Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hoạt động giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Đặc điểm Học viện Báo chí và Tuyên truyền

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

HV BC-TT – Trường Tuyên giáo Trung ương trước đây được thành lập ngày 16/01/1962 theo Nghị quyết số 36-NQ/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa III, trên cơ sở hợp nhất 3 trường: Trường Nguyễn Ái Quốc phân hiệu II, Trường Tuyên Huấn và Trường Đại học Nhân dân. Theo Nghị quyết số 36-NQ/TƯ ngày 16/01/1962: “Trường có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo ở trung ương và địa phương từ trình độ sơ cấp trở lên về lí luận và nghiệp vụ. Ban Bí thư giao cho Ban Tuyên giáo Trung ương phụ trách trường này”.

Nghị quyết số 116-NQ/TƯ ngày 02/8/1967 của Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định: “Trường Tuyên giáo Trung ương từ nay trực thuộc Trung ương và Trung ương ủy nhiệm cho Ban Tuyên giáo Trung ương trực tiếp chỉ đạo về mọi mặt”.

Để phù hợp với sự kiện Ban Tuyên giáo Trung ương tách thành hai ban: Tuyên huấn và Khoa giáo, Nghị quyết của Ban Bí thư Trung ương ngày 09/10/1969; “Đổi tên Trường Tuyên giáo trung ương thành Trường Tuyên huấn Trung ương”.

Quyết định số 15/QĐ-TƯ ngày 02/01/1983 của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác trường Đảng đã quyết định thành lập trường Tuyên huấn Trung ương I trên cơ sở hợp nhất trường Tuyên huấn Trung ương và trường Nguyễn Ái Quốc Trường Tuyên huấn Trung ương I trực thuộc Trung ương Đảng.

Quyết định số 103 QĐ-TW ngày 01/3/1990 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc sắp xếp lại hệ thống trường Đảng trực thuộc Trung ương: “Đổi tên Trường Tuyên huấn Trung ương I thành Trường Tuyên giáo”.

Quyết định số 406-HĐBT ngày 20/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng: Công nhận Trường Tuyên giáo thành trường đại học và có tên gọi là “Trường đại học Tuyên giáo”. Trường trực thuộc Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và có nhiệm vụ “Đào tạo bồi dưỡng ở trình độ đại học các GV luận chính trị của các trường Đảng đoàn thể; phóng viên các báo, tạp chí chủ yếu của các cấp uỷ đảng, đoàn thể ở Trung ương địa phương. Bồi dưỡng luận, đường lối, chính sách của Đảng Nhà nước, nghiệp vụ công tác cho cán bộ hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng văn hoá các cấp”.

Quyết định số 61-QĐ/TƯ ngày 10/3/2011 của bộ Chính trị về việc sắp xếp lại các trường Đảng trực thuộc Trung ương “Chuyển Trường Đại học Tuyên giáo thành Phân viện Báo chí và Tuyên truyền trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh”. Phân viện có nhiệm vụ: “Đào tạo và Bồi dưỡng bậc đại học, cao học những cán bộ là công tác Báo chí, Xuất bản, Tuyên truyền. Đào tạo bậc đại học một số chuyên ngành lí luận Mác – Lênin”. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Nghị quyết số 52-NQ/TƯ ngày 30/7/2023 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Quyết định số 149-QĐ/TƯ ngày 02/8/2023 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong đó Phân viện Báo chí và Truyên truyền được chuyển thành HV BC-TT trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Từ đó đến nay, nhà trường lấy ngày 16/01/1962 là ngày thành lập trường. Ngày 16/01/2025, nhà trường đã tổ chức kỉ niệm 45 năm thành lập trường và vô cùng vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Từ ngày thành lập, nhà trường luôn được Ban Bí thư, Bộ Chính trị các khóa, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục & Đào tạo trực tiếp chỉ đạo; các ban, ngành Trung ương, các địa phương thường xuyên quan tâm giúp đỡ. Nhờ đó nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho.

2.1.2. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của nhà trường trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Chức năng, nhiệm vụ xuyên suốt của nhà trường là đào tạo gắn liền với bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực lí luận chính trị, làm công tác tư tưởng từ trung ương đến địa phương, các ngành, các đoàn thể chính trị.

Theo quyết định số 406-HĐBT ngày 20/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nhà trường chính thức được công nhận là trường đại học. Đây là một trong những bước ngoặt lớn trong lịch sử hình thành và phát triển của trường. Thực hiện quyết định trên, toàn trường đoàn kết, phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, chính qui hóa quá trình đào tạo, thực hiện nghiêm túc các qui chế của Bộ Giáo dục & Đào tạo đối với các trường đại học, đưa mọi hoạt động của nhà trường lên một bước mới, một nề nếp mới. Đối với nhà trường đây là giai đoạn phát triển mạnh cả về qui mô và chất lượng. Hàng năm Học viện có trên 60 lớp với hơn 2.200 SV đại học, học viên cao học chính qui tập trung; trên 40 lớp với hơn 3000 SV tại chức từ Lạng Sơn đến Cà Mau, từ miền Duyên Hải đến Tây Nguyên và hàng chục lớp bồi dưỡng theo chương trình các dự án quốc tế cũng như các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ theo kế hoạch và yêu cầu bức xúc đặt ra của ban, ngành trung ương, các địa phương.

Từ năm 2019 đến nay, nhà trường không ngừng mở rộng và phát triển các chuyên ngành đào tạo, các loại hình đào tạo, cấp đào tạo và qui mô đào tạo. Nếu như năm học 2019 – 2020, Học viện chỉ đào tạo 11 chuyên ngành thì đến năm học 2026 – 2027 đã nâng lên 23 chuyên ngành do nhu cầu của xã hội và khả năng đáp ứng của nhà trường. Trong số đó có những ngành và chuyên ngành hoàn toàn mới ở Việt Nam như: Thông tin đối ngoại, Báo Mạng điện tử, Quan hệ công chúng và quảng cáo, Quản lí xã hội. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Được sự chỉ đạo của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Giáo dục & Đào tạo, Học viện BC-TTđã áp dụng thành công các hình thức đào tạo, cấp đạo tạo: chính qui tập trung, chính qui không tập trung đào tạo đại học thứ hai, tự học có hướng dẫn; đào tạo tại trường, ở các địa phương và các cơ sở đào tạo khác; đào tạo cao học, nghiên cứu sinh; đào tạo, bồi dưỡng lưu học sinh nước CHDCND Lào, thực tập sinh Trung Quốc, tình nguyện viên Hàn Quốc v..v. Vì thế quy mô đào tạo của Học viện từ 4000 SV năm 2019 đã tăng lên 8700 SV năm 2026 [nguồn: 1].

Trong giai đoạn hiện nay, công tác đào tạo tại chức dài hạn được mở rộng về qui mô, nâng cao về chất lượng. Mọi hoạt động đi vào nề nếp như hệ đáo tạo đại học chính qui tập trung. Uy tín, vị thế của nhà trường được nâng cao là nhân tố quan trọng tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường và địa phương. Nhiều tỉnh, nhiều ngành tin cậy, tín nhiệm hợp tác với nhà trường mở các lớp đào tạo cử nhân chuyên ngành. Điều đó ngày càng đòi hỏi sự phấn đấu không mệt mỏi của cán bộ, GV của toàn trường về sự tự hoàn thiện mình, tự khẳng định mình và vì sự phát triển của Đảng, của dân tộc. Đại bộ phận SV do Học viện đào tạo sau khi ra trường đã có chỗ làm việc ổn định trong các cơ quan Đảng và Nhà nước thuộc lĩnh vực tư tưởng văn hóa; được lãnh đạo cơ quan đánh giá có lập trường chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, đáp ứng đòi hỏi của công tác tư tưởng trong thời kì mới.

Bàn về vai trò, nhiệm vụ của nhà trường trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, chúng ta không thể không nói đến hoạt động hợp tác quốc tế của nhà trường.

Hợp tác quốc tế là một trong những yêu cầu nhằm phát triển hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khẳng định vị thế và phạm vi ảnh hưởng của Học viện, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, khoa học và công nghệ cho cán bộ giảng dạy, tạo môi trường thuận lợi cho việc trao đổi học tập kinh nghiệm, trao đổi thông tin trong thời đại mới này. Mặt khác, hợp tác quốc tế còn giúp Học viện nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, giảng dạy…. Xuất phát từ nhận thức như vậy, Học viện luôn cố gắng xây dựng quan hệ hợp tác với các trung tâm khoa học có uy tín thuộc các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới, thông qua các hình thức như: cử cán bộ đi bồi dưỡng chuyên môn; trao đổi cán bộ khoa học; phối hợp khai thác, biên soạn giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập; đồng thời tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế; thu hút các dự án đầu tư cho các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trong số các đối tác quốc tế của HV BC-TT trong lĩnh vực

khoa học và giảng dạy phải kể đến Đại học Công nghệ Sydney (Australia), Học viện Truyền thông Bắc Kinh (Trung Quốc), Đại học Báo chí Lynn (Pháp), Viện FES (Đức) và một số trung tâm nghiên cứu ở Thuỵ Điển, Phi lippin, Thái lan, Lào…

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của công tác giảng dạy đại học tại Học viện trong giai đoạn mới Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

2.1.3.1 Thuận lợi:

  • Vận hội mới của đất nước

Trong 5 năm qua, nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ tăng đều đặn. Chúng ta đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế “Sẵn sàng làm bạn làm đối tác với tất cả các nước trên thế giới”. Vị thế chính trị của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Được đăng cai tổ chức những sự kiện quan trọng mang tính quốc tế như: Hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp với 50 nước trên thế giới tham gia, Hội Nghị thưởng đỉnh các Bộ trưởng Á-Âu: ASEM, Hội nghị APEC, SEAGAME 22.

  • Nội lực và tiềm năng của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tính đến tháng 9 năm 2025, tổ chức bộ máy của Học viện cơ bản đã và đang được sắp xếp lại theo quyết định số 149-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 304/QĐ-HVCTQG của Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh). Hiện nay Học viện có 31 đầu mối trực thuộc, gồm 19 khoa, 01 viện chuyên ngành, 03 Ban, Văn phòng, Tạp chí, Trung tâm Thông tin – Tư liệu – Thư viện và 05 phòng chức năng, đảm bảo để các đơn vị phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ chính trị của Học viện.

Đội ngũ cán bộ Học viện là 356 người, trong đó cán bộ nghiên cứu giảng dạy là 250 người (chiếm 70%). Cán bộ khoa học có chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ và Thạc sĩ là 220 người (chiếm 62%) trong đó có 02 giáo sư, 11phó giáo sư, 79 tiến sĩ, 128 thạc sĩ [nguồn: 1]. Đội ngũ cán bộ của Học viện đã có những bước chuyển biến vượt bậc và vững mạnh về mọi mặt. Đặc biệt là tinh thần đoàn kết cùng chí hướng xây dựng và phát triển Học viện trở thành một trường đại học có uy tín với xã hội với chất lượng cao. Đây chính là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường.

Cơ sở vật chất – kĩ thuật, trang thiết bị kĩ thuật của nhà trường đã đạt tiêu chuẩn của một trường đại học trọng điểm và còn khả năng mở rộng thêm qui mô giảng dạy trong những năm tới. Hơn 2/3 số giảng đường tương đối hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc gia, đủ sức chứa cho 80 lượt lớp/ngày. Trung tâm Thông tin – Tư liệu – Thư viện có tổng diện tích sử dụng là 3.419 m2, trong đó có 02 phòng đọc với 11.186 đầu sách và 140 báo, tạp chí hằng năm; 01 phòng hội thảo; 01 phòng diễn giảng; 01 phòng bảo vệ luận văn, luận án… Toàn bộ hệ thống hội trường, thư viện đủ cho nhu cầu hoạt động của cơ quan, nhu cầu đọc của GV và SV. Nhà trường hiện có 01 hội trường lớn với sức chứa 1.000 chỗ, 03 hội trường có sức chứa từ 100 – 200 chỗ, 05 phòng họp có sức chứa từ 20 đến dưới 100 chỗ với thiết bị hiện đại. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Nhà trường có 01 phòng Thông tin – Website, trang Website này đã chính thức đi vào hoạt động từ năm 2022; 05 phòng máy vi tính phục vụ SV thực hành tin học; 01 phòng studio truyền thanh được trang bị đầy đủ thiết bị của một phòng thu hiện đại ngang cấp các đài truyền thanh tỉnh; 01 phòng studio truyền hình hiện đại với mô hình trường quay hoàn chỉnh, sử dụng các thiết bị chuyên dụng; 01 phòng ảnh điện tử. Ngoài ra, còn có một hệ thống máy ảnh, máy quay phim cầm tay phục vụ giảng dạy và học tập.

Bên cạnh những thuận lợi về cơ sở vật chất nhà trường còn có mối quan hệ tốt với các cơ quan, đoàn thể khác. Đảng bộ nhà trường trực thuộc Đảng uỷ khối cơ quan Trung ương về công tác tư tưởng, công đoàn trường trực thuộc Liên đoàn Lao động Hà Nội và nhà trường còn luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của thành phố, quận, huyện, phường nơi trường đóng về công tác trật tự trị an, an ninh chính trị. Sự trưởng thành của nhà trường là nhờ có sự đóng góp to lớn của địa phương

2.1.3.2 Khó khăn:

Đất nước trong thời kì mới, thời kì mở cửa đón nhận những “luồng gió mát” đồng thời chịu sự tác động không nhỏ mặt trái của nền kinh tế thị trường. Một số cán bộ giảng dạy chưa thật sự yên tâm công tác do đời sống kinh tế còn khó khăn. Giai đoạn hiện nay, đồng tiền có sức mạnh ghê gớm. Đào tạo tại chức phát triển ồ ạt do việc vận dụng chủ trương xã hội hoá học tập của nhà nước. Nhiều GV cơ hữu của Học viện đang trong tình trạng “Chân ngoài dài hơn chân trong”.

Qui mô đào tạo của nhà trường ngày càng được mở rộng nhưng biên chế cán bộ công nhân viên dường như không đổi trong suốt 05 năm qua. Việc số lượng SV đông dẫn đến tình trạng thiếu GV nghiêm trọng. Chất lượng giảng dạy của GV chưa được đánh giá một cách khoa học, logic. Việc xếp loại, phân loại GV mang tính hình thức, thiếu thuyết phục.

Thư viện và kí túc xá của nhà trường tuy đã được nâng cấp và không ngừng hoàn thiện nhưng trong thực tế vẫn chưa thể đáp ứng được như mong muốn của cán bộ GV, SV nhà trường. Một ví dụ đơn giản có thể đưa ra: Với những SV gia đình có điều kiện kinh tế tốt thì việc mua giáo trình, sách, tài liệu học tập là chuyện đơn giản nhưng với những SV nghèo thì đó là cả một vấn đề. Trong những trường hợp này, nếu như thư viện nhà trường có nguồn tài liệu dồi dào thì có thể cho SV mượn để nghiên cứu và hoàn trả lại. Có những đầu sách bán trên thi trường với giá bằng nửa tháng lương của cán bộ mới đi làm nhưng khi hỏi mượn ở thư viện thì lại hết hoặc không có. Với một cái nhìn khách quan thì cơ sở vật chất, điều kiện học tập của SV Học viện đã dần khá lên nhưng vẫn còn thiếu thốn. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

2.1.4. Sứ mạng, mục tiêu và chiến lược phát triển của Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Sau khi có Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30/7/2023 cua Bộ Chính trị về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học cảu Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, quyết định số 149-QĐ/TƯ ngày 02/8/2023 của bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Quyết định số 304/QĐ-HVCTQG ngày 06/3/2024 của Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của HV BC-TT , Đảng uỷ, Ban Giám đốc HV BC-TT xác định rõ sứ mạng, mục tiêu và chiến lược phát triển của Học viện như sau:

Công tác chuyên môn tiếp tục:

  • Đào tạo Trưởng, Phó phòng trở lên của các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương, ở các Bộ, Ban, ngành, đoàn thể Trung ương và tỉnh, thành phố; phó trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ, thành uỷ; Trưởng, phó Ban Tuyên giáo huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ ở trình độ đại học và sau đại học.
  • Đào tạo GV lí luận chính trị bậc đại học cho các trường chính trị tỉnh, thành phố, các trường đào tạo cán bộ của bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, các trường đại học và cao đẳng
  • Đào tạo bậc đại học và sau đại học các chuyên ngành báo chí, xuất bản và tuyên truyền
  • Bồi dưỡng kiến thức mới, nghiệp vụ, công tác chuyên môn, lí luận chính trị và đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước cho cán bộ lãnh đạo, quản lí thuộc các đối tượng đào tạo nêu trên.

Công tác tổ chức cán bộ:

  • Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy theo Nghị quyết, Quyết định của Bộ chính trị và Quyết định của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về Học viện.
  • Xây dựng và thực hiện qui hoạch đội ngũ cán bộ viên chức.
  • Xây dựng cơ chế làm việc trên cơ sở hệ thống các qui chế, qui định đảm bảo cho việc quản lí chặt chẽ, khoa học các hoạt động của trường.

2.2. Thực trạng chất lượng giảng dạy và các hoạt động cải tiến chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

2.2.1 Các phương pháp giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định để giải quyết các nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn.

Phương pháp giảng dạy là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp và thống nhất của GV và học viên, SV nhằm thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy. GV lựa chọn phương pháp nào để giảng dạy phải dựa trên mục tiêu, nhiệm vụ của môn học kết hợp nhuần nhuyễn với các nguyên tắc giảng dạy đại học. Mục tiêu giảng dạy ở bậc đại học phản ánh tập trung nhất những yêu cầu xã hội, gắn liền với mục đích giáo dục nói chung và mục đích giáo dục ở mỗi trường đại học, nó là cái đích hướng tới của quá trình đào tạo.

Hiện nay, Học viện đang sử dụng hai nhóm phương pháp giảng dạy là phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại.

  • Phương pháp giảng dạy truyền thống:

Qua khảo sát, hiện nay 70% GV Học viện vẫn thực hiện giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Thậm chí do đặc thù các chuyên ngành học thuộc ngành lí luận Mác – Lênin mà 95% GV giảng dạy lí luận chính trị đã sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống như một phương pháp tối ưu nhất, đặc biệt là phương pháp thuyết trình [nguồn: 11]. GV soạn giáo án theo hình thức viết tay. Đa số giáo án được sử dụng từ năm này qua năm khác và theo thời gian cũng được bổ sung chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình kinh tế chính trị, văn hoá xã hội của đất nước. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Phương pháp giảng dạy truyền thống đảm bảo cho GV chủ động trong quá trình thực hiện bài giảng cũng như việc phân phối lượng thời gian cho từng nội dung. Những GV lâu năm có kinh nghiệm với khả năng trình bày nội dung kiến thức khúc rõ ràng, rành mạch, logic dễ hiểu và đưa ra những ví dụ minh hoạ thích hợp cho những vấn đê lí luận trừu tượng đã giúp SV thấy dễ hiểu, dễ nhớ đối với những môn học vốn được coi là khô khan đối như Triết học, Kinh tế chính trị, Nguyên lí công tác tuyên truyền, Nguyên lí công tác tư tưởng…..Xét về góc độ kinh tế, thì phương pháp thuyết trình là phương pháp ít tốn kém nhất (bảng, phấn hoặc bút dạ viết bảng). Khi sử dụng phương pháp này người GV luôn có ý thức trình bày bảng sao cho thật khoa học và đầy tính thẩm mĩ. Đặc trưng cơ bản của các phương pháp giảng dạy truyền thống là GV trình bày nội dung kiến thức còn SV dưới lớp chú ý lắng nghe và không quên nhiệm vụ ghi chép.

Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ điện tử phát triển mạnh, một số SV gia đình khá giả có thể sắm cho mình một chiếc máy ghi âm để thu lại những gì GV truyền đạt để về nhà nghe lại và nghiên cứu. Đây là một phương thức học tập rất hay nên được phổ biến nhân rộng trong toàn trường. Theo một khảo sát gần đây của Học viện thì 90% SV của trường sử dụng máy điện thoại di động. Chi phí cho việc đầu tư một chiếc điện thoại cùng việc “nuôi” nó hàng tháng sẽ lớn hơn rất nhiều cho việc mua một cái máy ghi âm phục vụ việc học tập. Tuy vậy tại HV BC-TT chỉ có 2% SVqua khảo sát sử dụng máy ghi âm như một phương tiện hữu ích để phục vụ nhiệm vụ chính của mình, nhiệm vụ học tập. Đối với SV khoa Phát thanh – Truyền hình, Báo chí, Thông tin đối ngoại tỉ lệ SVcó máy ghi âm rất cao (87%) nhưng mục đích sử dụng chính không phải để ghi âm bài giảng mà là ghi âm các cuộc phỏng vấn trong quá trình SV đi thực tập nghiệp vụ Báo chí, Công tác tư tưởng [nguồn: 11].

  • Phương pháp giảng dạy hiện đại:

Bao gồm phương pháp: nêu vấn đề, thảo luận nhóm, tình huống…..

  • Phương pháp nêu vấn đề

Đây là một phương pháp giảng dạy mới. Việc ra đời cũng như sử dụng phương pháp này là tất yếu khách quan vì nó đáp ứng được yêu cầu của thời đại, của xã hội và cung cấp cho nền kinh tế quốc dân một lực lượng lao động có năng lực giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

Dạy học nêu vấn đề là toàn bộ những hoạt động như tổ chức tình huống có vấn đề, biểu đạt vấn đề và chỉ ra cho SV sự giúp đỡ cần thiết khi giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng chỉ đạo quá trình hệ thống hoá kiến thức và củng cố kiến thức thu được. Phương pháp giảng dạy này sẽ kích thích khả năng tư duy, suy nghĩ độc lập sáng tạo, buộc SV gắn lý thuyết với thực tiễn. Hơn nữa phương pháp nêu vấn đề còn bồi dưỡng cho SV những phong cách và tác phong của người làm khoa học.

Phương pháp giảng dạy này có nhiều ưu điểm như trên nhưng đồng thời có những hạn chế nhất định như: GV phải mất nhiều thời gian để chuẩn bị bài và bản thân họ cũng phải có trình độ chuyên môn vững chắc. Còn SV phải có trình độ tương đối cao đồng đều. Lúc đó việc vận dụng phương pháp giảng dạy nêu vấn đề mới cho chất lượng giảng dạy cao.

Ở HV BC-TT phương pháp giảng dạy nêu vấn đề được GV các môn khoa học xã hội áp nhiều khi giảng dạy cho SV đặc biệt là SV các chuyên ngành Báo chí, Phát thanh – Truyền hình, Chính trị học, Thông tin đối ngoại. 75% GV áp dụng phương pháp này trong quá trình giảng dạy. Một điều khá thú vị là trong đó đa số là những GV có tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ.

  • Phương pháp tình huống Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Là phương pháp hướng dẫn SV giải quyết một tình huống cụ thể từ thực tiễn nghề nghiệp, từ việc tự nhận ra và phân tích tình huống, xây dựng các phương án giải quyết tình huống, cho đến việc nhận xét, đánh giá trên cơ sở đó chọn ra phương án tối ưu. Phương pháp tình huống khác với phương pháp thuyết trình, muốn thành công cần có sự tham gia đóng góp rất lớn từ phía học viên, SV. Có thể nói phương pháp tình huống, vai trò, trách nhiệm truyền thống của GV đã thay đổi. Giờ đây, GV không chỉ cần có đủ kiến thức lí thuyết, thực tiễn về nội dung giảng dạy mà còn cần có đủ những kiến thức, kĩ năng điều hành cuộc thảo luận. Vai trò của người GV được chuyển từ chỉ đạo, áp đặt sang người hướng dẫn, tạo điều kiện. GV phải tạo được môi trường học tập tích cực duy trì thúc đẩy sự hứng thú của SV, tạo điều kiện động viên sự đóng góp của học viên. Ưu điểm lớn của phương pháp tình huống là tạo môi trường học tập, thúc đẩy SV tham gia. Qua kết quả thảo luận, GV có thể đánh giá được trình độ, kinh nghiệm của SV. Thời điểm áp dụng phương pháp tình huống cũng phải được cân nhắc sao cho phù hợp với chủ đề và mục tiêu bài giảng. Không nên sử dụng quá nhiều phương pháp tình huống. Nếu là lần đầu tiên SV tiếp cận với phương pháp tình huống GV chỉ nên đưa ra những tình huống đơn giản, ngắn gọn để SV có cơ hội làm quen dần. GV nên đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng để người đọc đi đúng tình huống. GV có thể giành thời gian cung cấp thêm những thông tin cần thiết để hỗ trợ cuộc thảo luận. Cần tạo điều kiện để SV trình bày ý kiến của mình, SV càng tham gia tích cực với những ý kiến đúng hướng có nghĩa là mức độ thành công của phương pháp càng cao. GV quan sát SV làm việc theo nhóm và đưa ra những ý kiến đánh giá kịp thời để điều chỉnh SVđi đúng hướng và luôn ghi nhận những đóng góp của SV và đưa ra những nhận xét toàn diện. Cùng với sự thay đổi vai trò, trách nhiệm của GV, vai trò của học viên, SV trong phương pháp tình huống cũng có sự thay đổi. SV không còn thụ động tiếp thu kiến thức mà họ sẽ là người tham gia đóng góp vào quá trình thảo luận. Có thể nói giờ đây SV chịu trách nhiệm về việc học tập của chính họ. Trong quá trình học tập, qua phương pháp tình huống, SV cần chia sẻ những kinh nghiệm của mình, tôn trọng ý kiến và học hỏi kinh nghiệm của người khác. Bên cạnh rất nhiều ưu điểm, phương pháp giảng dạy tình huống cũng có những hạn chế nhất định như: không dễ dàng trong việc xác định các tình huống hấp dẫn, gần gũi thực tiễn và diễn đạt chúng một cách rõ ràng. Việc phát triển tình huống có thể tốn kém, đòi hỏi nhiều thời gian, GV phải là một người chủ trì khéo léo, có kinh nghiệm và đủ chín chắn. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Phương pháp tình huống được các GV các môn chuyên ngành về Báo chí, Phát thanh – Truyền hình sử dụng rất nhiều (90 %). Trong chương trình kiến thức giáo dục chuyên nghiệp của ngành Phát thanh – Truyền hình, các học phần: Tin truyền hình, Phỏng vấn toạ đàm truyền hình, Phóng sự truyền hình, Bình luận truyền hình, Kịch bản truyền hình, Dẫn chương trình truyền hình, Các chương trình văn hoá giải trí truyền hình, Tổ chức biên tập chương tình truyền hình có số đơn vị học trình là 36 chiếm hơn 50% kiến thức ngành và chuyên ngành. Các học phần này cũng được đưa vào giảng dạy ở một số chuyên ngành khác như Quan hệ công chúng, Công tác tư tưởng, Thông tin đối ngoại, Báo in, Báo mạng điện tử… Rõ ràng việc áp dụng phương pháp tình huống vào giảng dạy các môn trên sẽ giúp SV rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa mục tiêu đào tạo của nhà trường và nhu cầu của xã hội. Đối với các lớp chuyên ngành lí luận Mác – Lênin quả là không dễ dàng chút nào khi áp dụng phương pháp này vào giảng dạy. Bởi SVlà những người có tuổi đời còn rất trẻ, kinh nghiệm cuộc sống còn rất ít trong khi đó ngành lí luận lại đòi hỏi hoạt động thực tiễn rất lớn. Do vậy, việc đưa ra những tình huống phù hợp, logic cho SV giải đáp thành công phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực, kinh nghiệm giảng dạy lâu năm của GV.

  • Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là một cách học cho phép tất cả các thành viên trong nhóm giải quyết một nội dung tri thức nào đó mà không được GV dẫn dắt trực tiếp trong khi chỉ chờ vào sự hợp tác chặt chẽ và phân việc trong nhóm nhỏ dưới sự trợ giúp của GV.

Nếu như ưu điểm nổi bật của phương pháp thuyết trình là khối lượng kiến thức GV truyền đạt được nhiều nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất, thì phương pháp thảo luận nhóm lại kích thích sự hợp tác của tất cả các thành viên tham dự về mặt lí thuyết. Vấn đề mà GV đưa ra để học viên, SV thảo luận được làm sáng tỏ bởi chính họ chứ không phải là GV. Với phương pháp này mỗi cá nhân có thể nêu lên quan điểm, ý kiến nhận xét của mình một cách thẳng thắn mà có khi đứng trước một tập thể cả lớp đông lại ngượng ngùng, thiếu tự tin, không dám nói. Thảo luận nhóm giúp nhiều người cùng tham gia vào giải quyết vấn đề, khuyến khích sự độc lập tự chủ và lúc này SV trở thành người chủ động về mặt kiến thức trong giờ lên lớp của GV. Để áp dụng được phương pháp này, trước hết GV cần phải chia lớp thành một số nhóm, mỗi nhóm được phân công giải quyết một nhiệm vụ cụ thể hướng tới một nội dung công việc chung lớn hơn. Kết quả của từng nhóm sẽ được trình bày trước lớp để thảo luận chung trước khi GV đi đến kết luận cuối cùng. Đối với một lớp quá đông SV, việc áp dụng phương pháp này sẽ trở nên không hiệu quả. Thực tế chứng minh, trong mỗi một nhóm làm việc từ 4 người trở lên luôn có những người làm việc tích cực hơn và ngược lại, có người lại mang tâm thế ỷ lại, dựa dẫm. Người tích cực quá thì tranh nói hết thời gian không để người khác phát biểu. Người thụ động chỉ ngồi im lặng lắng nghe. Như vậy, kết quả của của hoạt động thảo luận nhóm có khi chỉ là ý kiến của một hai người chứ không phải của tập thể nhóm. Vai trò định hướng, chỉ đạo của GV, hay của trưởng nhóm ở đây hết sức quan trọng. Áp dụng phương pháp mới này vào trong giảng dạy không phải dễ. Chỉ 20% GV Học viện áp dụng phương pháp giảng dạy này nhưng không phải là thường xuyên mà chỉ đôi khi. Theo các chuyên gia, phương pháp thảo luận nhóm muốn đạt hiệu quả cao cần phải đảm bảo các điều kiện sau: Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

  • Chủ đề đưa ra thảo luận nhóm phải phù hợp
  • Có đủ phòng để cho các nhóm làm việc (Trong trường hợp không có những phòng riêng, có thể dùng phòng lớn và ngăn tạm thành các phòng nhỏ bằng rèm hoặc vật liệu ngăn tường).
  • Có các phương tiện cần thiết để làm việc (bút, giấy, bảng đứng, kéo, phấn, đồ dùng văn phòng….)
  • Mỗi nhóm chỉ nên có từ 4 đến 6 người

Tính đến thời điểm này, Học viện đang từng bước tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy thao hướng áp dụng các phương pháp hiện đại. Việc sử dụng và kết hợp một cách linh hoạt giữa phương pháp giảng dạy truyền thống và phương pháp giảng dạy hiện đại được Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường ban hành thành Nghị quyết của nhà trường trong năm học tới. Đây là một hướng đi thích hợp, phổ biến và mang tính thực tiễn do đặc thù của Học viện. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp giảng dạy mới, hiện đại vẫn là hướng đột phá để giúp GD ĐH nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu so với trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới..

2.2.2. Cơ chế quản lý chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Như đã trình bày ở phần đầu của chương, HV BC-TT là một cơ sở đào tạo đại học và sau đại học công lập. Tuy nhiên, bộ máy tổ chức và hoạt động chuyên môn của Học viện lại có nhiều yếu tố đặc thù không giống các cơ sở đào tạo đại học khác. Ra đời từ những năm 60 của thế kỉ 20, đồng nghĩa với việc cán bộ GV, học viên những khoá đầu của Học viện cũng từng tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt của cả nước và cùng tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Từng trải qua thời kì bao cấp với những khó khăn chung của cả nước nên đến nay cơ chế quản lí của nhà trường nói chung và quản lí chất lượng giảng dạy nói riêng có một số điểm chưa phù hợp với tình hình mới hiện nay. Chúng ta, đang xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lí của Nhà nước. Đây là một nền kinh tế mở, thông thoáng được tiến hành từ năm 1986. Thế nhưng cơ chế quản lí chất lượng giảng dạy của Học viện được tiến hành như thế nào? Các mô hình quản lí chất lượng mà thế giới áp dụng đã được áp dụng và thử nghiệm tại Việt Nam có được Học viện nghiên cứu, áp dụng không ? Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

  • Cơ chế quản lí chất lượng giảng dạy của Học viện được tiến hành theo mô hình dưới đây:

Ở Việt Nam, Ban Quản lí đào tạo là một đơn vị nòng cốt, một đơn vị không thể thiếu được trong mỗi một cơ sở GD ĐH. Việc quản lí hoạt động giảng dạy của GV tại HV BC-TT do Ban Giám đốc thực hiện thông qua Ban Quản lí Đào tạo. Trong thực tế Ban Đào tạo chỉ quản lí về mặt định lượng đối với nhiệm vụ GV được giao mà chưa quản lí được chất lượng công việc của họ. Bên cạnh việc theo dõi thực hiện kế hoạch giảng dạy, chương trình đào tạo …nhà trường chỉ biết được trong mỗi học kì một GV dạy mấy lớp, bao nhiêu tiết chứ không biết được GV đó lên lớp như thế nào, giảng bài ra sao, kiểm tra đánh giá kết quả học tập giữa kì của SV như thế nào, có nghiên cứu khoa học không, có tham gia các hoạt động phục vụ bộ môn, khoa, trường và xã hội hay không, chất lượng và kết quả của các công việc đó đến đâu. Rõ ràng, đây là một trong những điểm hạn chế lớn nhất trong công tác quản lí hoạt động giảng dạy của GV tại Học viện. Vai trò quản lí chất lượng giảng dạy của GV của Học viện dường như thuộc về bản thân mỗi người tham gia giảng dạy. Nếu như mỗi một GV đều thật nghiêm khắc với chính công việc của mình thì đây là điểm mạnh của Học viện. Khi đối chiếu với các mô hình quản lí chất lượng hiện nay thì nó mang dáng dấp của mô hình quản lí chất lượng tổng thể TQM. Chất lượng được đảm bảo từ mỗi thành viên tham gia trong bộ máy đào tạo đó. Thế nhưng, đâu phải tất cả các GV đều làm được điều này. Có những GV lâu năm sử dụng những tập bài giảng được biên soạn từ khi mới bước chân vào nghề và việc cập nhật thông tin bổ sung vào đó không được tiến hành thường xuyên. Nếu như, đó là những kiến thức thuộc về lĩnh vực khoa học tự nhiên thì điều đó hoàn toàn có thể chấp nhận được nhưng với các môn khoa học xã hội thì sao. Trong khi đất nước, nhân loại biến chuyển từng ngày từng giờ thì những tri thức đó trở nên quá lạc hậu nhưng vẫn được đem ra giảng dạy cho SV.

Để việc quản lí chất lượng giảng dạy tại Học viện được tiến hành theo đúng nghĩa nhà trường cần xây dựng một văn bản qui định rõ trách nhiệm đánh giá GV ở các cấp khác nhau như chủ nhiệm bộ môn, chủ nhiệm khoa, ban Đào tạo, Ban Giám đốc nhà trường và đặc biệt là đánh giá đồng cấp.

2.2.3 Hoạt động đánh giá chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Đánh giá của đồng nghiệp và đánh giá của sinh viên)

Đánh giá đồng nghiệp và đánh giá của SV về chất lượng giảng dạy là những hoạt động không có gì mới mẻ trong GD ĐH Hoa Kỳ, châu Âu, và các nước tiên tiến châu Á như Singapore, Malaysia hoặc Thái Lan. Ở Việt Nam, đánh giá hoạt động giảng dạy qua ý kiến SV mới được Bộ Giáo dục & Đào tạo cụ thể hoá bằng văn bản và thực hiện trong các trường đại học từ năm 2026. Tuy nhiên, một số trường như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tự thực hiện từ những năm học 2022 – 2023. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Để thực hiện công văn số 1276/BGD ĐT/NG ngày 20/02/2026 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về việc “Hướng dẫn tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ SV về hoạt động giảng dạy của GV” [4] một số trường đại học đã triển khai khá tốt. Dựa vào bộ tiêu chuẩn về kiểm định chất lượng đại học của Bộ ban hành và tính đến thực tế công tác giảng dạy ở cơ sở đào tạo mà mỗi trường tự thiết kế, xây dựng cho mình một bộ phiếu hỏi riêng sao cho phù hợp nhất.

Mặc dù vậy, tính đến hết học kì II năm học 2025 – 2026 đối với HV BC-TT phương pháp đánh giá này vẫn còn rất xa lạ đối với nhiều GV và SV. Đánh giá đồng nghiệp tại Học viện chỉ được thực hiện vào mỗi cuối năm học. Hoạt động đánh giá ở đây được sử dụng để xét danh hiệu thi đua cho GV chứ không phải để cải tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy. Đây cũng là một trong những nguyễn nhân mà chúng tôi chọn việc nghiên cứu, xây dựng bộ công cụ lấy ý kiến đánh giá của SV và GV về chất lượng giảng dạy của Học viện – một đề tài chưa được thực hiện tại HV BC-TT mà hết sức có ý nghĩa về mặt thực tiễn.

2.2.4. Các hoạt động cải tiến chất lượng giảng dạy và chủ trương của Học viện

Thứ nhất, để cải tiến chất lượng giảng dạy, Học viện tiếp tục hoàn thiện bộ máy cơ cấu tổ chức khoa, ban phòng chức năng. Tăng cường đội ngũ GV chuyên ngành cả về số lượng và chất lượng. Thực hiện tốt kế hoạch tuyển dụng tạo nguồn hàng năm dựa trên Nghị quyết về công tác cán bộ của Đảng uỷ và các qui định của nhà trường. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ để thay thế cán bộ đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác và kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lí kế cận. Luôn quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ GV có trình độ chuyên môn cao. Tạo điều kiện, khuyến khích GV trẻ chủ động tìm các nguồn học bổng để đi học thạc sĩ và tiến sĩ ở trong nước và nước ngoài. Tiếp tục cho cán bộ tham gia theo học các lớp ngoại ngữ cơ bản và nâng cao do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Từng bước xây dựng các chuẩn về trình độ ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) và tin học cho cán bộ GV, đặc biệt là cán bộ trẻ. Phấn đấu nâng cao tỉ lệ cán bộ GV thông thạo ngoại ngữ để có thể trao đổi chuyên môn và giảng dạy bằng ngoại ngữ ở nhiều môn chuyên ngành. Tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho các GV có chức danh và học vị cao. Thu hút người tài và những nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước đến làm việc hoặc cộng tác với trường trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Thứ hai, trong những năm học tới, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giảng dạy cả bề rộng lẫn bề sâu. Liên tục mở các lớp tập huấn nâng cao năng lực sư phạm cho GV theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tự học, tự nghiên cứu của SV. Thêm vào đó các lý thuyết về dạy và học, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng về đánh giá học tập dựa trên các lý thuyết về đo lường trong giáo dục sẽ đặc biệt được chú trọng.

Thứ ba, chuẩn bị tốt lộ trình đào tạo theo học chế tín chỉ là một trong những chủ trương lớn của Học viện. Năm học 2026 – 2027 nhà trường dự định sẽ tổ chức các buổi hội thảo về đào tạo theo học chế tín chỉ. Hội thảo này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức của cán bộ, GV về tính ưu việt của hình thức đào tạo này. Bên cạnh đó, tiếp tục nghiên cứu để đổi mới chương tình đào tạo theo hướng tăng cường tính linh hoạt, mềm dẻo của chương tình nhằm đáp ứng quyền làm chủ quá trình đào tạo của SV và yêu cầu của xã hội. Phần lớn SV Học viện ra trường đều làm trong các cơ quan thuộc lĩnh vực tư tưởng văn hoá, truyền thông đại chúng, do vậy các môn học sẽ được xây dựng sát với thực tế nghề nghiệp hơn. Thời gian cho SV thực tập nghiệp vụ ở các báo, đài sẽ được sắp xếp dài hơn. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Thứ tư, nhà trường tiếp tục nâng cấp các thiết bị công nghệ thông tin để giúp việc giảng dạy của GV và học tập của SV trở nên thuận lợi hơn. Trong kì nghỉ hè vừa qua, nhà trường đã cho lắp đặt hệ thống loa, đài, bảng chiếu, máy chiếu ở 100% giảng đường. Đây là một sự cố gắng không nhỏ của Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện. Làm như vậy bắt buộc GV phải sử dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại đang được cho là bước đột phá cải tiến chất lượng giảng dạy. Nâng cấp trang thiết bị thông tin còn để thực hiện quá trình tổ chức quản lí đào tạo theo hệ thống tín chỉ sắp tới.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá. Xây dựng qui chế giảng dạy, học tập, qui trình ra đề thi, chấm thi cho cả hai hệ chính qui và tại chức. Có bộ phận chuyên trách giám sát, theo dõi việc thực hiện các qui chế đã ban hành. Từng bước xây dựng ngân hàng đề thi trắc nghiệm và tự luận cho hệ chính qui khi chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo tín chỉ. Thực hiện đánh giá một số chương trình đào tạo để quyết định mở rộng hoặc cắt giảm qui mô.

  • Kết luận chương 2

HV BC-TT là một cơ sở đào tạo đại học có bề dầy lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhà trường cũng đang dần lớn mạnh lên một cách vững chắc. Chất lượng đào tạo của nhà trường cũng từng bước được cải tiến. Mặc dù độ tuổi trung bình đội ngũ cán bộ giảng dạy Học viện khá cao nhưng không vì thế mà các thầy không theo kịp thời đại. Các phương pháp giảng dạy mới kết hợp với các phương tiện, thiết bị hiện đại cũng được nhiều thầy có tuổi sử dụng tốt. Mặc dù hoạt động đánh giá là một trong những hoạt động đóng vai trò quyết định trong việc cải tiến và nâng cao chất lượng giảng dạy nhưng chưa được nhà trường chú ý, quan tâm đúng mức. Nhận thức về vai trò của đánh giá trong giáo dục của lãnh đạo, cán bộ GV nhà trường chưa cao là một trong những tồn tại lớn nhất cần phải sớm được khắc phục. Có thể nói rằng, nếu có kế hoạch triển khai thực hiện tốt theo lộ trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đánh giá môn học, tự đánh giá .v..v. chất lượng đào tạo của Học viện sẽ được nâng lên một tầm rõ rệt. Luận văn: Thực trạng giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993