Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hệ thống đánh giá chất lượng các hoạt động giảng dạy đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy

Kết quả nghiên cứu ở Chương 1 đã chỉ ra: để đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy có thể đánh giá chất lượng giảng dạy môn học, đánh giá chất lượng khóa học. Đánh giá chất lượng giảng dạy môn học được thực hiện trên các góc độ đánh giá: a) Mục tiêu môn học; b) Nội dung môn học; c) Phương pháp giảng dạy; d) Tài liệu học tập; đ) Hoạt động kiểm tra, đánh giá. Đánh giá chất lượng giảng dạy của cả khóa học được thực hiện trên các góc độ đánh giá: a) Mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo; b) Cấu trúc chương trình đào tạo; c) Trang thiết bị dạy học; d) Hoạt động giảng dạy; đ) Đánh giá chung toàn khoá học.

Kết quả nghiên cứu ở Chương 1 cũng đã xác định các chỉ số cụ thể của các tiêu chí để có thể xây dựng thành các công cụ đánh giá. Như đã thảo luận ở trên, để đánh giá chất lượng giảng dạy môn học chỉ nên sử dụng 8 – 10 câu để SV trả lời trong 3 – 5 phút. Để đánh giá chất lượng giảng dạy của một khóa học có thể sử dụng 20 – 30 câu hỏi để thu thập ý kiến của giảng viên và cán bộ quản lý.

Áp dụng cụ thể vào hoàn cảnh Việt Nam và điều kiện của HV BC-TT, các tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng giảng dạy môn học được trình bày trong bảng 3.1.

  • Bảng 3.1. Các tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng giảng dạy môn học

Các tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng giảng dạy của cả khóa học được đề xuất trong bảng 3.2 trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương 1.

  • Bảng 3.2. Các tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng giảng dạy khóa học

Trên cơ sở các tiêu chí và chỉ số đánh giá trong các bảng 3.1 và 3.2, tùy theo phương pháp và đối tượng đánh giá sẽ xây dựng công cụ đánh giá cụ thể. Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

3.2 Các phương pháp và cách tiếp cận đánh giá

Như đã trình bày ở chương 1, để đánh giá môn học hay đánh giá chất lượng giảng dạy của cả khóa học có thể sử dụng nhiều phương pháp và cách tiếp cận khác nhau như sau:

  • GV tự đánh giá
  • Đánh giá của đồng nghiệp
  • Đánh giá của SV
  • Đánh giá của nhà quản lí
  • Đánh giá qua hồ sơ giảng dạy
  • Đánh giá qua quan sát của tổ trưởng chuyên môn
  • Đánh giá của các chuyên gia đánh giá ngoài
  • Đánh giá của các nhà tuyển dụng lao động .v..v.

Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi đã dùng phương pháp lấy ý kiến SV để đánh giá chất lượng môn học và lấy ý kiến GV, cán bộ quản lí để đánh giá chất lượng giảng dạy của cả khóa học.

Do thời gian thu thập thông tin quá ngắn nhưng số lớp học, số SV và GV khá lớn nên chỉ có thể thu thập thông tin bằng việc sử dụng phiếu hỏi.

3.3 Các công cụ đánh giá và kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền

3.3.1 Phiếu đánh giá và kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn học bằng ý kiến sinh viên Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

  • Phiếu hỏi và thang đo

Phiếu đánh giá chất lượng giảng dạy môn học gồm 10 câu hỏi được trình bày trong Phụ lục 1. Mỗi câu hỏi là một nhận định đòi hỏi SV phải cân nhắc và xác định mức độ đồng ý với nhận định đó theo thang đo Likert như sau:

  • Chọn mẫu:

Theo hoàn cảnh cụ thể của HV BC-TT, điều kiện huy động SV tham gia, một kế hoạch khảo sát ý kiến SV đã được lập ra.

Số phiếu phát ra: 1890 Số phiếu thu về: 1764

Như vậy, chúng tôi đã thu thập được 1764 ý kiến SV từ 27 lớp thuộc 15 khoa để đánh giá chất lượng giảng dạy 46 môn học.

  • Thử nghiệm và hoàn thiện phiếu hỏi

Để đảm bảo chất lượng của phiếu hỏi và hiệu quả của công tác đánh giá, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi đã thử nghiệm phiếu hỏi trên mẫu 160 sinh viên các lớp: Mạng điện tử K26 (27 SV) môn Kinh tế chính trị và Lao động nhà báo; Phát thanh K26 (26 SV) 2 môn: Lịch sử báo chí Việt Nam và Tác phẩm báo chí; Truyền hình K26 (27 SV) 2 môn Lí thuyết truyền thông và Văn học nước ngoài.

Các dữ liệu thu được bằng phiếu hỏi đã được nhập vào phần mềm thống kê khoa học xã hội (SPSS). Mức độ hài lòng của SV về chất lượng giảng dạy môn học là một đại lượng ẩn, không thể đo lường trực tiếp, nhưng khi trả lời các câu hỏi nếu SV có sự hài lòng cao sẽ có xác suất trả lời đồng ý với nhận định đưa ra cao hơn xác suất trả lời không đồng ý. Với một sự hài lòng chung với chất lượng giảng dạy môn học nhưng với những câu hỏi có yêu cầu cao thì xác suất để SV trả lời đồng ý với các nhận định đưa ra sẽ thấp hơn khi trả lời các câu hỏi có yêu cầu thấp hơn. Mô hình Rasch và phần mềm QUEST được sử dụng để đo mức độ hài lòng của SV về chất lượng giảng dạy môn học. Để sử dụng phần mềm QUEST, thang đo được chuyển đổi như sau:

Chương trình điều khiển để xử lý dữ liệu để trong Phụ lục 1C.

Xử lý dữ liệu và chạy chương trình QUEST để xác định độ tin cậy của bộ phiếu hỏi và sự phù hợp giữa các câu hỏi trong khoảng cho phép ta có kết quả như sau: Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

  • 1, Mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng môn học:
  • 2, Đặc tính về sự phù hợp của các câu hỏi :

Kết quả thử nghiệm cho thấy:

  • Các câu hỏi 2, 5, 7 cần sửa lại. Lý do:
  • Câu 2 được thiết kế: “Môn học được giảng giải rõ ràng, dễ hiểu”
  • Câu 5 được thiết kế: “Tư liệu học tập cho môn học được cung cấp đầy đủ”
  • Câu 7 được thiết kế: “Người học được khuyến khích học tốt”

Với cách thiết kế như vậy SV đã không hiểu các khái niệm một cách giống nhau dẫn đến các câu hỏi 2, 5, 7 rơi ra ngoài khoảng đồng bộ cho phép [INFIT MNSQ

Sửa chữa câu 2, 5, 7.

  • Câu 2: Môn học được giảng giải ràng, dễ hiểu (thuật ngữ, khái niệm được định nghĩa rõ ràng, trình bày logic).
  • Câu 5: Tư liệu học tập cho môn học được cung cấp đầy đủ (nguồn tài liệu phong phú, mới nhất).
  • Câu 7: Người học được khuyến khích học tốt (GV sẵn sàng giải đáp những thắc mắc, giúp học sinh liên tưởng những kiến thức cũ với những kiến thức sắp truyền đạt).

Sau khi sửa chữa, điều chỉnh nội dung các câu nằm ngoài khoảng đồng bộ thích hợp, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên diện rộng với 1764 SV thuộc 15 khoa trong trường cho 46 môn học khác nhau. Lớp SV có thể trùng nhau nhưng các môn học là riêng biệt. Điều này có nghĩa là mỗi môn học chỉ được đánh giá một lần và các môn học được sử dụng chung một công cụ để đánh giá.

Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn học bằng ý kiến sinh viên Kết quả thống kê tần suất trả lời của sinh viên

Trên cơ sở phiếu hỏi đã được chỉnh sửa, 1764 SV trả lời phiếu hỏi. Kết quả trả lời được thống kê trong bảng 3.3.

  • Bảng 3.3. Thống kê tần suất trả lời của SV Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Các kết quả chi tiết được trình bày trong Phụ lục 4. Kết quả thống kê cho thấy hầu hết SV đều đồng ý hoặc rất đồng ý với các nhận định đưa ra trong phiếu hỏi. Điều đó có nghĩa là SV đánh giá cao chất lượng giảng dạy của nhà trường.

  • Phân tích kết quả khảo sát bằng mô hình Rasch

Các thông tin, dữ liệu thu được đã được phân tích bằng mô hình Rasch (sử dụng phần mềm QUEST). Lúc này thang đo được mã hóa lại như sau:

  • Các kết quả thu được:

Các thông tin thống kê về dữ liệu đang được xử lý. Các thông tin này cho thấy độ tin cậy tính toán đạt 84% thể hiện các dữ liệu thu được có chất lượng cao, mặc dù có 02 SV không trả lời phiếu hỏi và 65 SV chọn phương án “hoàn toàn đồng ý” cho tất cả các câu hỏi nên đã bị loại. Mức độ hài lòng của SV sau khi tính toán được thể hiện trong sơ đồ sau:

1,Mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng giảng dạy môn học sau khi bảng hỏi đã được sửa chữa.

Như vậy, có khoảng 43% SV đánh giá chất lượng giảng dạy rất tốt, 47% đánh giá tốt, 9% còn phân vân và 1% đánh giá chưa tốt.

2, Sự phù hợp của các câu hỏi trong khoảng đồng bộ cho phép (sau khi bảng hỏi đã được sửa chữa)

Quan sát bảng phân bố sự phù hợp của câu hỏi với mô hình tính toán cho thấy tất cả các câu hỏi trong bảng hỏi đều nằm trong khoảng đồng bộ cho phép từ [-77 đến 1.30] điều này có nghĩa là sau khi điều chỉnh các câu hỏi trong bảng hỏi thì tất cả các câu hỏi đã đạt yêu cầu và có độ tin cậy cao.

Đại lượng tổng hợp để đo mức độ hài lòng của SV đối với chất lượng giảng dạy môn học có thể được mô tả như sau:

Bảng 3.4. Năm chỉ số tóm tắt về đại lượng đo mức độ hài lòng của SV đối với chất lượng giảng dạy môn học

  • Cũng có thể được trình bày theo dạng dưới đây: Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Những thông tin này, một lần nữa khẳng định: SV đã đánh giá chất lượng giảng dạy môn học cao hơn các yêu cầu trong phiếu hỏi. Hay nói cách khác, chất lượng giảng dạy môn học được đánh giá tốt.

  • So sánh sự khác nhau về mức độ hài lòng của SV với chất lượng giảng dạy môn học giữa các khoa

Sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) để xác định mức độ khác biệt của ý kiến đánh giá chất lượng giảng dạy môn học giữa các khoa cho thấy: mức độ khác biệt giữa các khoa là khá lớn và có ý nghĩa thống kê (Sig.= 0.000). Kết quả được thể hiện trong bảng 3.5.

  • Bảng 3.5. Phân tích phương sai kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn học theo khoa

So sánh giữa các khoa cho thấy chất lượng giảng dạy giữa các khoa được đánh giá rất khác nhau về giá trị trung bình cộng. Xem bảng 3.6.

  • Bảng 3.6. Mức độ hài lòng của SV về chất lượng giảng dạy của 15 khoa (xếp theo thứ tự giảm dần của giá trị trung bình cộng của mỗi khoa)

Như vậy, với 15 khoa được nghiên cứu đánh giá thì khoa Triết học của nhà trường được đánh giá có chất lượng giảng dạy tốt nhất (M = 2.05) vì Khoa Triết học có một bề dày lớn, được thành lập ngay từ giai đoạn đầu thành lập trường. Giảng viên của khoa đều là những người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và có thâm niên công tác cao. Tiếp theo khoa Triết học là các khoa Lịch sử Đảng, Nhà nước và Pháp luật. Nhóm các khoa có chất lượng giảng dạy được đánh giá khiêm tốn hơn là: Khoa Kinh tế, khoa Quan hệ công chúng và khoa Phát thanh truyền hình. Nhìn chung, các khoa này đều là những khoa còn non trẻ do mới được thành lập. Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giảng dạy giữa nhóm những khoa tốt nhất và nhóm những khoa kém hơn. Các khoa có chất lượng giảng dạy thuộc nhóm trung bình có Mean khá đồng đều, nằm trong khoảng (M = 1.12 đến 0.93).

Qua đây, ta thấy chất lượng giảng dạy giữa các khoa trong Học viện không đồng đều. Để chất lượng giảng dạy trong Học viện ngày càng tốt hơn, nhà trường cần có những chủ trương, chính sách và kế hoạch giám sát thực hiện triệt để hơn nữa các hoạt động giảng dạy. Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

So sánh sự khác nhau về mức độ hài lòng với chất lượng giảng dạy môn học giữa các lớp, giữa các môn học

  • Bảng 3.7. Phân tích phương sai kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn học theo lớp
  • Bảng 3.8. Phân tích phương sai kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy môn học theo môn

Hai bảng 3.7 và 3.8 cũng cho thấy chất lượng giảng dạy môn học được đánh giá rất khác nhau giữa các lớp và giữa các môn, và sự khác nhau đó có ý nghĩa thống kê (Sig. =0.00). Từ đây ta có được bảng xếp hạng các môn học dựa trên mức độ hài lòng của sinh viên.

  • Bảng 3.9. Mức độ hài lòng của SV về chất lượng giảng dạy theo 46 môn học (xếp theo thứ tự giảm dần của giá trị trung bình cộng của mỗi môn)

Rõ ràng, chất lượng giảng dạy các môn học tại HV BC-TT không đồng đều. Khoảng cách chất lượng giữa những môn giảng dạy tốt nhất và kém nhất tương đối xa. Một số môn học có giá trị Mean giống nhau nhưng độ lệch chuẩn lại khác nhau như: Ảnh tin và Quyền lực chính trị cầm quyền (M = 1.15; SE = 1.1 và 0.99); Lịch sử Tư tưởng chính trị và lịch sử Báo chí Việt Nam (M = 0.67; SE = 1.07 và 1.24; Nhập môn Báo mạng điện tử và Tác phẩm Báo chí (M = 0.59; SE = 0.63 và 0.88) cho thấy việc trả lời các câu hỏi của sinh viên các lớp cũng có sự khác nhau hay nói cách khác là việc trả lời có mức độ phân tán không giống nhau. Cụ thể là những môn học có SE càng lớn thì độ phân tán của người trả lời các câu hỏi càng lớn. Do cùng sử dụng một bộ phiếu hỏi nên số lượng sinh viên tham gia trả lời đã không ảnh hưởng đến các kết quả thu được.

3.3.2. Phiếu đánh giá và kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy khóa học bằng ý kiến giảng viên và cán bộ quản lý

  • Phiếu hỏi và thang đo

Phiếu đánh giá chất lượng giảng dạy khóa học gồm 36 câu được trình bày trong Phụ lục 2. Mỗi câu hỏi là một nhận định đòi hỏi SV phải cân nhắc và xác định mức độ đồng ý với nhận định đó theo các thang đo Likert 1- 4 và 1-3 như sau:

Tương tự như cách thử nghiệm phiếu đánh giá môn học dùng cho SV, chúng tôi tiếp tục tiến hành thiết kế và thử nghiệm với phiếu đánh giá chất lượng giảng dạy khoá học dùng cho GV và cán bộ quản lí.

Trước hết chúng tôi chọn 25/248 cán bộ giảng dạy và quản lí một cách ngẫu nhiên theo bảng lương của Ban tổ chức cán bộ cung cấp. Sau đó đề nghị số cán bộ giảng dạy và quản lí này trả lời các câu hỏi trong bảng hỏi đã được thiết kế dựa trên các tiêu chí và chỉ số ở trên. Tiếp theo đó dùng phần mềm QUEST để phân tích dữ liệu (Chương trình điều khiển để xử lý dữ liệu để trong Phụ lục 2C). Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Kết quả thử nghiệm (xem trang sau)

  • 1, Mức độ hài lòng của giảng viên và cán bộ quản lý về chất lượng giảng dạy khoá học
  • 2, Mức độ phù hợp của các câu hỏi trong khoảng đồng bộ cho phép

Kết quả cho thấy có một số câu hỏi nằm ngoài khoảng đồng bộ cho phép [0.71 – 1.40]. Đó là các câu hỏi số: 1, 2, 5, 6, 8, 10, 11, 13, 14, 17, 18 20, 29, 31, 32.

Trong quá trình thiết kế bảng hỏi cũng đã tính đến khả năng này nên đưa ra rất nhiều các chỉ số. Chính vì vậy, trong trường hợp này để làm cho các hỏi nằm trong khoảng đồng bộ cho phép chúng tôi chỉ cần loại bỏ các câu này đi. Một lí do khác là ở phần thiết kế công cụ đánh giá môn học chúng tôi đã chọn phương pháp sửa chữa các câu hỏi để xây dựng công cụ đánh giá đạt chất lượng tốt nên ở phần này chúng tôi đưa ra một phương pháp khác là phương pháp loại bỏ để làm ví dụ, nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy trong đo lường.

Sau khi loại bỏ các câu hỏi không nằm trong khoảng đồng bộ cho phép và khảo sát trên diện rộng hơn (N = 142) kết quả thu được dưới đây:

  • Kết quả thống kê tần suất trả lời của giảng viên và cán bộ quản lý

Trên cơ sở phiếu hỏi đã được chỉnh sửa, 142 GV và cán bộ quản lý trả lời phiếu hỏi. Kết quả trả lời được thống kê trong bảng 3.9.

  • Bảng 3.9. Thống kê tần suất trả lời của GV và cán bộ quản lý

Các kết quả chi tiết sẽ được trình bày trong Phụ lục 4. Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Kết quả thống kê cho thấy hầu hết GV và cán bộ quản lý đều đồng ý về cơ bản hoặc hoàn đồng ý với các nhận định đưa ra trong phiếu hỏi (58 %). Điều đó có nghĩa là GV và cán bộ quản lý đánh giá chất lượng chương trình của nhà trường chấp nhận được.

  • Phân tích kết quả khảo sát bằng mô hình Rasch

Rõ ràng, độ tin cậy của phiếu hỏi sau khi điều chỉ và loại bỏ một số câu hỏi đã trở nên rất tốt (92%). Trong số 142 người tham gia trả lời, không có ai bỏ trống phiếu trả lời cũng như không có ai cho rằng chương trình đào tạo của HV BC-TT là hoàn hảo hoặc quá tồi tệ.

Độ tin cậy của sự trả lời đạt giá trị cao, ở mức 85%. Như vậy, bộ công cụ được thiết kế để đánh giá chương trình đào tạo tại HV BC-TT rất tốt, có độ tin cậy và độ giá trị cao.

Cũng giống như ở bảng xác định độ phù hợp của các câu hỏi trong bộ công cụ, độ phù hợp hay mối tương quan giữa các trường hợp trả lời bảng hỏi cũng khá cao. Không có một trường hợp nào bỏ qua không trả lời hay lựa chọn toàn bộ mức độ hoàn hảo hảo nhất là “hoàn toàn đồng ý” cho các nhận định được nêu ra.

Thật vậy, với độ tính toán Case Estimates như trên có nghĩa là bộ công cụ chúng tôi thiết kế đạt độ tin cậy là 85%. Đối chiếu với lí thuyết về đo lường thì bộ công cụ này đạt yêu cầu, có thể yên tâm khi đem sử dụng đánh giá chất lượng giảng dạy khoá học tại HV BC-TT.

  • 1, Mức độ hài lòng của giảng viên và cán bộ quản lý về chất lượng giảng dạy khoá học (sau khi đã sửa bộ phiếu hỏi)
  • 2, Mức độ phù hợp của các câu hỏi trong khoảng đồng bộ cho phép (sau khi đã sửa bộ phiếu hỏi)

Sau khi đã loại bỏ những câu hỏi không phù hợp chúng ta đã có một bộ phiếu hỏi với những câu hỏi đảm bảo chất lượng và đều nằm trong khoảng đồng bộ cho phép. Nhìn vào bảng phân phối thể hiện mức độ hài lòng của những người tham gia trả lời bảng hỏi với chất lượng giảng dạy của nhà trường. Không phải ngẫu nhiên mà các GV trong Học viện chọn phương án trả lời “đồng ý một phần” và “đồng ý về cơ bản” cho việc thể hiện mức độ đồng tình của mình đối với các nhận định trong bảng hỏi về nội dung, cấu trúc, trang thiết bị, hoạt động giảng dạy ..v..v của nhà trường. Rõ ràng, chương trình đào tạo của Học viện Báo chí cần phải được đem ra xem xét và điều chỉnh lại. Có như vậy, toàn bộ bức tranh về chất lượng giảng dạy cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường mới được cải thiện.

  • Bảng 3.10. Năm chỉ số tóm tắt về đại lượng đo chất lượng giảng dạy khóa học bằng ý kiến GV và cán bộ quản lý

Bảng 3.10 cho thấy 50% số giảng viên trả lời phiếu hỏi cho rằng chất lượng giảng dạy năm trong khoảng từ [-0.38 đến 0.88], là khoảng biểu đồ thể hiện ý kiến “chất lượng giảng dạy chấp nhận được”.

Kết luận chương 3: Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

Chương 3 là qui trình thiết kế, thử nghiệm bộ công cụ đánh giá môn học và đánh giá chương trình dành cho HV BC-TT. Từ khâu xây dựng tiêu chí và các chỉ số đến việc thử các bảng hỏi trước khi khảo sát chính thức đã được trình bày cụ thể. Trong quá trình thiết kế và thử nghiệm chúng tôi đã đưa ra hai phương pháp nhằm điều chỉnh các câu hỏi chưa phù hợp trong bảng hỏi đó là phương pháp sửa chữa và phương pháp loại bỏ các câu hỏi. Đối với những bảng hỏi có ít câu hỏi như bảng đánh giá môn học nên sửa chữa các câu hỏi không phù hợp. Trong trường hợp bảng hỏi có nhiều câu hỏi có thể loại bỏ những câu hỏi không phù hợp. Một chú ý khác là tuỳ vào mục đích nghiên cứu ta nên thiết kế bảng hỏi dài với nhiều câu hỏi hay bảng hỏi ngắn với ít câu hỏi. Ở đây, khi điều tra khảo sát trên diện rộng với số lượng SV lên đến hàng ngàn chỉ nên thiết kế bảng hỏi với 10 câu hỏi.

Đối với bảng đánh giá chương trình dành cho GV và cán bộ quản lí với số lượng ít người tham gia trả lời cấn phải thiết kế bảng hỏi có nhiều câu hỏi (trên dưới 30 câu) để tăng độ tin cậy của kết quả đánh giá. Bằng việc thiết kế và thử nghiệm khoa học dưới sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính hiện đại, có thể nói chúng tôi đã thiết kế được bộ công cụ đáng tin cậy để đánh giá chất lượng giảng dạy môn học và đánh giá chất lượng giảng dạy khoá học của HV BC-TT.

Thật vậy, việc sử dụng bộ công cụ đánh giá cho biết: theo đánh giá của sinh viên, chất lượng giảng dạy tại Học viện đạt mức độ tốt (90%). Chỉ có 1% sinh viên cho rằng chất lượng giảng dạy hiện nay chưa tốt. Trong khi đó chỉ có 9% cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý cho rằng chất lượng chương trình đào tạo của nhà trường tốt. 81% cho là chấp nhận được và 10% cho rằng cần phải cố gắng nhiều do mới chỉ chấp nhận được một phần mà thôi. Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Hệ thống giảng dạy và đánh giá tại Học viện Báo chí […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993