh viên bước chân vào các trường ĐH, CĐ thì đã có sự thay đổi rất lớn về môi trường sống và học tập. Đặc biệt là trong điều kiện xa nhà, phải tự lập, sống trong môi trường thành phố có nhiều sự phức tạp. Nếu được ở nội trú trong ký túc xá là môi trường tập thể có nhiều mối quan hệ phức tạp, đây cũng là dịp để thử thách sinh viên trong việc phấn đấu, rèn luyện để trưởng thành về nhân cách. Tuy nhiên thử thách này là vô cùng khó khăn đối với mỗi sinh viên trong thời gian ở nội trú. Các em sẽ rất dễ bị sa ngã vào trong các tệ nạn xã hội, sao nhãng việc học hành nếu không có sự nỗ lực, cố gắng và được sự quan tâm giáo dục của nhà trường. Nhân cách của sinh viên được hình thành, chịu tác động, ảnh hưởng một phần của nhiều yếu tố trong môi trường sống nội trú. Vì vậy với mục tiêu đưa ra trong việc khảo sát hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thì kết quả được thể hiện chi tiết tại bảng 2.2

  • Bảng 2.2 Mục tiêu của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Theo như bảng kết quả 2.2 về mục tiêu hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thì tỉ lệ đánh giá “Đúng” là rất cao, đặc biệt là mục tiêu “giúp cho sinh viên tăng cường tính tự học, rèn luyện” có tỉ lệ lựa chọn là 93.8% tiếp đến là các mục tiêu có lựa chọn thấp hơn là 89.6% là ở các yếu tố: Giáo dục tư tưởng, chính trị, đời sống cho sinh viên, hay nâng cao đời sống vật chất tinh thần, gia vào các hoạt động văn hóa, thể thao. Tiếp đến là nhóm mục tiêu của tỉ lệ lựa chọn thấp nhất là từ 80.5% – 81.4% là các yếu tố về rèn luyện ý thức kỷ luật cho sinh viên trong môi trường tập thể hay hoàn thiện nhân cách trong các hoạt động phong trào. Nhìn chung các mục tiêu đưa ra về hoạt động hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú có tỉ lệ lựa chọn cao. Như vậy có thể nói hoạt động này có vai trò quan trọng trong việc quản lý sinh viên tại khu nội trú, mục tiêu của chương trình được sinh viên và cán bộ GV đánh giá cao về mục đích cũng như ý nghĩa của hoạt động. Tuy bên cạnh đó vẫn còn những tỉ lệ lựa chọn “không đúng” với các yếu tố đưa ra từ 10.4%- 19.5%. Đây cũng là tỉ lệ mà các lực lượng xây dựng kế hoạch hoạt động cũng phải lưu tâm, để đưa ra các nội dung, hình thức hoạt động cho phù hợp với các nhóm đối tượng, để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú .

Kết quả của mục tiêu hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đã đạt được yêu cầu đề ra, về các mặt học tập rèn luyện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần, tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ thể thao, hoàn thiện nhân cách vá ý thúc trong môi trường tập thế, tỉ lệ 81%-93%. Điều đó cho thấy sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng thực hiện các mục tiêu đặt ra là rất tốt. Tuy nhiên tỉ lệ cho rằng không đúng mục tiêu của quản lý hoạt động động sinh viên nội trú 20%. Điều này đòi hỏi nhà quản lý tập trung rà soát lại các hoạt động. Rèn luyện được ý thức kỷ luật trong môi trường tập thể để sinh viên thấy được vai trò tầm quan trọng của thực hiện quy chế SV nội trú. Vì vậy, cần phải xây dựng nếp sống khoa học, văn minh, lành mạnh, phát huy tiềm năng to lớn của sinh viên như hoài bão, khát vọng, lòng nhiệt tình cách mạng, nghị lực và ý chí khắc phục khó khăn, sáng tạo và nhanh nhạy trong tiếp thu cái mới. Coi tập thể Nhà trường, tập thể ký túc xá, môi trường nội trú là nơi tốt nhất trong việc giáo dục nhân cách, nếp sống tự quản cho sinh viên nội trú nói riêng và sinh viên Việt Nam nói chung.

2.2.3 Hình thức của hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú

Trong quá trình nội trú tại Kí túc xá, những hoạt động của sinh viên nội trú đươc quy định theo giờ sinh hoạt hàng ngày của sinh viên: Từ 5h30 đến 7 giờ tập thể dục buổi sáng, từ 7 giờ đến 11 giờ 30 sinh viên lên lớp hoặc tự học ở nhà, từ 11 giờ 30 đến 13 giờ ăn uống, nghỉ trưa; từ 13 giờ đến 16 giờ 30 sinh viên lên lớp học hoặc tự học ở nhà, từ 16 giờ 30 đến 19 giờ sinh viên chơi thể thao hoặc sinh hoạt văn hóa văn nghệ; từ 19 giờ đến 23 giờ tự học; từ 23 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau ngủ nghỉ. Bên cạnh việc sinh hoạt theo giờ giấc do Ban Quản lý SV nội trú quy định, sinh viên tham gia các hoạt động do ban quản lý SV nội trú tổ chức: Phong trào phòng tự quản, xây dựng môi trường Ký túc xá an toàn – sạch – đẹp, phong trào an ninh trật tự, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao… Kết quả khảo sát về thực trạng của những hình thức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú này được thể hiện chi tiết tại bảng 2.3 Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

  • Bảng 2.3 Mức độ thường xuyên của các hình thức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Nhìn vào kết quả đánh giá của sinh viên về mức độ thước xuyên của các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú tác giả nhận xét như sau:

Xây dựng phòng tự quản thì cán bộ GV đánh giá ở mức độ rất thường xuyên là 8 ý kiến, thường xuyên là 15 ý kiến và không thường xuyên là 31 ý kiến và tỉ lệ điểm TB là 2,00. Còn đánh giá của nhóm sinh viên thì ở mức độ rất thường xuyên có tỉ lệ lựa chọn là 11 ý kiến và không thường xuyên là 73 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,14.

Hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, cán bộ GV đánh giá ở mức độ rất thường xuyên có 6 ý kiến lựa chọn, không thường xuyên là 23 ý kiến lựa chọn và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,14. Còn sinh viên thì đánh giá ở mức độ rất thường xuyên là 9 ý kiến lựa chọn, không thường xuyên thì có 74 ý kiến lựa chọn và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,13.

Xây dựng nếp sống văn minh, là một nội dung rất có ý nghĩa cho sinh viên, môi trường sống văn minh giúp sinh viên có những ứng xử phù hợp trong môi trường tập thể, tạo được sự đoàn kết thân thiện, giúp đỡ nhau trong học tập, tuy nhiên theo đánh giá của cán bộ GV thì ở độ rất thường xuyên là 5 kiến lựa chọn và không thường xuyên là 27 ý kiến lựa chọn và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,11. Trong khi đó sinh viên lựa chọn ở mức độ rất thường xuyên là 9 ý kiến, không thường xuyên là 85 ý kiến đạt tỉ lệ điểm TB là 2,03.

Xây dựng môi trường xanh sạch đẹp và xây dựng môi trường sư phạm với 2 nội dung này thì nhóm cán bộ GV lựa chọn ở mức độ rất thường xuyên là 5-7 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là từ 2,16-2,18. Trong khi đó nhóm sinh viên đánh giá ở mức độ rất thường xuyên từ 5-10 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,17 – 2,20.

Giữ gìn an ninh trật tự là một nhiệm vụ quan trọng vì sự ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện ăn ở, sinh hoạt và học tập của sinh viên tại khu nội trú, tại yếu tố này thì đánh giá của nhóm cán bộ GV ở mức độ rất thường xuyên là 5 ý kiến và không thường xuyên là 27 ý kiến, đạt tỉ lệ điểm TB là 2,18. Còn đối với sự đánh giá của sinh viên ở mức độ rất thường xuyên là có 2 ý kiến và không thường xuyên là 57 ý kiến, đạt tỉ lệ điểm TB là 2,20.

Hoạt động hỗ trợ học tập rèn luyện của sinh viên tại khu nội trú cũng được cán bộ GV đánh giá ở mức độ rất thường xuyên là từ 1-4 ý kiến và không thường xuyên từ 22-27 ý kiến lựa chọn, đạt tỉ lệ điểm TB từ 2,00. Sinh viên đánh giá ở mức độ rất thường xuyên là 2 ý kiến và không thường xuyên là 68 ý kiến đạt tỉ lệ điểm TB là 2,15.

Tổng thể về tỉ lệ đánh giá hình thức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú tuy đã cố gắng thực hiện những hoạt động hữu ích cho sinh viên với nhiều hình thức đa dạng, để truyền tải được mục đích, ý nghĩa hoạt động đến với sinh viên. Tuy nhiên với kết quả khảo sát thu được thì điểm TB của các hoạt động này chỉ đáng giá ở mức độ thỉnh thoảng. Điều này cũng đặt ra một vấn đề rất lớn trong việc nâng cao chất lượng hoạt động cũng như năng lực quản lý để nâng cao hiệu quả của hoạt động của nội dung này.

2.2.4 Thực trạng về sự phù hợp của nội dung hoạt động thực hiện quy chế sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

  • Bảng 2.4 Đánh giá về sự phù hợp của nội dung hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Phân tích tại bảng 2.4 ta thấy có sự đánh giá về mức độ phù hợp của các hoạt động về thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hà Nội.

Công tác xây dựng phòng tự quản tại khu nội trú, với ý kiến đánh giá của Cán bộ giáo viên thì ở mức độ rất phù hợp thì có 12 ý kiến lựa chọn, phù hợp là 14 ý kiến nhưng không phù hợp thì lại có 28 ý kiến và đạt giáo trị trung bình là 2.09, so sánh sự đánh giá của sinh viên ở công tác này thì ở mức độ rất phù hợp thì chỉ có 10 ý kiến lựa chọn và phù hợp là 121 ý kiến và đạt giá trị trung bình là 2.43. Trong công tác này thường xuyên có những hoạt động đánh giá, chấm điểm các phòng ở, làm cơ sở để đánh giá các phòng ở đạt danh hiệu phòng tự quản trong năm.

Công tác văn nghệ, thể dục thể thao được cán bộ GV đánh giá ở mức độ rất phù hợp có 8 ý kiến lựa chọn là rất phù hợp và 9 kiến là phù hợp và có 19 ý kiến đánh giá là không phù hợp, ở nội dung hoạt động này đạt giá trị trung bình là 2,05. Bên cạnh đó với sự đánh giá về sự phù hợp của các hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú thì ở mức độ rất phù hợp sinh viên có 10 ý kiến và phù hợp là 121 ý kiến và không phù hợp là 44 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2,34. Điều này cho thấy sự đáng giá của sinh viên về công tác văn nghệ, thể dục thể thao có sự tích cực hơn, đây cũng chính là hoạt động bề nổi luôn được sinh viên hưởng ứng tích cực. Ngoài công tác tổ chức cho các em tham gia thể dục thể thao vào các buổi sáng và chiều hàng ngày trong tuần, phong trào văn hóa văn nghệ – thể dục thể thao còn được triển khai quy mô trong các ngày lễ lớn.

Công tác xây dựng nếp sống văn minh và môi trường xanh sạch sẽ, hoạt động này cũng được quan tâm và tổ chức thường xuyên với các hình thức phù hợp như: Sắp xếp đồ đạc trong phòng, vệ sinh phòng ở, vệ sinh lối đi nhằm giúp các em có lối sống ngăn nắp, tác phong nhanh nhẹn, biết giữ gìn vệ sinh chung. Mỗi tháng thường tổ chức ngày chủ nhật xanh toàn khu nội trú. Sinh viên khu nội trú nhiệt tình hưởng ứng “Giờ trái đất”, “Ngày môi trường thế giới”… cùng thanh niên địa phương làm công tác “Chủ nhật xanh” trên địa bàn phường và xung quanh khu nội trú. Với công tác này cán bộ GV đánh giá đạt tỉ lệ trung bình là 1,96-2,02. Còn sự đánh giá của sinh viên thì đạt tỉ lệ trung bình là từ 2,08 -2,16.

Công tác xây dựng môi trường sư phạm và giữ gìn an ninh trật tự tại khu nội trú, công tác này có ý nghĩa đối với việc thực hiện quy chế sinh viên nội trú, việc này giúp cho việc giáo dục sinh viên có ý thức trách nhiệm với nơi cư trú, giữ gìn tài sản cá nhân và tập thể, giữ gìn nơi ở sạch sẽ, có lòng nhân ái sống với mọi người xung quanh. Hoạt động này nhằm xây dựng những phòng ở xuất sắc những cá nhân điển hình để tuyên dương trong những lần tổng kết năm học. Môi trường an ninh tại khu nội trú lý tưởng sẽ giúp sinh viên yên tâm học tập và rèn luyện, tu dưỡng đạo đức. Với công tác này cán bộ GV đánh giá ở mức độ rất phù hợp thì có 10 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 1,96 -1,98. Còn ở sự đánh giá của sinh viên ở mức độ rất phù hợp thì có 9 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là từ 2,27 – 2,37. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Hoạt động hỗ trợ sinh viên tự học trong khu nội trú phát triển nhiều các dịch vụ phục vụ sinh viên, cũng như sinh viên của trường. Một số dịch vụ điển hình như cantin, nhà giữ xe, internet, photo, in ấn, máy giặt, chi nhánh ngoại ngữ, tin học, phòng tự học cho sinh viên, tạo một không gian cho sinh viên học tập ngoài giờ lên lớp, hoặc các chương trình khen thưởng cho sinh viên có những thành tích học tập cao trong năm học…. Tại công tác này ở mức độ đánh giá rất phù hợp của cán bộ GV là từ 9-11 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là từ 1,95-1,96. Còn đối với sinh viên khi đánh giá ở công tác này thì có 137-208 ý kiến về mức độ rất phù hợp và đạt điểm trung bình là 2,16-2,27.

Kết quả đánh giá về sự phù hợp của nội dung hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của cán bộ, giảng viên và sinh viên có sự khác nhau, do cách nhìn nhận và tiêu chí về sự phù hợp của mỗi cá nhân khác nhau. Tuy nhiên, nếu xét một cách toàn diện kết quả đó cũng phản ánh thực trạng các hoạt động thực hiện quy chế sinh viện nội trú còn hạn chế bất cập, chưa phù hợp. Điều này cũng đặt ra vấn đề về sự đổi mới thường xuyên các hoạt động về mặt hình thức cũng như nội dung để nâng cao hơn nữa hiệu quả cũng như chất lượng hoạt động của chương trình, đáp ứng được mục tiêu giao dục của nhà trường cũng như việc rèn luyện tu dưỡng của sinh viên tại khu nội trú.

2.2.5 Thực trạng về mức độ hiệu quả của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

  • Bảng 2.5 Mức độ hiệu quả của hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú

Theo như kết quả khảo sát thể hiện tại bảng 2.5 về mức độ hiệu quả của các hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú, được đánh giá bởi 2 nhóm đối tượng là cán bộ GV và sinh viên;

Công tác xây dựng phòng tự quản, xây dựng nếp sống văn minh và môi trường xanh sạch, đẹp với nhiều hoạt động tiêu biểu như: Tổ chức các phong trào xây dựng phòng ở kiểu mẫu; giữ gìn vệ sinh nơi ở; thực hiện cửa không bụi, cầu thang, hành lang không màng nhện; nơi ở và nơi làm việc gọn gàng, sạch sẽ văn minh. Ngoài ra Ban Quản lý SV nội trú phối hợp với Phòng Công tác sinh viên, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên Trường tổ chức phong trào thi đua “Xây dựng nếp sống văn minh và phòng ở ngăn nắp, sạch đẹp” trong sinh viên nội trú, hay các cuộc thi “Sinh viên nội trú với phòng chống tệ nạn xã hội”, “Thi phòng ở kiểu mẫu” “Phong trào 5S”…, đã được tổ chức nhiều năm và được sinh viên hưởng ứng tham gia tích cực. Các cuộc thi là diễn đàn để sinh viên bày tỏ những quan điểm, nguyện vọng của mình đối với nhà trường và xã hội là dịp để phát động thi đua trong sinh viên nội trú, làm thay đổi nhận thức và ý thức làm chủ, trách nhiệm trong việc xây dựng môi trường sống ở ký túc xá của sinh viên. Hoạt động mang ý nghĩa thiết thực nhằm rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, đồng thời giúp sinh viên trau dồi kỹ năng sống tập thể, đoàn kết xây dựng khu nội trú văn minh, trật tự. Với các công tác này thì mức độ đánh giá của cán bộ GV về sự hiểu có tỉ lệ trung bình là từ 1,89 -2,27. Còn đối với sự đánh giá của sinh viên về sự hiệu quả của các công tác này có tỉ lệ trung bình từ 2,08-2,21. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Tiếp đến là công tác văn nghệ, thể dục thể thao, ban tự quản hàng tuần đều tổ chức chương trình nhịp cầu âm nhạc, hoạt động này là cầu nối để các bạn sinh viên trong khu nội trú thể hiện tình cảm và những lời chúc tốt đẹp dành cho nhau. Cuộc thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20-11, sinh viên Kí tức xá hỗ trợ tích cực cho hội thao quốc phòng quận Nam Từ Liêm, tham gia chủ nhật xanh cùng thanh niên. Tổ chức giải hội thao sinh viên khu nội trú nhân ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 26-3 với các nội dung thi: Cầu lông, bóng đá nam, nữ, đá cầu, …được nhiều sinh viên hưởng ứng tham gia. Ngoài ra trong các hoạt động thể thao hàng ngày tại khu nội trú thu hút đông đảo sinh viên xuống sân tham gia: Bóng đá, cầu lông, đá cầu, bóng bàn…, tạo không khí sôi nổi, hào hứng thực sự là sân chơi bổ ích, lành mạnh cho sinh viên giải trí, rèn luyện sức khỏe sau những giờ học tập căng thẳng. Công tác này được cán bộ GV đánh giá đạt tỉ lệ trung bình về sự hiệu quả trong các hoạt động là 2,12 và sinh viên đánh giá có tỉ lệ trung bình là 2,34. Đây là công tác mà sinh viên đánh giá có tỉ lệ trung bình cao nhất so với các công tác khác của các hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Công tác xây dựng môi trường sư phạm và giữ gìn an ninh khu nội trú, triển khai và thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội theo Quyết định số 46/2015/QĐ-BGDĐT ngày 20/08/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Hay triển khai công tác phối hợp liên ngành với cơ quan công an địa phương thực hiện Thông tư liên tịch số 06/2023/TT-LT giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Công an (kế hoạch, quy chế phối hợp, giao ban, phối hợp kiểm tra,..). Ngoài ra khu nội có quy chế phối hợp với công an quận Nam Từ Liêm trong công tác đảm bảo an ninh trật tự khu nội trú, mọi đối tượng bên ngoài vào khu nội trú gây mất an ninh trật tự đều được báo công an địa phương vào giải quyết. Đối với công tác này cán bộ GV đánh giá có tỉ lệ trung bình là 1,96-2,03. Còn đối với sự đánh giá của sinh viên ở công tác này có tỉ lệ trung bình là; 2,27-2,37.

Công tác hoạt động tự học và hỗ trợ sinh viên đã có nhiều biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn để sinh viên có trách nhiệm với nơi cư trú, biết giữ gìn tài sản cá nhân, tập thể, giữ gìn vệ sinh nơi ở và biết sống hòa đồng tập thể, phong trào tự học, câu lạc bộ học thuật, câu lạc bộ nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên như CLB Tiếng Anh (VOH), CLB Thuyết trình (FS), CLB Kế toán, CLB Du lịch, CLB Tiếng Trung.

Đối với các hoạt động hỗ trợ như: Căng tin phục vụ các bữa ăn trong ngày theo phương thức tự chọn, đồ ăn nhanh, các món ăn được chế biến đa dạng, phong phú, thay đổi theo ngày và theo mùa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng. Nhà xe trang bị hệ thống camera đảm bảo an toàn, quản lý xe ra vào bằng thẻ điện tử thông minh, thuận tiện cho người gửi xe. Phòng tập cho sinh viên được duy trì thường xuyên. Điểm đánh giả tỉ lệ trung bình của cán bộ GV đối với hoạt động này là từ 1,92- 2,06, còn đánh giá của sinh viên có tỉ lệ trung bình là 2,16-2,27.

Như vậy theo như kết quả khảo sát về mức độ hiệu quả của hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú cũng đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên nhìn vào tỉ lệ đánh giá của các công tác thì vẫn chỉ ở mức độ trung bình, các hình thức hoạt động mang tính hình thức, chưa thật sự sát sao, chưa phổ rộng tới toàn bộ sinh viên khu nội trú. Điều này cũng là những hạn chế, tồn tại trong công tác này, và yêu cầu đòi hỏi về những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng hoạt động.

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hà Nội Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

2.3.1 Thực trạng quản lý việc lập kế hoạch thực hiện quy chế sinh viên nội trú

  • Bảng 2.6 Đánh giá việc quản việc lập kế hoạch hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Trên cơ sở kế hoạch đã được lập, phòng công tác SV, phòng Quản lý SV nội trú là đơn vị có trách nhiệm giúp Hiệu trưởng tổ chức thực hiện việc lập kế hoạch thực hiện quy chế sinh viên nội trú. Cụ thể công tác lập kế hoạch thực hiện trên các phương diện sau:

Phân công nhiệm vụ cho các đơn vị, bộ phận chức năng trong việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú cho sinh viên theo từng năm học. Việc này được phân công đối với các đơn vị liên quan đến công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú như phòng Công tác SV, Ban quản lý kí tức xá; Đoàn Thanh niên; Hội sinh viên…ngoài ra các cán bộ giáo viên là người trực tiếp phụ trách làm công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thông qua các văn bản, thông báo về từng đơn vị, cá nhân liên quan đến hoạt động. Tại công tác này thì tỉ lệ lựa chọn ở mức độ tốt là 16 ý kiến, mức độ khá là 29 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2.35.

Công tác xây dựng kế hoạch khảo sát sinh viên về hoạt động thực hiện quy chế nội trú: Mục đích của công tác này là cơ sở khách quan dựa trên ý kiến của sinh viên và cán bộ GV về hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, theo từng hoạt động, từ nhóm đối tượng cụ thể, mà từ đó có thể xây dựng nội dung và hình thức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú phù hợp và hiệu quả. Ở công tác này đánh giá ở mức độ tốt có tỉ lệ lựa chọn là 22 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2,63.

Công tác xây dựng bản kế hoạch tổng quát hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú theo kỳ, năm học của nhà trường bao gồm: Mục tiêu, nội dung hình thức tổ chức, nhân sự tham gia, dự trù kinh phí, phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất, đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý lập kế hoạch, công tác này giúp nhà quản lý có cái nhìn bao quát về hoạt động nào sẽ được thực hiện trong năm học: Hình thức tổ chức, kinh phí hỗ trợ, cũng như nhân sự tham gia, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động. Với công tác này cán bộ GV đánh giá ở mức độ tốt có 10 ý kiến và khá là 37 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2.49.

Công tác xây dựng kế hoạch tập huấn hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú: Sau khi đã có một kế hoạch tổng quát về hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, thì một công tác quan trọng tiếp theo là tập huấn cho các đơn vị, cá nhân liên quan tới công tác này, đối với các hoạt động cụ thể, cách thức thực hiện và triển khai đối với các chương trình, các nhóm đối tượng sinh viên cụ thể, việc này giúp các đơn vị và cá nhân nắm bắt được ý nghĩa, mục đích và nội dung của các hoạt động thực hiện. Công tác này được đánh giá ở mức độ tốt là 12 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2,41.

Công tác xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú: Trong công tác này được đánh giá ở mức độ tốt có 13 ý kiến lựa chọn và đạt tỉ lệ trung bình là 2,46.

Công tác xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động cụ thể, một số hoạt động mẫu điển hình: Công tác này nhằm cụ thể hóa các hoạt động theo nội dung kế hoạch đã được xây dựng, ngoài ra sẽ đưa ra một số hoạt động mẫu điển hình, về hình thức triển khai, nội dung cụ thể và những kết quả đạt được từ hoạt động này, giúp cho nhà quản lý và cá nhân trực tiếp phụ trách các hoạt động, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho các hoạt động tiếp theo. Tại đây thực trạng này được đánh giá ở mức độ tốt là 21 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm trung bình là 2,58.

Nhìn chung từ kết quả khảo sát Thực trạng quản lý việc lập kế hoạch hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thu được trong việc đánh giá thực trạng quản lý việc lập kết hoạch hoạt động thực hiện quý chế SV nội trú thì trong đó có 2 công tác đạt mức độ khá là: Xây dựng kế hoạch khảo sát và triển khai các hoạt động cụ thể, còn các công tác khác thì chỉ đạt tỉ lệ ở mức độ trung bình.

2.3.2 Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện quy chế sinh viên nội trú Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

  • Bảng 2.7 Đánh giá hoạt động quản việc tổ chức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Trong đó: Tốt: 3,27 <x £ 4 điểm; Khá: 2,52 < x £ 3,26 điểm; Trung bình: 1,76 < x £ 2,51 điểm;  Yếu : 1 £ x £ 1,75 điểm.

Đây là cũng là một hoạt động cốt lõi trong việc thực hiện chức năng quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú. Các hoạt động này giúp nhà quản lý đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu, những hạn chế tồn tại trong quản lý hoạt động của mình từ đó điều chỉnh các biện pháp, hoạt động của mình hiệu quả hơn. Kết quả khảo sát thực trạng việc tổ chức quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú được thể hiện chi tiết tại bảng 2.8

Theo như kết quả khảo sát cho thấy yếu tố khảo sát về việc thông báo kế hoạch chung của nhà trường về nội dung quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú và sự hướng dẫn cho các đơn vị tổ chức trong nhà trường về việc triển khai các hoạt động, tại yếu tố này tỉ lệ lựa chọn ở mức độ tốt là 16 ý kiến và mức độ khá là 29 ý kiến và yếu là 21 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2.35. Tiếp đến là yếu tố phân công nhiệm vụ cho các đơn vị tổ chức triển khai, hoạt động này nhằm cụ thể hóa về nhiệm vụ và trách nhiệm đối với các đơn vị, tổ chức phụ trách quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú cho sinh viên, theo nội dung kế hoạch đã được xây dựng, tại yếu tố này có tỉ lệ lựa chọn ở mức độ tốt là 22 ý kiến và mức độ khá là 32 ý kiến và đạt tỉ lệ trung bình là 2.63. Sau khi các đơn vị tổ chức, được phân công nhiệm vụ thực hiện các chức năng trong kế hoạch triển khai các hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú, thì nhiệm vụ tiếp theo là cụ thế hóa các chương trình tại đơn vị mình và triển khai phân công trách nhiệm tới từng cá nhân cấp dưới, người phụ trách trực tiếp quản lý với các hoạt động ngoại khóa cụ thể và với yếu tố này thì tỉ lệ lựa chọn ở mức độ tốt là 10 ý kiến và ở mức độ khá là 37 ý kiến và tỉ lệ điểm TB là 2,49. Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho quản lý hoạt động thực hiện quy chế SVNT, đây là yếu tố cần thiết, là điều kiện đảm bảo cho hoạt động ngoại khóa, tại yếu tố này có tỉ lệ lựa chọn ở mức độ tốt là 12 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2.41. Những yếu tố tiếp theo các yếu tố khảo sát về tổ chức tập huấn cho các đơn vị và tổ chức tham gia quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú và dự giờ một số chương trình hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú do các đơn vị và tổ chức trong nhà trường triển khai hay lựa chọn một số chương trình hiệu quả làm mẫu cho các đơn vị khác trong nhà trường, và trên thực tế khi triển khai các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú. Các yếu tố này cũng rất ít khi triển khai chính vì vậy là tỉ lệ khi lựa chọn ở mức độ tốt có từ 2-13 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,46-2,58. Và tiêu chí kinh phí cho hoạt động thực hiện quy chế SVNT cũng vậy, việc này chủ yếu dựa vào quy chế của nhà trường và cũng chưa thoải mãn nhu cầu của tất cả các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, cũng như nhiệm vụ phụ trách tại các đơn vị liên quan và tỉ lệ đánh giá tại tiêu chí này ở mức độ tốt là 12 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2.32.

Như vậy thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện quy chế sinh viên nội trú chưa đồng đều giữa các yếu tố hoạt động, có sự chênh lệch giữa các nhóm mà ở đó chỉ có 2 công tác đạt tỉ lệ điểm TB ở mức độ khá là: Phân công nhiệm vụ cho các đơn vị tổ chức trong việc triển khai hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú và lựa chọn một số chương trình hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú hiệu quả làm mẫu cho hoạt động tiếp theo. Còn các công tác còn lại thì chỉ đạt ở mức độ trung bình.

2.3.3 Thực trạng quản lý chỉ đạo hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú

  • Bảng 2.8 Đánh giá kết quả quản chỉ đạo hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú

Công tác chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của sinh viên. Thông qua quá trình các nhà quản lý, cán bộ GV tác động, ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của sinh viên sẽ đảm bảo cho các mặt hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đi đúng hướng và đạt được mục tiêu, đạt được hiệu quả quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú và hoạt động GD&ĐT. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Theo kết quả khảo sát tại bảng 2.9 ta nhận thấy rằng, trong các nội dung đưa ra để đánh giá về thực trạng quản lý chỉ đạo hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thì các công tác này chỉ đạt ở mức độ trung bình cụ thể là:

Đưa ra các nguyên tắc hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đó chính là: Đảm bảo tính phù hợp với chính trị, tính dân chủ, tính khoa học, tính kế hoạch, tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả. Tuy nhiên tại nội dung này thì đánh giá ở mức độ tốt chỉ có 12 ý kiến, mức độ khá có 24 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,35.

Mục tiêu, mục đích, yêu cầu của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú được đánh giá ở mức độ tốt có 9 ý kiến và khá có 18 ý kiến và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,19. Điều này cho thấy các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú chưa đưa ra hay là chưa cụ thể các mục tiêu của từng hoạt động, yêu cầu của các hoạt động đó là gì? Điều này cũng sẽ ảnh hưởng tới quá trình thực hiện các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú.

Giám sát, điều chỉnh các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú như: Nội dung, hình thức, phương pháp nhằm mục tiêu đề ra, nội dung này có tỉ lệ điểm TB cao nhất trong các yếu tố đánh giá đưa ra là 2,52 đạt được ở mức độ khá, đây là một công tác quan trọng trong quá chỉ thực hiện việc quản lý chỉ đạo hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú. Quá trình này giúp nhà quản lý nhận biết được các vấn đề phát sinh, điều chỉnh các hoạt động, cũng như xử lý các tình huống khác xẩy ra trong quá trình quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú.

Đưa ra các cơ chế phối hợp với các đơn vị chức năng và tổ chức trong quá trình thực hiện hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, công tác này được đánh giá ở mức độ tốt là 8 ý kiến và 33 ý kiến đánh giá ở mức độ khá và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,33.

Động viên, khen thưởng kịp thời đối với các bộ phận tổ chức triển khai hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, nội dung hoạt động này đánh giá ở mức độ tốt cũng chỉ có 11 ý kiến và mức độ khá là 15 ý kiên và đạt điểm TB là 2,03.

Như vậy thực trạng quản lý chỉ đạo hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú nhìn chung mới chỉ đạt ở mức độ trung bình, điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú tại Trường Đại học Hà Nội. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

2.3.4 Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

  • Bảng 2.9 Kết quả thực trạng quản việc kiểm tra đánh giá hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Trong đó: Tốt: 3,27 <x £ 4 điểm; Khá: 2,52 < x £ 3,26 điểm; Trung bình: 1,76 < x £ 2,51 điểm;  Yếu : 1 £ x £ 1,75 điểm.

Qua bảng khảo sát 2.9 về thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú với các tiêu chí khảo sát được đưa ra, trong đó có các yếu tố như: Kiểm tra việc đảm bảo nguyên tắc, mục tiêu, nội dung của hoạt động ngoài giờ chính khóa trong quá trình triển khai, hay sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và kinh phí sử dụng, hay điều chỉnh những sai lệch trong quá trình thực hiện hoạt động ngoài giờ chính khóa những yếu tố này được cán bộ QL và GV đánh giá có tỉ lệ lựa chọn cao nhất với điểm TB là từ 2.33-2,35.

Nhóm yếu tố thứ hai được đánh giá ở mức độ khá là những yếu tố như: Kiểm tra việc sử dụng kinh phí cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú và đề ra được tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu trong hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của các đơn vị và tổ chức tại 2 yếu tố này có 9-10 ý kiến lựa chọn ở mức độ tốt và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,97- 2,98.

Ngoài ra các yếu tố như: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện theo đúng quy trình, đề ra được các tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu và đo lường được mức độ hoàn thành, cũng như việc triển khai các hoạt động ngoại khóa tại các đơn vị, tại những yếu tố này cũng được đánh giá ở mức độ khá với điểm TB 2,11-2,14. Nhóm yếu tố lựa chọn có tỉ lệ điểm TB thấp nhất là; Đo lường mức độ hoàn thành mục tiêu và phát hiện những lệch chuẩn trong quá trình triển khai hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú , hay Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện theo đúng quy trình và Tổng kết thi đua, khen thưởng, có tỉ lệ điểm TB là từ 2,00- 2,03

Đánh giá chung thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú ở tất cả các tiêu chí đưa ra cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội đạt mức độ trung bình, vẫn còn một số tồn tại như: Việc kiểm tra còn thiếu sự tập trung, dẫn đến việc tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức các hoạt động không thực hiện được hoặc có nhưng đạt hiệu quả không cao. Những tồn tại này cũng ảnh hưởng không ít tới mục đính, tính hiệu quả của công tác kiểm tra đánh giá.

2.3.5 Sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

  • Bảng 2.10 Đánh giá thực trạng phối hợp giữa các lực lượng tham gia quản hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Các lực lượng tham gia vào quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú hiện nay tại Trường Đại học Hà Nội bao gồm các lực lượng chính như: Ban Giám hiệu phân công một phó Hiệu trưởng phụ trách công tác đào tạo và công tác sinh viên nội trú. Phòng Công tác SV là đơn vị tham mưu, giúp việc cho Ban Giám hiệu về lĩnh vực chính trị và công tác sinh viên. Đối với công tác quản lý SV nội trú, Ban giám hiệu giao cho Phòng Quản lý SV nội trú chịu trách nhiệm quản lý nội dung này. Các khoa là đơn vị trực tiếp quản lý sinh viên, tham gia vào công tác quản lý SV nội trú ở cấp khoa là hệ thống giáo vụ các khoa, giáo viên chủ nhiệm lớp và hệ thống cán bộ tự quản lớp (lớp trưởng, lớp phó). Tuy nhiên, các cán bộ, giáo viên này đều làm công tác quản lý SV kiêm nhiệm nên kết quả phối hợp quản lý SV nội trú là không cao. Ngoài ra, trường còn có một lực lượng hỗ trợ khác trong công tác quản lý SV nội trú đó là tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội sinh viên. Đây là lực lượng hỗ trợ đắc lực trong công tác quản lý SV nội trú của nhà trường. Thành viên Đoàn thanh niên và Hội SV đều là sinh viên nên thực tế đây là một kênh thông tin quan trọng trong việc nắm bắt tình hình sinh viên nội trú của nhà trường và một số đơn vị phòng ban chức năng khác trong nhà trường như: Phòng Tài chính kế toán và Phòng Quản trị. Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường rất quan trọng. Quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú có đạt được kết quả cao hay không phần lớn cũng là từ sự phối hợp của các lực lượng giáo dục này trong nhà trường.

Theo như kết quả khảo sát tại bảng 2.11 về thực trạng phối hợp giữa các lực lượng quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú ta thấy:

Công tác xây dựng kế hoạch: Các lực lượng tham gia trong công tác này về cơ bản có sự phối hợp ở mức độ khá. Trong đó Ban giám hiệu có lựa chọn ở mức độ tốt là 36 và đạt tỉ lệ điểm TB là 2,97, sau đó là sự phối hợp của phòng Công tác SV có tỉ lệ điểm TB là 2,95. Và các đơn vị khác như Đoàn TN, Phòng Quản lý SV nội trú là có điểm TB từ 2,95-2,96. Và có tỉ lệ thấp nhất là phòng Tài chính kế toán có điểm TB là 2,56. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Công tác xây dựng nội dung và hình thức: Đây cũng là một nội dung trọng tâm trong việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường, hoạt động này yêu cầu cần đòi hỏi sự thống nhất cũng như chia sẻ thông tin, cách thức trong một nhiệm vụ chung. Hoạt động này theo như kết quả khảo sát thu được thì có 3 đơn vị chính phối hợp là Phòng Công tác SV, Phòng Quản lý SV nội trú và Đoàn TN đạt tỉ lệ điểm TB từ 2,73-2,81 mức độ phối hợp đạt khá.

Công tác chuẩn bị các điều kiện và cơ sở vật chất cho hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú: Đây là một công tác chuẩn bị cho những điều kiện cần thiết để có thể triển khai các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú. Ở công tác này được đánh giá cao nhất là Ban Giams hiệu và phòng Tài chính-Kế toán đạt tỉ lệ điểm TB là 3,04 – 3,23. Tiếp tới là phòng Công tác SV và Phòng Quản lý SV nội trú với tỉ lệ điểm TB là 2,54-2,87, và đơn vị có tỉ lệ trung bình thấp nhất là phòng Thiết bị-Công nghệ với điểm TB là 1,88.

Công tác triển khai các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú: Trong công tác này có nhiều lực lượng tham gia nhiều nhất mà đơn vị có tỉ lệ lựa chọn điểm TB cao nhất là phòng Quản lý SV nội trú với tỉ lệ điểm TB là 2,59, tiếp đến là Phòng Công tác SV, Đoàn TN với tỉ lệ điểm TB là 2,42-2,44. Ngoài ra còn phối hợp chặt chẽ với cơ quan chính quyền, ban ngành đoàn thể ở địa phương để tăng cường sự giúp đỡ, phối hợp trong công tác quản lý sinh viên ở nội trú, và với sự phối hợp này đạt tỉ lệ điểm TB là 2,84. Đặc biệt không thể thiếu trong việc triển khai hoạt động là sự tham gia của lực lượng sinh viên nội trú, và mức độ tham gia của lực lượng này cũng đạt tỉ lệ trung bình ở mức độ khá với điểm TB là 2,84.

Công tác tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm: Đây là nhiệm vụ quan trọng sau mỗi một hoạt động, hay cả một quá trình thực hiện kế hoạch, công tác này giúp cho nhà quản lý, những người trực tiếp triển khai hoặc những lực lượng tham gia vào cũng nhiệm vụ sẽ rút ra được những kết quả đã đạt được và những hạn chế, cũng như những điểm cần khắc phục trong các hoạt động tiếp theo. Trong công tác này về cơ bản các lực lượng tham gia đều đạt tỉ lệ trung bình ở mức độ khá, tuy nhiên lực lượng tham gia tích cực và có điểm TB cao nhất là Đoàn TN với tỉ lệ điểm TB là 2.97, tiếp đến là Ban GH với tỉ lệ điểm TB là 2,83 và cuối cùng đơn vị Phòng quản lý SV nội trú với tỉ lệ điểm TB là 2,51.

Tổng kết thực trạng phối hợp giữa các lực lượng tham gia quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, từ kết quả khảo sát thu được từ tỉ lệ điểm TB thì hầu hết các lực lượng tham gia vào công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đều đạt ở mức độ khá với các đơn vị có điểm TB cao đó là Ban GH, phòng Công tác SV, Đoàn TN và Phòng Quản lý SV nội trú sau đó thì đến sự tham gia của các lực lượng khác. Tuy nhiên để đảm bảo được kế hoạch triển khai đạt mục tiêu cũng chất lượng của các hoạt động, cần có sự phối hợp nhịp nhàng hơn nữa giữa các đơn vị, chia sẻ thông tin cũng như hỗ trợ các công tác của nhau một cách tốt nhất.

2.3.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viện nội trú tại Trường Đại học Hà Nội Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Để đánh giá được sự ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, tác giả đã đưa các yếu tố về nhận thức của cán bộ GV, sinh viên cũng những năng lực quản lý của đội ngũ quản lý sinh viên nội trú và sự ảnh hưởng của các công tác khác. Kết quả khảo sát này được thể hiện chi tiết tại bàng 2.12. Trong đó:

  • Bảng 2.11 Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú

Trong đó: Rất ảnh hưởng (RAH): 3,27 <x £ 4 điểm; Ảnh  hưởng  (AH): 2,52 <x£ 3,26 điểm; Ít ảnh hưởng (IAH): 1,76 < x £ 2,51 điểm; Không ảnh hưởng (KAH): 1 £ x £ 1,75 điểm.

Trong các yếu tố đưa ra để đánh giá sự ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú, theo như kết quả khảo sát thu được thì yếu tố có tỉ lệ điểm TB cao nhất là năng lực quản lý của đội ngũ quản lý sinh viên nội trú với điểm TB là 2,59, và 15 ý kiến lựa chọn ở mức độ rất ảnh hưởng. Tiếp đến là yếu tố có có điểm TB cao thứ hai là nhận thức của sinh viên về hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú với điểm TB là 2,58 với tỉ lệ lựa chọn ở mức độ rất ảnh hưởng là 14 ý kiến. Nhóm có tỉ lệ lựa chọn ở mức độ thứ 3 là: Nhận thức và năng lực của cán bộ quản lý đối với hoạt động thực hiện quy chế, hay sự phối hợp giữa nhà trường và chính quyền địa phương, cũng như cơ sở vật chất dành cho các hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Như vậy Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú khi xem xét các vấn đề trong công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú nhà quản lý cần phải xem xét dưới nhiều góc độ khác, sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động, để từ đó có những biện pháp phù hợp đối với từng hoạt động cũng như các lực lượng tham qua công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú.

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hà Nội Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

2.4.1 Những ưu điểm

Công tác quản lý hoạt thực hiện quy chế sinh viên nội trú trong những năm qua có những tiến bộ vượt trội và đạt được nhiều thành quả cao trong việc giáo dục tư tưởng, chính trị đạo đức, lối sống cho sinh viên kết quả của những thành công này thể hiện những ưu điểm sau:

Lãnh đạo Nhà trường đã quan tâm và xác định quản lý công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà trường công việc này đã được đưa vào nội dung của kế hoạch năm học. Ban Giám hiệu Nhà trường đã phân công một Phó Hiệu trưởng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy phụ trách công tác SV, thường trực lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện công tác này tại Trường trong những năm qua.

Công tác phổ biến, quán triệt những quy định chung về quản lý sinh viên nội trú được tiến hành thường xuyên và liên tục, đến các cán bộ, giảng viên và sinh viên của Trường. Nhờ vậy, cán bộ và giảng viên của nhà trường đặc biệt là những cán bộ, giảng viên trực tiếp tham gia vào việc quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú thấy được tầm quan trọng của công tác này nên ngày càng nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác của mình. Bên cạnh đó, sinh viên nội trú của Trường được phổ biến và quán triệt những quy định trên nên có ý thức thực hiện tốt các quy định này.

Công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú được thực hiện theo đúng quy chế. Đội ngũ cán bộ quản lý công tác SV của Trường Đại học Hà Nội nhiều kinh nghiệm và tâm huyết với nghề. Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, rèn luyện, đến việc đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý nói chung và công tác quản lý SV nội trú nói riêng.

Nhà trường đã xác lập được mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương nơi SV cư trú, đặc biệt là với cảnh sát khu vực. Vì vậy, Nhà trường đã tạo được sự phối hợp tương đối tốt với chính quyền địa phương trong việc quản lý SV nội trú. Vì vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý sinh viên, hạn chế những vấn đề tệ nạn xảy ra đối với sinh viên nội trú.

2.4.2 Những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Bên cạnh những ưu điểm trong công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú tại Trường Đại học Hà Nội, vẫn còn có những hạn chế nhất định trong công tác này như sau:

Nhà trường đã cụ thể hóa các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác thực hiện quy chế SV nội trú, tuy nhiên chưa xây dựng được các kế hoạch sát với tình hình thực tế đối với sinh viên của Nhà trường, việc giải quyết các thủ tục hành chính, các chế độ chính sách cho sinh viên còn nhiều bất cập, một số công việc còn giải quyết chậm trễ, chưa kịp thời gây khó khăn cho sinh viên phải đi lại nhiều lần.

Việc xây dựng các nội dung kế hoạch hoạt động về hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú chưa cụ thể. Hoạt động thi đua khen thưởng đối với cá nhân, tập thể hoặc sinh viên tham gia tích cực trong các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú chưa kịp thời. Cơ chế hoạt động trong công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, trang thiết bị, kinh phí cho này chưa được quan tâm đúng mức.

Việc tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của Trường chưa triệt để, công tác kiểm tra trong quy trình quản lý còn chưa thường xuyên, thiếu kịp thời. Chính vì vậy, chưa có được sự kế thừa trong công tác này, trong đó có một bộ phận sinh viên ý thức tự giác chưa cao trong việc thực hiện công tác vệ sinh phòng ở, chấp hành các quy định tại khu nội trú, bên cạnh đó một số sinh viên hay đi sớm về muộn, uống rượu trong phòng. Vì vậy, quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đôi khi gặp nhiều phức tạp. Mặc dù Nhà trường và chính quyền địa phương đã có sự phối hợp trong công tác này nhưng sự phối hợp đó còn bị hạn chế bởi điều kiện cơ sở vật chất, cán bộ, kinh phí.

Việc quản lý hoạt động học tập của sinh viên đã được thực hiện khá nghiêm túc theo quy chế, tuy nhiên chưa có những đổi mới về công tác quản lý cho phù hợp với đặc điểm của Nhà trường chưa phù hợp với xu thế chung của xã hội nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên còn yếu.

Công tác phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú chưa thật sự tốt, sự chia sẻ thông tin và trách nhiệm giữa các bên liên quan còn chồng chéo, chưa mạnh dạn đầu tư thêm kinh phí tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, các mô hình câu lạc bộ, đội nhóm, công tác tình nguyện trong khu nội trú. Các hoạt động này hầu như mang tính bề nổi, tự phát, chưa duy trì thường xuyên, liên tục, chưa tạo được nhiều sân chơi để sinh viên rèn luyện nên hiệu quả chưa cao, chưa thu hút được đông đảo sinh viên tham gia góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội trong và ngoài khu nội trú.

2.4.3 Những nguyên nhân Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Thực trạng và những hạn chế trong quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của Trường Đại học Hà Nội là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Nguyên nhân trước hết là năng lực đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú còn hạn chế, chưa được bồi dưỡng, tập huấn, trao đổi học tập kinh nghiệm trong công tác quản lý sinh viên nội trú với các trường đại học, cao đẳng khác trên cả nước.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên mới chỉ dừng lại ở những phương pháp truyền thống, nhiều lúc mang nặng hình thức, chưa được thường xuyên, liên tục, chưa đi vào chiều sâu, chưa nắm bắt được nhu cầu, sở thích của sinh viên trong tình hình mới. Chưa có những biện pháp phù hợp để tăng cường ý thực tự giác học tập và rèn luyện cũng như việc tham gia các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú.

Phòng Công tác SV chưa xây dựng được kế hoạch kiểm tra các hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú theo định kỳ, chỉ làm theo đợt thi đua, do đó công tác này còn thiếu tính răn đe, giáo dục sinh viên.

Một nguyên nhân nữa làm cho quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của Trường còn nhiều bất cập, mặc dù lãnh đạo Nhà trường đã có sự quan tâm, cán bộ, giảng viên trong trường thấy được tầm quan trọng trong việc thực hiện quy chế SV nội trú nhưng vẫn còn một bộ phận nhỏ có nhận thức cho rằng quản lý công tác sinh viên nội trú là dễ dàng, cứ áp đặt, mệnh lệnh là xong nên chưa dành đủ tâm sức, thời gian cho công tác này.

Nguyên nhân của những hạn chế trên bao gồm cả những yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan từ phía gia đình, Nhà trường, xã hội và bản thân các em sinh viên là yếu tố cơ bản nhất. Những nguyên nhân cơ bản này dẫn đến công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú nội trú của Trường còn những hạn chế, đòi hỏi phải có những biện pháp mang tính đột phá để quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú của trường có những chuyển biến tích cực theo hướng đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Tiểu kết chương 2

Từ cơ sở lý luận mang tính nền tảng của vấn đề nghiên cứu quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú ở chương 1, tác giả đã tổ chức khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú tại Trường Đại học Hà Nội. Từ sự phân tích của kết quả khảo sát thực trạng, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được thì trong công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú còn bộc lộ những hạn chế nhất định, kết quả nghiên cứu cho thấy như sau:

  • Thực trạng về quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú:

Nhận thức của cán bộ quản lý, GV, sinh viên về sự cần thiết hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú còn chưa cao. Từ thực tiễn trên cho thấy nhà quản lý chưa chú trọng nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức, kỹ năng cho tập thể đội ngũ cán bộ nhân viên trong cơ sở để đáp ứng được yêu cầu của hoạt động quản lý sinh viên nội trú.

Mục tiêu của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đã đạt được yêu cầu đề ra, về các mặt học tập rèn luyện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần, tham gia hoạt động văn hóa văn nghệ thể thao, hoàn thiện nhân cách, ý thức sinh viên trong môi trường tập thế, tỉ lệ 81%-93%. Sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng, kết quả thực hiện các mục tiêu đặt ra là rất tốt. Tuy nhiên tỉ lệ cho rằng không đúng mục tiêu của quản lý hoạt động động sinh viên nội trú 20%. điều này cho thấy cán bộ quản lý SV nội trú chưa sâu sát tập trung rà soát lại hoạt động.

Hình thức hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú, mức độ thực hiện các hình thức của hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú chỉ đáng giá ở mức độ thỉnh thoảng. Điều này cho thấy hình thực tiếp cận chưa hiệu quả, chưa có nhiều đổi mới, sáng tạo chưa để đáp ứng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động cũng như năng lực quản lý để nâng cao hiệu quả của hoạt động.

Nội dung hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú có những đánh giá khác nhau giữa cán bộ, giảng viên và sinh viên, kết quả thực trạng các hoạt động thực hiện quy chế sinh viện nội trú còn chưa cao.

Hiệu quả của hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú cũng đạt được một số kết quả nhất định, các hình thức hoạt động mang tính hình thức, chưa thật sự sát thực tiên đề ra, chưa phổ rộng tới toàn bộ sinh viên khu nội trú. Điều này cũng là những hạn chế, tồn tại và yêu cầu có về những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng hoạt động.

  • Thực trạng về quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú: Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

Quản lý việc lập kế hoạch hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú có 2 công tác đạt mức độ cao là: Xây dựng kế hoạch khảo sát và triển khai các hoạt động cụ thể. Các kế hoạch khác mới đạt tỉ lệ còn khiên tốn.

Quản lý việc tổ chức thực hiện quy chế sinh viên nội trú chưa đồng đều giữa các yếu tố hoạt động, có 2 công tác đạt tỉ lệ mức độ khá là: Phân công nhiệm vụ cho các đơn vị tổ chức trong việc triển khai hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú và lựa chọn một số chương trình hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú hiệu quả làm mẫu cho hoạt động tiếp theo. Còn các công tác còn lại thì chỉ đạt ở mức độ trung bình.

Quản lý chỉ đạo hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú chỉ đạt ở mức độ trung bình, điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú tại Trường Đại học Hà Nôi.

Quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động thực hiện quy chế đánh giá ở mức độ trung bình, vẫn còn một số tồn tại như: Việc kiểm tra còn thiếu sự tập trung, dẫn đến việc tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức các hoạt động không thực hiện được hoặc có nhưng đạt hiệu quả không cao. Những tồn tại này cũng ảnh hưởng không ít tới mục đính, tính hiệu quả của công tác kiểm tra đánh giá.

Phối hợp giữa các lực lượng tham gia quản lý hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú đạt ở mức độ khá với các đơn vị là Ban Giám hiệu, phòng Công tác SV, Đoàn TN và Phòng Quản lý SV nội trú sau đó thì đến sự tham gia của các lực lượng khác. Tuy nhiên để đảm bảo được kế hoạch triển khai đạt mục tiêu cũng chất lượng của các hoạt động, cần có sự phối hợp nhịp nhàng hơn nữa giữa các đơn vị, chia sẻ thông tin cũng như hỗ trợ các công tác của nhau một cách tốt nhất.

Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện quy chế SV nội trú cho thấy khi xem xét các vấn đề trong công tác quản lý hoạt động thực hiện quy chế sinh viên nội trú bị tác động nhiều yếu tố, nhiều góc độ đánh giá khác nhau. Biện pháp còn cúng nhắc, nguyên tắc, chưa nghiên cứu áp dụng phù hợp đối với từng hoạt động cũng như các lực lượng tham gia. Luận văn: Thực trạng quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý thực hiện quy chế sinh viên nội trú

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993