Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam

2.1.1. Tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội

Huyện Kim Bảng nằm ở phía tây bắc của tỉnh Hà Nam, diện tích tự nhiên là 17.540 ha chiếm 20,38 % tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Phía bắc giáp các huyện Ứng Hoà, Mỹ Đức (Hà Nội); phía nam giáp huyện Thanh Liêm; phía đông giáp huyện Duy Tiên và thành phố Phủ Lý; phía tây giáp huyện Lạc Thủy (tỉnh Hòa Bình). Kim Bảng có 16 xã và 2 thị trấn, có khoảng trên 135 nghìn nhân khẩu. Kim Bảng là huyện có nhiều tiềm năng phát triển các loại hình du lịch với tài nguyên du lịch tương đối độc đáo, đa dạng, trong đó nổi bật là hệ thống hang động như Ngũ Động Sơn, Cô Đôi, động Thuỷ cung, động Bà Lê, hồ Tam Chúc, cụm du lịch Đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn và tuyến du lịch trên sông Đáy… Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có chùa Bà Đanh, đền thờ bà Lê Chân và di tích lịch sử văn hóa Núi Cấm với huyền thoại linh thiêng về danh nhân Lý Thường Kiệt. Huyện Kim Bảng nằm gần Quốc lộ 1A, có các tuyến Quốc lộ 21A, 21B, 38 chạy qua. Đây là một vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế – văn hoá – xã hội, thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước, là một trong những địa bàn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam. Huyện Kim Bảng có 02 con sông lớn chảy qua là sông Đáy và sông Nhuệ với mạng lưới kênh mương tương đối dày đặc. Là một huyện có địa hình bán sơn địa nên địa hình phong phú và tài nguyên dồi dào như: đá vôi, đôlômit; than bùn, đất sét, nguồn nước khoáng lạnh và vàng cám… Rừng ở Kim Bảng có cây tự nhiên thưa, mọc trên đồi núi đá. Những năm gần đây, nhân dân đã đầu tư trồng các loại cây ăn quả như bưởi, ổi, nhãn, na… trên vùng đồi thấp cho năng suất và chất lượng cao. Đó là những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi để Kim Bảng phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của địa phương.

2.1.2. Những thành tựu cơ bản về GDĐT huyện Kim Bảng

Quy mô giáo dục tiếp tục ổn định và phát triển; giữ vững tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 3; Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi tiếp tục được củng cố duy trì vững chắc các điều kiện và tiêu chuẩn phổ cập. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến tích cực và ngày càng được nâng lên. Giáo dục mầm non thực hiện tốt chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ, giảm dần tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng. Đối với giáo dục phổ thông, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực cả về lượng và chất trong chất lượng giáo dục đào tạo. Chất lượng tuyển sinh vào lớp 10 THPT huyện Kim Bảng tiếp tục đứng tốp đầu trong toàn tỉnh. Tính đến tháng 5 năm 2026, toàn huyện đã có 54/54 trường đạt tỉ lệ 100% số trường học đạt chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3.

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được bố trí, sắp xếp, sử dụng theo đúng định mức biên chế, đúng vị trí việc làm và yêu cầu về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, đảm bảo 100% giáo viên đạt trình độ đào tạo chuẩn theo quy định ở từng cấp học, tỉ lệ giáo viên trên chuẩn ngày càng tăng. Công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được quan tâm, chất lượng giảng dạy và tay nghề giáo viên từng bước được nâng cao.

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở các cơ sở giáo dục được bổ sung đáp ứng các tiêu chuẩn Bộ GDĐT đã quy định và theo hướng kiên cố hoá, hiện đại hóa. Theo kế hoạch, tính đến hết năm học 2026-2027, 100% các trường mầm non, tiểu học, Trung học cơ sở trên địa bàn huyện đạt chuẩn quốc gia, trong đó chuẩn mức độ 2 chiếm 35,6%.

Ngành tiếp tục đổi mới công tác thi đua – khen thưởng, đội ngũ cán bộ, viên chức nhận thức và hành động đúng đắn về phong trào thi đua “Hai tốt”, phong trào “thi đua đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” và các cuộc vận động lớn của ngành. Các phong trào thi đua ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả rõ rệt. Năm học 2025-2026, ngành giáo dục huyện Kim Bảng được UBND tỉnh tặng Bằng khen đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

2.1.3. Tình hình Giáo dục cấp trung học cơ sở

Năm học 2026-2027, quy mô toàn huyện có 18 trường Trung học cơ sở với 7.660 HS. Về đội ngũ: Cán bộ quản lý có 100% đạt chuẩn và trên chuẩn về chuyên môn; 100 cán bộ quản lý được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục và có trình độ lý luận chính trị từ Trung cấp trở lên. Đối với giáo viên có 100% đạt chuẩn về chuyên môn, trong đó trình độ trên chuẩn là 259/388 đạt 66,75%; cơ cấu giáo viên theo môn phù hợp, đảm bảo yêu cầu. Nhân viên cơ bản đảm bảo có đủ nhân viên hỗ trợ, phục vụ theo vị trí việc làm quy định.

Các trường Trung học cơ sở trong huyện đã tăng cường đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh, thực hiện tốt nền nếp, kỉ cương trường học. Chất lượng trí dục có nhiều chuyển biến tích cực, hằng năm kết quả xét tốt nghiệp Trung học cơ sở và tuyển sinh vào lớp 10 THPT đạt kết quả cao so với mặt bằng chung của tỉnh.

Các trường thực hiện tốt việc dạy học tích hợp các nội dung giáo dục địa phương ở các môn KHXH theo bộ tài liệu của Sở GDĐT ban hành. Tổ chức tốt các đợt Hội thảo các môn học, Hội thảo công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9; Tập huấn biên soạn đề kiểm tra theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ GDĐT, Sở GDĐT; tiếp tục xây dựng “mô hình nhà trường đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục HS” và tích cực vận dụng các thành tố tích cực của mô hình VNEN vào quá trình dạy và học. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Giáo dục đạo đức: Các hoạt động GD đạo đức HS được chú trọng với nhiều biện pháp: GD thông qua các môn học văn hoá, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động trải nghiệp sáng tạo… Tỉ lệ HS xếp loại hạnh kiểm Khá, Tốt cao, không có HS mắc các tệ nạn xã hội hoặc vi phạm pháp luật.

Công tác Tư vấn tâm lý cho HS: Các hoạt động tác Tư vấn tâm lý cho HS đã được quan tâm. Phòng GDĐT Kim Bảng chỉ đạo các nhà trường thành lập Tổ tư vấn, hỗ trợ HS, xây dựng kế hoạch hoạt động và tổ chức triển khai thực hiện theo hướng dẫn của Sở GDĐT Hà Nam, góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả các hoạt động trong mỗi nhà trường, nhất là giáo dục đạo đức HS, tạo môi trường sư phạm lành mạnh, thân thiện. Công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS từng bước có kết quả, góp phần phân luồng HS sau Trung học cơ sở.

  • Kết quả giáo dục toàn diện năm học 2025-2026 đạt được như sau:
  • Xếp loại hạnh kiểm: loại tốt có 6.641/7.660 HS= 86,70%, loại khá có 937/7.660 HS=13,24%, loại trung bình có 82/7.660 HS= 1,67%.
  • Xếp loại học lực: loại giỏi có 1.319/7.660 HS= 17,22%, loại khá có 3.445/7.660 HS= 44,98%, loại trung bình có 2.661/7.660 HS= 34,74%, loại yếu có 217/7.660 HS= 2,83%.
  • Xét tốt nghiệp lớp 9 hệ chính quy có 1.869/1.845 HS đỗ, đạt tỷ lệ 98,72%, trong đó loại giỏi chiếm 17,34%, loại Khá chiếm 42,98%, loại trung bình chiếm 39,67%; hệ GDTX có 12/13 HS đỗ, đạt tỷ lệ 92,3%, trong đó 12/12 HS=100% đạt loại trung bình.
  • Kết quả thi tuyển sinh lớp 10 THPT, huyện liên tục nhiều năm liền dẫn đầu tỉnh.
  • Kết quả các kỳ thi, kiểm tra chất lượng học sinh giỏi, thi khoa học kĩ thuật cấp huyện:

Kỳ thi HS giỏi lớp 9 cấp huyện có 245 HS dự thi, trong đó có 143 HS đạt giải, tỷ lệ 58,4% (gồm 7 giải Nhất, 12 giải Nhì, 29 giải Ba và 86 giải Khuyến khích).

Kỳ kiểm tra chất lượng HS giỏi lớp 6, 7, 8 có 1086 HS dự kiểm tra, trong đó có 631 HS đạt giải, tỉ lệ 58,1% (gồm 17 giải Nhất, 76 giải Nhì, 160 giải Ba và 378 giải Khuyến khích).

Kỳ thi HS giỏi thể dục thể thao cấp huyện có 541 HS dự thi, trong đó môn Điền kinh, Cầu lông, Bóng bàn có 148 HS đạt giải (gồm 14 giải Nhất, 18 giải Nhì, 38 giải Ba, 79 Khuyến khích), môn Bóng đá có 8 đội bóng đạt giải cấp huyện (gồm 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 2 giải Ba, 4 giải khuyến khích) Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Kỳ thi Khoa học kỹ thuật cấp huyện có 43 dự án dự thi, trong đó 23 dự án đạt giải (gồm 01 giải Nhất, 05 giải Nhì, 06 giải Ba và 11 giải Khuyến khích).

  • Kết quả các kỳ thi, cuộc thi cấp tỉnh, cấp quốc gia

Tham gia kỳ thi chọn HS giỏi lớp 9 cấp tỉnh có 80 HS của 18 trường Trung học cơ sở trong huyện dự thi, kết quả có 44 HS của 15 trường Trung học cơ sở trong huyện đạt giải, tỉ lệ 55%, trong đó có 02 giải Nhất, 10 giải Nhì, 8 giải Ba, 24 giải Khuyến khích.

Thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh có 06 dự án dự thi, trong đó 04 dự án đạt giải gồm 01 giải Nhì và 03 giải tư. Tham gia cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia có 01 dự án được giải thưởng của Nhà tài trợ cuộc thi.

Thi HS giỏi thể dục thể thao cấp tỉnh, trong 04 môn dự thi có 03 môn đạt giải gồm môn Bóng đá đạt giải Nhất, môn Điền kinh đạt giải Nhất, Môn Bóng bàn đạt giải Khuyến khích.

  • Hoạt động giáo dục hướng nghiệp, giáo dục nghề phổ thông và công tác phân luồng HS sau Trung học cơ sở:

Bảng 2.1. Kết quả hướng nghiệp, phân luồng sau Trung học cơ sở

Tổ chức thi và đề nghị Sở cấp chứng chỉ nghề phổ thông cho HS với kết quả: tổng số HS dự thi: 434, số HS bỏ thi: 8 HS. Kết quả chung: số HS đỗ: 426 HS, đạt tỷ lệ: 100%. Trong đó: loại Giỏi: 311 HS, đạt tỷ lệ: 73%; loại Khá: 110 HS, đạt tỷ lệ: 25,83%; loại TB: 5 HS; đạt tỷ lệ: 1,17%.

Tuy vậy, công tác Tư vấn tâm lý cho HS và QL công tác này trên địa bàn huyện Kim Bảng còn có nhiều hạn chế: cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí triển khai các hoạt động tư vấn còn thiếu; kiến thức về tư vấn và kinh nghiệm và hoạt động của Tổ tư vấn, hỗ trợ HS còn hạn chế; công tác QL của các nhà trường về công tác Tư vấn tâm lý chưa được quan tâm như các hoạt động khác…

2.2. Khái quát khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Thu thập số liệu để phân tích thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS và quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

2.2.2. Nội dung và phương pháp khảo sát

Nội dung

  • Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
  • Thực trạng quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Phương pháp và kĩ thuật tiến hành

Phương pháp khảo sát: Điều tra bằng phiếu khảo sát (mẫu phiếu 01; mẫu phiếu 02; mẫu phiếu 03) kết hợp với phương pháp phỏng vấn dành cho đối tượng Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Ngoài các phương pháp trên, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thống kê toán học để phân tích, đánh giá kết quả khảo sát.

Đánh giá mức độ thực hiện quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở trường Trung học cơ sở Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ở 4 mức độ: Rất quan trọng, Khá quan trọng, Quan trọng, Không quan trọng/Tốt, khá, TB, Yếu/ Rất thường xuyên, Thường xuyên, Thỉnh thoảng, Không bao giờ/ Rất cao, cao, bình thường, thấp/ Rất ảnh hưởng, Khá ảnh hưởng, Ảnh hưởng và không ảnh hưởng. Điểm cho các mức độ tương ứng là 4, 3, 2, Tính điểm TB với các mức: Tốt 3.25≤ TB ≤4; Khá 2.5≤ TB ≤3.24; Trung bình 1.75≤ TB ≤2.49; Yếu 1≤ TB ≤1.49 (min = 1, max = 4).

2.2.3. Địa bàn và khách thể khảo sát Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

  • Địa bàn khảo sát: Tại các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam.

Khách thể khảo sát:

  • 05 Chuyên viên Sở GDĐT tỉnh Hà Nam (Phòng Chính trị, tư tưởng: 02; Phòng Giáo dục Trung học: 02 và Phòng Tổ chức cán bộ: 01);
  • 05 Chuyên viên Phòng GDĐT huyện Kim Bảng (Tổ Trung học cơ sở và chuyên viên phụ trách công tác học sinh);
  • 40 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng;
  • 140 giáo viên ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng. Tổng khách thể khảo sát Cán bộ quản lý, GV: 190 người.
  • 50 người là đại diện tổ chức đoàn thể, Cha mẹ học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng
  • 300 HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng.

2.3. Kết quả khảo sát thực tiễn

2.3.1. Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

  • Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, cha mẹ HS về hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 1 (phụ lục 01, 02, 03) đối với Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS về tầm quan trọng của hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS nhà trường, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.2. Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS về tầm quan trọng hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

  • Nhận xét:

Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV nhà trường về tầm quan trọng hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS chiếm tỉ lệ cao: 63.2 % đánh giá rất quan trọng; 26.3% đánh giá khá quan trọng: 10.5% đánh giá bình thường và không có ai đánh giá không quan trọng. Như vậy, có thể thấy, đội ngũ Cán bộ quản lý, GV nhà trường có nhận thức tốt về hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS.

Ý kiến của LLXH, trong đó Cha mẹ học sinh là chủ yếu cho thấy vẫn còn một bộ phận nhỏ (chiếm tỉ lệ 10.0% đánh giá không quan trọng). Nguyên nhân chính là do LLXH chưa có hiểu biết đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, họ nghĩ rằng chỉ HS gặp phải những vấn đề về tâm lý mới cần được tư vấn và ngược lại, đôi khi họ cho rằng việc làm này là không cần thiết đối với những HS phát triển bình thường.

Ý kiến đánh giá của HS cho thấy các em cũng đã nhận thức được phần nào về tầm quan trọng của hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HS đánh giá không quan trọng, chiếm 13,3%. Một số HS trường Trung học cơ sở hiện nay còn khá mơ hồ về nhận biết những khó khăn tâm lý mình gặp phải. Thông thường, những nội dung Tư vấn tâm lý rất gần gũi gắn với hoạt động hàng ngày của HS cũng làm các em e ngại.

  • Thực trạng nhu cầu Tư vấn tâm lý của HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 2 (phụ lục 01, 02, 03) đối với Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS về nhu cầu Tư vấn tâm lý cho HS nhà trường, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.3. Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV, LLXH, HS về nhu cầu Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét:

Qua khảo sát và tìm hiểu thực tiễn nhu cầu Tư vấn tâm lý của HS, kết quả đạt được 3.13, đánh giá ở mức nhu cầu cao. Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS đánh giá khá rõ ràng về nhu cầu được tư vấn của HS. Trong cuộc sống và học tập các em có những khó khăn với mức độ khác nhau, có những khó khăn các em có thể vượt qua, có những khó khăn các em cần được trợ giúp. Là những người hằng ngày tiếp xúc, giáo dục, lắng nghe, chia sẻ với HS, hơn nữa lại nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em, các nhà Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên là những người hơn ai hết thấu hiểu được rõ ràng những khó khăn, vướng mắc, lo lắng về tâm lý của tuổi bắt đầu phát triển ở HS, thậm chí là những sợ hãi của các em khi gặp phải một số tình huống trong các mối quan hệ và rất mong muốn được giúp đỡ. Vì vậy, Cán bộ quản lý và GV hầu như hiểu được nhu cầu được tư vấn của HS (điểm TB là 3.48 đối với Cán bộ quản lý và 3.27 đối với GV). Cô H.T.T.N, trường Trung học cơ sở Tượng Lĩnh cho biết: “Hiện nay, do sự phát triển của mạng xã hội, các em được tiếp cận với nhiều luồng thông tin đa dạng, điều đó vừa ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến HS. HS rất cần được tư vấn để lựa chọn thông tin hữu ích cho bản thân và biết phòng ngừa những tiêu cực. Trong đó phải kể đến những vấn đề về giới, bạo lực học đường, sức khỏe sinh lý đối với cả HS nam và HS nữ”.

Các lực lượng xã hội mà chủ yếu là Cha mẹ học sinh cũng cho rằng con em mình có nhu cầu Tư vấn tâm lý ở mức cao (điểm TB: 3.04). Theo chia sẻ của Anh H.T.A, Cha mẹ học sinh trường Trung học cơ sở Lê Hồ cho biết: “Phụ huynh rất mong muốn nhà trường thực hiện nhiều chương trình Tư vấn tâm lý cho HS, nhất là đối với HS nữ về các vấn đề liên quan đến giới tính, tình bạn và tình yêu, bởi đôi khi những chia sẻ của bố mẹ không thể giúp các con hiểu tường tận, nhất là trong giai đoạn phát triển của các con”. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

HS các trường có nhu cầu được Tư vấn tâm lý khá cao, điểm TB đạt: 2.73. Qua trao đổi trực tiếp với HS N.H.T. lớp 9A trường Trung học cơ sở Thanh Sơn em cho ý kiến: “Em thấy Tư vấn tâm lý cho chúng em là rất cần vì chúng em luôn gặp nhiều khó khăn trong học tập cúng như trong cuộc sống. Có nhiều vấn đề đặt ra chúng em không biết giải quyết. Nhưng chúng em cũng thấy e ngại vì không biết hỏi ai và tin vào ai để trình bày được vấn đề của mình”. Tuy nhiên, vẫn còn một phần ba số HS được hỏi cho rằng bản thân chỉ có nhu cầu Tư vấn tâm lý ở mức bình thường và còn một bộ phận HS không có nhu cầu được Tư vấn tâm lý. Với những em này, hầu hết thường sống khép kín, không thích người khác biết về mình, chưa hiểu được tác dụng của việc được tư vấn.

  • Thực trạng các lực lượng xã hội tham gia Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 3 (phụ lục 01, 02; 03) đối với Cán bộ quản lý, GV, LLXH về các lực lượng xã hội tham gia Tư vấn tâm lý của học, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.4. Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV, LLXH về các lực lượng tham gia Tư vấn tâm lý cho HS (N=240)

  • Nhận xét:

CBQL, GV, LLXH đánh giá sự tham gia của các lực lượng vào hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở mức thỉnh thoảng, điểm TB: 2.41.

Trong đó GVCN được đánh giá là lực lượng tham gia nhiều nhất vào hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, điểm TB: 2.92; GV bộ môn xếp thứ 2, điểm TB: 2.88 và Lãnh đạo nhà trường và Tổ Tư vấn, hỗ trợ HS cùng xếp thứ 3, điểm TB: 2.83. Như vậy, hoạt động Tư vấn tâm lý ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện hiện nay phần lớn là do Cán bộ quản lý, GV nhà trường thực hiện.

Các lực lượng tham gia ít gồm có: Ban phụ huynh (điểm TB: 1.88) và các chuyên gia ngoài nhà trường (điểm TB: 1.54).

Hiện nay, trên địa bàn huyện không có trường nào có cán bộ chuyên trách làm công tác tư vấn, điều này gây những hạn chế không nhỏ trong công tác Tư vấn tâm lý cho HS, nhất là các trường hợp khó, cần phải có sự hỗ trợ của người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về tâm lý học. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Cùng nội dung này, khi hỏi HS các nhà trường thì được kết quả trong bảng sau:

Bảng 2.5. Đánh giá của HS về các lực lượng tham gia Tư vấn tâm lý cho HS (N=300)

  • Nhận xét:

HS đánh giá sự tham gia của các lực lượng vào hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở mức thỉnh thoảng, điểm TB: 2.35.

Trong đó GVCN được đánh giá là lực lượng tham gia nhiều nhất vào hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, điểm TB: 2.90; Lãnh đạo nhà trường xếp thứ 2, điểm TB: 2.78; GV bộ môn xếp thứ 3, điểm TB: 2.77. Tổ Tư vấn, hỗ trợ HS chỉ xếp thứ tư với điểm TB là 2.62.

Có thể thấy, đánh giá của cả Cán bộ quản lý, GV, các LLXH và HS về sự tham gia của các lực lượng vào công tác Tư vấn tâm lý cho HS là tương đồng.

Như vậy, sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia hoạt động Tư vấn tâm lý còn rất hạn chế. Hoạt động Tư vấn tâm lý ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Kim bảng hiện nay phần lớn là do Cán bộ quản lý, GV nhà trường thực hiện. Các lực lượng tham gia ít gồm có: Ban phụ huynh và các chuyên gia ngoài nhà trường. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này chủ yếu là do nguồn kinh phí của các nhà trường dành cho hoạt động này còn hạn hẹp. Lãnh đạo nhà trường chưa thật chủ động, linh hoạt trong việc huy động các nguồn lực, nhất là xã hội hóa để nâng cao hiệu quả công tác Tư vấn tâm lý cho HS.

  • Thực trạng thực hiện các nội dung Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 4 (phụ lục 01, 02, 03) đối với Cán bộ quản lý, GV, LLXH về các nội dung đã Tư vấn tâm lý cho HS nhà trường, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.6. Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV, LLXH về thực hiện các nội dung Tư vấn tâm lý cho HS (N=240)

  • Nhận xét: Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Những nội dung Tư vấn tâm lý cho HS ở một góc độ nào đó đã được các nhà trường thực hiện, song chỉ tập trung một số nội dung sau: Tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp (điểm TB: 2.92); Tư vấn, giáo dục kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng, chống bạo lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện (điểm TB: 2.88). Các nội dung tư vấn trên được thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động sinh hoạt trên lớp hoặc ngoại khóa.

Đối với giáo viên, họ cùng phối hợp thực hiện một số nội dung được Tổ Tư vấn, hỗ trợ HS triển khai như vấn đề học tập; tìm hiểu nguyện vọng, hứng thú và nhu cầu nghề nghiệp của HS; vấn đề tình bạn, tình yêu. Một số nội dung chưa thực hiện sâu sát như: Gia đình, mối quan hệ xã hội; đánh giá năng lực và sự phù hợp nghề nghiệp của HS bằng trắc nghiệm, thang đo.

Hiện nay, các trường chưa thực hiện tốt ở nội dung tham vấn tâm lý đối với HS gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời do thiếu cán bộ chuyên trách và nguồn lực hỗ trợ hoạt động.

Chia sẻ về vấn đề này, Chị H.T.H, Cha mẹ học sinh trường Trung học cơ sở Nguyễn Úy chia sẻ: “Là một người mẹ, tôi rất quan tâm đến sự phát triển tâm sinh lý của con mình, ở đội tuổi Trung học cơ sở, các con thường khá khó bảo, có chính kiến và quan điểm riêng, tôi luôn phải khéo léo trong cách chia sẻ với con về các vấn đề tâm lý lứa tuổi, ứng xử hoặc định hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên do kiến thức và khả năng có hạn, nên những nội dung về Tư vấn tâm lý do nhà trường triển khai tôi thấy rất hữu ích, xong dưới quan điểm cá nhân, tôi mong rằng nhà trường triển khai mạnh mẽ hơn nữa nội dung: Tư vấn, giáo dục kỹ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng, chống bạo lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện”.

Cùng nội dung trên, khi tác giả hỏi HS các nhà trường, kết quả thu được ở bảng sau:

Bảng 2.7. Đánh giá của HS về thực hiện các nội dung Tư vấn tâm lý cho HS (N=300)

  • Nhận xét:

Đánh giá của HS về thực hiện nội dung Tư vấn tâm lý ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng hiện nay đạt điểm TB: 2.69 điểm. Trong đó nội dung được đánh giá cao nhất Tư vấn tâm lý lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với lứa tuổi, điểm TB: 2.83. Nội dung được đánh giá thấp hơn là các nội dung Tư vấn kỹ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp; các nội dung Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác và Tham vấn tâm lý đối với HS gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời hiệu quả thực hiện còn hạn chế.

Em T.T.N.H, HS lớp 7, trường Trung học cơ sở Nhật Tựu cho biết: “Theo em hiện nay có một số bạn do ảnh hưởng từ mạng facebook, internet nên có những hành vi, cử chỉ chưa đúng mực. Các bạn thường thích gây gổ, không chịu khó học bài, nói chuyên riêng, đi học muộn, thâm chí có hiện tượng giao lưu với các đối tượng xấu bên ngoài. Em mong nhà trường triển khai nhiều nội dung tư vấn để các bạn có thể thực hiện tốt nhiệm vụ học tập của mình.

Em T.T.D ở trường Trung học cơ sở Khả Phong chia sẻ: “Lớp em có một bạn do bố mẹ bạn lý hôn nên bạn sống khá khép kín, thường không nói chuyện và tham gia hoạt động của lớp. Cô giáo CN đã nhiều lần tư vấn, nói chuyện để bạn hòa nhập với mọi người. Bây giờ bạn đã tiến bộ và trở thành cán bộ lớp”. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Kết quả khảo sát ở cả Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS cho thấy, các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã thực hiện một số nội dung Tư vấn tâm lý bước đầu có hiệu quả. Tuy nhiên, nội dung “Tư vấn khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè” và “Tham vấn tâm lý đối với học sinh gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời” thực hiện chưa tốt. Nguyên nhân chủ yếu là do cán bộ, giáo viên các nhà trường có vốn hiểu biết và kinh nghiệm về Tư vấn tâm lý còn rất ít, thậm chí có những giáo viên còn lúng túng khi phải giải quyết những vấn đề phát sinh về tâm lý của chính mình. Cũng có giáo viên, vì còn hạn chế về khả năng tư vấn nên đã vi phạm một số nguyên tắc khi thực hiện Tư vấn tâm lý cho HS, như không giữ bí mật về thông tin HS và vấn đề các em đang mắc phải cần được hỗ trợ. Điều này vô tình gây ảnh hưởng lớn đến các em, nhiều khi khi phản tác dụng.

  • Thực trạng tổ chức các hình thức Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 5 (phụ lục 01, 02, 03) đối với Cán bộ quản lý, GV, LLXH và HS các hình thức Tư vấn tâm lý cho HS nhà trường, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.8. Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV, LLXH về thực hiện các hình thức Tư vấn tâm lý cho HS (N=240)

  • Nhận xét:

Về hình thức Tư vấn tâm lý học đường, Cán bộ quản lý, GV, LLXH đánh giá cao hình thức Qua hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm (điểm TB: 2.92); Qua GVCN (điểm TB: 2.88). Một số hình thức ít sử dụng như: được tư vấn trực tiếp từ cán bộ Tư vấn tâm lý; qua điện thoại, email.

Việc triển khai các hình thức Tư vấn tâm lý hiện nay ở các trường chưa thật đa dạng về hình thức, chủ yếu vẫn gắn với GVCN. Các kênh thông tin có thể triển khai tốt như email, điện thoại thường ít được quan tâm do tâm lý e ngại và xấu hổ của HS.

Một số phụ huynh của các trường khảo sát cho rằng nhà trường cần thành lập phòng Tư vấn tâm lý riêng, để các em có thể đến chia sẻ và được tư vấn khi cần thiết. Cùng nội dung trên, khi tác giả hỏi HS các nhà trường, kết quả thu được ở bảng sau:

Bảng 2.9. Đánh giá của HS về thực hiện các hình thức Tư vấn tâm lý cho HS (N=300)

  • Nhận xét: Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

HS đánh giá thực hiện các hình thức Tư vấn tâm lý cho HS cao nhất ở nội dung quan GVCN lớp và quan hoạt động ngoại khóa. Điểm TB lần lượt là 2.87 và 2.83. Một số hình thức HS chưa đánh giá cao, ít sử dụng như tư vấn trực tiếp hoặc qua email, điện thoại.

Sự đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức tư vấn tạo điều kiện cho nhà trường nắm bắt kịp thời những vấn đề tâm lý của HS. Tuy nhiên, việc thực hiện chỉ mới dừng lại ở các HS có vấn đề, chưa biến các nội dung trên thành những chuyên đề bổ ích đến với HS toàn trường, hình thức tư vấn còn khá đơn điệu (tư vấn trực tiếp) trong khi nhu cầu của HS được tư vấn bằng các hình thức khác khá đông.

Điều này cho thấy, đa số cán bộ, giáo viên các nhà trường chưa linh hoạt, chưa chủ động trong việc tổ chức các hình thức Tư vấn tâm lý cho HS. Nhất là khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong một số nội dung, hoạt động Tư vấn tâm lý còn khá chậm và mờ nhạt, trong khi những công cụ đó hiện nay đang có vai trò và tác dụng rất lớn đối với mọi hoạt động giáo dục, dạy học trong nhà trường. Ngoài nguyên nhân do năng lực Tư vấn tâm lý của giáo viên còn hạn chế, thì các điều kiện cơ sở vật chất và nguồn kinh phí phục vụ hoạt động Tư vấn tâm lý của các nhà trường đều rất ít ỏi, hiện nay khó có thể đáp ứng được nhu cầu của hoạt động này.

2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

  • Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 06 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về xây dựng kế hoạch hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.10. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động Tư vấn tâm lý cho học HS

  • Nhận xét:

Công tác xây dựng xây dựng kế hoạch hoạt động Tư vấn tâm lý cho học HS bao gồm các nội dung như: Xác định căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn cho việc lập kế hoạch; Khảo sát thực trạng những vấn đề tâm lý của HS; Xây dựng mục tiêu hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS; Xác định các nội dung, hình thức Tư vấn tâm lý cho HS; Thành lập Tổ Tư vấn, hỗ trợ HS; Dự kiến điều kiện cơ sở vật chất, nguồn kinh phí cho Tư vấn tâm lý; Thông báo công khai kế hoạch Tư vấn tâm lý cho HS.

Theo kết quả khảo sát Cán bộ quản lý, GV đánh giá mức độ thực hiện công tác này ở mức trung bình, điểm TB đạt: 2.24. Trong đó 2 nội dung được thực hiện tốt nhất trong kế hoạch là: Nội dung 1: “Xác định căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn cho việc lập kế hoạch” (điểm TB: 2.53) và Nội dung 5: “Thành lập Tổ Tư vấn, hỗ trợ HS” (điểm TB đạt 2.39). Đây là những nội dung đã được Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT triển khai kịp thời, cung cấp đầy đủ các văn bản hướng dẫn nên các nhà trường thực hiện thuận lợi.

Nội dung được thực hiện chưa tốt là nội dung: “Dự kiến điều kiện cơ sở vật chất, nguồn kinh phí cho hoạt động Tư vấn tâm lý” và “Khảo sát thực trạng những vấn đề tâm lý của HS”. Sở dĩ, có tồn tại này là do nguồn kinh phí dành cho hoạt động Tư vấn tâm lý của các nhà trường rất ep hẹp, khi xây dựng kế hoạch, dự toán cho các hoạt động thường không đáp ứng được theo thực tế. Bước khảo sát những vấn đề tâm lý của HS thì các nhà trường vẫn thường xem nhẹ, dành ít thời gian cũng như nhân lực cho công việc này, hình thức khảo sát cũng chỉ đơn giản là nắm bắt tình hình chung về tâm lý HS của nhà trường trong những năm học trước. Việc sử dụng công cụ khảo sát sao cho thông tin thu thập được nhanh, chính xác, khách quan, đối tượng khảo sát đa dạng chưa được quan tâm (chẳng hạn ứng dụng công nghệ thông tin trong khảo sát).

Ngoài ra, nhận định về công tác xây dựng kế hoạch còn những vấn đề như: Tiến độ thực hiện các kế hoạch đề ra thường chậm hơn so với thời gian dự kiến, trong quá trình triển khai kế hoạch sự phối hợp của các lực lượng liên quan đặc biệt là GVCN và cán bộ tư vấn chưa hiệu quả, việc xây dựng, triển khai nội dung các hoạt động tương đối mờ nhạt, đôi khi thực hiện máy móc theo kế hoạch đã định do chưa được quán triệt một cách thấu đáo, thấm sâu trong từng bộ phận, đoàn thể, từng cá nhân cán bộ, giáo viên và HS. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

  • Thực trạng tổ chức hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 07 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về tổ chức hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở nhà trường, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.11. Thực trạng về tổ chức hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét:

Qua số liệu khảo sát thống kê tại bảng 2.11 cho thấy đa số các nhà trường đã thực hiện các nội dung công việc cơ bản, cần thiết trong hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, điểm TB 2.88.

Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm đến tổ chức các hoạt động cho giáo viên, cán bộ tư vấn nhằm giúp cấp dưới của mình có đủ năng lực, phẩm chất cần thiết để tham gia tư vấn cho HS.

Tuy nhiên, việc Phân công nhiệm vụ cho đội ngũ GVCN, CB Đoàn, Đội và cán bộ phụ trách công tác Tư vấn tâm lý và Xây dựng chế độ chính sách đối với đội ngũ GV, cán bộ tham gia công tác Tư vấn tâm lý thực hiện chưa thực sự đạt hiệu quả. Lý do chính là với các Cán bộ quản lý và GV, hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS là hoạt động kiêm nhiệm, thông thường, những GV có năng lực, kinh nghiệm đều được bố trí chủ nhiệm lớp và những công việc quan trọng khác trong nhà trường. Vì vậy, việc phân công trong hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS nhiều khi không tránh khỏi chồng chéo. Bên cạnh đó, nhiều nhà trường chưa quan tâm đến công tác xã hội hóa, huy động sự đóng góp và tham gia của các lực lượng ngoài xã hội cho hoạt động Tư vấn tâm lý.

  • Thực trạng chỉ đạo hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 8 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về chỉ đạo hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, tác giả đã thu được bảng sau: Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Bảng 2.12. Thực trạng về chỉ đạo hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét:

Qua bảng 2.12 ta thấy, đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về chỉ đạo hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở mức TB, điểm 2.30. Hai nội dung được đánh giá mức độ thực hiện khá, tốt cao nhất đó là: Động viên, khích lệ đội ngũ tham gia tổ Tư vấn tâm lý nhà trường, điểm TB: 2.63; Xét điều kiện cụ thể của nhà trường để đưa ra những hình thức Tư vấn tâm lý phù hợp cho HS, điểm TB 2.39. Công tác Hướng dẫn GV, cán bộ nhà trường thực hiện văn bản chỉ đạo về hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, điểm TB: 2.37.

Công tác được đánh giá thấp đó là: Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ GV, cán bộ làm công tác Tư vấn tâm lý HS; Theo dõi, giám sát, điều chỉnh sai sót trong quá trình tổ chức hoạt động Tư vấn tâm lý HS. Nguyên nhân một phần do nguồn kinh phí chi cho công tác bồi dưỡng còn hạn hẹp. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ giáo viên các trường Trung học cơ sở nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của công tác Tư vấn tâm lý, nhất là vai trò quan trọng của người giáo viên đối với hiệu quả của hoạt động này nên ý thức tự giác tham gia bồi dưỡng để có hiểu biết về Tư vấn tâm lý còn hạn chế. Việc tổ chức các buổi hội thảo nhằm tạo điều kiện để đội ngũ trao đổi, học hỏi kinh nghiệm hiệu quả thấp vì chính các GV trong trường cũng chưa có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này. Bên cạnh đó, thời gian để GV tham gia đào tạo, bồi dưỡng cũng còn gặp khó khăn, vì thường chỉ bố trí được trong dịp nghỉ hè.

Như vậy, trong công tác chỉ đạo hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS nhà trường hiện nay, cần quan tâm theo dõi, giám sát, điều chỉnh sai sót trong quá trình tổ chức hoạt động Tư vấn tâm lý HS.

  • Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 9 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về kiểm tra, đánh giá hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.13. Thực trạng về kiểm tra, đánh giá hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét: Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS rất quan trọng, qua đó rút kinh nghiệm, đôn đốc Cán bộ quản lý, GV, các nhà trường điều chỉnh kế hoạch, biện pháp thực hiện. Có 2 nội dung hiện nay nhà trường đã thực hiện tốt đó là nội dung 1: “Kiểm tra thực hiện kế hoạch Tư vấn tâm lý cho HS” và nội dung 5: “Sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh kế hoạch”. Công tác sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém, những mặt tồn tại rút kinh nghiệm cho kế hoạch thời gian tiếp theo. Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung 3: “Xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS” chưa được đánh giá tốt vì thiếu chuyên gia hỗ trợ.

Hạn chế trong công tác kiểm tra, đánh giá là nhà trường chưa xây dựng được hệ thống căn cứ, tiêu chí đánh giá hoạt động Tư vấn tâm lý một cách đầy đủ, phù hợp với đặc điểm nhà trường.

  • Thực trạng đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 10 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.14 Thực trạng đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét:

Đánh giá Cán bộ quản lý, GV về đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS loại khá, điểm TB: 2.68. Nhà trường còn gặp khó khăn trong nội dung như: Phân bổ nguồn phí hợp lý cho hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS (điểm TB: 2.58); Huy động sự hỗ trợ, đóng góp về Cơ sở vật chất, nguồn lực từ cộng đồng (điểm TB: 2.60). Nguyên nhân chủ yếu là nguồn kinh phí hỗ trợ cho hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS còn hạn chế.

2.3.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

  • Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 11 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.15. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét:

Đa số Cán bộ quản lý, GV đều đánh giá cao yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, điểm TB 3.53. Trong đó đánh giá cao nhất là yếu tố Sự quan tâm của các cấp quản lý, điểm TB: 3.63.

  • Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan quan

Sử dụng kết quả khảo sát ở câu hỏi số 12 (phụ lục 01) đối với Cán bộ quản lý, GV về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, tác giả đã thu được bảng sau:

Bảng 2.16. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS

  • Nhận xét:

Đa số Cán bộ quản lý, GV đều đánh giá cao yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, điểm TB 3.52. Trong đó đánh giá cao nhất là 2 yếu tố Phẩm chất, năng lực của Hiệu trưởng nhà trường; Phẩm chất, năng lực của giáo viên, cán bộ tư vấn. Điểm TB lần lượt là 3.95 và 3.68.

2.4. Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS ở các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

2.4.1. Ưu điểm

CBQL, giáo viên, LLXH và HS có nhận thức tương đối tốt về hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS. Đội ngũ có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. HS có ý thức cầu thị, cố gắng trong học tập, rèn luyện, có nhiều dự định về tương lai. Nhiều em đã nỗ lực vượt qua sự lôi kéo, cám dỗ từ môi trường xã hội, từng ngày hoàn thiện nhân cách của mình.

GVCN đa số là những giáo viên khá, giỏi, có năng lực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục HS, tạo được uy tín với Cha mẹ học sinh và CBQL của nhà trường đã quan tâm đến hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

Trong công tác quản lý, lãnh đạo nhà trường đã chủ động quan tâm và thực hiện việc lập kế hoạch, tổ chức duy trì nền nếp hoạt động, chỉ đạo các hoạt động, đồng thời tiến hành kiểm tra, đánh giá công tác Tư vấn tâm lý cho HS nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Qua nhiều năm, với mục tiêu xây dựng môi trường giáo dục nhân văn, một số trường đã có một nền móng vững chắc, có chất lượng giáo dục cao trên địa bàn huyện, là địa chỉ uy tín trong hoạt động dạy học và giáo dục.

2.4.2. Về tồn tại

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng thực tế đội ngũ GVCN phải thừa nhận rằng chưa thể đáp ứng hết kỳ vọng của lãnh đạo với công tác trên. Bên cạnh hoạt động chuyên môn là giảng dạy, thầy cô chủ nhiệm còn phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác trong giáo dục HS, nói như một GVCN ở trường đó là “một cỗ máy đa năng”. Nên trong việc triển khai thực hiện các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tư vấn, hoạt động tư vấn cho HS nặng theo hình thức, chưa đạt chất lượng như mong đợi.

Sự phối hợp giữa GVCN và Tổ Tư vấn, hỗ trợ HS chưa chặt chẽ xuất phát từ hai phía, trong đó nguyên nhân lớn nhất là chưa thống nhất được cách làm cho phù hợp, thiếu sự trao đổi cụ thể của hai bên. Một bộ phận giáo viên cho rằng GVCN có trách nhiệm đưa HS của mình đến phòng tư vấn tâm lý, việc còn lại là của cán bộ tư vấn.

Một bộ phận Cha mẹ học sinh chưa có sự nhận thức đúng đắn về hoạt động tư vấn, thiếu sự hợp tác với nhà trường khi triển khai các hoạt động. Nguyên nhân chủ yếu là ít quan tâm đến con cái do mải mê công việc. Trao đổi với GVCN, họ cho biết rất khó khăn trong việc thuyết phục Cha mẹ học sinh khi nhà trường có tổ chức hoạt động ngoại khóa cho HS và gần như không ai biết đến hoạt động của phòng tư vấn của nhà trường. Nếu có biết thì chỉ là Cha mẹ học sinh có con em nảy sinh vấn đề tâm lý.

HS là đối tượng tư vấn, sự phức tạp trong đời sống cũng như tâm lý HS là bài toán mà lãnh đạo, GVCN, cán bộ tư vấn luôn trăn trở để tìm đáp số, có những HS cá biệt, phải theo dõi, kèm cặp, tư vấn nhiều lần nhưng vẫn tái phạm. Do vậy, công tác quản lý hoạt động phải rất linh hoạt và khéo léo. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

Nhận thức của cha mẹ HS về hoạt động trên chưa đầy đủ, gia đình bị chi phối bởi môi trường sống và mặt trái nền kinh tế thị trường nên gần như chưa có sự quan tâm tới con cái, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác quản lý.

  • Sự phối hợp với các lực lượng giáo dục, tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường còn lỏng lẻo, hiệu quả thấp.
  • Nội dung, hình thức tư vấn khá đơn điệu, chủ yếu là tư vấn trực tiếp, với tư vấn hướng nghiệp là tư vấn đại trà, chưa đầu tư theo hình thức chuyên sâu, kết hợp nhiều hình thức tư vấn để tạo hiệu quả.
  • Điều kiện cơ sở, tài chính hạn chế, việc đầu tư cho hoạt động mới chỉ dừng lại ở việc đảm bảo tối thiểu theo yêu cầu hoạt động.
  • CBQL chưa quán xuyến toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng và những diễn biến phức tạp của công tác trên.
  • Tính pháp quy của hoạt động trên chưa đủ mạnh để kích thích hoạt động của nhà trường, thêm vào đó chế độ đãi ngộ với cá nhân làm công tác tư vấn gần như không có, nên chưa tạo động lực cho giáo viên, cán bộ.

Kết luận chương 2

Quản lý hoạt động Tư vấn tâm lý cho HS các trường Trung học cơ sở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định, bên cạnh đó còn một số tồn tại không dễ dàng giải quyết đó là việc phải tiếp tục củng cố và nâng cao nhận thức của giáo viên, Cán bộ quản lý, HS, nhất là Cha mẹ học sinh; đổi mới nội dung và hình thức tư vấn phong phú, đa dạng, có kế hoạch tổ chức việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tư vấn cho đội ngũ, cùng công tác kiểm tra – đánh giá sâu sát.v.v… Đây là bài toán mà Cán bộ quản lý nhà trường sẽ phải giải quyết trong thời gian tới.

Trên cơ sở khảo sát, tìm hiểu thực tế, phân tích thực trạng, tác giả đã chỉ ra các nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến quá trình quản lý gồm nguyên nhân khách quan và chủ quan. Do vậy, việc tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả cho công tác trên rất cấp thiết, phụ thuộc vào tinh thần, năng lực, phẩm chất của người Cán bộ quản lý. Luận văn: Thực trạng hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL hoạt động Tư vấn tâm lý HS trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993