Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin: trường hợp các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1 Quy trình nghiên cứu
Bài nghiên cứu tuân theo quy trình cụ thể như sau:
- Bước 1: Tác giả xác định mô hình, phương pháp và các biến nghiên cứu.
- Bước 2: Tác giả xác định mẫu nghiên cứu.
- Bước 3: Tác giả thực hiện thống kê mô tả dữ liệu, phân tích tương quan các biến, kiểm định lựa chọn mô hình, kiểm định các khuyết tật của mô hình, ước lượng mô hình bằng phương pháp mới và thực hiện kiểm định wald.
- Bước 4: Dựa trên kết quả của mô hình phân tích, tác giả trả lời lần lượt các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra.
3.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Hội đồng quản trị đảm nhận vai trò then chốt trong việc xác nhận các quyết định của doanh nghiệp và thành phần của hội đồng có thể có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của các cuộc thảo luận (Fama & Jensen, 1983). Theo lý thuyết đại diện, xung đột giữa các cổ đông và các nhà quản lý của công ty xảy ra khi có sự bất cân xứng thông tin, dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích giữa họ. Nói cách khác, nó ảnh hưởng đến mức độ MBTT của công ty. Truong và Nguyen (2024) cho rằng khi các công ty có cơ cấu Hội đồng quản trị quy mô lớn thường thành lập các ủy ban chuyên trách như ủy ban kiểm toán với tần suất họp cao và chuyên môn kế toán tốt, từ đó giảm thiểu sai sót trong báo cáo tài chính và cải thiện tính minh bạch. Nhiều thành viên trong Hội đồng quản trị sẽ có lợi hơn trong việc giám sát hoạt động của công ty do sự đa dạng về kiến thức và kinh nghiệm của các thành viên. Vì vậy, số lượng thành viên Hội đồng quản trị của công ty càng nhiều có thể giúp ngăn chặn tốt hơn các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của các cổ đông, tạo ra áp lực cho việc Công bố thông tin đầy đủ và kịp thời. Nghiên cứu thực nghiệm của Luong và cộng sự (2023); Le và cộng sự (2025) cũng chỉ ra rằng quy mô Hội đồng quản trị có tác động tích cực đến MBTT. Do đó, chúng ta có giả thuyết H1 như sau:
- Giả thuyết H1: Quy mô Hội đồng quản trị càng lớn MBTT của các công ty càng tốt.
Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng, các công ty có tỷ suất lợi nhuận cao thường có xu hướng Công bố thông tin nhiều hơn để thu hút đầu tư. Ngược lại, các công ty có tỷ suất sinh lời thấp hoặc thu lỗ lại thường có xu hướng che giấu hoặc cung cấp ít thông tin hơn vì nó mang đến sự bất lợi cho chính công ty đó. Điều này nhằm giải thích cách mà các doanh nghiệp sử dụng thông tin để cải thiện vị trí của mình trong các giao dịch kinh tế. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Le và cộng sự (2025) cũng chỉ ra rằng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có tác động tiêu cực đến minh bạch thông tin. Trái ngược với quan điểm của Aksu và Kosedag (2006) khi nghiên cứu 52 công ty có vốn hóa thị trường cao nhất và thanh khoản tốt nhất dựa trên khối lượng giao dịch, được niêm yết trên sở chứng khoán Istanbul (ISE) của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2003 thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến đã kết luận tỷ suất lợi nhuận có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê. Như vậy, chúng ta có giả thuyết H2 như sau:
- Giả thuyết H2: Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì MBTT của các công ty càng tốt. Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Theo lý thuyết đại diện, nợ vay là một loại hợp đồng tài chính làm phát sinh chi phí đại diện do mâu thuẫn lợi ích giữa các bên liên quan. Cổ đông là những người thuê người quản lý để điều hành công ty. Khi công ty phát hành nợ, người quản lý sẽ hành động thay mặt lợi ích cho người cho vay. Ví dụ: Tham gia vào các hoạt động rủi ro hơn sau khi nhận được tiền vay, đây là rủi ro về mặt đạo đức; không đầu tư theo cam kết, hoặc không duy trì tài sản đảm bảo; tìm cách chuyển tài sản ra khỏi doanh nghiệp để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Để giảm thiểu những rủi ro này, người cho vay sẽ yêu cầu công ty cung cấp nhiều thông tin để đảm bảo an toàn cho nguồn vốn của họ: Yêu cầu kiểm toán độc lập, giới hạn về hạn mức tín dụng,….. từ đó làm phát sinh chi phí giám sát, chi phí đàm phán. Vì vậy các công ty sử dụng đòn bẩy tài chính càng cao thì sẽ có chi phí giám sát càng lớn để giảm thiểu những mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhà quản lý công ty đối với các chủ nợ của họ. Doanh nghiệp có đòn bẩy cao hơn có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn (Beekes & ctg., 2016). Bushman và Smith (2003) cho rằng công bố thông tin tốt làm giảm sự phụ thuộc vào vốn nội bộ, cho phép doanh nghiệp tăng cường tiếp cận vốn vay bên ngoài – dẫn đến tăng đòn bẩy tài chính hợp lý, nhưng giảm rủi ro lựa chọn bất lợi và chi phí vốn. Quan điểm này cũng là quan điểm của (Park & ctg., 2024). Minh bạch làm tăng tính thanh khoản, giúp giảm chi phí vốn và khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư. Các công ty có đòn bẩy tài chính cao thường phải đối mặt với áp lực lớn từ các bên cho vay để cung cấp thông tin tài chính minh bạch hơn. Các tổ chức tài chính thường yêu cầu công ty công bố các báo cáo tài chính chi tiết và kịp thời để đảm bảo rằng công ty có khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, đòn bẩy tài chính cao sẽ thúc đẩy các công ty cần phải cải thiện quản trị công ty, trong đó bao gồm cả việc tăng cường tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Điều này giúp các cổ đông và nhà đầu tư yên tâm hơn về tình hình tài chính của công ty. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu thực nghiệm gần đây của Le và cộng sự (2025) lại cho thấy kết quả mức độ đòn bẩy tài chính có thể có tác động tiêu cực đến MBTT. Các công ty có đòn bẩy tài chính cao có thể gặp áp lực lớn trong việc đáp ứng các nghĩa vụ nợ. Điều này làm dẫn đến động cơ thao túng hoặc che giấu thông tin tài chính để tránh gây lo ngại cho các bên cho vay hoặc nhà đầu tư, đồng thời làm tăng khả năng các nhà quản lý thực hiện các hành vi không minh bạch hoặc lừa dối để che giấu tình hình tài chính thực sự của công ty. Như vậy, chúng ta có giả thuyết H3 như sau:
- Giả thuyết H3: Đòn bẩy tài chính có tác động đến MBTT của các công ty.
Theo lý thuyết đại diện khi quyền sở hữu của nhà quản lý giảm, động lực để ông ta nỗ lực sáng tạo cũng giảm theo, điều đó có thể khiến giá trị doanh nghiệp giảm đáng kể so với mức tối đa có thể đạt được. Khi một người quản lý sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phần của công ty, lợi ích cá nhân của họ và lợi ích của cổ đông có thể không còn trùng khớp, dẫn đến các hành vi làm giảm giá trị doanh nghiệp. Mặc dù, nhà quản lý là người bỏ ra công sức, trí tuệ (chi phí cá nhân) nhưng chỉ được hưởng một phần rất nhỏ trong thành quả giá trị gia tăng mà họ tạo ra (lương, thưởng). Tuy nhiên, nếu thất bại, họ có thể mất việc nhưng thiệt hại tài chính chính lại thuộc về các cổ đông. Sự mất cân đối này khiến họ ngại chấp nhận những dự án rủi ro cao nhưng có tiềm năng lợi nhuận lớn, vốn là hạt nhân của sáng tạo và tăng trưởng đột phá. Bên cạnh đó nhà quản lý luôn ưu tiên mục tiêu cá nhân thay vì mục tiêu cổ đông. Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Mục đích, xây dựng “đế chế” cá nhân, hưởng thụ tối đa những đặc quyền, tập trung vào ngắn hạn để đảm bảo lợi ích cao nhất. Cuối cùng, là sự khác biệt về thời gian, một cổ đông quan tâm đến giá trị suốt đời của công ty. Tuy nhiên, một nhà quản lý (không phải chủ sở hữu) thường chỉ quan tâm đến thành tích trong nhiệm kỳ của mình (3-5 năm). Điều này khiến họ né tránh những dự án sáng tạo cần nhiều thời gian và vốn đầu tư, vì thành quả có thể chỉ xuất hiện sau khi họ đã rời đi. Leung và Horwitz (2004) phát hiện rằng sở hữu hội đồng quản trị tập trung dẫn đến mức độ công bố thấp, và hiệu ứng này mạnh hơn khi hiệu quả hoạt động của công ty thấp. Khi một nhóm cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ phần lớn cổ phần của công ty sẽ dễ dẫn đến các tác động tiêu cực: họ có thể chiếm đoạt lợi ích của các cổ đông thiểu số, cản trở minh bạch từ hoạt động giám sát độc lập hoặc đưa ra những quyết định thiên vị, trục lợi cá nhân,…. Tuy nhiên, Salehi và cộng sự (2022) lại cho rằng Hội đồng quản trị và sở hữu của Hội đồng quản trị có mối quan hệ tích cực với tính minh bạch trong công bố thông tin tài chính. Như vậy chúng ta có giả thuyết H4 như sau:
- Giả thuyết H4: Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu bởi Hội đồng quản trị
Theo lý thuyết chính sách công bố thông tin, các công ty lớn thường niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán, chịu sự quản lý từ các cơ quan như Ủy ban Chứng khoán sẽ bị ràng buộc bởi các quy định về Công bố thông tin, cũng như sẽ phải chịu áp lực từ các tổ chức xếp hạn tín nhiệm, kiểm toán lớn. Khi một công ty quyết định niêm yết trên sàn chứng khoán, điều đó đồng nghĩa với việc họ chuyển từ sở hữu tư nhân hoặc một nhóm nhỏ cổ đông sang sở hữu bởi công chúng đầu tư. Hàng nghìn, thậm chí hàng triệu nhà đầu tư nhỏ lẻ trở thành chủ sở hữu của công ty. Để những nhà đầu tư công chúng này yên tâm bỏ tiền ra mua cổ phiếu, họ phải được đảm bảo về tính minh bạch và sự lành mạnh của công ty. Nhà đầu tư không trực tiếp điều hành công ty nên cần một cơ chế để giám sát. Các quy định về Công bố thông tin, sự giám sát của Ủy ban Chứng khoán và áp lực từ các tổ chức xếp hạng, kiểm toán chính là cơ chế giám sát đó. Bởi lẽ ban lãnh đạo công ty biết rất rõ tình hình tài chính, rủi ro và triển vọng, trong khi các nhà đầu tư bên ngoài thì không. Nếu không có quy định, công ty có thể chỉ công bố thông tin tốt và giấu đi thông tin xấu, dẫn đến đầu tư sai lầm và thua lỗ. Vì vậy, Công bố thông tin tạo ra một “sân chơi công bằng” cho tất cả các nhà đầu tư. Mọi thông tin quan trọng (báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh, rủi ro, thay đổi nhân sự cấp cao, giao dịch của người nội bộ…) đều phải được công bố kịp thời, đầy đủ và chính xác để mọi người ra quyết định đầu tư dựa trên cùng một nền tảng. Nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và duy trì sự ổn định, lành mạnh của thị trường tài chính quốc gia. Một vụ bê bối hay phá sản của một công ty niêm yết lớn có thể gây ra hiệu ứng domino, làm mất lòng tin vào toàn bộ thị trường. Lang và Lundholm (1993) cho rằng mức độ công bố có liên quan đến quy mô công ty. Các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn thường minh bạch hơn: họ công bố nhiều tài liệu hơn, công bố kịp thời hơn và giá cổ phiếu của họ cũng phản ứng nhanh hơn với thông tin là kết quả trong nghiên cứu của (Beekes & ctg., 2016) khi nghiên cứu 5.859 công ty niêm yết tại 23 quốc gia từ 1/1/2003 đến 31/12/2008. Các nghiên cứu của Pfeiffer và Jarchow (2024); Truong và Nguyen (2024); Le và cộng sự (2025); Aksu và Kosedag (2006) cũng đồng quan điểm khi cho rằng công ty có quy mô càng lớn thì mức độ MBTT của họ sẽ cao hơn so với các công ty có quy mô nhỏ. Tuy nhiên, Park và cộng sự (2024) khi nghiên cứu dữ liệu của các ngân hàng mẹ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thương mại được niêm yết công khai tại Mỹ từ năm 1986 – 2018 lại cho rằng tính minh bạch ngân hàng giảm theo quy mô ngân hàng. Như vậy, chúng ta có giả thuyết H5 như sau: Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
- Giả thuyết H5: Quy mô công ty càng lớn thì MBTT của các công ty càng tốt.
Theo lý thuyết đại diện, việc phụ nữ tham gia vào ban lãnh đạo cấp cao có thể cải thiện cơ chế giám sát và quản trị doanh nghiệp bằng cách mang lại sự đa dạng trong quyết định, tăng cường tính độc lập và nâng cao tính minh bạch. Điều này giúp giảm thiểu xung đột lợi ích và đảm bảo rằng người quản lý hành động vì lợi ích của chủ sở hữu, từ đó nâng cao hiệu suất và sự bền vững của doanh nghiệp. Có nhiều bằng chứng cho thấy sự đa dạng giới trong hội đồng quản trị làm giảm bất cân xứng thông tin và nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (Gul & ctg., 2011; Srinidhi & ctg., 2011) sự khác biệt giới trong hội đồng có thể ảnh hưởng đến quyết định của hội đồng và kết quả của doanh nghiệp (Charness & Gneezy, 2012). Nếu nghiên cứu của Salehi và cộng sự (2022) chỉ ra rằng không có ảnh hưởng đáng kể giữa đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị và minh bạch thông tin. Thì O’Reilly và cộng sự (1999) lại tin rằng đưa phụ nữ vào hội đồng có thể gây ra thách thức. Giám đốc nữ có thể bị cô lập trong các hội đồng nam giới thống trị do xu hướng con người thích tin tưởng và kết nối với những người giống mình. Tính dị biệt trong hội đồng cũng có thể làm giảm mức độ chia sẻ thông tin , tăng sự bất đồng và thiếu sự đồng thuận về các mục tiêu chung. Trong khi các nghiên cứu thực nghiệm khác lại có quan điểm hoàn toàn trái ngược, họ cho rằng sự đa dạng giới trong hội đồng quản trị mang ý nghĩa tích cực đến minh bạch thông tin đây là kết quả nghiên cứu của (Fu & ctg., 2023; Harakeh & ctg., 2023; Hoang & ctg., 2021). Như vậy, chúng ta có giả thuyết nghiên cứu H6 như sau:
- Giả thuyết H6: Tỷ lệ thành viên nữ trong Hội đồng quản trị càng cao thì MBTT của các công ty càng tốt
Theo lý thuyết đại diện, có sự xung đột lợi ích giữa người đại diện và người được đại diện hay nói cách khác có sự xung đột lợi ích giữa Hội đồng quản trị và các nhà quản lý. Nếu một doanh nghiệp được sở hữu bởi một cá nhân và được điều hành bởi chính chủ sở hữu đó thì ông ta sẽ đưa ra các quyết định điều hành nhằm tối đa hóa lợi ích cá nhân. Nếu cả người đại diện và người được đại diện đều tối đa hóa lợi ích cá nhân, thì có cơ sở để tin rằng đại diện sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của chủ thể. Felo (2010) khi nghiên cứu 429 công ty có trong khảo sát năm 2002 của Patel vad Dallas cho thấy việc tách biệt chức danh CEO và chủ tịch không có ảnh hưởng rõ ràng đến tính minh bạch tổng thể. Tuy nhiên các nghiên cứu của Hoang và cộng sự (2021) lại cho rằng sự kiêm nhiệm chức vụ CEO và tổng giám đốc/ giám đốc có ảnh hưởng tích cực đến minh bạch thông tin. Trong khi Abbott và cộng sự (2000); Carcello và Nagy (2004a, 2004b); Persons (2005) đều chứng minh rằng khi một công ty có sự kiêm nhiệm chức vụ giữa CEO và Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ có xu hướng công bố báo cáo tài chính kém chất lượng hơn. Như vậy, chúng ta có giả thuyết nghiên cứu H7 như sau:
- Giả thuyết H7: Sự kiêm nhiệm càng cao thì MBTT của các công ty càng thấp. Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Theo lý thuyết thông tin bất đối xứng, khi thông tin giữa công ty và nhà đầu tư không cân xứng, kiểm toán đóng vai trò quan trọng đến tính MBTT của các công ty. Bằng cách cung cấp sự xác nhận độc lập, phát hiện những sai sót và đảm bảo các báo cáo tài chính của công ty tuân thủ đúng các chuẩn mực kế toán, xác minh độ chính xác và minh bạch của thông tin. Nhờ đó, giúp cải thiện niềm tin của các bên liên quan đến báo cáo tài chính của công ty. Trong Bushman và cộng sự (2001), ba thành phần chính của môi trường thông tin cấu thành tính minh bạch là: hệ thống báo cáo doanh nghiệp, hệ thống truyền tải thông tin, và khả năng thu thập cũng như phân phối thông tin tư nhân. Trong đó hệ thống báo cáo doanh nghiệp bao gồm các báo cáo được công bố bắt buộc và tự nguyện. Thông tin do doanh nghiệp công bố có thể được đánh giá dựa trên cường độ công bố, loại hình thông tin, tính kịp thời, và mức độ đáng tin cậy. Mà tỷ lệ các công ty được kiểm toán bởi một trong các công ty kiểm toán lớn là một trong những cơ sở để đánh giá độ tin cậy. Veronina và cộng sự (2005) phát hiện rằng việc sử dụng kiểm toán viên thuộc nhóm Big5 có liên hệ với mức độ minh bạch, đây cũng là kết quả nghiên cứu của (Truong & Nguyen, 2024). Tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định, chất lượng công ty kiểm toán có tác động tiêu cực đến mức độ minh bạch thông tin đây là kết quả nghiên cứu của (Kachouri & Jarboui, 2017) đưa ra khi nghiên cứu thông tin công bố của 28 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tunisia từ năm 2006 đến 2013. Do đó, chúng ta có giả thuyết H8 như sau:
- Giả thuyết H8: Bên kiểm toán có tác động đến MBTT của các công ty.
Theo lý thuyết đại diện, việc kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc dẫn đến tập trung quyền lực vào một cá nhân, điều này làm suy yếu cơ chế giám sát nội bộ, gây rủi ro thông tin bất cân xứng và giảm tính minh bạch (Jensen & Meckling, 1976). Tuy nhiên, kiểm toán viên độc lập chất lượng cao – đặc biệt là các công ty thuộc nhóm Big 4 – có thể đóng vai trò là cơ chế giám sát bên ngoài, giúp hạn chế hành vi che giấu hoặc bóp méo thông tin của nhà quản lý (Watts & Zimmerman, 1986; Fan & Wong, 2005). Fan và Wong (2005) khi nghiên cứu 3.000 công ty niêm yết thuộc khu vực Đông Á từ năm 1994 đến năm 1996 cho thấy kiểm toán Big 4 có khả năng nâng cao chất lượng thông tin kế toán và làm giảm chi phí vốn thông qua việc làm tăng tính minh bạch. Do đó, khi doanh nghiệp dược có sự giám sát của Big 4, tác động tiêu cực của việc kiêm nhiệm lên mức độ minh bạch thông tin được kỳ vọng sẽ giảm đi. Biến tương tác dual × aud được xây dựng nhằm kiểm định giả thuyết rằng kiểm toán Big 4 có tác động điều tiết tích cực, làm giảm ảnh hưởng tiêu cực của việc kiêm nhiệm đến mức độ minh bạch thông tin. Giá trị của biến tương tác giữa kiêm nhiệm và kiểm toán Big 4 được tính bằng tích của hai biến thành phần. Biến dual được mã hóa bằng 1 nếu Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm Tổng giám đốc, và 0 nếu ngược lại; biến aud nhận giá trị 1 nếu doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big 4, bằng 0 nếu không được kiểm toán bởi Big 4. Do đó, chúng ta có giả thuyết H9 như sau.
- Giả thuyết H9: Vai trò điều tiết của kiểm toán Big 4 trong mối quan hệ giữa kiêm nhiệm và mức độ minh bạch thông tin. Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Theo lý thuyết đại diện Jensen và Meckling (1976); Fama và Jensen (1983), khi các thành viên Hội đồng quản trị nắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn, lợi ích cá nhân của họ có thể chi phối quá trình ra quyết định và làm suy yếu vai trò giám sát. Quyền sở hữu tập trung của Hội đồng quản trị có thể tạo ra xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông thiểu số. Khi chủ tịch Hội đồng quản trị đồng thời là Tổng giám đốc và nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao, quyền lực và lợi ích cá nhân được củng cố, dẫn đến động cơ che giấu thông tin hoặc công bố thiên lệch (Shleifer & Vishny, 1997). Theo Eng và Mak (2003), quyền sở hữu cao của Hội đồng quản trị có thể làm giảm minh bạch do động cơ bảo vệ lợi ích riêng. Do đó, khi hai yếu tố này cùng tồn tại – kiêm nhiệm và sở hữu tập trung, tác động tiêu cực đến minh bạch thông tin được kỳ vọng sẽ gia tăng mạnh hơn. Vì vậy, biến tương tác dual × bo được xây dựng để kiểm định giả thuyết rằng tỷ lệ sở hữu cao của Hội đồng quản trị làm khuếch đại tác động tiêu cực của kiêm nhiệm lên mức độ minh bạch thông tin. Biến bo thể hiện tỷ lệ (%) cổ phần do các thành viên Hội đồng quản trị nắm giữ. Giá trị của biến tương tác được tính bằng tích của hai biến thành phần. Hệ số kỳ vọng của biến này mang dấu âm, thể hiện tác động khuếch đại tiêu cực của quyền sở hữu tập trung trong trường hợp kiêm nhiệm. Do đó, chúng ta có giả thuyết H10 như sau.
- Giả thuyết H10: Tác động khuếch đại của quyền sở hữu Hội đồng quản trị trong mối quan hệ giữa kiêm nhiệm và mức độ minh bạch thông tin.
3.3 Mô hình và biến nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
3.3.1 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin doanh nghiệp thường dựa trên mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, cho phép kiểm soát đồng thời nhiều yếu tố thuộc về đặc điểm quản trị, tài chính và quy mô công ty. Cách tiếp cận này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện, minh bạch báo cáo tài chính cũng như các yếu tố quyết định chất lượng công khai thông tin doanh nghiệp ở cả thị trường phát triển và mới nổi (Le & ctg., 2025). Các biến như quy mô hội đồng quản trị, hiệu quả kinh doanh, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty, tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu của thành viên Hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm và kiểm toán bởi Big4 đều là các yếu tố có cơ sở lý luận và thực nghiệm để đưa vào mô hình phân tích minh bạch thông tin. Thêm vào đó, việc xây dựng hai mô hình: mô hình cơ sở và mô hình mở rộng với biến tương tác dual*aud và daul*bo – giúp kiểm định không chỉ tác động trực tiếp của các nhân tố quản trị mà còn đánh giá liệu dịch vụ kiểm toán chất lượng cao có thể điều tiết tác động của việc kiêm nhiệm Chủ tịch – CEO đối với mức độ minh bạch hay không mà còn cho ta biết tác động của kiêm nhiệm lên minh bạch như thế nào khi hội đồng nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao. Dựa trên lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước, nghiên cứu này đề xuất phương trình (1) như là mô hình cơ bản để đánh giá tác động của các yếu tố quản trị và tài chính đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty dược niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2018–2023.
Trong đó, biến phụ thuộc ltrans là logarit của chỉ số minh bạch thông tin (trans), được tính bằng tổng điểm đánh giá theo từng tiêu chí chuẩn hóa trên tổng số tiêu chí. Các biến độc lập bao gồm: lbs đại diện cho quy mô hội đồng quản trị được đo bằng Logarit số lượng thành viên Hội đồng quản trị; pro là tỷ suất lợi nhuận được tính theo tỷ lệ phần trăm lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản; bo là tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Hội đồng quản trị được tính theo phần trăm số lượng cổ phiếu sở hữu bởi các thành viên Hội đồng quản trị trên tổng số cổ phần phát hành; lev là đòn bẩy tài chính tính theo phần trăm tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản, size đại diện cho quy mô công ty, đo bằng Logarit tổng tài sản; bf đo lường tỷ lệ thành viên nữ trong Hội đồng quản trị tính theo tỷ lệ phần trăm Số lượng nữ giới trong Hội đồng quản trị trên số lượng thành viên Hội đồng quản trị; dual là biến giả, phản ánh CEO kiêm nhiệm chủ tịch Hội đồng quản trị, nhận giá trị 1 nếu có kiêm nhiệm và bằng 0 nếu ngược lại; aud là biến giả, nhận giá trị 1 nếu công ty được kiểm toán bởi Big4 và bằng 0 nếu ngược lại. a₀ là hằng số của mô hình; a₁ đến a₉ là các hệ số hồi quy tương ứng với từng biến giải thích và εit là thành phần sai số ngẫu nhiên.
Một số nghiên cứu cho thấy khi quyền lực tập trung vào một cá nhân nắm giữ vị trí CEO kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị, nguy cơ che giấu thông tin và giảm minh bạch tăng lên do thiếu cơ chế giám sát độc lập (Jensen & Meckling, 1976); kiểm toán độc lập bởi các công ty kiểm toán lớn thường đóng vai trò là cơ chế giám sát bên ngoài hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng và độ tin cậy của báo cáo tài chính (Bushman & ctg., 2001). Tuy nhiên trong một số trường hợp nhất định, chất lượng công ty kiểm toán có tác động tiêu cực đến mức độ minh bạch thông tin (Kachouri & Jarboui, 2017) hoặc nghiên cứu của (Francis & ctg., 1999) cho thấy sử dụng kiểm toán Big6 làm tăng khuynh hướng nội sinh, hay nói cách khác làm tăng nguy cơ gian lận. Do đó, việc xét đến hiệu ứng tương tác giữa hai yếu tố này giúp làm sáng tỏ vai trò của kiểm toán chất lượng cao trong việc bù đắp các điểm yếu về quản trị nội bộ. Do đó, tác giả xem xét hiệu ứng tương tác giữa biến kiêm nhiệm và biến kiểm toán Big4 theo phương trình (2) như sau: Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Theo lý thuyết đại diện, cả CEO duality và sở hữu tập trung đều có thể làm gia tăng rủi ro lạm dụng quyền lực, hạn chế công bố thông tin minh bạch nhằm phục vụ lợi ích cá nhân hoặc nhóm lợi ích kiểm soát (Jensen & Meckling, 1976; Fama & Jensen, 1983). Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, thành viên Hội đồng quản trị sở hữu tập trung một lượng lớn cổ phần có thể làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu minh bạch do thiếu các cơ chế kiểm soát và giám sát độc lập (Leung & Horwitz, 2004). Ngược lại, trong một số trường hợp, sở hữu lớn của hội đồng quản trị cũng có thể tạo động lực thúc đẩy công bố minh bạch thông tin (Salehi & ctg., 2022). Do đó, đưa biến tương tác giữa sự kiêm nhiệm và tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Hội đồng quản trị vào phân tích sẽ giúp nhận diện rõ hơn tác động kết hợp của hai yếu tố này đối với mức độ minh bạch thông tin, đồng thời cung cấp thêm bằng chứng cho các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp. Tác giả xem xét hiệu ứng tương tác giữa biến kiêm nhiệm và biến qui mô sở hữu theo phương trình (3) như sau:
Trong bối cảnh tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp có thể biến động theo chu kỳ kinh doanh và chịu ảnh hưởng đồng thời của đặc điểm nội tại lẫn cơ chế giám sát bên ngoài, việc sử dụng mô hình hồi quy giản đơn hoặc mô hình tác động cố định khó tách bạch được tác động thuần của từng nhân tố. Do đó, nghiên cứu lựa chọn khung mô hình tuyến tính kèm ước lượng Correlated Random Effects (CRE) để ước lượng các phương trình (1)- (3). Cách tiếp cận Mundlak–Chamberlain này vừa kiểm soát được tác động của các yếu tố riêng không quan sát giữa các công ty— vốn có thể tương quan với các biến giải thích—vừa cho phép ước lượng hệ số của những biến ít thay đổi qua thời gian như kiểm toán Big4 (Mundlak, 1978; Chamberlain, 1984). CRE vì thế duy trì được tính nhất quán như mô hình tác động cố định nhưng hiệu quả gần với mô hình tác động ngẫu nhiên, đặc biệt thích hợp với bộ dữ liệu dạng bảng quy mô nhỏ (N = 21; T = 6) và tránh hiện tượng sử dụng quá nhiều biến công cụ thường gặp ở System-GMM (Wooldridge, 2010).
- Bảng 3. 1 Thay đổi và ý nghĩa khi đưa biến tương tác vào mô hình
3.3.2 Biến nghiên cứu
Từ các mô hình hồi quy trên, tác giả xác định các biến nghiên cứu:
- Bảng 3. 2 Tổng hợp các biến nghiên cứu
3.4 Dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
3.4.1 Mẫu quan sát và nguồn số liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu năm được thu thập từ trang cafef.vn và cophieu68. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán và báo cáo tình hình quản trị của 21 công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2018-2023.
3.4.2 Nguyên tắc lựa chọn dữ liệu
Đối với nguyên tắc lựa chọn mẫu, tác giả lựa chọn những mã chứng khoán được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE thỏa điều kiện về tính liên tục của dữ liệu theo tần suất năm trong giai đoạn 2018 – 2023. Mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm các mã cổ phiếu chốt đến ngày 31/12/2023, không bao gồm các cổ phiếu bị hủy niêm yết, bị chuyển sàn trong quá trình nghiên cứu. Dựa trên nguyên tắc lựa chọn mẫu, trong giai đoạn 2018 – 2023, bài nghiên cứu sẽ thực hiện phân tích các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của 21 công ty ngành dược phẩm được niêm yết trên sàn giao dịch HNX và HOSE. Với tần suất dữ liệu năm, nghiên cứu thực hiện trong suốt giai đoạn 2018 – 2023, tổng cộng có 126 quan sát.
3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Về quy trình nhập và xử lý dữ liệu thô: tác giả nhập dữ liệu, kiểm tra dữ liệu trống và tính hợp lý của dữ liệu, tính các biến trong mô hình bằng phần mềm Microsoft Excel 2016. Tiếp theo, tác giả phân tích thống kê mô tả, chạy hồi quy và kiểm định mô hình được thực hiện thông qua phần mềm Stata.
Đối với dữ liệu về mức độ minh bạch thông tin, tác giả tiến hành chấm điểm dựa trên sự kế thừa thang đo minh bạch thông tin của (Truong & Nguyen, 2016). Thang đo này được xây dựng dựa trên bộ chỉ số minh bạch và Công bố thông tin của Standard và Poor kết hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về Công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán như:
- Chỉ số minh bạch và Công bố thông tin của S&P
- Nghị định 71/2017/NĐ-CP ban hành ngày 06 tháng 06 năm 2017 và có hiệu lực ngày 01-08-2017 của chính phủ về việc hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng
- Thông tư 95/2017/TT-BTC được ban hành ngày 22 tháng 9 năm 2017 về việc hướng dẫn một số điều của nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2017 của chính phủ về việc hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng.
Theo (Truong & Nguyen, 2016), chỉ số minh bạch thông tin được xây dựng trên thang điểm tối đa là 100, bao gồm 53 tiêu chí sau:
- Minh bạch cấu trúc sở hữu và quyền của nhà đầu tư: 25 điểm, 14 tiêu chí
- Minh bạch tài chính và Công bố thông tin: 38 điểm, 24 tiêu chí
- Minh bạch cấu trúc, thành phần, quy trình làm việc của Hội đồng quản trị, Ban điều hành và Ban kiểm soát: 37 điểm, 15 tiêu chí.
Chỉ số MBTT của các Doanh nghiệp niêm yết được tính như sau:
Trong đó: Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
- transi là chỉ số minh bạch thông tin của doanh nghiệp i ở năm t (transit có giá trị lớn nhất là 100, nhỏ nhất là transit càng lớn, doanh nghiệp càng có mức độ minh bạch thông tin cao).
- 𝑑ijtlà điểm của tiêu chính đánh giá j của doanh nghiệp i ở năm t
- n là tổng số tiêu chí đánh giá
Bảng 3.1: Các tiêu chí đo lường mức độ minh bạch và Công bố thông tin của các công ty niêm yết
Ngoài ra, để đảm bảo tính logic và hiệu quả trong phân tích. Nghiên cứu sử dụng 2 bộ dữ liệu, nhằm đảm bảo duy trì tính trung thực, khách quan của dữ liệu gốc trong mô tả. Nhưng vẫn phù hợp với các giả định của mô hình hồi quy và các kiểm định của giả thuyết nghiên cứu.
Dữ liệu gốc: dữ liệu chưa xử lý, được sử dụng cho thống kê mô tả nhằm phản ánh trực quan các đặc điểm cơ bản của mẫu như quy mô, xu hướng phân phối và biến động tự nhiên của các quan sát.
Dữ liệu đã xử lý: dữ liệu được xử lý bằng phương pháp lấy logarit tự nhiên (ln) các biến chỉ số minh bạch thông tin (ltrans), quy mô công ty (lfs) và quy mô hội đồng quản trị (lbs). Chỉ số MBTT có phổ điểm giao động từ 0 đến 100, có độ lệch phải và chênh lệch lớn, rất phù hợp để chuyển đổi bằng logarit tự nhiên. Việc này giúp tối ưu hóa hiệu suất mô hình, giảm thiểu sai số hệ thống và nâng cao tính chính xác của ước lượng, đáp ứng các giả định tuyến tính của mô hình. Tương tự biến quy mô công ty được đo bằng tổng tài sản, giá trị lớn vì vậy độ lệch phải cực mạnh, biên độ giao động tổng tài sản giữa các công ty cũng tương đối lớn. Cuối cùng là biến quy mô Hội đồng quản trị: đây là một biến đếm, có giá trị lớn, độ lệch phải cao. Việc lựa chọn xử lý số liệu bằng phương pháp lấy logarit tự nhiên thay vì sử dụng các phương pháp khác, vì phương pháp này cho phép diễn giải hệ số hồi quy dưới dạng phần trăm thay đổi, phù hợp với bản chất kinh tế, thu hẹp khoảng cách giá trị giữa các biến tốt hơn do đó xử lý ngoại lai hiệu quả hơn. Các biến còn lại là biến nhị phân (nhận giá trị 0 hoặc 1), bao gồm sự kiêm nhiệm (dual) và công ty kiểm toán (aud), không tồn tại khái niệm phân phối hay độ lệch; biến đòn bẩy tài chính (lev), tỷ suất lợi nhuận (pro), tỷ lệ sở hữu cổ phiếu bởi Hội đồng quản trị (bo) và tỷ lệ thành viên nữ trong Hội đồng quản trị (bf) được tính theo dạng phần trăm, có độ chênh lệch trong phạm vi từ 0 đến 1, phạm vi giá trị hẹp vì vậy không cần xử lý số liệu.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
Để xác định các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm giai đoạn từ năm 2018-2023, tác giả thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu của 21 công ty được niêm yết trên sàn HOSE, HNX. Về dữ liệu nghiên cứu, tác giả sử dụng 2 bộ dữ liệu: Dữ liệu thô để phân tích tổng thể các biến và dữ liệu đã lấy logarit tự nhiên để chạy mô hình và phân tích kết quả hồi quy. Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng mô hình tuyến tính kèm ước lượng Correlated Random Effects (CRE), cách tiếp cận Mundlak–Chamberlain. Dựa trên hai mô hình là mô hình cơ sở và mô hình mở rộng với biến tương tác dual*aud và daul*bo. Nghiên cứu không chỉ đo lường tác động trực tiếp của từng yếu tố quản trị, mà còn phân tích được sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các cơ chế kiểm soát bên trong (kiêm nhiệm, sở hữu Hội đồng quản trị) và bên ngoài (kiểm toán độc lập) trong việc ảnh hưởng đến minh bạch thông tin của doanh nghiệp dược. Điều này giúp kết quả nghiên cứu phản ánh đúng thực tế rằng tính minh bạch không chỉ phụ thuộc vào từng yếu tố riêng lẻ, mà còn dựa vào sự kết hợp giữa quyền lực, cấu trúc sở hữu và cơ chế giám sát.
Tiếp theo chương 4, tác giả sẽ thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình. Đồng thời, tác giả cũng thực hiện việc trình bày kết quả nghiên cứu, đối chiếu, so sánh kết quả nghiên cứu so với các nghiên cứu trước và với kì vọng của tác giả. Từ đó, lý giải và thảo luận kết quả nghiên cứu. Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
