Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Giáo dục – đào tạo cùng với nghiên cứu khoa học là nền tảng, động lực đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có nêu: phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Phát triển mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế trí thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” [42, tr.218].
Nghiên cứu khoa học cùng với đào tạo, bồi dưỡng là những nhiệm vụ cơ bản nhất của các trường đại học. Hai nhiệm vụ này có tác động tương hỗ cho nhau và cùng nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo. Không thể có chất lượng đào tạo nếu không tăng cường nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học là đòn bảy, là động lực để nâng cao chất lượng đào tạo.
Theo đó, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý trường đại học nói riêng. Điều 99, Luật giáo dục 2018 qui định việc tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục là một trong 12 nội dung quản lý nhà nước về giáo dục.
Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh là một trường đại học đa ngành, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trải qua hơn 50 năm hoạt động, Trường đã đạt nhiều thành tích xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật nông, lâm, ngư nghiệp, chuyển giao công nghệ, quan hệ quốc tế. Trường đã vinh dự được nhận Huân chương Lao động Hạng ba (năm1985), Huân chương Lao động Hạng nhất (năm 2013), Huân chương Độc lập Hạng ba (năm 2018).
Trong nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, những năm qua nhà trường đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Lãnh đạo nhà trường đã có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên; đại đa số cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường có sự nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của sinh viên; các cơ quan của nhà trường, nhất là Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học, Phòng Đào tạo và các khoa giáo viên đã có nhiều biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu hoa học của sinh viên… Do đó, đã khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học, hướng vào các lĩnh vực chuyên ngành mà sinh viên theo học. Tuy nhiên, khách quan đánh giá thì hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng còn nhiều bất cập, nhất là cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa đồng bộ; sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý hoạt động nghiên cứu hoa học của sinh viên chưa chặt chẽ; nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học của sinh viên hạn chế… Đây là những nguyên nhân làm hạn chế hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên nhà trường. Với mong muốn đưa phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên phát triển mạnh mẽ, chất lượng cao, học viên lựa chọn “Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản lý giáo dục của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Công tác quản lý nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đang là vấn đề được các nhà giáo dục học, các nhà quản lý trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Dưới đây là một số tài liệu mà học viên đã nghiên cứu và vận dụng vào trong công trình nghiên cứu của mình. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
- Các công trình trong nước:
Tiến sĩ Đỗ Thị Châu (Đại học quốc gia Hà Nội) đã có bài viết “Nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học”, Tạp chí Giáo dục, Số 96/ 9 – 2017. Tác giả đã phân tích khá sâu sắc mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, từ đó khẳng định nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo đại học.
“Sinh viên nghiên cứu khoa học – Một biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội.” của PGS Văn Đình Đệ (trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Tạp chí Giáo dục Số 92/7-2017. Tác giả đã phân tích, chứng minh một cách thuyết phục sinh viên nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Bách Khoa Hà nội.
“Sinh viên nghiên cứu khoa học – Động lực chính để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” của GS.TSKH Trần Văn Nhung (Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo), Tạp chí Giáo dục số 130/ kỳ 2, 1 – 2019. Bài viết đã khẳng định nghiên cứu khoa học của sinh viên là một trong những giải pháp để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo; phát huy tính tích cực tự giác, tính sáng tạo của sinh viên trong lĩnh hội tri thức, nâng cao chất lượng đào tạo.
Nguyễn Bá Sơn (2013) Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lí. Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội. Tác giả đã bàn đến khái niệm về công tác quản lý nói chung, phân tích các biện pháp quản lý.
“Phương pháp đánh giá ý nghĩa và tính khả thi của các biện pháp quản lý” của TS Bùi Văn Quân (Trường Đại học sư phạm Hà Nội), Tạp chí giáo dục, Số 133 (kỳ 1 – 3/2019). Bài viết đã đề xuất các tiêu chí đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học và xem đây là một trong những vấn đề quan trọng có ý nghĩa và tính khả thi của các biện pháp quản lý.
Tác giả Vũ Tiến Thành – Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục chủ nhiệm đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường”.
Năm 1991 GS.PTS Lê Thạc Cán – Viện Nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước, có tên gọi: “Tổ chức và quản lý nghiên cứu triển khai trong các trường đại học phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng”.
Hai công trình trên đã nghiên cứu một cách hệ thống các biện pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ cũng như triển khai ứng dụng và phục vụ sản xuất, đời sống.
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục chủ trì đề tài cấp Bộ: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam”, do GS.TS Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm. Đề tài đã đi sâu tìm hiểu, điều tra nguồn lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Ngoài ra còn có nhiều luận văn cao học, luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề này như: năm 2011, Ninh Đức Thuật đã hoàn thành luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ ở trường đại học trong giai đoạn mới”. Năm 2013, Cao Thị Thu Hằng và Nông Thị Hạnh đã hoàn thành 2 luận văn thạc sĩ, nghiên cứu tìm hiểu thực trạng, phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên và đưa ra các giải pháp nâng cao kết quả hoạt động này cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm Hải Dương và cao đẳng sư phạm Cao Bằng.
Năm 2014, Bùi Thị Kim Phượng có đề tài “Thực trạng và biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Ninh Bình”.
Năm 2018, Lê Thị Thanh Chung bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên Đại học sư phạm”.
Nguyễn Thị Kim Nhung bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục với đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục của trường Cao đẳng sư phạm Hưng Yên”.
Các luận văn, luận án nêu trên đã nghiên cứu một cách khá toàn diện về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở một trường đại học, cao đẳng cụ thể. Từ phân tích lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp. Nguyễn Thị Kiêm Nhung, trên cơ sở phân tích thực trạng, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học ở Trường cao đẳng sư phạm Hưng Yên, đã đề xuất 7 biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả cho nghiên cứu khoa học giáo dục của trường này.
- Các công trình nước ngoài:
“How to study science”, Drewes F – 2nd Edi – Dubuque: Wm.C.Brown Publisher, 2013 và “Be a scientist”, Moyer, L.Daniel, J.Hackett, Newyork: Me Graw. Hill, 2013. Đây là những tài liệu có tính chất phương pháp luận và những phương pháp cụ thể hướng dẫn từng bước đi cho những người mới bước vào nghiên cứu khoa học rất thích hợp với đối tượng là sinh viên.
“Social research methods:Qualitative and quantitative approaches”, Fourth edition, W. Lawrence Neuman Univercity of Wisconsin at Whitewater, Publisher: Aliyn and Bacon, 2013. Những vấn đề được nêu ra trong tài liệu này đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội. Đặc biệt tác giả đề cập đến những vấn đề của quản lý cụ thể là quản lý khoa học.
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến các vấn đề khác nhau của công tác quản lý nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng. Các tác giả đều đề cao ý nghĩa, vai trò của nghiên cứu khoa học đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học. Phân tích thực trạng, đề xuất biện pháp quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học. Tuy nhiên, mỗi công trình chỉ đề cập sâu đến một vấn đề của quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, gắn với từng trường cụ thể, khó vận dụng vào thực tiễn Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh.
Ngày nay, với xu thế phát triển của thời đại, nền kinh tế tri thức ở nước ta đang có nhiều biến đổi mạnh mẽ phức tạp. Giáo dục nói chung, quản lý giáo dục nói riêng đang đứng trước những yêu cầu cao hơn nhận thức về chuyên môn. Nên hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học phải được quan tâm đổi mới mạnh mẽ, để những nghiên cứu mới có giá trị về lý luận và thực tiễn được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, kế thừa phát triển các đề tài của các tác giả đi trước, dù gặp nhiều khó khăn trở ngại nhưng học viên mạnh dạn nghiên cứu đưa ra các biện pháp có tính khả thi nhằm quản lý tốt các hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Luận giải cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành TP Chí Minh.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh (tập trung vào đối tượng sinh viên năm thứ 3 và thứ 4). Các số liệu điều tra khảo sát từ năm 2021 đến 2025.
5. Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu khoa học và giảng dạy là nhiệm vụ trung tâm của trường đại học, biện pháp quản lý hoạt động khoa học có vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường. Sinh viên trong quá trình đào tạo phải được tập duyệt nghiên cứu khoa học với phương châm: “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”. Nếu trong quá trình đào tạo, nhà trường tổ chức và quản lý tốt hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, có các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sịnh viên sát đúng, bảo đảm tính đồng bộ khả thi, sinh viên có nhận thức đúng đắn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tích cực chủ động trong học tập, nghiên cứu khoa học thì chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhà trường sẽ không ngừng được nâng cao.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục, quan điểm thực tiễn để xem xét, phân tích những vấn đề nghiên cứu. Đồng thời đề tài nghiên cứu còn được thực hiện dựa trên quan điểm hệ thống – cấu trúc; đối chiếu – so sánh, logic.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học và nghiên cứu quản lí giáo dục trong đó tập trung một số phương pháp chủ yếu như:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Thực hiện việc đọc tài liệu, thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, mô hình hóa, khái quát hóa. Thông qua việc đọc các tài liệu, tác giả phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết có liên quan thành một hệ thống lý luận để hình thành các khái niệm, nêu giả thuyết khoa học định hướng cho quá trình nghiên cứu đề tài. Nghiên cứu các văn kiện, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản qui phạm, qui chế về công tác quản lý giáo dục, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, về những nhiệm vụ phát triển của Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Xây dựng 2 mẫu phiếu và tiến hành điều tra các đối tượng sau:
- Loại 1: điều tra 75 cán bộ quản lý và giảng viên hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho sinh viên.
- Loại 2: điều tra 120 sinh viên, về thực trạng và biện pháp quản lý tổ chức nghiên cứu khoa học cho sinh viên.
Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động lãnh đạo, tác phong quản lý của đội ngũ quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên để rút ra những kết luận về nội dung cần nghiên cứu.
Phương pháp trò chuyện – phỏng vấn: phương pháp nghiên cứu bằng trò chuyện – phỏng vấn bổ xung cho phương pháp điều tra bằng an két, nhằm đảm bảo cho tính khách quan các số liệu thu được.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: để đảm bảo tính khách quan các số liệu thu được, sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm có liên quan tới nghiên cứu khoa học của nhà trường như: văn bản, tài liệu, các bài tập nghiên cứu của sinh viên… Trên cơ sở đó để tìm hiểu thực trạng việc quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lý khoa học trong những năm vừa qua, để xây dựng biện pháp tổ chức nghiên cứu cho sinh viên.
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến một số cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý khoa học về một số nội dung nghiên cứu khoa học.
Nhóm phương pháp thống kê toán học: sử dụng toán thống kê để xử lý các số liệu đã thu thập được.
7. Ý nghĩa của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Luận văn đưa ra quan niệm về biện pháp quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên. Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.
Để xuất các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường hiện nay.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ giảng viên và sinh viên tại các trường đại học.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 mục.
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Khoa học là gì? “Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.” [23, tr.16]. Hệ thống tri thức của con người được chia thành 2 loại là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học…
Nghiên cứu khoa học: “NCKH là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến hoặc biết chưa đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp” [23, tr.25].
Luật Khoa học và Công nghệ 2013 qui định: “NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng” [22, tr.7].
- Từ những định nghĩa trên có thể hiểu: nghiên cứu khoa học là hoạt động để sáng tạo ra khoa học, trong đó:
Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức để sử dụng vào cải tạo thế giới. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo.
Khách thể của nghiên cứu khoa học là các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy mà nhà khoa học nghiên cứu để khám phá, sáng tạo ra tri thức khoa học.
Đối tượng của nghiên cứu khoa học là tri thức khoa học. Tri thức khoa học có những điểm khác với tri thức thông thường. Tri thức thông thường là những tri thức mà “Bằng các giác quan, con người tri giác, cảm nhận về bản thân, về thế giới và xã hội xung quanh, từ đó có những kinh nghiệm sống, những hiểu biết về mọi mặt. Tri thức thông thường được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, được con người sử dụng, trao đổi với nhau, truyền đạt lại cho nhau, chúng dần được hoàn thiện. Tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện đặc biệt, do đội ngũ các nhà khoa học thực hiện. Tri thức khoa học và tri thức thông thường có sự khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các qui luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng vào sản xuất vật chất hay tạo ra các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người.
Quá trình nghiên cứu thường được thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu được tổ chức chặt chẽ, có chương trình chiến lược hoạt động.
Hoạt động nghiên cứu khoa học: là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Thực chất hoạt động nghiên cứu khoa học chính là các quá trình hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó là hệ thống tri thức khoa học. Hệ thống ấy tham gia ngày càng sâu sắc và đầy đủ vào quá trình sản xuất vật chất và mọi mặt của đời sống xã hội. Ở một góc độ nào đó, đứng trên quan điểm thực tiễn thì “khoa học” và “hoạt động nghiên cứu khoa học” có thể được hiểu là hai khái niệm đồng nghĩa. Về bản chất, người ta hiểu “hoạt động khoa học” chính là nghiên cứu. Khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học là hai mặt của một vấn đề thống nhất, không thể tách rời. Thế nhưng, khái niệm “Hoạt động nghiên cứu khoa học” có ngoại diên hẹp hơn khái niệm “hoạt động khoa học”. Thuật ngữ “Hoạt động khoa học” bao gồm các hoạt động khác nhau trong lĩnh vực khoa học. Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học; hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ; hoạt động chuyển giao công nghệ.
Hoạt động nghiên cứu khoa học là một nội dung của hoạt động khoa học và công nghệ. Với tư cách là một nội dung của hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động nghiên cứu khoa học được hiểu là tổ hợp những nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai được thực hiện để đạt mục tiêu của khoa học đã đặt ra.
- Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”, thì nghiên cứu khoa học cùng với đào tạo, bồi dưỡng là hai nhiệm vụ cơ bản nhất của các trường đại học. Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của trường đại học đã được quy định tại mục 2, điều 9 trong “Điều lệ trường đại học” năm 2016 và qui định tại điều 59 trong bộ Luật giáo dục 2018. Theo đó, trường đại học có nhiệm vụ: tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo qui định của Luật khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các qui định khác của pháp luật.
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một hoạt động chính khóa, bao gồm các nội dung: nghiên cứu nắm vững nội dung các môn học; viết tiểu luận, thu hoạch; bài tập; viết chuyên đề; viết khóa luận tốt nghiệp; tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học của trường giao hay các hợp đồng với bên ngoài; tham gia các buổi sinh hoạt khoa học ở cấp khoa, cấp trường; tham gia thực hiện các đề tài khoa học của giảng viên dưới dạng điều tra, khảo sát thu thập số liệu, phổ biến khoa học…
Thực chất của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường đại học là một hình thức tổ chức dạy học của nhà trường, đó là quá trình sinh viên vận dụng các kiến thức tổng hợp đã được học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình học tập, dưới sự chỉ đạo của người dạy, nhằm phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện phương pháp và phẩm chất tự học, tự nghiên cứu, góp phần hoàn thành mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường.
Bản chất hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động sáng tạo của sinh viên dưới sự hướng dẫn của người thầy nhằm nắm vững tri thức khoa học và khám phá tri thức mới. Chủ thể hoạt động nghiên cứu khoa học là sinh viên. Khách thể nghiên cứu khoa học là thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy đầy phức tạp và bí ẩn, trong đó mỗi bộ môn khoa học có một lĩnh vực, một góc độ, một đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Mục đích nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá ra bản chất và quy luật của thế giới khách quan, trên cơ sở đó khái quát hệ thống tri thức khoa học và vạch ra con đường ứng dụng chúng vào thực tiễn phục vụ cho cuộc sống của con người. Hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên rất đa dạng phong phú, như bài tập, thu hoạch, tiểu luận, đồ án tốt nghiệp, hội thảo khoa học, viết báo, tham gia đề tài các cấp…
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên khác với hoạt động nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học ở chỗ: hoạt động của các nhà khoa học là hoạt động của các chuyên gia, các nhà khoa học được đào tạo cơ bản và có trình độ cao, có thực tiễn nghiên cứu, hoạt động của các nhà khoa học diễn ra ở phạm vi rộng, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn nảy sinh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chủ yếu diễn ra trong phạm vi hẹp, phạm vi nội dung học tập trong quá trình đào tạo tại nhà trường đại học, là hoạt động có tính chất luyện tập thực hành nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của người thầy, nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng tư duy khoa học, kỹ năng học tập nghiên cứu ban đầu. Hoạt động nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học là hoạt động sáng tạo, thực hiện một bước nhảy vọt trong quá trình nhận thức tự nhiên, xã hội, tư duy. Còn hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên được sự hướng dẫn của thầy giáo là để tìm hiểu một vấn đề mà nhân loại đã biết nhằm giúp sinh viên làm quen với cách suy nghĩ và làm việc khoa học. Chính vì vậy, hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên luôn có quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quản lý giữ vai trò quyết định.
1.2. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Quản lý là thuộc tính của mọi quá trình lao động, một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện rất sớm. Thuật ngữ quản lý cho đến nay được người ta hiểu ở rất nhiều các cấp độ khác nhau. Frederick Winslon Taylor (1856 – 1915) cho rằng: quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Các tác giả Việt Nam khi nghiên cứu về khoa học quản lý đều nhấn mạnh đến các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Tác giả Trần Quốc Thành cho rằng quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu; còn tác giả Nguyễn Bá Sơn lại cho rằng: quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau song khi bàn về quản lý các học giả đều có quan điểm thống nhất chung là: quản lý là một quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua các công cụ, biện pháp quản lý, nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định.
Cũng như các quá trình quản lý khác, quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến toàn bộ hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên làm cho quá trình ấy diễn ra đúng ý định và đặt được yêu cầu đặt ra. Như vậy có thể hiểu: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là tổng thể những cách thức tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến quá trình nghiên cứu khoa học của sinh viên, nhằm thực hiện tốt mục tiêu yêu cầu nghiên cứu khoa học đã đặt ra.
Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một loại hình quản lý giáo dục – đào tạo.
Chủ thể quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và quản lý sinh viên, Phòng quản lý Khoa học, các khoa Giáo viên và chính bản thân sinh viên.
Sinh viên là chủ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học, đồng thời, hoạt động của họ lại là đối tượng bị quản lý của các chủ thể quản lý khoa học. Như vậy, sinh viên vừa là chủ thể vừa là khách thể trong hệ thống quản lý.
Với tư cách là chủ thể, sinh viên vừa phải chịu trách nhiệm về quá trình hoạt động nghiên cứu khoa học của chính bản thân mình. Phải tự xây dựng kế hoạch, tự tổ chức các hoạt động nghiên cứu, tự khám phá ra chân lý làm giàu thêm tri thức cho bản thân mình.
Với tư cách là khách thể, mọi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên phải tuân thủ theo yêu cầu của cán bộ quản lý. Cán bộ quản lý phải chỉ đạo, định hướng về nội dung, về phương pháp, phải tạo ra các điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu của người học. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Mục đích quản lý, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo đại học.
Nguyên tắc quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên được hình thành từ những quy luật, những yếu tố khách quan của quá trình quản lý. Theo đó quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên phải tuân thủ nguyên tắc tính đảng, tính giai cấp; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc kế hoạch; nguyên tắc tính khoa học và hiệu quả.
Phương pháp quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên rất đa dạng, phong phú, bao gồm: phương pháp quản lý hành chính; phương pháp giáo dục, thuyết phục; phương pháp kinh tế và kết hợp các phương pháp giáo dục, thuyết phục, hành chính, kinh tế.
Công cụ quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên là những quy chế, quy định của Nhà nước, nhà trường; những văn bản pháp quy, nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn, kế hoạch của cơ quan quản lý các cấp.
Từ sự phân tích trên ta có thể biểu diễn hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên theo sơ đồ sau:
Nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học bao gồm:
- Một là, quản lý việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Kế hoạch là một công cụ quan trọng của quản lý nói chung, quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng. Chỉ trên cơ sở kế hoạch sát đúng, công tác quản lý, kiểm tra mới được tiến hành các khâu, các bước một cách khoa học, bài bản, khắc phục được tình trạng tùy tiện, được chăng hay chớ và mới có hiệu quả. Việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học của trường đại học là một khâu trong quy trình quản lý nghiên cứu khoa học của trường đại học, đòi hỏi phải thực sự khoa học, sát với điều kiện thực tiễn của nhà trường về nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất và phải quán triệt được nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trên giao, nhiệm vụ của nhà trường, nhiệm vụ cụ thể của các bộ phận, trong đó có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Kế hoạch phải thể hiện được các nội dung như: mục đích yêu cầu của nghiên cứu khoa học; nội dung nghiên cứu; thời gian hoàn thành nghiên cứu; lực lượng, phương pháp nghiên cứu; điều kiện đảm bảo.
Việc xây dựng kế hoạch phải được phân cấp, căn cứ vào nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra để nhà trường xây dựng kế hoạch nghiên cứu dài hạn (5 năm, 10 năm), kế hoạch nghiên cứu hàng năm. Trên cơ sở kế hoạch của nhà trường, các khoa xây dựng kế hoạch nghiên cứu của mình, trong đó có nội dung nghiên cứu của sinh viên. Từng sinh viên xây dựng kế hoạch nghiên cứu của mình trong toàn khóa học cũng như từng năm học. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu khoa học đã được xác định, các chủ thể quản lý tiến hành quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học của các lực lượng nói chung, của sinh viên nói riêng cả về số lượng, chất lượng nghiên cứu khoa học theo tiến độ kế hoạch đã xác định. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh để thực hiện đúng mục đích, yêu cầu, nội dung nghiên cứu khoa học mà kế hoạch đã xác định.
- Hai là, quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Điều kiện đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một trong những nội dung mà nhà quản lý phải quản lý để góp phần thực hiện tốt mục tiêu của nghiên cứu khoa học. Chủ thể quản lý hoạt động này phải thực hiện quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trên các mặt: quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài liệu, giáo trình, phương tiện kỹ thuật, kinh phí trong quá trình nghiên cứu khoa học của sinh viên
- Ba là, quản lý số lượng, chất lượng các sản phẩm khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Quản lý số lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên chính là quản lý số lượng các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của sinh viên đã được nghiệm thu; quản lý các chuyên đề khoa học mà sinh viên đã thực hiện; quản lý thu hoạch, tiểu luận, luận văn; quản lý các bài báo, bài hội thảo khoa học đã được đăng tải trên sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo.
Quản lý chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên chính là quản lý hiệu quả khoa học và hiệu quả xã hội của các sản phẩm, công trình khoa học đã được nghiên cứu dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn. Về lý thuyết, chất lượng nghiên cứu các đề tài khoa học của sinh viên được GV, hội đồng khoa học đánh giá cho điểm, xếp loại; về thực tiễn, chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tiễn học tập, hoạt động của sinh viên, nhà trường, xã hội.
Quản lý việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên bao gồm quá trình triển khai các hoạt động ứng dụng; quản lý việc tổ chức hoạt động ứng dụng và quản lý kết quả ứng dụng. Quá trình này bao gồm hàng loạt các hoạt động như: công bố, giới thiệu, định hướng ứng dụng các sản phẩm, công trình khoa học; xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức ứng dụng; chỉ đạo các cơ quan, khoa giáo viên, học viên ứng dụng các sản phẩm khoa học vào hoạt động thực tiễn giảng dạy, học tập và công tác; kiểm tra, đánh giá kết quả ứng dụng của tổ chức, cá nhân và đảm bảo các điều kiện cần thiết cho ứng dụng.
1.3. Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Phan Canh, NXB Cà Mau, 2012 thì “Biện pháp là cách xử liệu đối với một việc gì”, ví dụ “Biện pháp an ninh, biện pháp phòng vệ”. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Như vậy, nghĩa chung nhất của biện pháp là cách làm để thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra.
Chúng ta cần phân biệt biện pháp với một số khái niệm tương tự như: phương pháp, giải pháp, cách thức. Điểm giống nhau của các khái niệm này là đều nói về cách làm, cách tiến hành một công việc. Tuy vậy, giữa các khái niệm cũng có những điểm khác nhau. Biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể. Phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau (tạo nên một hệ thống) để tiến hành một công việc có mục đích.
Về khái niệm giải pháp, tác giả Hoàng Phê nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề. Tác giả Nguyễn Văn Đạm nhấn mạnh ý khắc phục khó khăn. Tuy vậy, khái niệm giải pháp không chỉ nói đến cách hành động mà còn nói đến tư tưởng hành động. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Đạm cho rằng: giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn. Về khái niệm cách thức, tác giả Nguyễn Văn Đạm quan niệm, đó là đường lối phải theo để làm một việc gì đó.
Tóm lại, khái niệm biện pháp có những điểm giống so với các khái niệm nói trên, song có điểm riêng là nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể. Biện pháp phải xuất phát từ các giải pháp và sử dụng các phương pháp cụ thể.
Theo cách hiểu khái niệm về biện pháp trên đây thì biện pháp quản lý chính là cách triển khai thực hiện hoạt động quản lý một đối tượng cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ “biện pháp quản lý trẻ cơ nhỡ ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến 2028”; “biện pháp quản lý tài sản trường X trong mùa hè năm nay”…
Theo TS. Bùi Văn Quân, nghiên cứu về các biện pháp quản lý tại các cơ sở giáo dục được thực hiện theo nhiều mục tiêu khác nhau, nhằm phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, nhằm quản lý hoạt động dạy và học, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học… Các biện pháp quản lý có thể được xác định theo nhiều cách tiếp cận nghiên cứu để đề xuất biện pháp như xác định biện pháp tương ứng với các phương pháp quản lý; xác định biện pháp tương ứng với các thành tố cấu trúc của đối tượng quản lý; xác định biện pháp theo các chức năng quản lý…
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh là cách thức cụ thể mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, hoàn thành mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường.
Chủ thể quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh trước là Ban Giám hiệu; Phòng Quản lý khoa học; các khoa giáo viên và các lực lượng có liên quan. Trong đó Hiệu trưởng, Trưởng Phòng Quản lý khoa học, Trưởng khoa là những người chịu trách nhiệm chính, các lực lượng có liên quan chịu trách nhiệm theo chức trách nhiệm vụ được phân công. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Đối tượng quản lý là hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên và các nguồn lực, các yếu tố liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên nhà trường.
Lưu ý, trong quản lý hoạt động nghiên cứu hoa học của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh thì có trường hợp phân biệt giữa “chủ thể quản lý” và “đối tượng quản lý” chỉ mang tính tương đối. Một người có thể là chủ thể quản lý của cấp dưới, nhưng đồng thời, lại vừa là đối tượng quản lý của cấp trên. Thậm chí mỗi người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của chính mình trong công việc của bản thân.
Biện pháp quản lý chính là sự vận dụng các phương pháp quản lý, bao gồm phương pháp: giáo dục thuyết phục, hành chính, kinh tế và kết hợp các phương pháp sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường. Đối với mỗi phương pháp cụ thể, chủ thể quản lý sẽ sử dụng những công cụ quản lý cụ thể như: kế hoạch của cơ quan quản lý các cấp, quy chế, quy định của Nhà nước, nhà trường; những văn bản pháp quy, nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn…
Mục đích quản lý hoạt động nghiên cứu hoa học của sinh viên nhà trường là nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong trình hình mới.
Trong mối quan hệ biện chứng giữa mục đích, nội dung và phương pháp của bất kỳ hoạt động nào thì phương pháp hoạt động phụ thuộc vào đặc điểm của nội dung hoạt động. Vì vậy, biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học phải phù hợp với những đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học, có những khác biệt với biện pháp quản lý các loại hoạt động khác như: quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh… Trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, nhà quản lý phải nắm được khoa học và nghệ thuật quản lý; không được áp đặt quyền lực thuần túy mà phải kết hợp dùng nhiều biện pháp như: biện pháp hành chính, biện pháp tâm lý, biện pháp kinh tế… khích lệ động viên, tạo ra môi trường thích hợp để đối tượng quản lý (sinh viên nghiên cứu khoa học) tích cực tự giác làm việc.
Kết luận
Giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học là chức năng cơ bản của các trường đại học nói chung, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh nói riêng. Về bản chất, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động sáng tạo của sinh viên dưới sự hướng dẫn của người thầy nhằm nắm vững tri thức khoa học và khám phá tri thức mới. Để hoạt động này có hiệu quả tất yếu phải quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên thực chất là quá trình thực hiện việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học, tổ chức điều hành thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, phối hợp các lực lượng tham gia quản lý, đánh giá kết quả nghiên cứu và ứng dụng kết quả đó vào thực tiễn, tất cả những quá trình ấy đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình đào tạo ở nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chính là cách thức cụ thể mà mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, hoàn thành mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường. Thực hiện tốt các biện pháp quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên sẽ đem lại hiệu quả là nâng cao năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu cho người học..
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
