Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Vài nét khái quát về trường trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Trung học cơ sở Vân Hà, đóng trên địa bàn thôn Thiết Bình, xã Vân Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội được thành lập từ năm 1964. Từ một ngôi trường với 8 lớp học được tách ra từ trường cấp I và II Vân Hà với điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn.
Được sự đầu tư của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh, trường được khởi công xây dựng trên một khu đất mới với diện tích 11.857 m2 với 18 phòng học (diện tích 50 m2 / phòng), 6 phòng chức năng, một dãy nhà hiệu bộ ba tầng, một phòng thể chất, 1 nhà ăn học sinh… theo đúng quy định của trường chuẩn Quốc gia.
Ngày 30 tháng 1 năm 2015, trường Trung học cơ sở Vân Hà được khánh thành và vinh dự gắn biển công trình kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2015). Trường được thiết kế hiện đại, đầu xây dựng mới hoàn toàn. Điều đó đã đáp ứng được niềm mong mỏi của các em học sinh, các thầy cô giáo, Đảng uỷ, Ủy ban nhân dân và toàn thể nhân dân xã Vân Hà.
Với sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ Cán bộ – Giáo viên – Nhân viên và học sinh nhằm ổn định nền nếp, nâng cao chất lượng cùng với ý thức phấn đấu theo chiến lược phát triển giáo dục của nhà trường giai đoạn 2020 – 2025, ngày 24 tháng 3 năm 2021, trường Trung học cơ sở Vân Hà chính thức được công nhận đạt trường chuẩn Quốc gia giai đoạn I Số 1289 ngày 16/03/2021.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trường
- Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức trường trung học cơ sở Vân Hà
- Bảng 2.1. Quy mô trường lớp trường trung học cơ sở Vân Hà
Như vậy, quy mô lớp học và số học sinh của nhà trường tăng dần theo từng năm. Tỷ lệ học sinh/lớp của từng năm học cũng tăng lên. Đặc biệt năm học 2024 – 2025 khối lớp 6 tăng lên hai lớp. Điều đó chứng tỏ phụ huynh học sinh tin tưởng vào chất lượng giáo dục của nhà trường và yên tâm gửi gắm con em mình cho nhà trường.
2.1.3. Cơ sở vật chất của trường Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Nhà trường được xây dựng trên diện tích 11.857 m2, chủ đầu tư là Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội. Trường được phân chia thành các khu sau:
- Khu học tập hai dãy nhà 3 tầng gồm:
Phòng học: 18; phòng máy tính 01; phòng thí nghiệm thực hành môn Hóa: 01, phòng thí nghiệm thực hành môn Vật lí: 01, phòng thí nghiệm thực hành môn Sinh học: 01; Phòng thư viện: 01; 02 phòng máy chiếu phục vụ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin; Phòng họp chung: 01 với sức chứa 100 người.
- Một nhà thể chất (Có sức chứa 700 người) thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tập thể của nhà trường.
- Khu nhà hành chính 3 tầng gồm:
Phòng làm việc của Hiệu trưởng: 01; phòng làm việc Phó hiệu trưởng: 01; phòng chờ giáo viên: 01; phòng họp: 01; phòng kế toán: 01; phòng thủ quỹ: 01; phòng Công đoàn: 01; Phòng Đoàn thanh niên: 01; phòng Văn thư: 01
Với sự quan tâm đầu tư của cấp trên, nhà trường có đủ các phòng học, phòng học bộ môn, các phòng làm việc của cán bộ quản lý và các phòng phục vụ cho công tác hành chính, điều hành của nhà trường. Đây là điều kiện thuận lợi để nhà trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Tuy có đủ các phòng học và các thiết bị dạy học phục vụ cho công tác dạy học, hiện nay nhà trường còn thiếu các máy tính cho các tổ chức trong nhà trường: Tổ chuyên môn, Công đoàn, Đoàn thanh niên. Nhà trường còn thiếu các phòng sinh hoạt của các tổ chuyên môn. Việc sinh hoạt chuyên môn của các tổ còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu ở các lớp học.
2.1.4 Hoạt động dạy và nghiên cứu của giáo viên, hoạt động học của học sinh trong những năm gần đây
2.1.4.1 Hoạt động dạy và nghiên cứu của giáo viên
Từ năm 2021 đến năm 2024, trường Trung học cơ sở Vân Hà đã không ngừng phát triển và vươn lên. Về mặt tổng số giáo viên nhìn chung không có nhiều thay đổi, song chất lượng và trình độ của giáo viên ngày được nâng cao. Tuy là một trường nhỏ của huyện, cả trường chỉ có 29 giáo viên nhưng phong trào tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ rất được hưởng ứng. Không chỉ các đồng chí giáo viên trẻ mà một số giáo viên đã nhiều tuổi cũng tham gia tự học, tự bồi dưỡng về trình độ chuyên môn. Các phong trào về chuyên môn như hội giảng, chuyên đề, thi giáo viên dạy giỏi các cấp, phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm đều được đông đảo giáo viên tham gia và đạt kết quả cao, nhiều sáng kiến được xếp loại B cấp thành phố.
- Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của giáo viên trường trung học cơ sở Vân Hà
Tổ Khoa học Xã hội có 14 đồng chí, trong đó nhóm Ngữ văn chỉ có 4 giáo viên; 1 giáo viên đạt chuẩn, 3 giáo viên đạt trên chuẩn. Vì vậy công tác giảng dạy Ngữ văn của trường gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các giáo viên đều rất cố gắng khắc phục khó khăn, luôn học hỏi và giúp đỡ nhau trong chuyên môn. Đa số giáo viên Ngữ văn đều tự đánh giá có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm tốt, có ý thức đổi mới phương pháp và áp dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy.
Bảng 2.3: Giáo viên tự đánh giá về trình độ chuyên môn
- Hoạt động học của học sinh
Trong những năm học gần đây, trường Trung học cơ sở Vân Hà đã đạt được một số thành tích nhất định và bước đầu khẳng định được chất lượng giáo dục so với các trường Trung học cơ sở khác trong toàn huyện Đông Anh.
- Về chất lượng 2 mặt giáo dục Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Bảng 2.4: Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục của trường trung học cơ sở Vân Hà
Qua bảng kết quả xếp loại hai mặt giáo dục của nhà trường trong ba năm gần đây ta thấy về kết quả rèn luyện đạo đức và học tập của học sinh có xu hướng tích cực. Tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm TB giảm dần, tỉ lệ học sinh hạnh kiểm khá, tốt tăng theo từng năm.
Về học lực tỉ lệ học sinh khá, giỏi tăng dần theo từng năm, trong đó tỉ lệ học sinh tăng mạnh nhất từ 30.47% năm học 2022 – 2023 lên 36.32 % trong năm học 2024 – 2025. Tỉ lệ học sinh xếp loại học lực yếu cũng đã giảm rõ dệt từ 9.63% năm học 2022 – 2023 xuống còn 3.99% năm học 2024 – 2025.
- Kết quả tốt nghiệp Trung học cơ sở – Thi vào Trung học phổ thông
Bảng 2.5: Kết quả tốt nghiệp và thi vào trung học phổ thông của trường và của Huyện Đông Anh
Qua thống kê kết quả tốt nghiệp Trung học cơ sở và bảng kết quả thi vào Trung học phổ thông ta thấy: kết quả tốt nghiệp của nhà trường năm học sau cao hơn năm học trước, đặc biệt là sự tiến bộ về tỷ lệ tốt nghiệp đạt loại Khá, Giỏi có sự chuyển biến rõ. Tỷ lệ thi đỗ vào các trường Trung học phổ thông công lập cũng khả quan hơn.
Tuy vậy, có thể thấy chất lượng giáo dục nhà trường so với toàn huyện còn chưa cao. Đặc biệt là chất lượng mũi nhọn. Nguyên nhân chủ yếu là do địa phương có nghề thủ công mỹ nghệ và buôn bán đồ gỗ rất phát triển, chuyên môn học sinh và học sinh chưa quan tâm thực sự đến việc học của con em, đội ngũ giáo viên nhà trường chưa có phương pháp dạy học hiệu quả dẫn đến chất lượng các giờ dạy chưa đồng thật tốt.
2.2 Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Với phạm vi của đề tài, chúng tôi lựa chọn tiến hành khảo sát 04 giáo viên dạy môn Ngữ văn, 02 cán bộ Quản lý và 40 học sinh của trường Trung học cơ sở Vân Hà. Để khảo sát thực trạng học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh tại trường Trung học cơ sở Vân Hà, chúng tôi đã lập 1 mẫu phiếu chung cho giáo viên dạy Ngữ văn với tổng số phiếu thu về là 04, 1 mẫu phiếu chung cho cán bộ Quản lý với tổng số phiếu thu về là 02 và 1 mẫu chung cho học sinh với tổng số phiếu thu về là 40. Kết quả được tổng hợp theo các mức độ đánh giá được qui ước tương ứng với điểm trọng số như sau:
2.2.1. Thực trạng hoạt động dạy của giáo viên
2.2.1.1 Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch công tác
Việc lập kế hoạch dạy học là một trong những khâu quan trọng. giáo viên hiểu được bản chất của kế hoạch dạy học tích hợp. Việc lập kế hoạch làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống. Đồng thời phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống. Việc lập kế hoạch cũng giúp giáo viên xác định nhiệm vụ trọng tâm của năm học, của từng học kỳ và trọng tâm của từng tháng, từng tuần. Qua đó nhà Quản lý cũng nắm được nội dung công việc của từng giáo viên và thời gian tiến hành, cách tiến hành ra sao. Nhờ đó công việc Quản lý đạt hiệu quả tốt hơn.
Trong số 4 giáo viên dạy Ngữ văn được hỏi đến thì 100% giáo viên đề đồng ý rằng đây là khâu mở đầu nhưng vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả dạy học. Vì vậy 100% giáo viên thực hiện đầy đủ và nghiêm túc khâu này. giáo viên lập kế hoạch của cả năm học theo từng tháng, từng tuần cụ thể và nhấn mạnh tháng nào, tuần nào là đợt cao điểm của chuyên môn.
2.2.1.2 Soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp
Dạy học là công việc vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, nó luôn đòi hỏi sự sáng tạo của người giáo viên trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên không thể có một sự sáng tạo nào mà không lại thiếu đi sự chuẩn bị chu đáo. Vì vậy, việc chuẩn bị lên lớp không những là cần thiết mà còn là điều bắt buộc không chỉ đối với giáo viên mới bước vào nghề mà cả đối với giáo viên lâu năm, có nhiều kinh nghiệm. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Vì vậy, nếu như khâu lập kế hoạch công tác là xác định nhiệm vụ dạy học trong từng tuần, từng tháng thì khâu soạn bài và chuẩn bị bài trên lớp là thực hiện một phần nhiệm vụ ấy. Khi soạn bài, giáo viên phải xác định rõ mục tiêu bài học. Mục tiêu của mỗi giờ học Ngữ văn nhằm hình thành những hiểu biết về kiến thức; rèn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết và hình thành thái độ, tình cảm cho học sinh. Mục tiêu dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh của trường Trung học cơ sở Vân Hà được đánh giá như sau:
- Biểu đồ 2.1. Mức độ đầy đủ và hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu dạy học
Từ số liệu của Biểu đồ 2.1 cho thấy, mức độ đầy đủ của việc thực hiện các mục tiêu dạy học có số điểm cao hơn mức độ hiệu quả. Như vậy có thể thấy, không phải cứ thực hiện đầy đủ các mục tiêu là có hiệu quả cao, việc đạt được hiệu quả cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trước đây, mục tiêu thái độ, tình cảm ít được giáo viên quan tâm mà hầu như chỉ chú trọng đến mục tiêu hình thành kiến thức và kỹ năng cho học sinh. Nhưng những năm gần đây, việc giáo dục thái độ và tình cảm cho học sinh qua mỗi giờ học Ngữ văn được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là từ khi đưa giáo dục nếp sống vào trường học. Vì vậy, trước khi soạn bài, giáo viên cần xác định được mục tiêu bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của bài dạy
Căn cứ mục tiêu, giáo viên phải đưa ra những phương pháp và tổ chức dạy học sao cho phù hợp. Một giờ văn thành công, học sinh ngoài phát triển được kỹ năng nói, kỹ năng viết thì phải có khả năng cảm thụ tác phẩm văn học thông qua hệ thống ngôn từ, có những hành vi tốt đẹp trong cuộc sống. giáo viên cần dự đoán những phương án trả lời của học sinh và có đáp án vừa rõ ràng, rành mạch vừa có tính khoa học vừa có những lời giảng bình hay, hấp dẫn.
- Bảng 2.6. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện việc soạn bài và chuẩn bị bài khi lên lớp của giáo viên
Qua bảng 2.6 chúng ta thấy giữa giáo viên và học sinh chưa có sự thống nhất về đánh giá việc soạn bài và chuẩn bị bài của giáo viên khi lên lớp. 100% giáo viên tự đánh giá mình thực hiện việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất tốt nhưng vẫn có 2 học sinh cho rằng việc soạn bài của giáo viên ở mức khá. Thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng soạn bài của giáo viên như nội dung bài học quá dài, phân bố thời gian trong giờ học, việc tiếp thu và mở rộng kiến thức mới trong bài giảng hay do đối tượng học sinh trung bình nhiều. Vì thế 75% giáo viên đánh giá làm tốt việc thường xuyên cập nhật, mở rộng bài giảng với những kiến thức mới và tích hợp với nội dung giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh phù hợp với bài giảng, còn 25% giáo viên đánh giá làm công việc này ở mức khá. Tuy nhiên vẫn có 10% học sinh được hỏi cho rằng việc cập nhật, mở rộng bài giảng với những kiến thức mới của giáo viên chỉ ở mức độ khá thường xuyên (trung bình) và 7,5% học sinh đánh giá rằng việc tích hợp với nội dung giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh phù hợp với bài giảng của giáo viên ở mức độ thường xuyên. Như vậy, việc mở rộng kiến thức trong mỗi bài dạy của giáo viên chưa thực hiện được, việc tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh cũng chưa được chú trọng. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến giờ học Ngữ văn chưa hấp dẫn, chưa lôi cuốn được học sinh yêu thích môn Ngữ văn. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
2.2.1.3 Thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
- Về nội dung chương trình:
Theo kết quả điều tra thì 100% giáo viên và học sinh đều đánh giá là dạy theo đúng phân phối chương trình. Những giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn được hỏi đều có cùng nhận xét về nội dung chương trình sách giáo khoa mới từ năm 2002 có nhiều ưu điểm phù hợp với học sinh hơn nội dung sách giáo khoa cũ.
Có thể thấy rõ cấu trúc nội dung của mục tiêu môn học này gồm 3 yếu tố: kiến thức, năng lực (kỹ năng) và thái độ. Đây chính là cấu trúc “kinh điển” của mục tiêu giáo dục trong nhà trường phổ thông từ trước đến nay. Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay đã đưa những tiết chương trình địa phương giúp các em hiểu biết hơn về quê hương mình; những tiết luyện nói giúp các em có cơ hội trình bày trước lớp và rèn các em tự tin khi nói bày trước đám đông. Điểm mới so với chương trình cũ là đã đưa vào những văn bản nhật dụng mang tính cập nhật, tính thời sự và tính lâu dài như những vấn đề về môi trường, dân số,… Đặc biệt, năm học 2020 – 2021, bộ tài liệu “Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội” được đưa vào giảng dạy trong các trường học của thành phố, nhóm Ngữ văn của trường đã triển khai dạy Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh. Chính điều đó đã giúp bộ môn càng gần với đời sống hơn.
Tuy nhiên, so với yêu cầu và xu thế mới có thể thấy một số bất cập trong cách xác định mục tiêu trên. Cụ thể, việc cung cấp kiến thức được coi là mục tiêu số một cho thấy chương trình tập trung nhấn mạnh kiến thức chứ không phải kỹ năng, năng lực. Khái niệm “cơ bản, hiện đại” và nhất là “tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học” đã khiến chương trình sách giáo khoa nghiêng về trang bị các tri thức mang tính hàn lâm và xây dựng môn Ngữ văn trong nhà trường tương ứng với toàn bộ khoa học Ngữ văn. Kết quả là học sinh được học tất cả từ ngôn ngữ học, Việt ngữ học, lý luận văn học, lịch sử văn học…trong đó có một số kiến thức quá cao sâu chưa cần đối với học sinh phổ thông.
Đa số giáo viên và học sinh được hỏi đều cho rằng nội dung nhiều tiết học còn nặng về truyền thụ kiến thức. Nhất là chương trình lớp 7 có quá nhiều văn bản trung đại rất khó và quá sức với học sinh. Điều đó gây cản trở cho các hoạt động của giờ dạy. Nhiều khi giáo viên vì phải chạy theo chương trình mà khiến cho bài giảng nặng nề, thiên về nhồi nhét kiến thức. Vì vậy việc Sở Giáo dục và đào tạo để cho các trường tự xây dựng chương trình phù hợp với đặc điểm của trường, phù hợp với đối tượng học sinh là cần thiết. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Việc sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với nội dung bài học và với đối tượng học sinh là rất cần thiết. Bởi nhiệm vụ quan trọng của giáo viên là phải khơi nguồn được tình yêu văn học ở các em, giúp các em biết thể hiện suy nghĩ, tình cảm của mình. Những phương pháp đọc sáng tạo, vấn đáp, bình giảng, nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, tích hợp,.. là những phương pháp mang tính đặc thù của bộ môn. Đối với giáo viên, dạy ba phân môn như thể thống nhất, trong đo mỗi phân môn vừa giữ bản sắc riêng, vừa hòa nhập với nhau để cùng hình thành những tri thức và kỹ năng Ngữ văn thống nhất ở học sinh không còn là việc làm mới mẻ. giáo viên phải thực hiện mọi yêu cầu một cách linh hoạt, sáng tạo mà mấu chốt của sự sáng tạo đó là luôn suy nghĩ về mục tiêu của bộ môn để tìm ra yếu tố đồng quy giữa ba phân môn tích hợp trong từng thời điểm, theo từng vấn đề.
Kết quả khảo sát 4 giáo viên về thực trạng sử dụng phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở Vân Hà như sau:
- Biểu đồ 2.2. Mức độ thường xuyên và hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học
Qua phân tích theo số liệu khảo sát giáo viên dạy Ngữ văn của trường Trung học cơ sở Vân Hà, 85% giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp tích hợp, đặc biệt là tích hợp với nội dung giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh và hiệu quả. Phương pháp vấn đáp gợi mở và bình giảng cũng được giáo viên thường xuyên sử dụng. Đây là hai phương pháp truyền thống mang tính đặc thù của môn Ngữ văn. Tuy nhiên, tiết học hiện đại thường bắt đầu bằng việc nêu vấn đề, tạo tình huống có vấn đề, gây hứng thú và thu hút sự chú ý của học sinh vào những vấn đề đó. giáo viên đưa ra một vấn đề, một tình huống học sinh cần giải quyết. học sinh vận dụng vốn hiểu biết của mình và kiến thức mới được học để giải quyết. Sau đó, giáo viên sẽ định hướng kiến thức cho các em. Với phương pháp này, yêu cầu vấn đề phải có tính chất tranh cãi thì học sinh mới hứng thú, còn vấn đề chỉ mang tính chất tái hiện, trình bày lại thì sẽ không có độ hấp dẫn và không tạo nên được nhiều ý kiến của học sinh. Từ đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em. Phương pháp đọc sáng tạo cũng là phương pháp đặc thù của môn Ngữ văn. Phương pháp dạy học tích cực quan niệm học sinh là chủ thể, là bạn đọc sáng tạo trong đọc hiểu văn bản văn học nên mọi hoạt động tổ chức dạy và học đều chú ý đến việc kích thích trí sáng tạo, sự phát triển tư duy và tình cảm thẩm mỹ tốt đẹp ở học sinh. Atmuxơ cho rằng: “Đọc cũng là một lao động và sáng tạo”. Vì bản chất đó, đọc sáng tạo được coi là một phương pháp quan trọng trong dạy học văn.Theo PGS.TS Nguyễn Viết Chữ, khoa Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội thì đây là một trong bốn phương pháp lớn của dạy học văn học. Các mức độ đọc trong phương pháp “Đọc sáng tạo” bao gồm: đọc đúng, đọc diễn cảm, cao nhất là đọc nghệ thuật với những biện pháp thực hiện khác nhau. Theo Viện sĩ Naiđixop (Nga), việc đọc cần thực hiện được tám yêu cầu cơ bản sau:
- Giản dị và tự nhiên Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Thâm nhập vào nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm ở mức dễ hiểu với mọi lứa tuổi
- Truyền đạt rõ ràng tư tưởng tác giả
- Thể hiện trình độ của mình với tác phẩm được đọc
- Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với người nghe
- Phát âm rõ ràng, chính xác
- Truyền đạt được đặc điểm loại thể và phong cách tác phẩm
- Kĩ năng sử dụng đúng giọng của mình [29, 2-3].
Như vậy, nắm được yêu cầu của phương pháp, khi thực hiện hoạt động đọc và vận dụng phương pháp này trong dạy học văn giáo viên phải chú ý, không được coi nhẹ. Hoạt động đọc văn và những kết quả của phương pháp “Đọc sáng tạo” trong nhà trường phổ thông là cơ sở để tạo nên văn hóa đọc trong tương lai, điều mà mỗi con người muốn hòa nhập thì không thể không chú ý. Bản chất đọc sáng tạo cũng là vươn tới rèn luyện một năng lực, vốn văn hóa tiếp nhận ngay từ khi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường. Mỗi văn bản có một giọng đọc đặc trưng. Muốn tổ chức giờ học tốt, giáo viên phải nắm được các kiểu giọng đọc của từng văn bản để hướng dẫn học sinh. Từ số liệu của biểu đồ 2.2 cho thấy giáo viên không hề xem nhẹ phương pháp này, nhưng không được tiến hành đều ở các lớp. Qua điều tra, chúng tôi được biết những lớp khá thường được sử dụng nhiều hơn, ở những lớp kém thì ngược lại nên hiệu quả đạt được chưa cao.
Kết quả khảo sát 40 học sinh đánh giá về thực trạng sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên dạy Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở Vân Hà cũng khá đồng nhất với kết quả khảo sát giáo viên, cụ thể như sau:
- Bảng 2.7. Kết quả đánh giá của học sinh mức độ sử dụng phương pháp dạy học Ngữ văn của trường trung học cơ sở Vân Hà
Những số liệu trong bảng 2.7 cho thấy việc tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh trong bài giảng của giáo viên rất thường xuyên, được học sinh đánh giá cao. Một số học sinh được phỏng vấn cho biết việc các thầy cô thường xuyên sử dụng phương pháp tích hợp trong những giờ học không chỉ giúp chúng em được khắc sâu và mở rộng kiến thức của môn Ngữ văn mà cả các môn học khác. Chúng em thêm hiểu biết cả môn Lịch sử, Địa lí, vận dụng cả kiến thức môn Giáo dục công dân, Âm nhạc, Mĩ thuật,… Đặc biệt là tích hợp với nội dung nếp sống Thanh lịch văn minh giúp chúng em biết điều chỉnh hành vi của mình và thêm tự hào là người Hà Nội. Các em cảm thấy giờ học Ngữ văn gần với cuộc sống xung quanh các em và nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Phương pháp bình giảng trong những giờ học văn bản cũng được học sinh xếp thứ hai. Các em nói rằng rất thích nghe những lời bình của các thầy cô cũng như của các bạn trong lớp. Phương pháp nêu vấn đề, xây dựng tình huống là phương pháp quan trong nhưng chỉ được học sinh xếp thứ tư sau phương pháp vấn đáp gợi mở. Còn phương pháp nêu vấn đề, xây dựng tình huống và phương pháp đọc sáng tạo thì với lớp nhiều học sinh trung bình các em không hào hứng với phương pháp này lắm.
Song song với các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học hiện nay cũng rất đa dạng. giáo viên có thể kết hợp dạy trong lớp và ngoài trời, học chính khóa và ngoại khóa,… Tuy nhiên trong dạy học Ngữ văn của trường Trung học cơ sở Vân Hà 100% là dạy trong lớp. Mỗi năm nhà trường chỉ tổ chức một buổi ngoại khóa vào đầu học kỳ hai. Địa điểm là những khu di tích lịch sử như Cố đô Hoa Lư, Côn Sơn, Kiếp Bạc,… Sau chuyến những chuyến ngoại khóa, giáo viên dạy Ngữ văn có yêu cầu học sinh viết nài thu hoạch nhưng hiệu quả cũng không cao. Bởi với học sinh, đó là những chuyến vui chơi với bạn bè chứ chưa xác định được đó là hoạt động ngoại khóa phục vụ cho học tập. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá là khâu quan trong không thể thiếu trong quá trình dạy học, không chỉ đối với học sinh, giáo viên mà cả đối với nhà Quản lý. Trước hết, đối với học sinh, việc kiểm tra đánh giá giúp các em Có hiểu biết kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” bên trong, từ đó điều chỉnh hoạt động học tập của chính mình. Như vậy, nếu việc kiểm tra và đánh giá được tiến hành tốt nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học giải quyết những tình huống thực tế. Đối với giáo viên, việc kiểm tra, đánh giá học sinh sẽ giúp cho người giáo viên những “thông tin ngược ngoài”, từ đó có sự điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp, có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, trước là đối với học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém, qua đó mà năng cao chất lượng học tập chung của cả lớp. Còn đối với cán bộ Quản lý giáo dục, kiểm tra đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp những thông tin cần thiết về thực trạng dạy – học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những sai lệch nếu có; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục.
Theo quan điểm truyền thống, kiểm tra đánh giá là một quá trình dạy học và được thực hiện sau khi kết thúc quá trình dạy học. Quan điểm mới cho rằng kiểm tra đánh giá là một quá trình không thể thách rời quá trình dạy học, được thực hiện liên tục, đan xen trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá cũng là một hình thức dạy học và các phương pháp kiểm tra đánh giá cũng là phương pháp dạy học.
Cách thực hiện kiểm tra đánh giá cũng rất đa dạng, phong phú và linh hoạt: kiểm tra bài cũ không nhất thiết chỉ kiểm tra đầu giờ mà có thể kiểm tra trong giờ hoặc cuối giờ. Hình thức trắc nghiệm khách quan cũng được giáo viên sử dụng trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn. Đây là điểm mới của môn này. Đặc biệt đề Văn hiện nay không còn khép kín trong cảm nhận văn chương nữa mà mở rộng dần vào cuộc sống.
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy giáo viên sử dụng phương pháp này rất thường xuyên. 75% giáo viên và học sinh đều đánh giá rằng rất thường xuyên sử dụng phương pháp đánh giá. Tuy nhiên vẫn còn 25% giáo viên và học sinh đánh giá ở mức trung bình. Nguyên nhân là do số học sinh trong lớp đông nên vẫn còn hiện tượng quay cóp bài, chưa thực chất.
- Thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
Hồ sơ chuyên môn của giáo viên gồm: Giáo án, Lịch báo giảng, Sổ điểm cá nhân, Sổ dự giờ, Sổ bồi dưỡng chuyên môn, Sổ lưu đề kiểm tra, Sổ lưu công văn, Sổ công tác,… Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Hồ sơ được đánh giá xếp loại tốt trước tiên phải có đầy đủ đầu sổ theo quy định. Các sổ sách phải được ghi chép đầy đủ, thể hiện rõ những công việc giáo viên, tổ nhóm chuyên môn thực hiện trong hoạt động dạy học. Trong hồ sơ của giáo viên cũng phải ghi chép đầy đủ những nội dung giáo viên giảng dạy trên lớp và những kết quả học tập của học sinh trong quá trình giáo viên đánh giá chấm điểm.
100% giáo viên được hỏi cho rằng đã thực hiện tốt những quy định về hồ sơ sổ sách chuyên môn. Nhưng với các nhà Quản lý lại cho rằng chỉ khoảng 85% giáo viên thực hiện tốt về hồ sơ chuyên môn, còn 15% hồ sơ đạt loại khá. Vì một số giáo viên có đầy đủ hồ sơ sổ sách chuyên môn nhưng ghi chép chưa cẩn thận, chưa thể hiện rõ những công việc mình đã làm
- Thực trạng sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học
Trước đây trong điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình giảng dạy của giáo viên còn rất nhiều hạn chế; giáo viên chủ yếu là dạy chay hoặc sử dụng những thiết bị, đồ dùng cũ, lạc hậu không phù hợp. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giờ dạy và việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Trong giai đoạn hiện nay, xu thế đổi mới phương pháp dạy học ngày càng diễn ra mạnh mẽ, cho nên Cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học được xem như là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ Giáo dục – Đào tạo nhằm đáp ứng được những đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây nhà nước đã từng bước tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục với nhiều thiết bị hiện đại, phù hợp có tác động tích cực đến quá trình dạy học
Từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 4 giáo viên dạy Ngữ văn, kết quả như sau:
- Biểu đồ 2.3. Mức độ thường xuyên và hiệu quả của việc sử dụng phương tiện dạy học
Từ số liệu về thực trạng sử dụng phương tiện dạy học của giáo viên trong các giờ lên lớp chúng ta có thể vui mừng khi giáo viên khá thường xuyên sử dụng phương tiện hiện đại. Bảng, phấn là phương tiện truyền thống không thể thiếu trong mỗi giờ lên lớp được 100% giáo viên sử dụng và rất hiệu quả. Tranh ảnh minh hoạ cho bài dạy cũng được giáo viên thường xuyên sử dụng, nhất là khi dạy truyện dân gian lớp 6. Các em hào hứng hơn trong mỗi giờ học, háo hức nhìn tranh để kể lại truyện nên giờ học rất hiệu quả. Bên cạnh những phương tiện truyền thống, phương tiện dạy học hiện đại cũng được sử dụng khá thường xuyên và hiệu quả, đặc biệt là với giáo viên trẻ. Nếu giáo viên sử dụng thành thạo các phương tiện truyền thông đa chiều thì trong một tiết học, giáo viên có thể truyền thụ được khối lượng kiến thức khá lớn tới học sinh. Đồng thời giáo viên cũng phát huy được năng lực tự học của các em. Với những tài liệu các em sưu tầm được, giáo viên chiếu lên màn hình để các em cùng thấy được sản phẩm của mình, như vậy càng khích thích được khả năng sáng tạo của các em. Không chỉ vậy, với những hình ảnh, âm thanh sống động càng làm cho giờ học thêm sôi nổi. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Thực tế, khi mới đạt trường chuẩn (năm 2021), Cơ sở vật chất khá đầy đủ với ba phòng bộ môn và hai phòng đa năng có máy chiều cố định nên giáo viên có điều kiện thường xuyên sử dụng. Tuy nhiên, đến năm học 2024 – 2025, số học sinh tăng lên hai lớp nên hai phòng đa năng đó làm phòng học. Phòng bộ môn với đặc trưng để thực hành môn Vật lí, Hóa học (trên bàn có ổ điện, vòi nước,…) nên không phù hợp để học Ngữ văn. Vì vậy, việc sử dụng các thiết bị hiện đại có phần hạn chế hơn. Hầu như giáo viên chỉ sử dụng những máy chiếu đó trong những tiết thanh tra, thi giáo viên dạy giỏi, hội giảng, chuyên đề nên giáo viên khó có kỹ năng thành thạo
Dù phương tiện hiện đại hay truyền thống thì phương tiện cũng chỉ là công cụ hỗ trợ trong tiết học trên lớp, nhằm làm sáng tỏ những điều cần trình bày của giáo viên và trực quan hóa nội dung giảng dạy giúp học sinh tiếp thu dễ dàng và tham gia học tập một cách chủ động tích cực. Mỗi loại phương tiện dạy học có những ưu điểm và nhược điểm riêng, vậy vấn đề còn lại là giáo viên phải biết lựa chọn phương tiện nào cho phù hợp.
2.2.2. Thực trạng hoạt động học của học sinh
Học tập là một hoạt động nhận thức, chỉ khi có nhu cầu hiểu biết học sinh mới tích cực học tập. Nhu cầu hiểu biết đó chính là động cơ nhận thức của học sinh trong học tập. học sinh là chủ thể của quá trình học tập, đối tượng của hoạt động học hướng tới đó là tri thức. Nhưng tri thức mà học sinh phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng, và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kỹ năng, thái độ… Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học. Vì vậy, những vấn đề của người học như mục đích, động cơ học tập; ý thức, thái độ học tập; quá trình học tập; kết quả học tập của học sinh đều trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường.
- Mục đích, động cơ học tập Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Học tập là hoạt động sống, hoạt động đó dẫn người học hướng tới tri thức, kỹ năng, hình thành nhân cách, phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Đó là mục đích tối thượng, cốt lõi của học tập. Tuy vậy, qua học tập không phải ai cũng dễ dàng đạt được mục đích học tập đã đề ra cho mình mặc dù mục đích đó của mỗi người là tự thân và khác nhau về dạng thức, cấp độ, trình độ cần đạt được. Một trong những nguyên nhân không đạt được mục đích là do người học không xác lập, xây dựng được động cơ, thái độ học tập đúng đắn. Do thiếu động cơ đúng đắn trong học tập, người học bị chùn bước, buông xuôi trước các khó khăn, trở ngại, cám dỗ phát sinh trong quá trình học tập, hệ quả là người học khó đạt được mục tiêu, mục đích học tập của mình. Do thái độ học tập chưa tốt, người học sẽ học tập không nghiêm túc, không xây dựng được phương pháp tự học, cách học khoa học, điều đó làm cho việc học tập kém hiệu quả, dẫn đến không đạt được mục đích học tập.
Ở bậc Trung học cơ sở, việc học tập thiếu động cơ, mục đích rõ ràng của học sinh cũng là vấn đề khá phổ biến. Ở cấp học này, học sinh còn đang ở lứa tuổi vị thành niên, việc hình thành động cơ, thái độ học tập chưa được sự quan tâm, chú ý của học sinh, chưa được sự hướng dẫn đầy đủ của gia đình, nhà trường và giáo viên. Trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nội dung giáo dục sẽ chuyển đổi từ hình thành cho học sinh kiến thức, kỹ năng, thái độ đơn thuần nâng lên thành giáo dục, hình thành cho học sinh phẩm chất, năng lực thì vấn đề xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho học sinh và nâng cao trách nhiệm của giáo viên là vấn đề cấp thiết.
Sau khi điều tra về mục đích động cơ học tập của 40 học sinh, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.8. Kết quả khảo sát học sinh về mục đích động học tập Ngữ văn
Qua số liệu Bảng 2.8 chúng ta thấy việc xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn là rất cần thiết cho hoạt động học tập của học sinh. Những học sinh khá giỏi đều có mục đích học tập rõ ràng và thiết thực như để đạt điểm cao, để thi đỗ vào trường Trung học phổ thông công lập. Bên cạnh đó có một số học sinh lười học, học yếu không có mục đích học tập rõ ràng. Một số em được hỏi nói rằng em chỉ học hết lớp 9. Đó là thực tế rất đáng buồn vì địa phương có làng nghề, nên một số phụ huynh cũng không quan tâm đến việc học của con em. Có phụ huynh được hỏi trả lời luôn rằng chỉ cho con học hết lớp 9 để lấy bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở thôi. Đây cũng là thực trạng khiến các nhà giáo dục như chúng ta phải lưu tâm.
- Ý thức, thái độ học tập và hứng thú với môn Ngữ văn
M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc. Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo. Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy học ở trường Trung học cơ sở Vân Hà bằng cách lấy phiếu hỏi từ các giáo viên và học sinh đã cho thấy nhiều học sinh không có hứng thú trong học tập. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Biểu đồ 2.4. Mức độ hiệu quả về thái độ, tình cảm của học sinh đối với môn Ngữ văn
Qua số liệu từ Biểu đồ 2.4 chúng ta thấy ý thức, thái độ và hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn chưa cao, chỉ ở mức khá, trung bình. Bên cạnh đó, về sự chuyên cần thì 100% giáo viên và học sinh không có hiện tượng học sinh thường xuyên bỏ tiết. Tuy nhiên đôi khi vẫn còn hiện tượng này xảy ra.
Một vấn đề rất đáng quan tâm nữa là thời gian tự học và hứng thú học môn Ngữ văn của học sinh so với môn Toán và Tiếng Anh. Hiện nay, đây là ba môn quan trọng trong nhà trường Trung học cơ sở. Hầu hết phụ huynh học sinh cũng đầu tư cho con em ba môn này. Tuy nhiên, qua khảo sát ý kiến của 40 học sinh thì chúng ta thấy một thực tế thật đáng buồn. Thời gian tự học và hứng thú học môn Ngữ văn của học sinh đều ít hơn so với hai môn Toán và Tiếng Anh. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.9. Kết quả khảo sát học sinh về mục đích, động học tập Ngữ văn
Theo đó, một số học sinh được hỏi đề trả lời rằng tự học Văn, làm Văn rất khó, rất mất thời gian. Đã vậy làm xong cũng không biết mức độ đúng sai thế nào, mỗi giáo viên lại có giọng văn khác nhau nên nhiều khi kết quả lại phụ thuộc vào người chấm. Ngược lại, sau khi làm xong môn Toán và Tiếng Anh thì có thể đoán được mức độ đúng sai gần như chính xác. Điều này vừa được xem như là một biểu hiện vừa được xem như một nguyên nhân cơ bản của việc suy giảm chất lượng dạy học.
- Bảng 2.10. Kết quả khảo sát học sinh về nguyên nhân chưa học tốt môn Ngữ văn
Qua số liệu từ bảng 2.10 chúng ta thấy có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc học sinh không hào hứng với môn Ngữ văn, kết quả học tập chưa cao. Giải thích về thực trạng này, nhiều giáo viên cho rằng trong thời đại Công nghệ thông tin phát triển nên các em bị hấp dẫn bởi nhiều trang mạng xã hội khác. Cứ rảnh rỗi là các em lại lên facebook hay các trò chơi online chứ không đọc sách. Văn hóa đọc của các em rất yếu. 75% giáo viên và học sinh đều cho rằng đề Văn mang tính học thuộc nhiều, nhiều học sinh chép nguyên si văn mẫu vẫn được điểm khá nên không phát huy được tính sáng tạo của học sinh. Hình thức kiểm tra phổ biến vẫn là kiểm tra học thuộc thông qua kiểm tra miệng và kiểm tra viết. Nội dung kiểm tra vẫn nặng về kiến thức. Bên cạnh đó nội dung sách giáo khoa khó, ít gắn với thực tiễn xã hội. Một số ít học sinh cho rằng giáo viên chưa chuyên tâm vào giảng dạy, vẫn dạy học theo lối đọc chép, ít đổi mới phương pháp nên khiến cho giờ học trở nên nhàm chán, ít gây hứng thú cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Điều đó khiến những nhà giáo dục như chúng ta phải suy nghĩ và trăn trở.Tìm được nguyên nhân, các nhà Quản lý và các nhà sư phạm cần có sự thay đổi để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn trong nhà trường.
- Quá trình học tập của học sinh
Quá trình học tập của học sinh diễn ra như sau: Ở nhà, soạn bài và làm bài trước khi lên lớp; trên lớp, nghe giảng ghi bài, tham gia các hoạt động dạy học theo yêu cầu của giáo viên gồm trả lời câu hỏi, trình bày ý kiến, thảo luận, đóng vai, đọc diễn cảm,…; sau đó, về nhà làm bài tập giáo viên giao, soạn bài mới và lại lên lớp. Cứ như vậy các hoạt động tự học ở nhà và học trên lớp sẽ tuần tự diễn ra. Tiết học sau, nội dung bài học là kế thừa của tiết học trước có mở rộng và nâng cao hơn. Để có được kết quả tốt, học sinh cần tự giác học tập ở nhà, chủ động phát hiện và tìm cách bổ sung những kiến thức còn thiếu, sưu tầm, bổ sung kiến thức đã học trên lớp bằng sách báo, mạng Internet…
Qua khảo sát 40 học sinh của trường về việc thực hiện các hoạt động học tập, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.11. Kết quả khảo sát học sinh về thực hiện các hoạt động học tập môn Ngữ văn
Qua bảng 2.11 chúng ta thấy việc thực hiện các hoạt động học tập của học sinh được các em đánh giá khá tốt. Trong đó hoạt động trên lớp như nghe giảng, ghi chép bài, tham gia phát biểu, thảo luận xây dựng bài được các em tự đánh giá là thực hiện tốt hơn cả. Điều đó chứng tỏ các em có ý thức học tập trên lớp. Tuy nhiên các em được phỏng vẫn cũng tự nhận là ở nhà còn lười, ý thức tự học chưa cao, còn ham chơi.
Sự đánh giá của giáo viên về mức độ thường xuyên và hiệu quả của việc học sinh thực hiện các hoạt động học tập môn Ngữ văn có sự chênh lệch với sự tự đánh giá của học sinh. Qua khảo sát 04 giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn của trường về việc học sinh thực hiện các hoạt động học tập môn Ngữ văn, tác giả đã thu được kết quả được thể hiện qua biểu đồ 2.5.
- Biểu đồ 2.5. Mức độ thường xuyên và hiệu quả về thực hiện các hoạt động học tập môn Ngữ văn của học sinh
Nhìn vào biểu đề ta có thể thấy giáo viên đánh giá việc soạn bài, làm bài tập và chuẩn bị bài đầy đủ trước khi đến lớp của học sinh đạt 4.25 điểm. học sinh chuẩn bị bài ở nhà tốt sẽ giúp cho việc tiếp thu kiến thức mới hiệu quả đạt hiệu quả cao. Trên lớp, các em ngồi nghe giảng và ghi bài khá đầy đủ nhưng hiệu quả đạt được chưa cao bởi vẫn còn nhiều em ngồi trật tự trong lớp, ghi chép rất cẩn thận, sạch sẽ nhưng hiệu quả lại không cao vì các em chưa tập trung, lười tư duy. Việc các em tích cực tham gia các hoạt động học tập trên lớp như trả lời câu hỏi, trình bày kiến, thảo luận, đọc diễn cảm, đóng vai,… không những là cho giờ học nhẹ nhàng mà còn giúp các em phát huy được tinh thần tự học, khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, mức độ thực hiện việc sưu tầm, bổ sung kiến thức đã học trên lớp qua sách báo, qua mạng,… của các em chỉ đạt 3,75 điểm. Với những học sinh chịu khó sưu tầm tài liệu, mở rộng kiến thức sẽ giúp mực độ hiệu quả hoạt động học tập của các các em cao hơn. Bên cạnh đó một thực trạng đáng buồn là các em rất lười, ít tự giác học tập ở nhà, chỉ được 2,75 điểm.
Trong quá trình học tập, học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng trình bày trước tập thể, kỹ năng tạo lập văn bản. Căn cứ vào bảng 2.12 chúng tôi nhận thấy giáo viên đa số chỉ đánh giá ở mức độ khá còn học sinh tự đánh giá khả năng của mình cao hơn. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Bảng 2.12. Kết quả khảo sát giáo viên và học sinh về kỹ năng học Ngữ văn của học sinh
Cụ thể, kỹ năng cơ bản của bộ môn: nghe, nói, đọc, viết được giáo viên và học sinh đánh giá cao hơn cả. Xếp thứ hai là kỹ năng trình bày trước tập thể. Chính những hoạt động trên lớp giúp các em mạnh bạo hơn. Tuy nhiên, kỹ năng tạo lập văn bản của các em chưa tốt, chỉ đạt 3.48 điểm. Trong số 40 học sinh được phỏng vấn có 4 em tự đánh giá là khả năng nghe, nói, đọc, viết và trình bày trước tập thể còn chưa tốt. Trường hợp này thường rơi vào những học sinh lười học, thường xuyên không làm bài tập và học bài ở nhà. Trong lớp, những học sinh này cũng không tập trung, những hoạt động làm việc nhóm thì hầu như không tham gia, những giờ luyện nói hay những tiết chương trình địa phương cũng ít được lên trình bày trước lớp vì thời lượng tiết học không nhiều. Cũng như vậy, 5 học sinh được hỏi cho rằng khả năng tạo lập văn bản chưa tốt, có 1 học sinh tự nhận là không tốt, nghĩa là ở mức yếu.
- Kết quả học tập
Qua kết quả học tập của học sinh, chúng ta xác định được mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ tình cảm của học sinh đối chiếu với mục tiêu chương trình môn học. Kết quả học tập của học sinh qua môn học cũng thể hiện kết quả giảng dạy của giáo viên và hiệu quả của hoạt động Quản lý. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy việc tích hợp giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh trong mỗi giờ Ngữ văn giúp các em có nhiều hành vi thể hiện Thanh lịch văn minh trong cuộc sống. Một số học sinh được phỏng vấn có chia sẻ việc tích hợp giáo dục nếp sống trong môn Ngữ văn không chỉ giúp chúng em thêm yêu môn học, thích học Văn bởi giờ học thật nhẹ nhàng mà còn cho chúng em thêm tự hào mình là người Hà Nội. Vì vậy, không chỉ chất lượng môn Ngữ văn được nâng cao mà tỷ lệ hạnh kiểm tốt của học sinh của nhà trường cũng dần được ghi nhận.
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh của giáo viên và học sinh trường trung học cơ sở Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội
Trong quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường Trung học cơ sở, Ban giám hiệu nhà trường và tổ trưởng chuyên môn là chủ thể quản lý. giáo viên vừa là đối tượng Quản lý (trong mối quan hệ cán bộ Quản lý), vừa là chủ thể Quản lý (trong mối quan hệ với học sinh). học sinh cũng vừa là đối tượng (trong mối quan hệ, cán bộ Quản lý) vừa là chủ thể tự Quản lý quá trình học tập của mình.
2.3.1. Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Quản lý kế hoạch và thực hiện kế hoạch công tác
Quản lý kế hoạch và thực hiện kế hoạch của giáo viên giúp Cán bộ quản lý nắm bắt được việc giáo viên thực hiện công việc của mình đến đâu, như thế nào. Cán bộ quản lý có thể thông qua Lịch báo giảng, Sổ ghi đầu bài, Sổ điểm cá nhân, Sổ điểm gốc biết được tiến độ công việc của giáo viên. Đây là việc làm thường xuyên của các nhà Quản lý có tính chất định kỳ. Hàng tuần nhà Quản lý đều kiểm tra Lịch báo giảng của giáo viên, hàng tháng kiểm tra Sổ điểm cá nhân, giáo án. Giữa học kỳ nhà Quản lý tiến hành kiểm tra toàn bộ hồ sơ cá nhân và sử dụng kết quả này làm căn cứ để đánh giá thi đua.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 2 Cán bộ quản lý và 4 giáo viên dạy Ngữ văn của trường, kết quả như sau:
- Bảng 2.13. Mức độ quan tâm của nhà quản lý về xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch công tác
Nhìn vào bảng 2.13 chúng ta thấy thực trạng Quản lý kế hoạch và thực hiện kế hoạch rất được quan tâm. Tuy nhiên mức độ quan tâm không đồng đều. Việc thường xuyên theo dõi và đánh giá việc thực hiện chương trình qua Lịch báo giảng của giáo viên và sử dụng kết quả thực hiện nề nếp để đánh giá, xếp loại thi đua giáo viên được quan tâm nhiều nhất. Quản lý nề nếp lên lớp của giáo viên và học sinh, thanh tra việc thực hiện chương trình giảng dạy môn học cũng rất được quan tâm. Trong khi đó mức độ tổ chức kiểm tra việc lập kế hoạch giảng dạy chỉ được đánh giá ở mức bình thường.
- Quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp
Việc Quản lý khâu soạn bài và chuẩn bị bài của giáo viên thường được tiến hành trong các tiết dự giờ có báo trước, hoặc kiểm tra đột xuất, hoặc trong kế hoạch kiểm tra hồ sơ định kỳ của Phòng Giáo dục và của Ban giám hiệu. Căn cứ vào kết quả kiểm tra, nhà Quản lý đánh giá chất lượng làm việc của giáo viên.
- Bảng 2.14. Mức độ thực hiện của nhà quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
Dựa vào bảng 2.14 chúng ta thấy nhà Quản lý rất quan tâm đến việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp của giáo viên. Những quy định cụ thể về việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy được phổ biến cụ thể đến từng giáo viên ngay trong buổi tổ nhóm đầu năm. Hàng tháng nhà Quản lý thường đi kiểm tra đột xuất giáo án của giáo viên một đến hai lần. Kết quả kiểm tra là căn cứ để đánh giá xếp loại giáo viên trong những đợt thi đua. Tuy nhiên khâu bồi dưỡng phương pháp soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp chưa được quan tâm nhiều, chỉ đạt 3.83 điểm. Công việc này thường diễn ra vào đầu tháng 8 khi chuẩn bị vào năm học do Phòng Giáo dục và đào tạo huyện tổ chức Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Quản lý việc thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
Nội dung, chương trình Ngữ văn hiện hành được thống nhất thực hiện chung trong toàn quốc, áp dụng với đối tượng học sinh tất cả các vùng miền, với mọi trình độ nhận thức. Do đó, cách Quản lý môn Ngữ văn có điểm thuận lợi là dễ thống nhất song nó gây ra rất nhiều những bất cập khác.Việc Quản lý nội dung, chương trình Ngữ văn hiện nay chỉ nằm ở những hoạt động đơn giản là hàng tuần nhà Quản lý kiểm tra xem giáo viên Ngữ văn có dạy đúng phân phối chương trình và bám sát nội dung chương trình trong sách giáo khoa Ngữ văn bằng cách kiểm tra lịch báo giảng, sổ đầu bài. Tác động của hoạt động Quản lý chỉ là hướng tới việc điều chỉnh dạy nhanh hay chậm so với phân phối chương trình. Rõ ràng, việc Quản lý thực hiện nội dung chương trình Ngữ văn hiện hành chỉ đảm bảo được tính thống nhất mà thực tế cho thấy hiệu quả của nó chưa cao. Việc bắt buộc dạy đúng nội dung chương trình quy định và thực hiện đúng phân phối chương trình môn Ngữ văn hiện nay gây khó khăn, bất cập với giáo viên, học sinh và Cán bộ quản lý. Vì vậy mong muốn của giáo viên là được tự chủ thực hiện nội dung chương trình.
Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, nội dung chương thay đổi, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cũng phải thay đổi cho phù hợp để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên và đặc biệt là học sinh. Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là hoạt động căn bản, mấu chốt trong HĐ dạy và học ngày nay không chỉ với môn Ngữ văn mà ở tất cả các môn học khác.
Nhằm nâng cao hiệu quả Quản lý về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, nhà trường đã xây dựng hệ thống các biện pháp cụ thể đánh giá một cách khách quan những hoạt động của giáo viên trong việc tiến hành đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Qua điều tra 4 giáo viên dạy Ngữ văn và 2 Cán bộ quản lý về việc cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy, chúng tôi thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.15. Mức độ thực hiện của nhà quản lý về việc cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Theo kết quả khảo sát từ bảng 2.15, công tác quản lý việc cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy được thực hiện khá thường xuyên. Trong đó, việc quy định chế độ dự giờ của giáo viên được đánh giá xếp thứ 2. Thực tế, Ban giám hiệu nhà trường căn cứ vào quyết định của Phòng giáo dục nên đã có những quy định rất cụ thể về việc dự giờ của giáo viên: Trung bình 1 tháng giáo viên dự giờ 2 tiết, 1năm giáo viên dự giờ từ 18 tiết trở lên. Mỗi giáo viên đều được phát Sổ dự giờ ngay từ đầu năm học. Yêu cầu người dự giờ cần ghi rõ lớp nào, ngày tháng năm nào, tên bài dạy, tên giáo viên dạy, người cùng dự. Ngay sau mỗi tiết dự giờ đều có phần nhận xét rút kinh nghiệm giờ dạy các mức độ đánh giá cho điểm và xếp loại như Tốt, Khá, TB, Yếu… Sau khi dự giờ, giáo viên rút kinh nghiệm và đánh giá tiết dạy. Tuy nhiên thực tế giáo viên thực hiện chưa tốt. Quy định là một năm giáo viên phải dự 18 tiết, nhưng thực tế một số giáo viên dự không đủ số tiết quy định đã chép lại của giáo viên khác đi dự hoặc tự mình chép lại giáo án và điền người dạy. Ban giám hiệu cũng chỉ tính đủ số giờ dự chứ không kiểm tra tính chính xác. Vì vậy việc dự giờ của giáo viên còn mang tính hình thức, chưa thực sự đúng tính chất của hoạt động này là dự giờ để học hỏi lẫn nhau.
Biện pháp nâng cao nhận thức về nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học và tổ chức kiểm tra thường xuyên việc chuẩn bị lên lớp, dự giờ, họp chuyên môn, trao đổi kinh nghiệm về đổi mới Phương pháp dạy học tích hợp và hội giảng được đánh giá xếp thứ nhất. Việc kiểm tra sự chuẩn bị bài lên lớp được nhà Quản lý thực hiện thường xuyên. Ban giám hiệu thường xuyên đi kiểm tra giáo án đột xuất và đối chiếu với Lịch báo giảng của giáo viên xem có thực hiện đúng chương trình và kế hoạch dạy học không. Tuy nhiên một số giáo viên và cả nhà Quản lý việc dự giờ chưa được đánh giá cao vì rất ít khi Ban giám hiệu đi dự giờ đột xuất mà hầu như báo trước, hoặc chỉ thỉnh thoảng đi dự giờ đột xuất giáo viên trẻ mới ra trường. Nhưng khi ban giám hiệu dự giờ giáo viên rất lo sợ dẫn đến mất bình tĩnh, không làm chủ được hoạt động của mình nên hiệu quả giờ dạy không cao. Sở dĩ giáo viên gặp phải trạng thái này là do họ không xác định được mục đích của dự giờ không phải chỉ để đánh giá mà dự giờ để học tập lẫn nhau, để giúp nhau cùng tiến bộ. Bên cạnh đó, nhà Quản lý chưa xác định được tiêu chuẩn giờ lên lớp của hoạt động giáo dục cụ thể, chưa tổ chức phân tích sau dự giờ và chưa huy động nhiều lực lượng tham gia cùng dự giờ mà mới chỉ có ban giám hiệu dự giờ giáo viên. Chỉ có những giờ hội giảng mới huy động được giáo viên trong tổ nhóm tham dự.
Với hoạt động sinh hoạt chuyên môn, nhà trường đã tổ chức tương đối hiệu quả. Mỗi tháng sinh hoạt chuyên môn 2 lần nhằm trao đổi bài dạy khó, cùng nhau đi sâu vào nội dung tích hợp trong mỗi bài dạy, cùng nhau xây dựng chuyên đề, rút kinh nghiệm những tiết hội giảng,… Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Biện pháp tăng cường cho giáo viên kiến thức về Công nghệ thông tin và kỹ năng sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại được giáo viên và Cán bộ quản lý đánh giá khá thường xuyên, cụ thể như sau: Tốt 16,67%, Khá 33,33%, Trung bình 50%. Có khi cả năm học nhà trường chỉ tổ chức một buổi tập huấn cho giáo viên về Công nghệ thông tin và kỹ năng sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại. Vì vậy, hầu như chỉ có những tiết hội giảng giáo viên mới sử dụng thiết bị dạy học hiện đại.
Biện pháp xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, đặc biệt về đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học được đánh giá không cao. Các hoạt động này dưới sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục Đông Anh và Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội và thường có kế hoạch từ đầu năm, triển khai trong suốt năm học nhưng đặc biệt là vào dịp nghỉ hè. Hầu như năm nào Phòng giáo dục đều triển khai tốt công việc này. Tuy nhiên, hầu như giáo viên nghỉ hè là không bao giờ đến trường nên những thông tin nhiều khi không nắm bắt được và chưa được triển khai một cách có hiệu quả, Ban giám hiệu phải gọi điện thông báo cho từng người. Bên cạnh đó, hàng năm, nhà trường đều có khuyến khích giáo viên hoạt động nghiên cứu khoa học. Yêu cầu trong kế hoạch đầu năm của từng cá nhân phải có phần viết sáng kiến kinh nghiệm và yêu cầu khoảng tháng 4 hoàn thành sáng kiến. Đã có nhiều sáng kiến hay được giải B và giải C cấp thành phố. Tuy nhiên những sáng kiến viết về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn thực sự chưa nhiều mà tản mạn ở rất nhiều vấn đề khác. Các sáng kiến được viết dưới hình thức là những kinh nghiệm từ thực tế của giáo viên trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, chưa có căn cứ lý luận xác đáng. Nhà Quản lý nên tập hợp các sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn để bàn luận trao đổi và có thể áp dụng rộng rãi. Hiện nay, hầu như mỗi giáo viên có cách làm riêng, mạnh ai người ấy làm, nhiều người còn giữ sáng kiến của mình như là một bí mật riêng. Xét về góc độ Quản lý, biện pháp đó chưa thật sự hiệu quả vì chưa có khâu phổ biến áp dụng rộng rãi để các giáo viên có thể học hỏi lẫn nhau.
Tổ chức các hoạt động lên lớp kết hợp với hoạt động ngoài giờ lên lớp, tham quan được đánh giá là thực hiện khá thường xuyên, đạt trung bình 3,5 điểm. Hoạt động này chỉ diễn ra một lần trong năm học vào đầu học kỳ II.
- Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh
Kiểm tra đánh giá là một trong những khâu quan trọng để nhà Quản lý nâng cao chất lượng giáo dục. Thông qua công tác kiểm tra đánh giá học sinh, giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học. Thực tế, nhà Quản lý đã rất quan tâm đến việc kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh. Kết quả được thể hiện qua bảng 2.16 sau:
- Bảng 2.16. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Thực tế, nhà Quản lý rất quan tâm đến việc giám sát đề thi, đề kiểm tra. Trực tiếp Ban giám hiệu chỉ đạo và giám sát đề thi học kỳ rất chặt chẽ, đảm bảo vừa sức với học sinh và không có sai sót. Việc làm này của nhà Quản lý được đánh giá rất cao. Bên cạnh đó, nhà Quản lý cũng thường xuyên quan tâm đến việc đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh, chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn và giáo viên thực hiện quy chế kiểm tra, thi, xét điều kiện thi tốt nghiệp. Đặc biệt hàng tháng, Ban giám hiệu đều kiểm tra sổ điểm cá nhân của giáo viên. Tuy nhiên việc phân tích kết quả, phân loại học tập của học sinh vẫn có 33,33% giáo viên đánh giá ở mức độ quan tâm bình thường. Nhà trường chưa tìm ra nguyên nhân một số bài thi, một số môn thí điểm chưa cao để rút kinh nghiệm cho học sinh. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
- Quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
Việc quy định hồ sơ chuyên môn được triển khai tới từng giáo viên ngay từ đầu năm học với những đầu sổ cụ thể. Nhà Quản lý thường xuyên kiểm tra hồ sơ của giáo viên. Cụ thể tổ trưởng, tổ phó chuyên môn trực tiếp kiểm tra, sau đó báo cáo kết quả với Ban giám hiệu. Ban giám hiệu là người thẩm định cuối cùng và hoàn thiện công tác này.
- Bảng 2.17. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý việc thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn
Qua số liệu bảng 2.17 chúng ta thấy nhà Quản lý rất quan tâm đến hồ sơ chuyên môn của giáo viên, điểm trung bình của các biện pháp đều trên 4 điểm. Thực tế, hồ sơ chuyên môn của giáo viên mang tính pháp lý như giáo án, sổ điểm cá nhân, lịch báo giảng, sổ công tác chủ nghiệm,… Ngoài ra, giáo viên còn rất nhiều loại hồ sơ khác như sổ lưu đề kiểm tra, sổ bồi dưỡng chuyên môn, sổ lưu công văn,… Như vậy, ngoài việc giảng dạy, giáo viên còn phải hoàn thiện rất nhiều hồ sơ khác. Bởi kết quả kiểm tra hồ sơ là căn cứ đầu tiên để đánh giá xếp loại thi đua. Vì vậy công việc này phần nào làm ảnh hưởng đến việc trau dồi chuyên môn của giáo viên.
2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy học. Vì vậy, trong quản lý hoạt động học của học sinh cần làm cho giáo viên nhận thấy trách nhiệm này là đặc biệt quan trọng, vì nó là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
Không gian hoạt động học tập của học sinh là từ trong lớp, ngoài lớp đến ở nhà. Thời gian hoạt động học của học sinh bao gồm giờ học trên lớp, giờ học ở nhà và thời gian thực hiện các hình thức học tập khác.
Trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh, chúng ta cần bao quát được cả không gian, thời gian và các hình thức học tập để điều hòa cân đối chung, điều khiển chúng hoạt động phù hợp với tính chất và quy luật hoạt động dạy học.
Vấn đề đặt ra trong quản lý hoạt động học của học sinh không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của giáo viên đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
- Bảng 2.18. Mức độ quan tâm công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh
Qua số liệu bảng 2.18 chúng ta dễ dàng nhận thấy nhà Quản lý rất quan tâm đến hoạt động học tập của học sinh, nổi bật nhất là công tác xây dựng quy định cụ thể về nề nếp học tập trên lớp và ở nhà của học sinh; giáo dục động cơ, ý thức, thái độ học tập của học sinh và khen thưởng và kỷ luật học sinh về nề nếp kỷ luật và học tập kịp thời, chính xác, khách quan.
Về mặt giáo dục động cơ, ý thức thái độ học tập của học sinh đối với môn Ngữ văn được tiến hành trong các giờ giảng. giáo viên có nhiệm vụ lý giải cho học sinh “Tại sao phải học môn Ngữ văn?” bằng những ví dụ cụ thể, sinh động thực tế để học sinh thấy rằng văn học có ý nghĩa thiết thực trong đời sống hàng ngày. Về xây dựng các quy định nề nếp học tập ở trên lớp, ở nhà, giáo viên đưa ra yêu cầu cụ thể như soạn bài và làm đầy đủ bài tập trước khi đến lớp, giao bài tập cần chỉ rõ thời hạn làm nộp bài. Trước những bài kiểm tra một tiết, giáo viên báo trước và hướng dẫn học sinh ôn tập có hiệu quả. Khen thưởng và kỷ luật kịp thời, chính xác học sinh về nề nếp kỷ luật và học tập không chỉ là nhiệm vụ của giáo viên bộ môn mà còn cả giáo viên chủ nhiệm và Ban giám hiệu. giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm khen ngợi những học sinh ý thức tốt và đạt kết quả cao trong học tập. Ban giám hiệu nhà trường có hình thức thưởng kịp thời như phần thưởng với học sinh giỏi, động viên khuyến khích những học sinh thi đạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi môn Văn cấp huyện.
Tuy nhiên với các biện pháp bồi dưỡng các phương pháp học tập tích cực cho học sinh; phối hợp với giáo viên CN, cha mẹ học sinh, cán bộ lớp, chi Đội, chi Đoàn theo dõi nề nếp học tập của học sinh, tổ chức diễn đàn học sinh được trao đổi về phương pháp học và tự học, thu nhận thông tin phản hồi từ học sinh nhìn chung là tốt và khá nhưng vẫn còn những thiếu sót. giáo viên cho rằng bản thân vẫn còn một số giáo viên sử dụng phương pháp cũ theo lối đọc chép áp đặt thì làm sao có thể bồi dưỡng phương pháp tích cực học tập cho học sinh. Bên cạnh đó, việc tổ chức diễn đàn học sinh được trao đổi về phương pháp học và tự học ở mức độ TB 3.83 điểm. Rõ ràng, song song với việc đổi mới Phương pháp dạy học ở giáo viên thì học sinh cũng cần phải đổi mới phương pháp học ở học sinh, có những hoạt động học tích cực chủ động. Kết quả khảo sát cho thấy vẫn còn một số giáo viên chưa coi trọng bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh. Một số giáo viên chưa lắng nghe những ý kiến của học sinh về bài giảng. Vì vậy, có ý kiến cho rằng biện pháp thu nhận thông tin phản hồi từ học sinh chỉ ở mức độ trung bình.
2.4 Thực trạng quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện dạy học Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện giáo dục đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho quá trình dạy học. Bởi vì có thiết bị dạy học tốt thì chúng ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học khoa học, huy động được đa số người học tham gia thực sự vào quá trình này, họ tự khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy một cách tích cực. Qua tiến hành khảo sát, chúng tôi có được kết quả cụ thể như sau:
- Bảng 2.19. Kết quả khảo sát về thực trạng quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất, phương tiện, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy và học
Qua khảo sát bảng 2.19, chúng tôi nhận thấy thực trạng Quản lý việc sử dụng Cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện dạy học được đánh giá tốt. Hoạt động xây dựng kế hoạch trang bị về Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học được xếp thứ nhất với điểm trung bình là 4,17. Ban giám hiệu rất quan tâm đến công tác này. Qua một năm sử dụng, nhiều bàn ghế, bóng đèn, quạt điện, cửa kính ở các lớp bị hỏng, nhà trường đều có kế hoạch và thực hiện kế hoạch thay mới trong hè, đảm bảo Cơ sở vật chất đầy đủ và bàn giao cho các lớp khi vào năm học. Cũng ngay từ đầu năm học, trong buổi sinh hoạt tổ nhóm đầu năm, các tổ chuyên môn đề nghị mua những trang thiết bị đã hỏng hoặc thiếu.
Việc xây dựng nội quy sử dụng Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học cũng rất đơn giản. Trường có 01 phòng đồ dùng và có 01 nhân viên quản lý. Việc mượn trả đồ dùng dạy học của giáo viên đều phải đăng ký quả sổ đăng ký đồ dùng, trong đó phải ghi các nội dung: ngày mượn, tiết sử dụng, tên giáo viên, nội dung bài học. Môn Ngữ văn, nhiều giáo viên sử dụng tranh ảnh về tác giả, tác phẩm và đăng ký sử dụng máy chiếu trong những kỳ hội giảng. Để biết được giáo viên có thường xuyên sử dụng đồ dùng hay không nhà Quản lý chỉ cần kiểm tra sổ mượn đồ dùng là nắm bắt được rõ ràng.
Tuy nhiên hoạt động tổ chức bồi dưỡng tăng cường cho giáo viên kiến thức về công nghệ thông tin và kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại chưa hiệu quả. Vẫn có 2 ý kiến cho rằng mức độ qua tâm của nhà Quản lý đối với hoạt động này là bình thường, thậm chí có 1 ý kiến cho rằng hiếm khi quan tâm. Đi sâu tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi được biết thực chất việc nâng cao kiến thức về Công nghệ thông tin chủ yếu là các giáo viên trẻ tự học hỏi lẫn nhau, nhà trường rất hiếm khi tổ chức lớp bồi dưỡng nâng cao kỹ năng sử dụng các thiết bị hiện đại. Vì vậy các giáo viên nhiều tuổi lại càng ít sử dụng.
Bên cạnh đó, hoạt động tổ chức cuộc thi thiết kế đồ dùng và thi viết sáng kiến kinh nghiệm cải tiến kỹ thuật, thiết kế các phương tiện phục vụ hoạt động có được tiến hành những chưa nhiều. Chủ yếu nhà trường triển khai cuộc thi thiết kế đồ dùng tự làm theo kế hoạch của Phòng giáo dục huyện. Việc khen thưởng, động viên giáo viên sử dụng hiệu quả Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học cũng mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ kinh phí. Vì vậy vẫn có ý kiến cho rằng hoạt động này chỉ ở mức độ TB. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
Tiểu kết chương 2
Qua khảo sát thực trạng dạy học Ngữ văn và Quản lý dạy học Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh cho thấy những năm gần đây, giáo viên và Cán bộ quản lý nhà trường đã có nhiều cố gắng trong giảng dạy và Quản lý dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, việc làm này chưa sâu, còn mang tính hình thức, việc phối kết hợp Quản lý còn nhiều bất cập. Trong nhiều hoạt động của giáo viên, của học sinh còn lúng túng, hình thức, rập khuôn máy móc. Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đã được đổi mới nhưng vẫn còn những phương pháp dạy học cũ không còn thích hợp. Việc sử dụng Công nghệ thông tin, trang thiết bị dạy dạy học hiện đại còn ít. Bên cạnh đó, việc Quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh trong quá trình dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh còn nhiều vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong bối cảnh hiện nay.
Đó chính là cơ sở để tìm ra các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn tích hợp với giáo dục nếp sống Thanh lịch văn minh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn ngữ văn tích hợp giáo dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
