Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas chi nhánh Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN VĂN
Ngày nay, ngân hàng xanh nổi lên như một phương pháp tiềm năng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế ổn định và bền vững. Hình thức này thể hiện sự tham gia của các ngân hàng thương mại vào các vấn đề xã hội và môi trường, với mục tiêu bảo vệ và kiến tạo một nền kinh tế xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu, loại bỏ ô nhiễm và nâng cao thu nhập. Nói cách khác, ngân hàng xanh là nỗ lực hướng tới một môi trường xanh hơn thông qua các nghiệp vụ tài chính thân thiện với môi trường (Rajesh và Dileep, 2014). Các hoạt động xanh của ngân hàng bao gồm nhiều khía cạnh, từ các hoạt động nội bộ như tiết kiệm giấy và năng lượng, ứng dụng công nghệ, đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính xanh như tín dụng, tiền gửi và thanh toán. Trong đó, hoạt động tín dụng thường mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Vì lẽ đó, Yan Tingfeng và cộng sự (2019) nhận định rằng, trong ngắn hạn, ảnh hưởng của hoạt động tín dụng xanh (TDX) lên hiệu quả kinh doanh có thể chưa rõ ràng, nhưng về dài hạn, hoạt động này được kỳ vọng sẽ mang lại những ảnh hưởng tích cực. Lý do là trong ngắn hạn, chi phí đầu tư ban đầu cho TDX thường cao, bao gồm chi phí nghiên cứu và đánh giá các dự án xanh, xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên trách và quản lý các khoản vay xanh. Tuy nhiên, về lâu dài, các dự án xanh thường có tính ổn định cao hơn, ít bị ảnh hưởng bởi các biến động ngắn hạn. Hơn nữa, trong dài hạn, các dự án xanh có tiềm năng tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi từ các quỹ đầu tư và tổ chức quốc tế, cho phép ngân hàng tận dụng được nguồn vốn với lãi suất thấp, từ đó gia tăng lợi nhuận. Do vậy, hoạt động cấp tín dụng xanh cho khách hàng của các ngân hàng thương mại cần được phát triển theo một chiến lược dài hạn, nhằm mang lại sự ổn định cho cả ngân hàng và xã hội.
Đối với Việt Nam, những quy định liên quan đến tài chính xanh đã bắt đầu được chú y đến, trong đó có “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” được Chính phù phê duyệt trong quyết định số 1933/QĐ – TTg năm 2012 với ba mục tiêu chính yếu. Thứ nhất là tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa với các ngành nghệ hiện có, khuyến khích các nghành kinh tế phát triển theo hướng sử dụng năng lượng và tài nguyên hiệu quả theo hướng gia tăng giá trị. Thứ hai đó là là ứng dụng rộng rãi công nghệ tiên tế nhằm sử dụng triệt để và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, hạn chế được lượng khí thải gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cuối cùng là nâng cao đời sống của người dân, theo hướng thân thiện với môi trường thông qua tạo ra nhiều việc làm từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ theo lối xanh, đặc biệt là đầu tư vào vốn tự nhiên và phát triển hạ tầng xanh. Ngoài ra, ba mục tiêu này tập trung vào các chiến lược đó là giảm khí thải nhà kính, thúc đẩy sử dụng các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh, lối sống xanh và tiêu dùng bền vững. Đến năm 2014 thì Chính phủ ban hành kế hoạch hành động quốc gia trong tăng trưởng xanh với quyết định số 403/QĐ – TTg và đến năm 2016 thì Việt Nam chính thức là một trong 11 quốc gia có những chính sách, hướng dẫn, bộ nguyên tắc và sự định hướng liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng bền vững (Sustanable Banking Network – SBN). Khối các ngân hàng SBN là cộng đồng các cơ quan quản lý lĩnh vực tài chính và hiệp hội các NHTM tại các thị trường mới nổi có sự cam kết về tài chính bền vững gắn với các thông lệ quốc tế. Vai trò là thành viên của của SBN thì NHNN có điều kiện để nghiên cứu và trao đổi với các thành viên về những chính sách, sáng kiến liên quan nhằm tạo các động lực cho tài chính bền vững tại các quốc gia thành viên. Qua đó cho thấy trong những giai đoạn đầu của những năm 2000 – 2015 thì Việt Nam đã có ý thức rất lớn về hệ thống tài chính xanh và hoạt động kinh doanh ngân hàng bền vững, nhằm mang lại lợi ích chung cho xã hội cũng như sự tăng trưởng lâu dài cho ngành ngân hàng. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Trong giai đoạn sau đó từ năm 2015 trở đi, thì hàng loạt các hoạt động thực hiện chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam. Trong đó, có quyết định số 1552/QĐNHNN, chỉ thị 03/CT – NHNN năm 2015 liên quan đến TDX, quyết định số 1604/QĐ – NHNN năm 2018 và quyết định số 1408/QĐ – NHNN năm 2023 xoay quanh nội dung về thúc đẩy tăng trưởng TDX, quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Trong đó, các quyết định này chủ yếu tập trung vào việc các tổ chức tín dụng phải chủ động triển khai xây dựng các chương trình, chính sách về TDX để nâng cao dư nợ TDX trong cơ cấu danh mục cho vay của ngân hàng và triển khai các giải pháp phù hợp để hạn chế rủi ro tín dụng từ các khoản cho vay này, rủi ro cho môi trường và xã hội. Hay nói cách khác, TDX đang trở thành khía cạnh quan trọng trong hệ thống NHTM tại Việt Nam và trở thành xu hướng chung mà cả xã hội đang hướng đến cũng như dành sự quan tâm.
Hiện nay, tại Việt Nam trong hệ thống NHTM thì các ngân hàng có vốn nước ngoài đặt trụ sở tại Việt Nam rất nhiều, trong đó điển hình là Ngân hàng United Overseas (UOB) có trụ sở chính của UOB đặt tại Singapore và hoạt động tại Việt Nam thông qua công ty con là Ngân hàng United Overseas Việt Nam. Giai đoạn gần đây UOB tích cực tham gia vào việc thúc đẩy và cung cấp tài chính xanh trên nhiều lĩnh vực và khu vực khác nhau. Tổ chức này đã cung cấp một loạt các công cụ tài chính xanh, bao gồm các khoản vay và trái phiếu, để hỗ trợ các doanh nghiệp trong các sáng kiến xanh của họ nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời, UOB đã phát triển nhiều khung tài chính bền vững khác nhau để đơn giản hóa việc tiếp cận tài chính xanh cho các doanh nghiệp mà không yêu cầu phải phát triển khung riêng. Các khung này bao gồm các lĩnh vực như kinh tế tuần hoàn, công trình xanh, đô thị bền vững, nông nghiệp và thực phẩm bền vững, thương mại bền vững và tài chính chuyển đổi.
Đặc biệt, địa bàn hoạt động mạnh nhất của chi nhánh ngân hàng UOB này là tại TP. Hồ Chí Minh. UOB TP. Hồ Chí Minh đã tích cực hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh của Việt Nam. Đến tháng 4 năm 2025, họ đã tài trợ cho 19 dự án xanh trải rộng trên các lĩnh vực năng lượng tái tạo, sản xuất, nông nghiệp và thủy sản bền vững. Trong năm 2025, UOB TP. Hồ Chí Minh đang tập trung vào việc cung cấp hỗ trợ tài chính xanh cho các doanh nghiệp cỡ vừa trong nước, đặt mục tiêu ít nhất 30% các khoản vay mới cho phân khúc này sẽ tài trợ cho các sáng kiến phát triển bền vững. Một ví dụ đáng chú ý là sự hợp tác của họ với Tổng Công ty Nam Việt (NAVICO), một công ty nuôi trồng thủy sản lớn tại Việt Nam. UOB đã cung cấp tài chính thương mại xanh cho NAVICO để thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng thủy sản bền vững phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu. Điều này xây dựng dựa trên các hợp tác trước đó, khi UOB tài trợ cho việc lắp đặt hệ thống điện mặt trời trên mái nhà của NAVICO, giúp giảm chi phí vận hành và lượng khí thải. Những điều này cho thấy, trong hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam thì UOB TP. Hồ Chí Minh đã ý thức được tầm vai trò quan trọng và những thuận lợi khi tiến hành các khoản cấp TDX cho các đối tượng trong nền kinh tế. Hay nói cách khác, phát triển TDX được xem là nhiệm vụ cấp thiết và mang lại nguồn lợi lâu dài cùng với sự bền vũng cho xã hội.
Tính đến thời điểm hiện này thì có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài như Zhang (2018), Yin (2020) và Zhou (2021), Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Lê Thu Hoài (2021); Ben (2018); Phan Thị Hoàng Yến và cộng sự (2020) quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng sản phẩm xanh của ngân hàng, cụ thể là những khoản TDX. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào hành vi của khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của khách hàng như nhận thức về môi trường, sự thuận tiện, cảm xúc, ảnh hưởng xã hội,… Nhưng đa phần sự phát triển TDX đến từ sự đánh giá trực tiếp của các nhân viên ngân hàng khi so sánh tiềm năng, chiến lược hay định hướng của các ngân hàng thì chưa được tập trung. Hay nói cách khác, TDX và tín dụng truyền thống về bản chất là những khoản cho vay, nhưng mục đích và nội hàm khác nhau. Do đó, để phát triển được nó ngoài việc tiếp cận khách hàng thì chủ trương xây dựng chương trình hành động và các chiến lược cần được đội ngũ nhân viên thống nhất, nắm bắt và đánh giá khách quan so với xã hội hay nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng chính được xem là các khoảng trống cần được luận văn này xem xét và đánh giá theo khía cạnh khảo sát nhân viên ngân hàng.
Do đó, nhận thấy xu hướng TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh là thật sự cần thiết với nền kinh tế và xã hội, cùng với các khoảng trống tại các công trình nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas chi nhánh Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị cho chi nhánh để gia tăng dư nợ TDX trong tương lai.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
1.2.1. Mục tiêu tổng quát của luận văn
Luận văn sẽ xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, đề xuất các hàm ý quản trị cho UOB TP. Hồ Chí Minh để phát triển TDX trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể của luận văn
Với mục tiêu tổng quát trên thì luận văn sẽ có ba mục tiêu cụ thể như sau:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh.
- Thứ hai, đo lường mức độ và chiều ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh.
- Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho UOB TP. Hồ Chí Minh để phát triển TDX trong tương lai.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Với ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể thì luận văn sẽ có tương ứng các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Thứ nhất, các yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh ?
- Thứ hai, mức độ và chiều ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh như thế nào ?
- Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho UOB TP. Hồ Chí Minh để phát triển TDX trong tương lai ?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm không gian và thời gian trong đó:
- Về không gian: UOB TP. Hồ Chí Minh Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
- Về thời gian: Luận văn sẽ tiến hành thu thập dữ liệu khảo sát tại UOB TP. Hồ Chí Minh từ tháng 02/2025 – 03/2025.
- Đối tượng khảo sát là đội ngũ quản lý và nhân viên liên quan đến hoạt động tín dụng, đang làm việc chính thức tại UOB TP. Hồ Chí Minh.
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Phương pháp nghiên cứu của luận văn tác giả chọn hỗn hợp cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm với các chuyên gia là lãnh đạo của UOB TP. Hồ Chí Minh, phụ trách công việc liên quan đến cấp TDX. Thông qua thảo luận thì tác giả luận văn sẽ thống nhất được mô hình nghiên cứu, điều chỉnh các thang đo và thiết lập được bảng khảo sát chính thức để gửi đến đội ngũ quản lý và nhân viên liên quan đến hoạt động tín dụng. Hay nói cách khác vì nghiên cứu định tính sẽ được thiết kế dưới sườn bài thảo luận với các chuyên gia từ UOB TP. Hồ Chí Minh hay lấy quan điểm của phía ngân hàng về các yếu tố mà họ cho rằng sẽ ảnh hưởng đến phát triển TDX, đồng thời tiến hành khảo sát xem có thật sự UOB TP. Hồ Chí Minh dựa vào các yếu tố đó để phát triển TDX.
Nghiên cứu định lượng được tiến hành nối tiếp sau khi thực hiện nghiên cứu định tính, bắt đầu bằng hoạt động khảo sát đội ngũ quản lý và nhân viên liên quan đến hoạt động tín dụng tại UOB TP. Hồ Chí Minh. Các đáp viên được khảo sát sẽ tự mình đánh giá bảng khảo sát với từng câu hỏi. Số lượng người khảo sát được lựa chọn hay kích thước mẫu này được lựa chọn theo phương thức thuận tiện và với hình thức khảo sát trực tuyến bằng việc gửi bảng hỏi qua mail cá nhân. Từ dữ liệu khảo sát thì luận văn sẽ thực hiện kiểm định mức tin cậy của thang đo cùng biến số, xác định các nhân tố khám phá EFA để đại diện, sau đó sẽ thực hiện hồi quy để có được mô hình. Đồng thời, kiểm định các hiện tượng có thể xảy ra của mô hình và kết luận.
1.6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
1.6.1. Đóng góp về mặt học thuật
Luận văn làm rõ nội dung về các vấn đề lý luận về TDX, phân loại và phát triển những yếu tố để xem xét ảnh hưởng của chúng tới phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh. Mặt khác, tại luận văn này thì hướng tập trung chủ yếu là các yếu tố sẽ phát sinh từ nội tại ngân hàng ảnh hưởng đến phát triển TDX, dưới sự khảo sát và đánh giá năng lực của ngân hàng với hoạt động này, tạo sự khác biệt so với các công trình trước đây về khía cạnh khảo sát từ khách hàng. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu này cung cấp cho các công trình tiếp theo như một tài liệu tham khảo trong lĩnh vực quản trị ngân hàng tại Việt Nam.
1.6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận văn đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh. Từ kết quả nghiên cứu luận văn đã đề xuất các hàm ý quản trị khả thi cho UOB TP. Hồ Chí Minh để phát triển TDX trong tương lai. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu này làm cơ sở tiếp nối cho các công trình có cùng mối quan tâm đến TDX tại các NHTM.
1.7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Để hoàn thành được các mục tiêu, câu hỏi, phương pháp và trình bày các kết quả nghiên cứu thì luận văn sẽ có kết cấu 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, nội dung chính của chương này là trình bày lý do lựa chọn đề tài. Đồng thời, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Từ đó, chương này cũng trình bày tổng quát các phương pháp nghiên cứu được sử dụng và các đóng góp chính của luận văn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, nội dung chính của chương này là trình bày tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan TDX và các mô hình lý thuyết. Đồng thời, chương này cũng tiến hành tóm tắt các công trình nghiên cứu liên quan nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu, nội dung chính của chương này là đề xuất mô hình cùng với các giả thuyết nghiên cứu. Sau đó là trình bày về quy trình nghiên cứu, kết quả xây dựng thang đo sơ bộ và chính thức. Đồng thời, trình bày về phương pháp chọn mẫu và xử lý dữ liệu. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, nội dung chính của chương này là trình bày các kết quả xử lý dữ liệu thông qua phần mềm thống kê SPSS 27.0. Thông qua việc trình bày các chỉ tiêu thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo, nhân tố khám phá EFA, hồi quy đa biến và các hiện tượng bệnh của mô hình. Cuối cùng, với kết quả của mô hình cuối cùng tiến hành thảo luận và đối sánh với các nghiên cứu trước đây.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị, nội dung chính của chương này là kết luận chung về các kết quả đạt được của luận văn. Đồng thời, luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp UOB TP. Hồ Chí Minh gia tăng dư nợ TDX nhiều hơn trong tương lai.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tại chương 1 thì luận văn đã trình bày lý do lựa chọn đề tài. Đồng thời, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Từ đó, chương này cũng trình bày tổng quát các phương pháp nghiên cứu được sử dụng đó là phương pháp định tính và định lượng, theo trình tự thực hiện nghiên cứu định tính sau đó sẽ đến nghiên cứu định lượng. Chương 1 đã tóm tắt những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của luận văn.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 TÍN DỤNG XANH
2.1.1. Khái niệm tín dụng xanh
Theo Zhao và Xu (2012) thì TDX là các khoản cho vay mà ngân hàng và các tổ chức tài chính khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các dự án thân thiện với môi trường.
Aizawa và Yang (2010) cho rằng TDX là một trong những giải pháp mà ngành tài chính có thể áp dụng để đối phó với các thách thức môi trường và xã hội của thế giới thông qua các công cụ tài chính.
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2013) định nghĩa TDX là một loạt các chính sách và sắp xếp có hệ thống được thực hiện bởi các ngân hàng để cung cấp các khoản vay hoặc các công cụ tài chính khác cho các dự án mang lại lợi ích môi trường.
Trần Thị Xuân Anh và Trần Thị Thu Hương (2021) cho rằng TDX là khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho các dự án bảo vệ môi trường hoặc có rủi ro môi trường thấp. Nói cách khác, TDX là các loại cung cấp vốn chẳng hạn như cho vay, tài trợ và các loại tín dụng khác. Trong đó các tác động và bảo tồn môi trường được xem xét. Ví dụ, cung cấp TDX cho các dự án sử dụng năng lượng hiệu quả, tái tạo và giảm rác thải. TDX cũng có nghĩa là từ chối cho phép tín dụng cho các dự án gây hại cho môi trường. Hay nói cách khác, TDX là khoản tín dụng mà các NHTM cấp cho các dự án sản xuất kinh doanh không tiềm ẩn rủi ro hoặc có mục đích bảo vệ môi trường. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Theo Tô Thị Ánh Dương (2020) thì TDX được hiểu là những khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho các dự án không tác động tiêu cực hoặc nhằm bảo vệ môi trường. Đây là những khoản tín dụng được cấp dưới dạng tài trợ vốn, cho vay hoặc các hình thức cấp tín dụng khác mà trong đó có tính đến tác động môi trường và phát triển môi trường bền vững.
Bùi Thị Hoàng Lan (2020) cho rằng TDX là kết quả của chính sách tín dụng của NHTM và các tổ chức tài chính khác ủng hộ các doanh nghiệp tham gia vào các thỏa thuận thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng. TDX cũng có thể được hiểu từ ba khía cạnh. Trước hết, cung cấp các chính sách hoặc công cụ tín dụng phù hợp để hỗ trợ các dự án hoặc doanh nghiệp thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng. Các chính sách này bao gồm các khoản vay, thời hạn, lãi suất và số tiền cần thiết. Thứ hai, xử lý các dự án, công ty vi phạm pháp luật về môi trường và tiết kiệm năng lượng bằng cách dừng cấp tín dụng, cấp tín dụng chậm hoặc thậm chí thu hồi tín dụng. Cuối cùng, chủ nợ là các NHTM hướng dẫn thực hiện trách nhiệm xã hội nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng theo chính sách tín dụng và giám sát khách hàng vay chống lại rủi ro môi trường. Để làm rõ nét nhất cho ba khía cạnh này thì hoạt động TDX một mặt sẽ cải thiện quản lý rủi ro xã hội và môi trường của ngân hàng trong khi tối ưu hóa tín dụng và đổi mới dịch vụ ngân hàng. Một mặt khác thì hoạt động TDX sẽ hỗ trợ thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng phát triển bền vững.
Tóm lại, TDX được định nghĩa trong luận văn này là tất cả các công cụ vay nợ hiện có được sử dụng để tài trợ và tái tài trợ một phần hoặc toàn bộ các dự án xanh hiện có hoặc mới đáp ứng các tiêu chí tài trợ. Tín dụng chỉ được gọi là TDX khi các khoản vay này được dành cho các dự án xanh thúc đẩy phát triển bền vững về mặt môi trường. Mặt khác, các dự án xanh cần thể hiện rõ ràng các lợi ích về môi trường; những lợi ích này cũng cần được định lượng, đánh giá, đo lường và báo cáo cho đơn vị cho vay. Do đó, TDX được coi là một phần của nền kinh tế xanh được các ngân hàng được sử dụng để hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường. Có nghĩa là các ngân hàng sẽ từ chối các dự án gây ô nhiễm môi trường và thông qua điều này có thể gián tiếp bảo vệ môi trường bằng TDX. Đồng thời, các ngân hàng hoặc cơ quan chức năng sẽ đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá đề án bảo vệ môi trường nhằm xác định mức dư nợ tín dụng cấp cho các dự án hay còn gọi là giá trị TDX.
2.1.2. Đặc điểm của tín dụng xanh Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Theo Nguyễn Thị Ánh Ngọc và Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2021) thì TDX mang đầy đủ các đặc điểm của tín dụng ngân hàng đó là:
Hình thức cấp tín dụng vẫn là bằng tiền, tạo tính linh hoạt và đáp ứng cho mọi nhu cầu của các đối tượng trong nền kinh tế. Đặc biệt vẫn phải tuân thủ theo quy định về việc hoàn trả gốc lãi theo đúng thỏa thuận với ngân hàng.
Nguồn vốn từ việc vay này vẫn xuất phát từ nguồn huy động của các đối tượng có nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế, chứ không chỉ dừng lại của nguồn vốn sở hữu thuộc ngân hàng.
TDX là các khoản vay tài trợ vốn hoặc cho vay, cùng với các loại tín dụng khác, được sử dụng để tính toán tác động của dự án hoặc khoản vay đối với môi trường. Tín dụng xanh ưu tiên các dự án và phương án vay có khả năng giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên thiên nhiên vì bảo vệ môi trường là một yếu tố quan trọng đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế bền vững.
Sự phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập và tái sản xuất xã hội. Mặc dù sản xuất và lưu thông hàng hóa đã bị đình trệ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nhưng nhu cầu tín dụng ngân hàng không giảm xuống theo mà còn tiếp tục tăng để ngăn chặn tình trạng phá sản của các đối tượng trong nên kinh tế. Ngược lại, khi kinh tế hưng thịnh, các công ty tăng sản lượng và hàng hóa lưu chuyển tăng mạnh, nhưng nhu cầu về tín dụng ngân hàng vẫn thiếu không đáp ứng được mọi nhu cầu.
2.1.3. Vai trò của tín dụng xanh
Đối với NHTM: TDX đóng vai trò then chốt trong việc định hình một tương lai bền vững cho cả ngân hàng thương mại, nền kinh tế và xã hội, dựa trên nhiều nghiên cứu đã được thực hiện. Đối với các NHTM, một nghiên cứu của Weber và cộng sự (2014) chỉ ra rằng việc tích hợp các yếu tố môi trường vào hoạt động tín dụng không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến môi trường và xã hội mà còn mở ra các cơ hội kinh doanh mới trong lĩnh vực tài chính xanh. Thêm vào đó, một báo cáo của NHNN Việt Nam (2023) nhấn mạnh rằng việc thúc đẩy TDX giúp các ngân hàng thương mại nâng cao uy tín, thu hút nguồn vốn xanh từ các tổ chức quốc tế và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư và khách hàng về trách nhiệm xã hội và môi trường.
Đối với nền kinh tế: Vai trò của TDX là thúc đẩy tăng trưởng xanh và bền vững. Theo Stern (2007), đầu tư vào các dự án xanh thông qua TDX có thể tạo ra lợi nhuận kinh tế dài hạn, giảm thiểu chi phí do tác động của biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. D’Orazio và cộng sự (2021) cho thấy rằng việc định hướng dòng vốn tín dụng vào các ngành kinh tế xanh có thể kích thích đổi mới công nghệ, tạo ra việc làm mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu.
Đối với xã hội: TDX đóng góp vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm bất bình đẳng. Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2011), việc tài trợ cho các dự án năng lượng sạch, giao thông công cộng bền vững và nhà ở xanh giúp giảm ô nhiễm, cải thiện sức khỏe cộng đồng và tạo ra môi trường sống lành mạnh hơn. Hơn nữa, một nghiên cứu của Sachs (2015) chỉ ra rằng TDX có thể hỗ trợ các cộng đồng dễ bị tổn thương ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bao trùm và công bằng trong xã hội. Tóm lại, các nghiên cứu đã củng cố vai trò không thể phủ nhận của TDX trong việc mang lại lợi ích đồng thời cho ngân hàng thương mại, nền kinh tế và xã hội, hướng tới một tương lai phát triển bền vững.
2.2. PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG XANH Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Zhao và Xu (2012) cho rằng TDX tại các NHTM có thể xem xét sự phát triển thông qua hai hướng từ ngân hàng hoặc khách hàng.
2.2.1. Phát triển TDX theo khía cạnh của ngân hàng thương mại
Theo Chichilnisky (1996) thì phát triển TDX là một cách tiếp cận hệ thống, tích hợp các mục tiêu môi trường vào các quyết định tài chính đồng thời xem xét các tác động xã hội và kinh tế. Nó không chỉ đơn thuần là tài trợ cho các dự án “xanh” mà còn là việc đảm bảo rằng toàn bộ hệ thống tài chính hướng tới sự bền vững lâu dài.
Theo Stern (2007) thì phát triển TDX là một quá trình đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực tư nhân để thiết lập các cơ chế tài chính quốc tế hỗ trợ các dự án xanh ở các nước đang phát triển, chia sẻ các thực tiễn tốt nhất và xây dựng năng lực cho các tổ chức tài chính địa phương, nhằm ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Theo Barbara Buchner và cộng sự (2012) thì phát triển TDX là việc sử dụng các công cụ nợ và các hình thức cấp vốn khác để hỗ trợ các dự án và hoạt động góp phần giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực tài chính cần thiết để đạt được các mục tiêu khí hậu và phát triển bền vững.
Shiller (2013) thì phát triển TDX là sự tham gia tích cực của các định chế tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại, trong việc thiết kế và cung cấp các giải pháp tài chính sáng tạo nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh tế mang lại lợi ích môi trường. Điều này bao gồm việc phát triển các tiêu chuẩn xanh, đánh giá tác động môi trường của các dự án và cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các sáng kiến bền vững.
Theo Czarnitzki và Hall (2018) thì phát triển TDX là một lĩnh vực có thể được tăng cường đáng kể nhờ sự ứng dụng của công nghệ tài chính. Công nghệ tài chính có tiềm năng cách mạng hóa cách các dự án xanh được tài trợ thông qua các nền tảng cho vay ngang hàng, các công cụ đánh giá rủi ro môi trường dựa trên dữ liệu lớn và các giải pháp thanh toán xanh, từ đó mở ra các kênh huy động vốn mới và giảm chi phí giao dịch cho các dự án bền vững.
- Dựa trên các khái niệm trên thì phát triển TDX đó chính là sự chủ động và tích cực của các NHTM trong việc:
Thiết kế và cung cấp các giải pháp tài chính sáng tạo: Điều này bao gồm việc xây dựng các sản phẩm tín dụng, dịch vụ tài chính đặc biệt dành cho các hoạt động kinh tế mang lại lợi ích môi trường, như các dự án năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững, công nghệ xanh, và các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính (Shiller, 2013).
Tích hợp các mục tiêu môi trường vào quy trình và quyết định tín dụng: Các NHTM không chỉ đơn thuần tài trợ cho các dự án “xanh” mà còn xem xét các tác động môi trường tiềm ẩn của tất cả các khoản vay và hoạt động tài chính của mình. Họ có thể phát triển các tiêu chuẩn xanh và quy trình đánh giá rủi ro môi trường để đảm bảo rằng các hoạt động tín dụng của họ hướng tới sự bền vững lâu dài. (Chichilnisky, 1996 và Shiller, 2013) Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Huy động nguồn lực tài chính cho các dự án xanh: Các NHTM đóng vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng để hỗ trợ các dự án và hoạt động góp phần giảm phát thải khí nhà kính, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (Buchner và cộng sự, 2012).
Ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech): Các NHTM có thể tận dụng các tiến bộ của Fintech để cách mạng hóa cách các dự án xanh được tài trợ, thông qua các nền tảng cho vay, công cụ đánh giá rủi ro môi trường dựa trên dữ liệu lớn và các giải pháp thanh toán xanh, từ đó mở ra các kênh huy động vốn mới và giảm chi phí giao dịch (Czarnitzki và Hall, 2018).
Hợp tác với các bên liên quan: Các NHTM nhận thức được sự cần thiết của việc hợp tác chặt chẽ với chính phủ, các tổ chức quốc tế, khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính khác để thiết lập các cơ chế tài chính hiệu quả, chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng năng lực trong lĩnh vực TDX (Stern, 2007).
Tóm lại, từ góc độ của NHTM, phát triển TDX không chỉ là một hoạt động kinh doanh mới mà còn là một cam kết đối với sự phát triển bền vững, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường thông qua việc cung cấp các giải pháp tài chính phù hợp và có trách nhiệm. Hay nói cách khác, đây chính là việc mà các NHTM có ý thức về việc xây dựng chiến lược, hành động cụ thể nhằm gia tăng số lượng hồ sơ và dư nợ cho vay với các dự án “xanh” trong xã hội, nền kinh tế.
2.2.2. Phát triển TDX theo khía cạnh của khách hàng
Theo Rust, Zeithaml và Parasuraman (1996) dựa trên mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL thì phát triển TDX đòi hỏi các tổ chức tài chính phải đảm bảo chất lượng dịch vụ xuất sắc trên tất cả các khía cạnh hữu hình (ví dụ: thông tin rõ ràng về sản phẩm xanh), độ tin cậy (ví dụ: thực hiện đúng cam kết về lợi ích xanh), khả năng đáp ứng (ví dụ: tư vấn nhanh chóng về các giải pháp xanh), sự đảm bảo (ví dụ: tạo sự tin tưởng về tác động môi trường tích cực) và sự đồng cảm (ví dụ: hiểu rõ nhu cầu và mối quan tâm về môi trường của khách hàng). Chất lượng dịch vụ cao sẽ thúc đẩy khách hàng sử dụng dịch vụ thường xuyên hơn.
Theo Oliver (1999) dựa trên lý thuyết về sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng thì phát triển TDX đạt được khi các tổ chức tài chính cung cấp trải nghiệm dịch vụ TDX vượt trội, đáp ứng và thậm chí vượt quá mong đợi của khách hàng về tính minh bạch, tiện lợi và tác động môi trường tích cực. Sự hài lòng và lòng trung thành này sẽ dẫn đến việc khách hàng tiếp tục sử dụng và giới thiệu các dịch vụ TDX, góp phần vào sự phát triển bền vững của nó.
Theo Kotler và Armstrong (2010) dựa trên nguyên tắc Marketing bền vững thì phát triển TDX là quá trình các tổ chức tài chính thiết kế và truyền thông các sản phẩm tín dụng mang lại giá trị đồng thời cho khách hàng và môi trường. Bằng cách tập trung vào lợi ích kép này (lợi ích tài chính và lợi ích môi trường), ngân hàng có thể thu hút và duy trì những khách hàng có ý thức về môi trường, từ đó gia tăng việc sử dụng các dịch vụ TDX. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Theo Schiffman và Kanuk (2010) dựa trên hành vi người tiêu dùng và giá trị thì phát triển TDX là việc các tổ chức tài chính thành công trong việc định vị các sản phẩm TDX như là những lựa chọn phù hợp với hệ thống giá trị và lối sống “xanh” của một bộ phận khách hàng ngày càng tăng. Khi khách hàng nhận thấy các sản phẩm này đáp ứng nhu cầu tài chính đồng thời thể hiện trách nhiệm với môi trường, họ sẽ có động lực cao hơn để sử dụng chúng.
Theo Reichheld (2003) dựa trên chỉ số NPS – Net Promoter Score và sự giới thiệu của khách hàng thì phát triển TDX được đo lường bằng mức độ khách hàng sẵn lòng giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ TDX của ngân hàng cho người khác. Khi khách hàng thực sự tin tưởng vào lợi ích và giá trị “xanh” mà ngân hàng mang lại, họ sẽ trở thành những “người quảng bá” tích cực, thu hút thêm nhiều khách hàng mới sử dụng các dịch vụ này.
Dựa trên các lập luận về quan điểm phát triển tín dụng thì thì với khía cạnh khác hàng đây là quá trình mà khách hàng ngày càng nhận thức, tin tưởng và tích cực sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tín dụng do các tổ chức tài chính cung cấp, bởi vì chúng mang lại:
Trải nghiệm dịch vụ vượt trội: Khách hàng cảm thấy hài lòng và trung thành khi các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ TDX một cách minh bạch, tiện lợi và đáp ứng, thậm chí vượt quá mong đợi của họ về tác động môi trường tích cực (Oliver, 1999).
Giá trị kép: Khách hàng nhận thấy các sản phẩm TDX không chỉ mang lại lợi ích tài chính mà còn đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, phù hợp với ý thức và trách nhiệm của họ đối với sự bền vững (Kotler và Armstrong, 2010).
Sự phù hợp với giá trị và lối sống “xanh”: Khách hàng lựa chọn các sản phẩm TDX khi chúng được định vị thành công như là những lựa chọn phù hợp với hệ thống giá trị và lối sống quan tâm đến môi trường của họ (Schiffman và Kanuk, 2010).
Niềm tin và sự sẵn lòng giới thiệu: Khách hàng tin tưởng vào lợi ích và giá trị “xanh” mà ngân hàng mang lại, dẫn đến sự sẵn lòng giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ này cho người khác, trở thành những “người quảng bá” tích cực (Reichheld, 2003).
Chất lượng dịch vụ: Khách hàng có xu hướng sử dụng dịch vụ TDX thường xuyên hơn khi các tổ chức tài chính đảm bảo chất lượng dịch vụ cao trên tất cả các khía cạnh, từ thông tin rõ ràng, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, sự đảm bảo về tác động môi trường tích cực đến sự đồng cảm với nhu cầu và mối quan tâm về môi trường của họ (Rust, Zeithaml và Parasuraman, 1996).
Tóm lại, từ góc độ khách hàng, phát triển TDX là việc tạo ra một mối quan hệ tích cực và bền vững giữa khách hàng và các tổ chức tài chính, dựa trên sự hài lòng, niềm tin và nhận thức về giá trị kép mà các sản phẩm và dịch vụ TDX mang lại cho cả lợi ích tài chính cá nhân và sự phát triển bền vững của môi trường.
Tuy nhiên, phạm vi đánh giá phát triển TDX được trình bày với hai khía cạnh lập luận với góc độ của ngân hàng và khách hàng. Nhưng luận văn này sẽ sử dụng việc đánh giá phát triển TDX theo khía cạnh của ngân hàng. Vì khi đánh giá sự phát triển TDX theo khía cạnh này thì sẽ xem xét được những vấn đề nội tại lẫn những chiến lược và hành động của ngân hàng. Đặc biệt với khía cạnh này thì sự đánh giá sẽ thuộc về phạm vi của đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó cho thấy sự hiểu biết, tính đồng bộ trong thực hiện của họ đối với tín dụng xanh tại nơi mình làm việc như thế nào.
2.3. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG XANH Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
2.3.1. Lý thuyết phát triển bền vững
Lý thuyết Phát triển bền vững được định hình trong Báo cáo Brundtland (World Commission on Environment and Development, 1987), nhấn mạnh nhu cầu đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Trong bối cảnh này, TDX được xem là một cơ chế tài chính quan trọng để hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế bền vững. Các ngân hàng, với vai trò trung gian tài chính, có trách nhiệm đạo đức và kinh tế trong việc định hướng dòng vốn vào các hoạt động kinh tế bền vững, góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực như biến đổi khí hậu, ô nhiễm và suy thoái tài nguyên (Elkington, 1997). Sự tích hợp TDX vào chiến lược kinh doanh không chỉ thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Carroll, 1991) mà còn tạo ra giá trị dài hạn cho cả ngân hàng và xã hội (Porter và cộng sự, 2011). Việc các ngân hàng chủ động thúc đẩy TDX phù hợp với các mục tiêu toàn cầu như Chương trình Nghị sự 2030 và các Mục tiêu Phát triển Bền Vững (United Nations, 2015), củng cố vai trò của họ như là những tác nhân tích cực trong việc xây dựng một tương lai bền vững.
2.3.2. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
Theo lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của Porter (1985), các ngân hàng có thể tạo ra lợi thế chiến lược bằng cách phát triển các năng lực độc đáo và cung cấp giá trị vượt trội cho khách hàng. Trong bối cảnh phát triển bền vững, việc tiên phong trong lĩnh vực TDX có thể mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể. Các ngân hàng “xanh” có thể thu hút được các phân khúc thị trường mới, bao gồm các doanh nghiệp và nhà đầu tư có ý thức về môi trường (Hart và cộng sự, 1996). Hơn nữa, việc xây dựng một thương hiệu mạnh mẽ gắn liền với sự bền vững có thể cải thiện hình ảnh công ty, tăng cường lòng trung thành của khách hàng và thu hút nhân tài (Wernerfelt, 1984). Khả năng quản lý rủi ro môi trường hiệu quả thông qua thẩm định TDX cũng có thể giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng và cải thiện hiệu quả hoạt động dài hạn.
2.3.3. Lý thuyết các bên liên quan Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984), cho rằng sự thành công của một tổ chức không chỉ phụ thuộc vào việc tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông mà còn phải xem xét và cân bằng lợi ích của tất cả các bên có liên quan đến hoạt động của tổ chức, bao gồm khách hàng, nhân viên, cộng đồng, Chính phủ và môi trường. Việc phát triển TDX là một cách để các ngân hàng thể hiện trách nhiệm đối với các bên liên quan này, đặc biệt là trong bối cảnh nhận thức về môi trường ngày càng tăng (Donaldson và Preston, 1995). Bằng cách tài trợ cho các dự án xanh, ngân hàng đáp ứng kỳ vọng của khách hàng về các sản phẩm tài chính bền vững, thu hút các nhà đầu tư có trách nhiệm xã hội, tạo ra tác động tích cực đến cộng đồng và môi trường, và tuân thủ các quy định pháp lý liên quan đến bảo vệ môi trường (Mitchell và cộng sự, 1997). Việc quản lý mối quan hệ với các bên liên quan thông qua các hoạt động TDX có thể giúp ngân hàng xây dựng uy tín, giảm thiểu rủi ro và tạo ra giá trị bền vững.
2.3.4. Lý thuyết về nguồn lực
Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) của Wernerfelt (1984) cho rằng lợi thế cạnh tranh bền vững của các tổ chức tài chính trong việc cung cấp và quản lý TDX hiệu quả xuất phát từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực có giá trị (Valuable), khan hiếm (Rare), khó bắt chước (Inimitable) và được tổ chức tốt (Organized – VRIO framework). Các nguồn lực này bao gồm vốn xanh ưu đãi, năng lực chuyên môn về đánh giá rủi ro môi trường và xã hội, mạng lưới đối tác xanh, hệ thống thông tin và công nghệ tiên tiến, cũng như uy tín và mối quan hệ với các bên liên quan trong lĩnh vực xanh.
Barney (1991) cho rằng các nguồn lực có giá trị là những nguồn lực cho phép công ty khai thác các cơ hội hoặc trung hòa các mối đe dọa từ môi trường bên ngoài. Trong TDX, khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh và năng lực đánh giá rủi ro môi trường chính là những nguồn lực có giá trị như vậy. Vốn xanh với chi phí thấp hơn so với vốn thông thường (ví dụ: từ các quỹ xanh, trái phiếu xanh, hoặc ưu đãi của chính phủ) mang lại lợi thế chi phí cho các tổ chức tín dụng, cho phép họ cung cấp các khoản vay xanh hấp dẫn hơn cho các dự án thân thiện với môi trường. Năng lực thẩm định và quản lý rủi ro môi trường và xã hội giúp các tổ chức này đưa ra các quyết định cho vay sáng suốt hơn, giảm thiểu rủi ro tín dụng và rủi ro về mặt pháp lý và uy tín liên quan đến các vấn đề môi trường. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Theo Barney (1991), để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, các nguồn lực không chỉ cần có giá trị mà còn phải khan hiếm, tức là không được sở hữu rộng rãi bởi các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng. Sự khan hiếm về vốn xanh và chuyên môn trong lĩnh vực này tạo ra cơ hội cho những tổ chức đi đầu. Không phải tất cả các tổ chức tài chính đều có khả năng tiếp cận dễ dàng đến nguồn vốn xanh ưu đãi hoặc sở hữu đội ngũ chuyên gia có kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực môi trường và năng lượng tái tạo. Những tổ chức tiên phong xây dựng được mạng lưới đối tác với các tổ chức môi trường, các công ty công nghệ xanh và các cơ quan chính phủ liên quan sẽ có lợi thế trong việc tiếp cận các dự án tiềm năng và thông tin chuyên sâu.
Peteraf (1993) đã chỉ ra rằng các nguồn lực có thể tạo ra lợi nhuận siêu việt bền vững khi chúng khó bị sao chép hoặc thay thế bởi các đối thủ cạnh tranh. Các mối quan hệ độc quyền và văn hóa tổ chức là những ví dụ điển hình về nguồn lực khó bắt chước trong bối cảnh TDX. Lợi thế cạnh tranh từ TDX càng bền vững hơn khi các nguồn lực của tổ chức khó bị các đối thủ sao chép. Điều này có thể bao gồm các mối quan hệ đối tác độc đáo và lâu dài với các bên liên quan trong hệ sinh thái xanh, các quy trình thẩm định và quản lý rủi ro TDX được phát triển riêng biệt và hiệu quả, hoặc uy tín và thương hiệu đã được xây dựng trong lĩnh vực tài chính xanh. Văn hóa tổ chức khuyến khích sự đổi mới và cam kết với các mục tiêu bền vững cũng là một nguồn lực khó bắt chước.
Barney (1995) nhấn mạnh rằng một công ty cần có khả năng tổ chức và khai thác các nguồn lực của mình thông qua các hệ thống quản lý, cấu trúc và quy trình phù hợp để biến các nguồn lực tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh thực tế. Ngay cả khi một tổ chức tài chính sở hữu các nguồn lực có giá trị, khan hiếm và khó bắt chước, họ vẫn cần có khả năng tổ chức và triển khai các nguồn lực này một cách hiệu quả để khai thác tối đa tiềm năng của chúng. Điều này đòi hỏi các quy trình nội bộ phù hợp, cơ cấu tổ chức linh hoạt, hệ thống khuyến khích hiệu quả và khả năng phối hợp tốt giữa các bộ phận liên quan để phát triển và quản lý các sản phẩm TDX.
2.3.5. Lý thuyết đại diện và thông tin bất cân xứng Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Trong bối cảnh phát triển TDX, lý thuyết đại diện của Jensen và William Meckling (1976) tập trung vào các mối quan hệ giữa người ủy thác (principals) – bao gồm các nhà đầu tư, cổ đông và các bên cung cấp vốn xanh (như Chính phủ, các tổ chức quốc tế) và người đại diện (agents) – là các nhà quản lý và nhân viên của các tổ chức tài chính (ngân hàng, quỹ đầu tư) có trách nhiệm triển khai và quản lý các hoạt động TDX. Lý thuyết này cho rằng có thể tồn tại xung đột lợi ích (agency conflicts) giữa người ủy thác và người đại diện, cũng như chi phí đại diện (agency costs) phát sinh để giám sát và giải quyết các xung đột này, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính bền vững của TDX.
Jensen và Meckling (1976) định nghĩa mối quan hệ đại diện là một hợp đồng theo đó một hoặc nhiều người (người ủy thác) thuê một người khác (người đại diện) thực hiện một số dịch vụ nhân danh họ và ủy quyền cho người đại diện đưa ra các quyết định. Họ cũng chỉ ra rằng, nếu cả người ủy thác và người đại diện đều tối đa hóa lợi ích của riêng mình, có lý do để tin rằng người đại diện sẽ không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích tốt nhất của người ủy thác. Trong bối cảnh TDX, việc thiếu minh bạch trong tiêu chí đánh giá “xanh” có thể tạo cơ hội cho người đại diện theo đuổi các mục tiêu cá nhân mà không thực sự mang lại lợi ích môi trường như kỳ vọng của người ủy thác. Các nhà đầu tư và bên cung cấp vốn xanh là các NHTM thường có mục tiêu kép đó là vừa tìm kiếm lợi nhuận tài chính hợp lý, vừa mong muốn thấy được ảnh hưởng tích cực đến môi trường và xã hội từ các dự án được tài trợ. Tuy nhiên, các nhà quản lý của tổ chức tài chính có thể ưu tiên các mục tiêu ngắn hạn như tăng trưởng lợi nhuận hoặc quy mô danh mục cho vay, đôi khi có thể dẫn đến việc “greenwashing” (tức là hình thức, bề ngoài là dự án xanh nhưng thực chất ảnh hưởng môi trường không đáng kể hoặc thậm chí tiêu cực) để thu hút vốn xanh mà không thực sự cam kết với các tiêu chuẩn và mục tiêu xanh thực chất.
Eisenhardt (1989) cũng nhấn mạnh rằng thông tin bất cân xứng là một trong những điều kiện tiên quyết dẫn đến các vấn đề đại diện. Trong TDX, sự phức tạp trong việc đánh giá và đo lường ảnh hưởng môi trường của các dự án làm gia tăng mức độ thông tin bất cân xứng giữa người cấp vốn và người quản lý vốn. Các tổ chức tài chính và các chuyên gia thẩm định dự án thường có nhiều thông tin hơn về bản chất thực sự của các dự án được gắn mác “xanh” so với các nhà đầu tư hoặc bên cung cấp vốn. Sự bất cân xứng này có thể tạo điều kiện cho các hành vi cơ hội của người đại diện, chẳng hạn như việc che giấu thông tin về rủi ro môi trường tiềm ẩn hoặc thổi phồng ảnh hưởng xanh của dự án để dễ dàng nhận được vốn hoặc đạt được các chỉ tiêu về TDX.
Jensen và Meckling (1976) đã chỉ ra rằng chi phí đại diện bao gồm chi phí giám sát của người ủy thác, chi phí ràng buộc của người đại diện (ví dụ: cam kết đầu tư cá nhân vào công ty) và tổn thất do các quyết định của người đại diện không hoàn toàn phục vụ lợi ích của người ủy thác. Trong TDX, chi phí giám sát có thể bao gồm việc thẩm định kỹ lưỡng các tiêu chuẩn xanh và theo dõi ảnh hưởng môi trường sau khi giải ngân vốn. Để giảm thiểu các xung đột lợi ích và vấn đề thông tin bất cân xứng trong TDX, người ủy thác phải gánh chịu các chi phí đại diện. Các chi phí này có thể bao gồm việc thiết lập các hệ thống giám sát và báo cáo chặt chẽ về hiệu quả môi trường của các dự án được tài trợ, thuê các chuyên gia độc lập để đánh giá tính “xanh” thực sự của dự án, hoặc xây dựng các cơ chế khuyến khích (ví dụ: thưởng dựa trên hiệu quả xanh) để đảm bảo lợi ích của người đại diện với mục tiêu của người ủy thác. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Fama và Jensen (1983) đã nhấn mạnh vai trò của các cơ chế quản trị doanh nghiệp trong việc giảm thiểu chi phí đại diện. Trong bối cảnh TDX, các cơ chế quản trị hiệu quả có thể bao gồm việc thành lập các ủy ban chuyên trách về phát triển bền vững trong hội đồng quản trị của các tổ chức tài chính và tăng cường sự giám sát của các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng đối với các hoạt động TDX. Để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của TDX, cần có các cơ chế hiệu quả để giải quyết các xung đột lợi ích. Điều này bao gồm việc tăng cường minh bạch thông tin về các tiêu chí và ảnh hưởng xanh của dự án, thiết lập các tiêu chuẩn và chứng nhận xanh rõ ràng và được quốc tế công nhận, tăng cường vai trò của các bên thứ ba độc lập trong việc giám sát và đánh giá, cũng như xây dựng các quy định và chế tài mạnh mẽ đối với hành vi “greenwashing”.
2.3.6. Lý thuyết vốn con người
Lý thuyết vốn con người của Becker (1964) cho rằng chất lượng và trình độ của nguồn nhân lực bao gồm kiến thức chuyên môn về tài chính xanh, hiểu biết về các vấn đề môi trường và xã hội, kỹ năng thẩm định và quản lý rủi ro dự án xanh, cũng như khả năng đổi mới và phát triển các sản phẩm tài chính xanh là một yếu tố quyết định đến sự thành công và tác động tích cực của hoạt động TDX. Đầu tư vào việc nâng cao vốn con người trong lĩnh vực này sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn, khả năng quản lý rủi ro cao hơn, và sự phát triển của các giải pháp tài chính sáng tạo hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng TDX bền vững. Trong bối cảnh TDX, việc đào tạo chuyên sâu cho cán bộ về các lĩnh vực liên ngành này sẽ nâng cao khả năng thẩm định dự án chất lượng và giảm thiểu rủi ro, từ đó tăng cường hiệu quả hoạt động của tổ chức. Để thẩm định và quản lý hiệu quả các dự án TDX, đội ngũ cán bộ ngân hàng và các tổ chức tài chính cần có kiến thức chuyên sâu về cả lĩnh vực tài chính và các khía cạnh môi trường và xã hội liên quan. Điều này bao gồm hiểu biết về các loại hình dự án xanh (năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững, giao thông xanh, v.v.), các tiêu chuẩn và quy định môi trường, các phương pháp đánh giá tác động môi trường và xã hội (Environmental and Social Impact Assessment – ESIA), cũng như các công cụ và sản phẩm tài chính xanh (trái phiếu xanh, tín dụng carbon, v.v.).
Schultz (1961) đã chỉ ra rằng các kỹ năng và kinh nghiệm mà con người tích lũy được là một dạng vốn có thể tạo ra giá trị kinh tế. Trong lĩnh vực TDX, kinh nghiệm thẩm định các dự án tương tự và kỹ năng phân tích rủi ro môi trường là những yếu tố vốn con người quan trọng giúp các tổ chức tài chính đưa ra các quyết định cho vay an toàn và hiệu quả. Các dự án xanh thường có những đặc thù riêng về rủi ro so với các dự án truyền thống, bao gồm rủi ro công nghệ mới, rủi ro chính sách thay đổi, và rủi ro liên quan đến các yếu tố môi trường tự nhiên. Do đó, cán bộ TDX cần được trang bị các kỹ năng thẩm định và quản lý rủi ro chuyên biệt để đánh giá chính xác các rủi ro này và xây dựng các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu hiệu quả. Ngoài ra, Romer (1990) đã nhấn mạnh vai trò của vốn con người trong việc tạo ra và ứng dụng kiến thức mới, dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Tương tự, trong TDX, đội ngũ chuyên gia có năng lực nghiên cứu và phát triển sẽ thúc đẩy sự ra đời của các công cụ tài chính xanh sáng tạo, góp phần mở rộng quy mô và phạm vi của lĩnh vực này. Sự phát triển của TDX đòi hỏi sự đổi mới liên tục trong việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ tài chính mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường và hỗ trợ các loại hình dự án xanh khác nhau. Đội ngũ nhân lực có trình độ cao, có khả năng tư duy sáng tạo và hiểu biết về các xu hướng phát triển bền vững toàn cầu sẽ đóng vai trò then chốt trong việc phát triển các giải pháp tài chính xanh tiên tiến và hiệu quả. Mặt khác, Vốn con người trong TDX không chỉ giới hạn ở kiến thức và kỹ năng cá nhân mà còn bao gồm khả năng xây dựng và duy trì mạng lưới quan hệ với các bên liên quan trong hệ sinh thái xanh, bao gồm các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ về môi trường, các công ty công nghệ xanh, và các nhà đầu tư có trách nhiệm xã hội. Mạng lưới này giúp các tổ chức tài chính tiếp cận thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và tạo ra các cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực TDX.
2.3.7. Lý thuyết đổi mới Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Lý thuyết đổi mới của Schumpeter (1934) tập trung vào quá trình các tổ chức tài chính và các bên liên quan khác (như Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức phi Chính phủ) giới thiệu và áp dụng các ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ, quy trình và mô hình kinh doanh mới nhằm thúc đẩy sự phát triển của tín dụng xanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng phạm vi tiếp cận và tạo ra tác động tích cực hơn đến môi trường và xã hội. Sự đổi mới trong tín dụng xanh có thể bao gồm việc phát triển các công cụ tài chính mới, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thiết lập các tiêu chuẩn và quy trình đánh giá xanh sáng tạo, và xây dựng các mô hình hợp tác mới giữa các bên liên quan. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các dự án xanh và thu hút các nhà đầu tư có ý thức về môi trường, các tổ chức tài chính cần không ngừng đổi mới và phát triển các sản phẩm và dịch vụ tài chính xanh mới. Điều này có thể bao gồm các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn cho các dự án năng lượng tái tạo, trái phiếu xanh và trái phiếu xã hội, các quỹ đầu tư xanh, các công cụ bảo lãnh rủi ro cho các dự án xanh mới, và các sản phẩm tín dụng carbon.
Rogers (2003) mô tả quá trình các ý tưởng và công nghệ mới được lan tỏa trong một hệ thống xã hội. Việc ứng dụng Fintech trong tín dụng xanh có thể được xem là một sự đổi mới đang trong quá trình lan tỏa, hứa hẹn sẽ thay đổi cách thức tài trợ và quản lý các dự án xanh. Công nghệ tài chính (Fintech) mang lại nhiều cơ hội để đổi mới trong lĩnh vực tín dụng xanh. Các ứng dụng của Fintech có thể giúp cải thiện quy trình thẩm định và giám sát dự án xanh (ví dụ: sử dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để đánh giá rủi ro môi trường), tăng cường tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin cho các nhà đầu tư (ví dụ: nền tảng trực tuyến cho trái phiếu xanh), và tạo ra các mô hình tài chính phi tập trung cho các dự án năng lượng tái tạo nhỏ lẻ.
Ngoài ra, Porter và Kramer (2011) cho rằng doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Việc đổi mới các quy trình và tiêu chuẩn đánh giá xanh không chỉ giúp các tổ chức tài chính quản lý rủi ro tốt hơn mà còn tạo ra giá trị chung cho cả doanh nghiệp và xã hội. Để đảm bảo tính “xanh” thực sự của các dự án được tài trợ, cần có các quy trình thẩm định và tiêu chuẩn đánh giá môi trường và xã hội rõ ràng, minh bạch và được cập nhật liên tục. Sự đổi mới trong lĩnh vực này có thể bao gồm việc phát triển các bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia và quốc tế, áp dụng các phương pháp đánh giá ảnh hưởng môi trường tiên tiến, và tích hợp các yếu tố rủi ro khí hậu vào quy trình đánh giá tín dụng truyền thống.
2.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG XANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
2.4.1. Áp lực từ các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) của Freeman (1984) giải thích rằng sự phát triển của TDX tại các NHTM chịu tác động mạnh mẽ từ áp lực của nhiều bên liên quan. Nhận thức ngày càng tăng về các vấn đề môi trường từ khách hàng thúc đẩy họ tìm kiếm các sản phẩm tài chính xanh hơn. Flammer (2015) cho thấy rằng các công ty có trách nhiệm xã hội (bao gồm cả khía cạnh môi trường) thường tạo ra giá trị cao hơn cho các bên liên quan, ngụ ý rằng việc cung cấp TDX có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng có ý thức về môi trường. Đồng thời, áp lực từ các nhà đầu tư có tiêu chí ESG (môi trường, xã hội và quản trị) ngày càng gia tăng. Zhou và Zhou (2020) cho thấy rằng các quy định môi trường (một hình thức áp lực từ chính phủ) có liên quan đến sự phát triển của TDX. Thêm vào đó, các quy định và chính sách khuyến khích TDX từ Chính phủ và các tổ chức quốc tế tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi. Áp lực từ cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các NHTM thực hiện trách nhiệm xã hội và môi trường thông qua việc phát triển TDX (Carroll, 1991).
2.4.2. Lợi thế cạnh tranh và cơ hội thị trường
Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-Based View – RBV) của Barney (1991) cho rằng TDX có thể trở thành một nguồn lực và năng lực độc đáo, mang lại lợi thế cạnh tranh cho các NHTM. Việc tiên phong cung cấp các sản phẩm TDX khác biệt hóa dịch vụ và thu hút một phân khúc khách hàng mới quan tâm đến các vấn đề môi trường. Taghizadeh-Hesary và Yoshino (2020) cho rằng tiềm năng của tài chính xanh (bao gồm TDX) trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững và tạo ra các cơ hội thị trường mới cho các tổ chức tài chính. Hơn nữa, sự tăng trưởng nhanh chóng của các ngành kinh tế xanh như năng lượng tái tạo và nông nghiệp bền vững mở ra những cơ hội thị trường mới đầy tiềm năng cho các NHTM. Nghiên cứu của IRENA (2024) chỉ ra sự tăng trưởng mạnh mẽ của nhu cầu đầu tư vào năng lượng tái tạo, tạo ra cơ hội lớn cho các NHTM mở rộng danh mục cho vay xanh (Porter và Kramer, 2011).
2.4.3. Khả năng và nguồn lực của ngân hàng thương mại Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities Theory) của Teece và cộng sự (1997) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển các năng lực bên trong để thích ứng với môi trường thay đổi. Để phát triển TDX hiệu quả, NHTM cần đầu tư vào việc nâng cao kiến thức chuyên môn của nhân viên về đánh giá rủi ro môi trường và xã hội, xây dựng quy trình thẩm định dự án xanh chuyên biệt và phát triển hệ thống quản lý rủi ro phù hợp. Nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Châu và Trần Thị Kim Liên (2023) tại Việt Nam cho thấy rằng các NHTM có đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản về tài chính xanh có xu hướng giải ngân TDX nhiều hơn và quản lý rủi ro tốt hơn. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào công nghệ và hệ thống thông tin để theo dõi và báo cáo các khoản vay xanh cũng rất quan trọng. Deloitte (2024) quan sát về xu hướng NHTM bền vững chỉ ra rằng việc ứng dụng các công nghệ như AI và phân tích dữ liệu lớn giúp các NHTM đánh giá và quản lý rủi ro TDX hiệu quả hơn (Wernerfelt, 1984).
2.4.4. Môi trường pháp lý và chính sách
Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) của DiMaggio và Powell (1983) cho thấy rằng môi trường pháp lý và chính sách có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của các tổ chức. Các quy định rõ ràng về định nghĩa TDX, các tiêu chuẩn và hướng dẫn về dự án xanh, các ưu đãi về thuế hoặc vốn, và các cam kết quốc gia về phát triển bền vững tạo ra một khuôn khổ khuyến khích các NHTM tham gia vào lĩnh vực này. Nghiên cứu của Li và Zhang (2022) về tác động của chính sách TDX ở Trung Quốc cho thấy rằng các chính sách hỗ trợ tài chính và giảm thuế đã thúc đẩy đáng kể sự tăng trưởng của TDX. Tương tự, một báo cáo của NHTM Nhà nước Việt Nam (2023) về định hướng phát triển TDX nhấn mạnh vai trò của các chính sách khuyến khích và hướng dẫn trong việc định hình sự phát triển của TDX tại các NHTM trong nước (North, 1990).
2.4.5. Nhận thức và văn hóa tổ chức
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991) cho thấy rằng ý định và hành vi của tổ chức bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức về khả năng kiểm soát. Nhận thức và thái độ tích cực của ban lãnh đạo và nhân viên NHTM đối với các vấn đề môi trường và xã hội đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển TDX. Rossi và cộng sự (2021) cho rằng các NHTM có sự ủng hộ mạnh mẽ từ ban lãnh đạo đối với các mục tiêu bền vững có xu hướng tích cực hơn trong việc triển khai các sản phẩm TDX. Hơn nữa, việc xây dựng một văn hóa tổ chức coi trọng sự bền vững thông qua các chương trình đào tạo và truyền thông nội bộ cũng rất quan trọng. Một nghiên cứu của KPMG (2023) về báo cáo bền vững của các NHTM toàn cầu cho thấy rằng các NHTM có văn hóa tổ chức mạnh mẽ về bền vững thường tích cực hơn trong việc tích hợp các yếu tố ESG vào hoạt động kinh doanh, bao gồm cả TDX (Schein, 1992).
2.4.6. Công nghệ Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc định hình và thúc đẩy sự phát triển của TDX tại các NHTM. Dưới góc độ Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-Based View – RBV) của Barney (1991), các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) trở thành những nguồn lực chiến lược, cho phép NHTM xây dựng lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính xanh. AI và Big Data cung cấp khả năng phân tích sâu rộng các yếu tố môi trường và xã hội liên quan đến các dự án tiềm năng, từ đó nâng cao đáng kể chất lượng của quá trình thẩm định TDX. Việc đánh giá rủi ro môi trường và xã hội (ESR) chính xác hơn giúp NHTM đưa ra các quyết định cho vay có trách nhiệm, ưu tiên các dự án có tác động tích cực đến môi trường và giảm thiểu rủi ro liên quan đến các hoạt động gây ô nhiễm. Hơn nữa, công nghệ Blockchain mang đến một cuộc cách mạng về tính minh bạch và khả năng theo dõi trong TDX. Theo tinh thần của lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984), việc đảm bảo tính minh bạch trong việc sử dụng vốn vay xanh và giám sát các tác động môi trường của dự án là yếu tố quan trọng để đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan, bao gồm nhà đầu tư, khách hàng và cộng đồng. Blockchain cung cấp một nền tảng an toàn và không thể giả mạo để theo dõi dòng vốn và các chỉ số môi trường, tăng cường niềm tin và trách nhiệm giải trình trong TDX. Theo Teece và cộng sự (1997), việc áp dụng và tích hợp các công nghệ tài chính (Fintech) và các nền tảng trực tuyến thể hiện năng lực đổi mới và thích ứng của NHTM với sự phát triển của thị trường TDX. Các nền tảng này giúp kết nối hiệu quả giữa NHTM, các nhà phát triển dự án xanh và các nhà đầu tư có ý thức về môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn và triển khai các sáng kiến xanh. Đồng thời, công nghệ cũng giúp tối ưu hóa quy trình cấp TDX, giảm chi phí giao dịch và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng.
2.5. LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
2.5.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Zhou và cộng sự (2020) khi nghiên cứu về tín dụng xanh và rủi ro tín dụng, với sự ràng buộc liên quan đến chính sách tín dụng xanh tại các NHTM Trung Quốc, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của các ngân hàng từ 2007 – 2018 để đánh giá. Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp Bayes. Trong đó, khẳng định rằng các chính sách tín dụng xanh làm giảm đi rủi ro tín dụng, hay nói cách khác tín dụng xanh được xem là xu hướng cấp thiết cho các NHTM khi muốn tạo ra sự ổn định trong HĐKD lâu dài. Ngoài ra, chính sách tín dụng xanh được đo bằng dư nợ với các khoản vay xanh trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, tỷ trọng này cho biết mức độ của chính sách tập trung của ngân hàng với khoản vay xanh.
Batrancea và cộng sự (2020) tập trung vào việc xác định các yếu tố quyết định đến việc áp dụng các hoạt động cho vay xanh (green lending) trong ngành ngân hàng. Nghiên cứu này đã sử dụng dữ liệu bảng từ một mẫu gồm 105 ngân hàng châu Âu trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2018 để phân tích các yếu tố kinh tế, tài chính và quản trị có thể ảnh hưởng đến mức độ tham gia vào hoạt động cho vay xanh của các ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời, cơ cấu quản trị, áp lực các bên liên quan ảnh hưởng tích cực đến phát triển TDX. Nhưng mức độ rủi ro và đòn bẩy tài chính lại ảnh hưởng tiêu cực.
Chao và cộng sự (2021) nghiên cứu về chính sách tín dụng xanh và khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đối với các khoản vay ngân hàng ở Trung Quốc, nâng cao vai trò của công bố về môi trường và đổi mới xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đánh giá hiệu quả của chính sách tín dụng xanh của Trung Quốc. Nhóm tác giả tìm hiểu xem liệu các công ty có công bố môi trường bên ngoài tốt hơn và đổi mới xanh nội bộ có nhận được nhiều khoản vay ngân hàng hơn do tín dụng xanh hay không và sử dụng nhóm 1086 doanh nghiệp sản xuất được liệt kê của Trung Quốc từ năm 2012 đến năm 2017 để kiểm tra các giả thuyết của nhóm tác giả. Kết quả cho thấy rằng, mặc dù các doanh nghiệp có chất lượng công bố thông tin về môi trường cao hơn nhưng sẽ không nhận được nhiều khoản vay hơn và chỉ có đổi mới xanh mới thúc đẩy khả năng tiếp cận các khoản vay của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi công bố thông tin đầy đủ và chất lượng thì là điều kiện cần để đội ngũ nhân viên ngân hàng đánh giá khoản vay của khách hàng là đáng tin cậy và tạo cơ sở để phát triển tín dụng xanh.
Chen và cộng sự (2022) khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thực hành ngân hàng xanh trong môi trường của các NHTM đến hiệu quả hoạt động và tài chính xanh, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu sơ cấp khảo sát 322 nhân viên làm việc tại các NHTM Bangladesh. Tại công trình này thì nhóm tác giả sử dụng mô hình hồi quy cấu trúc tuyến tính SEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy thực hành liên quan đến nhân viên, thực hành liên quan đến hoạt động ngân hàng, thực hành liên quan đến khách hàng ngân hàng, thực hành liên quan đến chính sách ngân hàng đều ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động và tài chính xanh của ngân hàng. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Liu và You (2023) khi nghiên cứu về sự phát triển của công nghệ tài chính với sự tăng trưởng tín dụng xanh tại các NHTM Trung Quốc, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu của các NHTM từ năm 2012 – 2021, đồng thời sử dụng dữ liệu này xử lý thông qua phương pháp hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công nghệ tài chính ảnh hưởng tích cực đến việc các ngân hàng phát triển tín dụng xanh. Ngoài ra, công nghệ tài chính tạo ra môi trường tốt để các hoạt động tài chính xanh của ngân hàng tăng trưởng và phát triển. Mặt khác, sự phát triển của công nghệ tài chính giúp cho các ngân hàng cập nhật thông tin của khách hàng lẫn năng lực của mình tốt hơn.
2.5.2. Các nghiên cứu trong nước
Phan Thị Hằng Nga (2022) khi nghiên cứu về ý nghĩa chính sách đối với sự phát triển của ngân hàng xanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, thì nhóm tác giả đã khảo sát ý kiến của 700 quản lý thuộc các NHTM Việt Nam. Đồng thời, sử dụng mô hình hồi quy đa biến cấu trúc tuyến SEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu của thị trường, cảm nhận của lãnh đạo ngân hàng, chính sách của Chính phủ, năng lực quản trị của lãnh đạo và nhân viên, năng lực tài chính có ảnh hưởng tích cực đến phát triển dịch vụ ngân hàng xanh.
Lê Đình Hạc và cộng sự (2022) khi nghiên cứu về phát triển TDX tại các NHTM Việt Nam với vai trò của chính sách tín dụng, thì nhóm tác giả đã khảo sát ý kiến của 135 quản lý và nhân viên thuộc 20 NHTM. Dữ liệu thu thập này được đánh giá thông qua các giá trị trung bình của thang đo Likert 5 điểm. Kết quả cho thấy các yếu tố chính sách tín dụng, tăng huy động vốn, đầu tư công nghệ, xây dựng hệ thống pháp lý, phối hợp với các tổ chức Quỹ, đạo tạo nguồn nhân lực đều chiếm trung bình trên 4. Hay nói cách khác, các yếu tố này càng tăng thì càng tạo điều kiện cho các NHTM phát triển tín dụng xanh.
Hoàng Thị Minh Châu và Trần Thị Kim Liên (2023) khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ ngân hàng xanh trong đó có TDX của các NHTM Việt Nam, nhóm tác giả đã khảo sát 350 cán bộ làm việc tại các NHTM. Đồng thời, sử dụng mô hình hồi quy đa biến cấu trúc tuyến SEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách hỗ trợ và quy định của Chính phủ, môi trường kinh tế, nhu cầu đầu tư xanh của các tổ chức kinh tế, nhận thức, năng lực của cán bộ ngân hàng, năng lực tài chính của ngân hàng, ứng dụng công nghệ ngân hàng, khả năng đáp ứng dịch vụ ngân hàng xanh đều có ảnh hưởng tích cực đến phát triển dịch vụ ngân hàng xanh.
Đặng Thị Quỳnh Anh và cộng sự (2024) khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX, thì nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát 200 nhân viên NHTM trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, dữ liệu này được trình bày thông qua mô hình hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nhân lực, năng lực tài chính, quản lý rủi ro, công nghệ ngân hàng và chính sách môi trường ảnh hưởng tích cực làm gia tăng dư nợ tín dụng xanh của các NHTM.
Đặng Thành Cương (2024) khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX trên địa bàn tỉnh Nghệ An, thì nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát 422 nhân viên NHTM trên địa bàn Nghệ An. Đồng thời, dữ liệu này được trình bày thông qua mô hình hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thông tin khách hàng, chính sách tín dụng của ngân hàng, công nghệ ngân hàng, trình độ cán bộ tín dụng, quy trình tín dụng và năng lực của khách hàng vay vốn ảnh hưởng tích cực làm gia tăng dư nợ tín dụng xanh của các NHTM.
- Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
2.5.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
Dựa trên các nghiên cứu liên quan được lược khảo trong phạm vi nước ngoài và trong nước thì luận văn nhận thấy, đa phần các nghiên cứu nước ngoài thì các tác giả chủ yếu tập trung đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng xanh chủ yếu thu thập từ dữ liệu thứ cấp. Hay nói cách khác, dựa trên dữ liệu thứ cấp của ngân hàng để đánh giá mức độ và năng lực tài chính nội tại của mình để phát triển tín dụng xanh. Chỉ có nghiên cứu Chen và cộng sự (2022) sử dụng dữ liệu sơ cấp từ khảo sát nhân viên của ngân hàng để xem xét khả năng thực hiện các khoản cấp tín dụng xanh cho khách hàng, dựa trên những đánh giá bên trong ngân hàng, điều này lại tương đồng với phương pháp nghiên cứu của các nghiên cứu tại Việt Nam. Mặt khác, các nghiên cứu tại Việt Nam đều có nét tương đồng nhau khi khẳng định các yếu tố như đội ngũ nhân viên, năng lực quản trị, công nghệ, chính sách hay quy trình tín dụng và nhu cầu chung của môi trường kinh tế đều ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển dịch vụ ngân hàng xanh hay tín dụng xanh tại các NHTM. Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn tồn tại các khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, dựa trên các lý thuyết nền tảng được tổng hợp và các nghiên cứu thực nghiệm thì bản chất của một khoản tín dụng được cấp phải dựa trên tiêu chí niềm tin vào năng lực trả nợ của khách hàng. Chao và cộng sự (2021) cho rằng đối với ngân hàng khi xem xét khoản cho vay đối với các khách hàng, đặc biệt là tín dụng xanh thì thông tin về kinh doanh hay các chỉ tiêu tài chính rất quan trọng, đây là cơ sở chính chính để nhân viên thực hiện hồ sơ và lãnh đạo đưa ra quyết định cấp tín dụng. Nhưng các thông tin quá nhiều và chi tiết thì có thể khiến cho ngân hàng e ngại về việc ra quyết định. Đồng thời, Đặng Thành Cường (2024) cũng cho rằng các báo cáo minh bạch của khách hàng cũng sẽ giúp cho khách hàng tiếp cận dễ hơn với TDX. Từ các lập luận cho thấy, chất lượng thông tin khách hàng rất quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định nhưng cũng tạo những sự cản trở nhất định nếu nó quá chi tiết, nên có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tùy vào khía cạnh xét đến dẫn đến kết quả nghiên cứu chưa thống nhất. Mặt khác, đa phần các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tập trung vào khía cạnh chất lượng thông tin của khách hàng. Do đó, đây được xem là khoảng trống nghiên cứu thứ nhất mà luận văn xác định.
Thứ hai, theo lý thuyết hành vi có kế hoạch giải thích cho văn hóa và nhận thức của tổ chức thì xu hướng hành động của tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và cách thức hành động của lãnh đạo. Mặt khác, Phan Thị Hằng Nga (2022) cũng cho rằng việc xu hướng của xã hội vận động đối với xu hướng ngân hàng xanh là mọt trong những yếu tố kích thích, nhưng sự quyết định có hay không sự áp dụng và tăng trưởng nó thì phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của lãnh đạo. Hay nói cách khác, TDX là một trong những sản phẩm điển hình của ngân hàng xanh, nên nhận thức của lãnh đạo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định cấp hay khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu chưa tập trung vào khía cạnh này mà thường xem xét nhiều đến năng lực quản trị của lãnh đạo hay nhân viên, hoặc nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga (2022) đang xem xét nhận thức của lãnh đạo ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng xanh nói chung chứ chưa tập trung vào khía cạnh cụ thể là TDX. Do đó, đây được xem là khoảng trống nghiên cứu thứ hai mà luận văn xác định.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương 2 của luận văn đã tổng hợp một cách tóm tắt và luận giải các điểm lý thuyết nền tảng liên quan đến TDX, tiêu chí đánh giá sự phát triển TDX, thông qua việc áp dụng và mở rộng bối cảnh của các mô hình lý thuyết liên quan đến phát triển TDX với những khía cạnh đánh giá nội tại của các NHTM. Đồng thời, tiến hành lược khảo các công trình liên quan để tạo điều kiện để đề xuất giả thuyết, mô hình nghiên cứu cho chương tiếp theo. Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas […]