Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môn Ngữ văn là môn học bắt buộc, quan trọng không chỉ đối với chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông nói chung mà còn là môn học góp phần xây dựng cho học sinh những phẩm chất cao đep như: Tình yêu đối với thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước, ý thức đối với cội nguồn, tự hào dân tộc, lòng nhân ái vị tha… Môn Ngữ văn hướng tới đào tạo con người toàn diện trong xã hội. Chính vì vậy mà đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông phải gắn liền với đổi mới dạy học Ngữ văn.
Vai trò quan trọng của môn Ngữ văn trong chương trình Giáo dục phổ thông không còn phải bàn cãi, nhưng thực trạng học, dạy và quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn còn nhiều vấn đề phải quan tâm. Trong những năm gần đây tình trạng học sinh không thích học môn Ngữ văn ngày càng có chiều hướng gia tăng, giáo viên cũng vì thế mà thiếu đi lòng nhiệt tình say mê với nghề nghiệp, cán bộ quản lí đôi khi vì thành tích giáo dục của nhà trường cũng chú trọng đầu tư hơn vào những môn Tự nhiên để nâng cao số lượng học sinh đỗ đại học (vì đây là những môn nhiều học sinh lựa chọn, nhiều cơ hội vào ĐH, tốt nghiệp đại học sinh viên có nhiều cơ hội việc làm hơn). Chính vì vậy, các môn Khoa học xã hội trong đó có môn Ngữ văn hiện nay tại các trường Trung học phổ thông (Trừ các trường chuyên Khoa học xã hội) đang bị buông lỏng.
Hơn nữa, môn Ngữ văn trong chương trình Giáo dục phổ thông hiện hành còn những hạn chế, bất cập như chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa đáp ứng nhu cầu về phát triển hình thành phẩm chất năng lực của học sinh, chưa coi trọng hướng nghiệp…. Vì thế đổi mới quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông hiện nay là việc làm cấp bách và cần thiết.
Xuất phát là một cán bộ quản lý đồng thời cũng là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn, tác giả luận văn luôn trăn trở và xác định được tầm quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý các hoạt động giảng dạy, đặc biệt là quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn làm sao để có thể giúp cho Nhà trường và các giáo viên hoàn thành nhiệm vụ “trồng người” cho xã hội đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh” để làm hướng nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng quản lý dạy học ở các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh theo chương trình hiện hành. Tác giả đề xuất biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh theo chương trình mới.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại Trường Trung học phổ thông Lương Tài và trường Trung học phổ thông Lương Tài số 2, tỉnh Bắc Ninh.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Theo chương trình giáo dục phổ thông mới thì công tác quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh có cần thay đổi hay không ?
Cần có các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn nào để đáp ứng sự đổi mới trong hoạt động quản lý đào tạo cho phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới?
5. Giả thuyết khoa học
Ngữ văn là một trong những môn học bắt buộc và có vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông Lương Tài tỉnh Bắc Ninh đang ngày càng được quan tâm tuy nhiên chất lượng vẫn còn hạn chế. Do vậy, cần phải có các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh để đáp ứng mục tiêu môn học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới cũng như phát triển năng lực học sinh trong giai đoạn hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý Hoạt động dạy học và Hoạt động dạy học môn Ngữ văn.
- Đánh giá thực trạng về quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình hiện hành ở các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu khảo sát thực tiễn quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh: Trường Trung học phổ thông Lương Tài và trường Trung học phổ thông Lương Tài số 2.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận
Tìm kiếm, phân tích, khái quát hóa, tổng hợp các tài liệu liên quan đến Hoạt động dạy học và quản lý Hoạt động dạy học nói chung để làm rõ các khái niệm và xây dựng khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát Hoạt động dạy học và QL Hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn để đánh giá thực trạng Hoạt động dạy học và QL Hoạt động dạy học ở các trường này làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng trình giáo dục phổ thông mới cho Cán bộ quản lý trong các nhà trường. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thiết kế phiếu điều tra, Phát phiếu điều tra và phân tích kết quả.
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm GD: Tổng hợp các kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy học nói chung tại một số trường Trung học phổ thông trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh để làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu hồ sơ chuyên môn của GV, hồ sơ của tổ chuyên môn của BGH, Báo cáo sơ kết học kỳ, tổng kết năm học của nhà trường từ năm học 2021 – 2022 đến 2024 –2025 để tác giả có cơ sở đánh giá nhận định thực trạng Hoạt động dạy học và QL Hoạt động dạy học tại các trường Trung học phổ thông trong huyện Lương Tài.
9. Đóng góp của đề tài
9.1 Về mặt lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa được một số vấn đề về lý thuyết liên quan đến đề tài đồng thời thiết lập được cơ sở lý luận về quản lý các hoạt động dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới.
9.2. Về mặt thực tiễn
Khảo sát và đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình hiện hành tại các trường trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; Từ đó chỉ ra những hạn chế cần khắc phục và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý hoạt động đào tạo trong xã hội hiện nay.
10. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có 3 chương. Ngoài ra là phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông
- Chương 2: Thực trạng QL Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Chương 3: Các biện pháp QL Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI TẠI TRƯỜNG Trung học phổ thông
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu ngoài nước
Giáo dục là chức năng của xã hội loài người, chức năng đó được thực hiện một cách tự giác, và ở bất cứ thời đại nào, quốc gia nào các nhà khoa học cũng quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu về giáo dục đã có từ hơn hai ngàn năm trước đây, trong đó có sự quan tâm đặc biệt đến quản lý giáo dục. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau áp dụng vào thực tế và có những thành công đáng kể về quản lý giáo dục. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Từ lâu vấn đề quản lý, nhất là Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm. Việc chú trọng vào các biện pháp nhằm nâng cao hoạt động dạy học trong nhà trường luôn giữ vị trí quan hàng đầu. Về công tác quản lý GD đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của các nhà nghiên cứu nước ngoài có thể kể đến như: Socate (469-399 – TCN), Platon (427-347 – TCN), Nicola Copecnich (1473-1543), F. Taylo ( 1841-1925); Khổng Tử ( 551-479 TCN), Mạnh Tử (372-289 – TCN)… Tư tưởng quan điểm của những nhà khoa học, triết học nói trên đã ảnh hưởng rất lớn đến khoa học quản lý, đặc biệt là sự nghiệp phát triển giáo dục của thế giới.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý Hoạt động dạy học. Đặc biệt là các tác giả: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Xuân Hải… Các công trình khoa học của các tác giả trên có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn được ứng dụng rộng rãi trong thực tế giáo dục và mang lại kết quả to lớn trong phát triển sự nghiệp giáo dục của Việt Nam. Yêu cầu đổi mới cơ bản của nền giáo dục Việt Nam là chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang việc hình thành năng lực phát huy tính chủ động sáng tạo của người học.
Trong đó đổi mới hoạt động dạy học môn Ngữ văn đã được một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu của tác giả Trần Đình Sử về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn. Đó chính là đổi mới về quan điểm dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá. Còn theo tác giả Bùi Mạnh Hùng ( Đại học Sư phạm TPHCM) việc đổi mới hoạt động dạy học môn Ngữ văn, phải được xuất phát từ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng chương trình Ngữ văn từ đó mới theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học, xuất phát từ đặc trưng môn học và mục tiêu giáo dục. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Về đổi mới chương trình Ngữ văn trong chương trình giáo dục phổ thông mới, không thể không nhắc đến tác giả Đỗ Ngọc Thống ( Vụ Giáo dục trung học, bộ GD và ĐT) với những công trình nghiên cứu: “Chương trình Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng phát triển 2021”; “Đổi mới căn bản toàn diện chương trình Ngữ văn; đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn”. Trong các công trình này, tác giả đã nêu ra những quan niệm khoa học về “ Năng lực và đánh giá năng lực”, khái quát đánh giá năng lực cơ bản của bộ môn đó là: Năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản. Tác giả Đỗ Ngọc Thống cho thấy những mục tiêu chính và tầm quan trọng của đánh giá chất lượng Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp rất cụ thể để hoạt động đánh giá theo năng lực có hiệu quả thiết thực.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước chủ yếu đi sâu nghiên cứu về lý luận có tính chất tổng quan về quản lý giáo dục, quản lí trường học, đổi mới phương pháp, đổi mới kiểm tra đánh giá, về hoạt động dạy và học môn Ngữ văn. Tuy nhiên, hiện nay tại các trường Trung học phổ thông nhu cầu đổi mới công tác quản lý Hoạt động dạy học, trong đó có quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn là rất lớn. Nhiều học viên cao học học quản lý giáo dục đã đi vào nghiên cứu thực trạng quản lý Hoạt động dạy học ở các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác quản lý Hoạt động dạy học như:
Luận văn: “Biện pháp quản lí hoạt động dạy học theo đổi mới phương pháp ở các trường Trung học cơ sở huyện Ninh Giang- tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Thị Phương. Trong luận văn này, tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phải đảm bảo quan điểm “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, hoặc “Dạy học tích cực hóa hoạt động của người học” và phải lấy việc bồi dưỡng, chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện đổi mới Phương pháp dạy học tại lớp, bộ môn…là khâu then chốt. [tr91]. Cũng viết về tài quản lí hoạt động dạy học, tác giả Hoàng Thị Kim Hoạt đã thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ với đề tài:
“Biện pháp quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông Đình Lập tỉnh Lạng Sơn”. Theo tác giả: vấn đề lý luận trong quản lý dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường và qua việc đánh giá thực trạng công tác quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông để từ đó chỉ ra những mặt hạn chế cần phải khắc phục [Tr. 4]. Ngoài ra còn rất nhiều các đề luận văn Thạc sĩ đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông như đề tài: “Quản lí Hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông Lê Qúy Đôn, Hà Đông, Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” của tác giả Nguyễn Gia Khánh; Quản lí DH môn Sinh học ở các trường Trung học phổ thông thành phố Điện Biên tỉnh Điện Biên đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục của tác giả Lê Thúy Hòa…
Tuy nhiên nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường Trung học phổ thông thì chưa có đề tài quản lý giáo dục nào đề cập đến. Từ thực trạng Hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông trong huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là chất lượng và kết quả học tập môn Ngữ văn của các nhà trường còn hạn chế. Với những băn khoăn của một giáo viên, cán bộ quản lý được phân công phụ trách công tác chuyên môn môn Ngữ văn tôi nhận thấy nghiên cứu về quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh là rất thiết thực và cần thiết. Từ cơ sở lý luận của công tác quản lý Hoạt động dạy học và thực trạng của HĐ quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn tác giả đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động dạy môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
1.2. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục
- Quản lý
Khái niệm quản lý và hoạt động quản lí luôn là một vấn đề nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Quản lý và hoạt động quản lý được bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Hoạt động quản lý giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp với sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt được mục tiêu đề ra.
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Trong nghiên cứu, chúng ta thường sử dụng một số khái niệm như: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” ( Các Mác)[ 4,tr15 ].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [ 19,tr24 ].
Còn Trần Kiểm thì cho rằng: “quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [11,tr18].
Những định nghĩa trên mặc dù khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhưng đều thể hiện những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Chức năng quản lý:Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý. Các nhà nghiên cứu không đưa ra con số cụ thể về số lượng các chức năng quản lý.
Tất cả các chức năng quản lý đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch ; thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến hoạt động của tổ chức và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức.
Các chức năng nêu trên lập thành chu trình quản lý. Chủ thể quản lý khi triển khai hoạt động quản lý đều thực hiện chu trình này.
Sơ đồ 1.1: Các chức năng trong chu trình quản lý
- Quản lý giáo dục
Các nhà khoa học đã xếp quản lý giáo dục thuộc chuyên ngành Khoa học xã hội. Mỗi xã hội đều có một nền giáo dục khác nhau và cách quản lý khác nhau, chính vì vậy khái niệm quản lý giáo dục được hình thành theo nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và coi quản lý giáo dục như một loại “xí nghiệp đặc biệt”.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản lý văn hoá tư tưởng như A.G. Afanaxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển nổi tiếng của mình: “Con người trong quản lý xã hội”.
Ở Việt Nam, giáo dục và quản lý giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chính vì vậy Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã nêu: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [28, tr50] Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục thực chất là tác Thông tin Chỉ đạo Kiểm tra Tổ chức, Tổ chức Kế hoạch hoạt động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường Trung học phổ thông xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”[17, tr32].
Những ý kiến trên về quản lý giáo dục đồng nhất về quan điểm chung về quản lý đều thể hiện một quan điểm chung về quản lý giáo dục đó là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
1.2.2. Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
1.2.2.1 Khái niệm
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhà trường: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [11, tr29] – Trần Kiểm
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”[19, tr34]
Công tác quản lý trường học là vô cùng quan trọng, bao gồm sự quản lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường.
Quá trình giáo dục của nhà trường được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
1.2.2.2. Quản lý trường Trung học phổ thông
Trường Trung học phổ thông có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ của cấp học.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường phổ thông là tập hợp các tác động tối ưu (công tác tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận dụng nguồn nhân lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và do hoạt động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, mục tiêu đề ra”.
1.2.3. Hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là hệ thống những hoạt động phối hợp tương tác giữa GV và HS. Trong hoạt động này, giáo viên là người tác động chủ đạo, học sinh tự giác tích cực chủ động chiếm lĩnh hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách. Hoạt động dạy học có ba đặc trưng cơ bản sau: Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Dạy học là một hoạt động kép gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS trong đó giáo viên giữ vai trò chủ đạo dạy hướng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học thành công; HS giữ vai trò chủ động tự giác tích cực độc lập và sáng tạo.
- Hai hoạt động dạy và học cùng hướng đến mục tiêu hoạt động dạy học.
Như vậy, hoạt động dạy học môn Ngữ văn là một hoạt động và quá trình rất công phu, phải dạy cho HS trưởng thành trong năng lực đọc, viết, nói và nghe. Vì vậy phương pháp dạy và sự tham gia trực tiếp của học sinh vào quá trình này có ý nghĩa quyết định then chốt đối với thành công của bộ môn. Hệ thống hoạt động dạy học, các hoạt động trên lớp của HS ngày càng được đánh giá cao. Người thầy dạy văn không phải là chuyên gia mà là người bạn đọc giàu kinh nghiệm đứng cùng để khi cần có thể giúp khơi gợi cho HS đọc hiểu chứ không làm thay HS. Người dạy cần tìm tòi các phương pháp kích thích HS chủ động tham gia vào quá trình học, đọc và kiến tạo nghĩa. Phải sáng tạo tình huống, hoặc gợi ý để tạo nên sự gặp gỡ giữa HS với các sự kiện trong văn bản, từ đó giúp học sinh hiểu và vận dụng để tạo lập văn bản.
1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học
- Khái niệm
Quản lý hoạt động dạy học là một trong những nội dung quản lý quan trọng nhất ở trường Trung học phổ thông. Việc quản lý hoạt động dạy học có thể tiếp cận theo những định hướng khác nhau, tùy thuộc mục đích, yêu cầu của các chủ thể quản lý. Quản lý hoạt động dạy học là quá trình người đứng đầu nhà trường hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động dạy học của giáo viên nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản của người hiệu trưởng. Nó chiếm thời gian và công sức rất lớn của hiệu trưởng, bởi vì nhiệm vụ hàng đầu của quản lý hoạt động dạy học là quản lý có hiệu quả các thành tố cấu trúc của hoạt động dạy học, cần phải tạo điều kiện và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa giáo viên và học sinh nhằm xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp kế hoạch, áp dụng hài hòa các phương pháp, tận dụng các phương tiện và điều kiện hiện có, tổ chức linh hoạt các hình thức dạy học.
- Để quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau:
Quản lý khâu chuẩn bị của GV: Trước hết GV phải phân tích được các nhu cầu như vị trí môn học, đối tượng học, nhu cầu xã hội, nhu cầu đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và phải chuẩn bị chu đáo hồ sơ giảng dạy trước khi lên lớp.
Quản lý khâu thực thi của GV: Là quản lý KH giảng dạy, thực hiện nội dung chương trình, mục tiêu bài học, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Quản lý khâu đánh giá: Quản lý việc đánh giá của GV là một khâu quan trọng. Vì sau mỗi tiết dạy cần phải đánh giá việc đã làm được và chưa làm được để rút kinh nghiệm cho những tiết dạy sau .
- Quản lý hoạt động học
Học tập là một hoạt động nhận thức, chỉ khi có nhu cầu hiểu biết học sinh mới tích cực học tập. Nhu cầu hiểu biết đó chính là động cơ nhận thức mà hoạt động học tập phải tạo ra cho học sinh. Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy – học, vì vậy, quản lý hoạt động học của học sinh là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Hiệu trưởng cần thấy rõ quản lý hoạt động học tập của học sinh phải bao quát được cả không gian và thời gian học tập để điều hòa cân đối chung. Điều khiển chúng hoạt động phù hợp với tính chất và qui luật hoạt động dạy và học. Không gian hoạt động học tập của học sinh là từ trong lớp, ngoài lớp đến ở nhà. Thời gian hoạt động học của học sinh bao gồm giờ học trên lớp, giờ học ở nhà và thời gian thực hiện các hình thức học tập khác. Vấn đề quản lý hoạt động học tập của học sinh đặt ra với hiệu trưởng không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Để thực hiện tốt việc quản lý học tập của học sinh người lãnh đạo cần lưu ý tới các vấn đề cơ bản sau:
- Quản lý khâu chuẩn bị: Người học phải xác định được tầm quan trọng của việc học, vị trí của môn học để có thái độ động cơ học tập và có sự chuẩn bị chu đáo về bài học trước khi được lĩnh hội từ bài giảng của GV
- Quản lý khâu thực thi: Quản lý hoạt động học của HS trong giờ lên lớp về ý thức thài độ, khả năng tiếp thu bài học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý khâu đánh giá: Trong quá trình nhận thức của HS có rất nhiều mức độ khác nhau do phương pháp và ý thức học tập của HS. Do vậy cần phải kiểm tra đánh giá một cách chính xác để có cách điều chỉnh kịp thời trong hoạt động dạy của GV.
Như vậy Quản lý Hoạt động dạy học ở trường phổ thông là quản lý một quá trình bao gồm nhiều yếu tố như: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học nhằm hướng tới nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông.
1.2.5. Quản lý HĐ DH môn Ngữ văn theo định hướng CT Giáo dục phổ thông mới.
Quản lý HĐ DH môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới là quá trình nhà quản lý tổ chức, điều khiển, giám sát, đánh giá hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS theo đúng mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Hướng tới nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu được đặt ra đối với bộ môn trong chương trình mới.
1.3. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông theo định hướng CTGDPT mới Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
1.3.1. Môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông trong chương trình Giáo dục phổ thông mới
Môn Ngữ văn là môn học bắt buộc trong hoạt động giáo dục của nhà trường phổ thông. Đây là môn học có những đặc điểm riêng, không giống với những môn học khác, nó được chia thành các phân môn như: Tiếng Việt, Làm văn, Đọc-hiểu tác phẩm văn học (thơ và văn xuôi). Vì vậy, dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường Trung học phổ thông nắm chắc đặc điểm của từng phân môn này:
- Dạy học Tiếng Việt: Giúp HS có năng lực về ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết)
- Dạy học làm văn: Hoàn thiện cho HS kiến thức về văn bản và đặc điểm của văn bản, khả năng tạo lập văn bản. Rèn kỹ năng viết bài văn nghị luận theo đúng cấu trúc ( mở bài, thân bài, kết bài ). Biết tìm ý và triển khai ý, sắp xếp các ý trong bài văn một cách hợp lý. Biết hành văn trong sáng trôi chảy. Đồng thời biết vận dụng một cách hợp lý các thao tác nghị luận và các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận.
- Dạy học Đọc – hiểu tác phẩm văn học
Với Thơ: Thơ là loại hình nghệ thuật đặc biệt, là tiếng nói của tâm hồn được thể hiện bằng những ngôn từ có giá trị thẩm mỹ cao, góp phần bồi đắp tư tưởng tình cảm của con người. Cho nên dạy thơ phải nắm rõ đặc trưng của thơ, cảm nhận được vẻ đẹp, về giá trị nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa tư tưởng của văn bản thơ.
Với tác phẩm văn xuôi: Là dạy cho HS cách cảm thụ tác phẩm, hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại… Giúp HS đưa hình tượng nghệ thuật vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể hiện đồng cảm. Giúp HS nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn hóa tư tưởng đời sống và truyền thống nghệ thuật.
Như vậy hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông cần bám sát vào đặc trưng của từng phân môn cụ thể để có phương pháp dạy học phù hợp giúp cho HS không chỉ có kiến thức cần thiết mà còn rèn cho các em các kỹ năng đọc, viết, nói nghe.
1.3.2 Mục tiêu và yêu cầu dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Mục tiêu
Hoạt động dạy học môn Ngữ văn trong chương trình Giáo dục phổ thông mới là hướng tới hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất cao đẹp như lòng yêu nước,lòng nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm: bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với tiếng Việt và văn học, ý thức về cội nguồn và bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam; giúp học sinh thấy rõ vai trò và tác dụng của môn học đối với đời sống con người, có thói quen và nhu cầu đọc sách có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại,có khả năng hội nhập quốc tế, có ý thức và tác phong của một công dân hiện đại.
Hoạt động dạy học môn Ngữ văn còn hướng tới mục tiêu tiếp tục phát triển năng lực giao tiếp đã được hình thành ở bậc học trước. Thông qua kiến thức phổ thông nền tảng, có tính hệ thống và sâu rộng hơn về văn học, tiếng Việt, giúp cho HS có năng lực, kiến thức cho cấp học cao hơn
- Yêu cầu
Về phẩm chất: Hoạt động dạy học môn Ngữ văn hình thành và phát triển cho HS các phẩm chất cao đẹp như: Lòng yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm với các biểu hiện như biết yêu thiên nhiên trong cuộc sống cũng như trong văn học, chủ động vận động người khác bảo vệ thiên nhiên. Yêu quý tự hào về truyền thống quê hương, sẵn sàng đấu tranh vì quê hương đất nước. Biết quan tâm đến người thân, tôn trọng bạn bè, thầy cô, biết nhường nhịn, bao dung có ý thức học tập vươn lên để trở thành con người có ích cho xã hội. Có hứng thú học tiếng Việt, ham thích đọc sách báo tự giác rèn luyện nâng cao vốn sống vốn hiểu biết để làm chủ cuộc sống trong tương lai…Trung thực và có trách nhiệm trong học tập, sinh hoạt hàng ngày; mạnh dạn tự tin, có ý thức tôn trọng các quy định chung, sống và làm theo đúng pháp luật, có ý chí vượt qua khó khăn thử thách…xứng đáng là một công dân toàn cầu. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Về năng lực: hoạt động dạy học môn Ngữ văn góp phần hình thành và phát triển toàn diện các năng lực chung như: Năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Ngoài ra môn Ngữ văn còn có một số năng lực chuyên biệt như: Năng lực ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và năng lực văn học.
1.3.3. Nội dung dạy học môn Ngữ văn
Môn ngữ văn là môn học quan trọng giúp học sinh phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, là môn cơ sở để học sinh có thể học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường đồng thời còn giáo dục cho các em những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc, xây dựng cho các em những tình cảm cao đẹp những cảm xúc lành mạnh trong sáng.
- Trên cơ sở đó, nội dung dạy học môn Ngữ văn đã được xây dựng tập trung vào các yếu tố sau:
Chương trình lấy việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp ( đọc, viết, nói, nghe) làm trục chính xuyên suốt trong cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và đảm bảo tính nhất quán, liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học.
- Đọc bao gồm yêu cầu đọc đúng và đọc hiểu trong đó yêu cầu đọc hiểu bao gồm các yêu cầu hiểu văn bản và hiểu chính mình.
- Viết không chỉ yêu cầu học sinh biết viết chữ viết câu viết đoạn mà tạo ra được các kiểu loại văn bản từ đơn giản đến phức tạp.
- Nói và nghe căn cứ vào nội dung của đọc và viết để luyện tập cho học sinh trình bày, nói và nghe tự tin, có hiệu quả; từ nói đúng cho đến nói hay.
Hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng tiếng Việt và văn học được tích hợp vào hoạt động dạy đọc, viết, nói, nghe bao gồm:
- Kiến thức về tiếng Việt : Ngữ âm và chữ viết; Từ vựng; Ngữ pháp; Hoạt động giao tiếp.
Kiến thức văn học: Những vấn đề chung về văn học; Thể loại văn học; Các yếu tố của tác phẩm văn học; Một số hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam.
Bên cạnh các yêu cầu cần đạt và nội dung dạy học cơ bản nội dung dạy học còn có một số chuyên đề học tập lựa chọn nhằm đáp ứng yêu cầu cho những học sinh có niềm đam mê và sở trường với những môn khoa học xã hội và nhân văn.
Thông qua các văn bản ngôn từ và hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học bằng hoạt động đọc, viết, nói, nghe, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những tình cảm và phẩm chất tốt đẹp và các năng lực, kĩ năng cần thiết để sống và làm việc hiệu quả. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Nội dung dạy học môn Ngữ văn cùng với các môn học khác góp phần vào việc hình thành phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu như : yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách đặc biệt là giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; có tình yêu đối với tiếng Việt và văn học; có ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc, ý thức góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá Việt Nam; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và khả năng hội nhập quốc tế.
Nội dung dạy học môn Ngữ văn góp phần cùng các môn học khác hình thành, phát triển ở học sinh các năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; đặc biệt là giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản và cách ứng xử của một người có văn hoá.
Nội dung dạy học môn Ngữ văn được xây dựng theo hướng mở; không quy định chi tiết về nội dung dạy học và các văn bản cụ thể, mà chỉ quy định những yêu cầu cần đạt về đọc, viết, nói và nghe cho mỗi lớp; quy định một số kiến thức cơ bản, cốt lõi về văn học, tiếng Việt và một số văn bản quan trọng của văn học dân tộc là nội dung thống nhất bắt buộc đối với học sinh toàn quốc.
1.3.4. Mối quan hệ giữa Hoạt động dạy học và chương trình giáo dục phổ thông
Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác. Xem xét hoạt động của thầy đều có liên quan đến hoạt động của trò và ngược lại. Nhìn từ góc độ tính chủ thể của hoạt động sư phạm, để hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS được tiến hành thì không thể thiếu vai trò của chủ thể. Trong hoạt động dạy học, chủ thể hoạt động là người dạy (giáo viên) và người học (học sinh). Người học là chủ thể của hoạt động học, người dạy là chủ thể của hoạt động dạy. Thầy và trò là những chủ thể cùng nhau hoạt động, duy trì, tiếp nối hoạt động. Đối tượng của hoạt động học tập là lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Mục tiêu của hoạt động dạy học là hình thành và phát triển nhân cách, năng lực của người học. Chính vì hoạt động dạy và học có chung mục tiêu cho nên hoạt động dạy và học luôn tương tác trong mối quan hệ “cung – cầu”, “nhân – quả”… Không thể nói đơn giản thầy hay trò đóng vai trò “chủ động” hay “thụ động”. Đã là hoạt động thì tính chủ động là thuộc tính của cả hai bên. Thầy tích cực, chủ động trong hoạt động dạy và trò tích cực, chủ động tham gia hoạt động học. Hoạt động dạy học của GV mang ý nghĩa là phương tiện, là công cụ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động học của HS đúng hướng và hiệu quả. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Chương trình giáo dục phổ thông được thiết kế theo hệ thống cho hoạt động giáo dục, đào tạo của một khoá học trong một khoảng thời gian xác định, gồm các yếu tố:
- Mục tiêu đào tạo
- Nội dung cần đào tạo
- Quy trình và các phương pháp triển khai thực hiện
- Phương thức kiểm tra – đánh giá
Hoạt động dạy học và chương trình giáo dục phổ thông có mối liền hệ tương tác với nhau. Chương trình là cơ sở nền tảng mà người dạy lấy đó làm nội dung phương tiện người học làm mục tiêu lĩnh hội tri thức
1.3.5. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Môn Ngữ văn là môn học cơ bản trong nhà trường phổ thông, có nhiệm vụ đào tạo cho người học năng lực đọc hiểu các văn bản và viết được các văn bản thông dụng, từ đó hoàn thiện năng lực tư duy, năng lực đọc hiểu và văn học viết, nắm bắt chính xác thông tin qua các văn bản, tích cực tham gia vào quá trình giao tiếp xã hội. Trong nhà trường phổ thông học tốt văn là điều kiện để học tốt các môn học khác, bởi tiếng Việt là nền tảng để tiếp nhận mọi tri thức trong nhà trường. Đó chính là năng lực rất quan trọng mà không bộ môn nào thay thế được môn Ngữ văn. Không phải vô cớ mà môn Ngữ văn có một vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông từ tiểu học đến trung học.
Chương trình Ngữ văn mới tích hợp những văn bản tiêu biểu cho các thể loại và kiểu văn bản đã được tuyển chọn trong chương trình hiện hành. Hoạt động dạy học môn Ngữ văn nói chung, theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới nói riêng luôn phải bám sát vào nhiệm vụ môn học. Chương trình giáo dục phổ thông mới sắp được áp dụng đối với hệ thống giáo dục Trung học phổ thông có nhiều cải tiến phù hợp với nhu cầu đào tạo con người của xã hội và thời đại hiện nay nhưng không phủ nhận những giá trị mang tính truyền thống. Cho nên Hoạt động dạy học cần phải bám sát vào chương trình lấy đó làm cơ sở, nền tảng kiến thức mà học sinh cần tiếp thu, lĩnh hội.
Dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới khuyến khích HS trao đổi và tranh luận. HS được bộc lộ những suy nghĩ của mình, dù đánh giá học sinh theo hình thức nào cũng phải đảm bảo nguyên tắc HS được bộc lộ, thể hiện phẩm chất năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mỹ và những suy nghĩ của chính các em.
Như vậy Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới phải đáp ứng được những mục tiêu đã được đề ra cho bộ môn và cho nhiệm vụ đổi mới giáo dục.
1.4. Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông theo định hướng CTGDPT mới Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
1.4.1. Nội dung quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Chương trình giáo dục phổ thông thực hiện mục tiêu giáo dục hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thông qua các nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học tự nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp. Dựa vào mục tiêu giáo dục chung và yêu cầu cần mỗi môn học và hoạt động giáo dục trong từng chương trình cụ thể cần xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực và nội dung giáo dục của môn học, hoạt động giáo dục đó. Chương trình giáo dục phổ thông mới được chia thành hai giai đoạn: Giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp. Cả hai giai đoạn này đều được phân bổ các môn học tự chọn; đến giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp phân bổ thêm các môn học và chuyên đề học tập lựa chọn, nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển tiềm năng, sở trường của mỗi học sinh.
Giai đoạn giáo dục cơ bản Môn Ngữ văn (Tiếng Việt) giúp học sinh sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học và hoạt động giáo dục khác; hình thành và phát triển năng lực văn học, một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ; đồng thời bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm để học sinh phát triển về tâm hồn, nhân cách – Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Môn Ngữ văn củng cố các mạch nội dung của giai đoạn giáo dục cơ bản, giúp học sinh nâng cao năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, nhất là tiếp nhận văn bản văn học; tăng cường kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận, văn bản thông tin có độ phức tạp hơn về nội dung và kĩ thuật viết; trang bị một số kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học có tác dụng thiết thực đối với việc đọc và viết về văn học”. [ 21; tr14,15]
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn là quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường và một số nhiệm vụ khác cụ thể như:
Xây dựng kế hoạch dạy học của bộ môn: Tổ chức chỉ đạo tổ chuyên môn, rà soát, sắp xếp các bài dạy, tiết dạy theo một hệ thống phù hợp như theo chủ đề, thể loại hoặc giai đoạn sáng tác để có phương pháp dạy phù hợp và thống nhất theo kế hoạch sau khi nhóm chuyên môn thảo luận đóng góp ý kiến.
Xây dựng kế hoạch và tổ chức hướng dẫn cho giáo viên dạy Ngữ văn về mục tiêu, nội dung, phương pháp, cách tổ chức dạy và học, cách đánh giá kết quả của bộ môn theo mục tiêu mà chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra.
Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất như trang thiết bị cho công tác dạy và học, bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Ngữ văn.
Kết hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường như Công đoàn, đoàn thanh niên và các lực lượng ngoài xã hội, Hội cha mẹ HS…Trong việc tổ chức kiểm tra, đánh giá, tổ chức các hoạt động ngoại khóa trải nghiệm để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Quản lý việc triển khai xây dựng kế hoạch dạy học môn Ngữ văn
Kế hoạch dạy học môn Ngữ văn phải được dựa trên việc xác định mục tiêu dạy môn Ngữ văn và đối tượng HS ở mỗi trường Trung học phổ thông, điều kiện cụ thể của nhà trường. Xây dựng KH dạy học bộ môn cũng cần xây dựng các chủ đề dạy học phù hợp với từng đối tượng HS và khắc phục những hạn chế của chương trình cũ để có hướng tiếp cận tốt nhất với chương trình mới.
Cán bộ quản lý giúp GV dạy môn Ngữ văn xác định mục tiêu năm học cho từng khối lớp. Cán bộ quản lý cùng với GV bộ môn tìm ra các biện pháp để đạt được kết quả cao nhất cho những mục tiêu đã đề ra.
Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn là quản lý GV thực hiện theo đúng phân phối chương trình đánh giá kết quả thực hiện của GV qua mỗi đợt theo dõi để kịp thời khắc phục những hạn chế.
- Cán bộ quản lý phân công giáo viên giảng dạy
Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn của cán bộ quản lý còn được thể hiện ở sự phân công GV giảng dạy cho từng lớp học theo đúng năng lực thực tế của từng người. Linh hoạt trong việc chuyển đổi các khối lớp để GV có điều kiện phát huy khả năng , sở trường, khắc phục dần những hạn chế yếu kém, tích lũy nâng cao kinh nghiệm , năng lực chuyên môn.
Lưu ý: Việc phân công giảng dạy phải kết hợp với hiệu phó phụ trách chuyên môn, tổ trưởng chuyên môn, sự phân công phải dân chủ, khách quan đảm bảo đúng người, đúng việc tránh xảy ra hiện tượng GV thắc mắc, tiêu cực.
- CBQL tập trung chỉ đạo GV chuẩn bị bài dạy và lên lớp
Khâu GV chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp là khâu vô cùng quan trọng. Mỗi bài học lại có mục đích yêu cầu riêng GV phải nắm rõ cùng với phương pháp và kiến thức vận dụng để thiết kế nên mỗi bài giảng. Việc thiết kế mỗi bài giảng trước khi lên lớp phải được duyệt qua tổ chuyên môn và phải đảm bảo theo đúng kế hoạch bộ môn đã được tổ chuyên môn xây dựng.
CBQL là người cần phải chỉ đạo những công việc sau:
- Chỉ đạo GV thực hiện đúng yêu cầu trước khi lên lớp như soạn bài, chuẩn bị phương tiện dạy học cần thiết cho bài giảng.
- Cán bộ quản lý theo dõi việc lập kế hoạch dạy học của GV, kiểm tra hồ sơ giáo án theo định kì, kiểm tra việc thực hiện PPCT nhắc nhở điều chỉnh kịp thời. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Chất lượng giờ dạy phụ thuộc rất nhiều vào khâu chuẩn bị của GV song lại được quyết định bởi thực tế giờ dạy, GV sẽ là người định hướng, khơi gợi, cho HS chủ động nắm bắt kiến thức. Giải đáp cho HS những thắc mắc để đi đến yêu cầu cần đạt của bài dạy. Cán bộ quản lý phải tạo điều kiện cho GV có môi trường dạy học tốt, có đầy đủ cơ sở vật chất, tích cực dự giờ thăm lớp…
- Quản lý phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn
Sự chủ động nắm bắt kiến thức của HS và kết quả thu được sau mỗi bài học của các em có sự đóng góp của Phương pháp dạy học, phương thức dạy học. Phương pháp dạy học, phương thức dạy học phù hợp tạo hứng thú cho HS tiếp thu bài học, GV dễ truyền đạt kiến thức. Vì vậy quản lý tốt các yếu tố này cũng là vấn đề của nhà Quản lý giáo dục.
Cán bộ quản lý phải chú ý đến đặc trưng của môn Ngữ văn là đòi hỏi phải có sự đa dạng về Phương pháp dạy học, mỗi bài học phù hợp với một hoặc một số phương pháp riêng. GV phải thường xuyên tiếp cận phương pháp mới, phương tiện mới. cán bộ quản lý theo sát GV thực hiện nhiệm vụ này.
- Cán bộ quản lý quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là nơi các GV được tiếp thu những kế hoạch chỉ đạo riêng cho bộ môn. Cũng là nơi các GV cùng phân môn trao đổi chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức giảng dạy. Theo định kì sẽ được xếp loại, đánh giá hiệu quả công việc. Để quản lí hoạt động tổ chuyên môn Ngữ văn Cán bộ quản lý cần :
Phân công hợp lí theo tình hình thực tế của tổ, chọn tổ trưởng là người giúp việc phải có năng lực chuyên môn tốt có kĩ năng tổ chức hoạt động nhóm. Có khả năng chỉ đạo, xây dựng kế hoạch bộ môn được đồng nghiệp công nhận và tin tưởng.
Theo dõi, giám sát thường xuyên hoạt động của tổ bằng các hình thức như kiểm tra đột xuất, định kì; kiểm tra toàn diện và chuyên đề; kiểm tra trực tiếp hoặc gián tiếp… có đánh giá và đưa ra các kiến nghị.
- CBQL quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh học môn Ngữ văn
Kiểm tra chất lượng đầu năm để phân loại đánh giá đối tượng HS, nắm rõ mặt bằng chung của bộ môn. Kiểm tra định kì để đánh giá chất lượng giảng dạy của GV và học tập của HS.
Tổ chức bồi dưỡng cho đối tượng là HSG và học sinh yếu kém, phân công GV có đủ năng lực chuyên môn, lòng nhiệt tình yêu nghề dành cho hai đối tượng này. Kịp thời động viên khen thưởng đối với GV và HS có thành tích, kịp thời rút kinh nghiệm tìm giải pháp khi không có tiến bộ rõ rệt. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của HS
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá
Chỉ đạo cho các bộ phận liên quan xây dựng kế hoạch kiểm tra kết quả học tập của HS chi tiết khoa học theo định kỳ. Khi xây dựng KH kiểm tra đánh giá cần chú ý xác định rõ mục đích đánh giá, bởi đó sẽ là định hướng xây dựng bài kiểm tra để đi đến kết quả đánh giá để làm gì.
Đầu tiên phải xác định phương pháp kiểm tra đánh giá : Phương pháp kiểm tra đánh giá phải phù hợp với mục tiêu đánh giá. Đây là mục tiêu riêng của môn học đồng thời còn là mục tiêu của cả chương trình, cho nên người quản lý phải quyết định. Việc lựa chọn phương thức kiểm tra đánh giá phù hợp, sẽ có tác động rất lớn tới việc nâng cao chất lượng.
Xác định nội dung cần đánh giá: Nội dung cần đánh giá sẽ nằm trong chương trình giáo dục phổ thông đã được quy định.. Nội dung đó sẽ được phân loại theo từng mức độ nhận thức của học sinh, để có thể đánh giá năng lực nhận thức của HS.
Xây dựng KH chỉ đạo các buổi học tập, nghiên cứu tìm hiểu về nghiệp vụ, quy chế kiểm tra đánh giá; bồi dồi dưỡng cho GV về kỹ năng lập ma trận ra đề kiểm tra, đáp án và chấm bài bằng các hình thức trắc nghiệm, tụ luận theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học với 4 cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao; chuẩn bị cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ cho hoạt động đánh giá.
Việc xây dựng KH đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới cần phải cụ thể rõ ràng đồng thời cần phải có phương án xử lý các vấn đề xảy ra ngoài dự kiến.
- Quản lý tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch kiểm tra đánh giá
Quản lý khâu ra đề kiểm tra: Chỉ đạo, phân công GV ra đề và thẩm định đề. Đề kiểm tra phải nằm trong ngân hàng đề được tổ chuyên môn nghiên cứu và bổ sung điều chỉnh theo chu kỳ. Đề kiểm tra phải bám sát mục tiêu môn học và phù hợp với đối tượng kiểm tra và phải phân loại được năng lực nhận thức của HS. Ở môn Ngữ văn cần chú tới những câu hỏi mở với những vấn đề liên quan trong cuộc sống. Sau khi hoàn thiện đề thi sẽ tiến hành sao in đề đảm bảo tính bảo mật trong công tác in sao.
Quản lý khâu tổ chức kiểm tra: Kiểm tra đánh giá xếp loại HS phải đảm bảo đúng quy chế do Bộ giáo dục ban hành với đối tượng học sinh Trung học phổ thông. Số lần kiểm tra trong một học kỳ phải đầy đủ theo đúng quy định. Cán bộ quản lý phải giám sát việc thực hiện kế hoạch kiểm tra của giáo viên.
Quản lý khâu chấm bài và công bố kết quả. Chấm bài là công việc bắt buộc thường xuyên của GV phổ thông. Quản lý công tác chấm thi tốt sẽ tránh được hiện tượng tiêu cực thành tích trong giáo dục. Với những đợt kiểm tra lớn như kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm, kiểm tra học kỳ được tổ chức chung để đảm bảo tính nghiêm túc khách quan phải dọc phách, chấm tập trung. Khi chấm bài cán bộ quản lý chỉ đạo GV chấm đúng theo thang điểm đáp án đã được thống nhất tránh chấm qua loa không đánh giá đúng được năng lực của HS. Bài kiểm tra phải được chấm và trả bài đúng theo quy định về thời gian về cách thức. Phải tổ chức chấm chấm phúc khảo khi học sinh có đơn phúc khảo hoặc yêu cầu giáo viên xem xét lại điểm của bài thi, bài kiểm tra.
Quản lý hồ sơ đánh giá: Sau mỗi đợt kiểm tra, kết quả sẽ được lưu lại trong sổ điểm cá nhân, sổ điểm lớp, học bạ của HS. Công bố bảng điểm công khai, thông báo cho phụ huynh học sinh nắm được kịp thời và báo cáo về nhà trường theo quy định. Nhà trường sẽ lấy đó làm cơ sở để tổng hợp phân loại đánh giá cuối học kỳ và cuối năm học.
Quản lý thu thập thông tin phản hồi từ HS trong việc đánh giá: Đây là cơ sở để BGH theo dõi đôn đốc, nhắc nhở việc học của trò và giảng dạy của thầy. Đối với GV giảng dạy thì đây cũng là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy của mình cho phù hợp.
- Quản lý việc sử dụng kết quả đánh giá vào điều chỉnh phương pháp dạy và học, điều chỉnh mục tiêu giáo dục
Kết quả đánh giá phải chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế của các đối tượng trong hoạt động giáo dục như: Cán bộ quản lý, GV và HS. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Đánh giá toàn bộ quy trình kiểm tra đánh giá: Đây là bước đánh giá cuối cùng được thực hiện thông qua các buổi họp chuyên môn, họp hội đồng giáo dục để từ đó chỉ rõ những thuận lợi và khó khăn, những vấn đề cần chỉnh sửa, mức độ đạt được và chưa đạt được để có kết quả cao hơn cho lần thực hiện sau.
Quản lý tổ chức chỉ đạo hoạt động đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới đòi hỏi người quản lý phải nắm rõ mục tiêu giáo dục và những yêu cầu mới được đặt ra đối với bộ môn Ngữ văn. Quản lý phải phối hợp chặt chẽ với GV trực tiếp giảng dạy, nắm bắt những phản hồi từ phụ huynh và HS để dần xây dựng một quy trình đánh giá hoàn thiện về hoạt động dạy môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới.
- CBQL quản lý các điều kiện đảm bảo cho Hoạt động dạy học môn Ngữ Văn
Để nâng cao hiệu quả QLHĐDH môn Ngữ Văn, người quản lí cần chú ý đến những vấn đề sau:
Triệt để sử dụng những điều kiện vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường. Huy động mọi nguồn lực tài chính trang bị trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học môn Ngữ Văn. Xây dựng tổ chức các phong trào thi đua nhằm khích lệ tinh thần giảng dạy và học tập của GV và HS. Phối hợp với các lực lượng giáo dục tham gia hỗ trợ tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động dạy học môn Ngữ Văn.
Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo xây dựng các câu lạc bộ yêu thích nghiên cứu về môn Ngữ Văn. Các hoạt động phải được diễn ra thường xuyên và có tổng kết rút kinh nghiệm.
- CBQL quản lí hoạt động học tập của học sinh
Việc học tập của học sinh có vai trò quan trọng nhất mà người quản lí phải đặc biệt quan tâm bởi kết quả cuối cùng của hoạt động dạy học đó chính là chất lượng của học sinh. Cho nên trước hết quản lí hoạt động học tập của học sinh là xây dựng nội quy học tập phù hợp tạo môi trường tốt cho sự chuyên cần của học sinh. Thái độ học tập nghiêm túc có ý thức chuẩn bị bài trước khi lên lớp sử dụng và bảo quản đồ dùng học tập. Có mối quan hệ tốt giữa thầy và trò có ý thức phấn đấu không ngừng để trở thành những học sinh ngoan và có khả năng tiếp thu kiến thức tốt.
Cùng với xây dựng nội quy học tập là việc xây dựng quy chế khen thưởng kỉ luật đối với những học sinh có thành tích và những học sinh vi phạm.
Phát động phong trào thi đua học tập chỉ đạo các tổ chức toàn thể như công đoàn, đoàn thanh niên phối hợp theo các đợt, theo các chủ đề hình thức tổ chức phải liên tục đổi mới, phong phú hấp dẫn. Mỗi đợt thi đua có tổng kết khen thưởng cho những học sinh đạt thành tích xuất sắc.
Chỉ đạo GVCN phối kết hợp với gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục học sinh. GVCN hướng dẫn HS cách tự học có hiệu quả như tham khảo các tài liệu được kiểm định, học nhóm, học trên các phần mềm. Giúp các em biết phân phối thời gian hợp lí vừa học tập hiệu quả mà vẫn tham gia được các hoạt động vui chơi giải trí.
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh giúp các em có định hướng về nghề nghiệp phù hợp với sở thích, khả năng và nhu cầu của xã hội.
1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Các yếu tố chủ quan
Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV nhà trường về dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới.
Nhiều Cán bộ quản lý và GV đã có nhận thức đúng đắn và xác định rõ sự cần thiết phải đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ thông để phù hợp với xu thế giáo dục hiện nay. Tuy nhiên một số bộ phận GV tiếp cận về vấn đề này vẫn còn hạn chế do ngại sự thay đổi, không muốn mất nhiều thời gian để làm quen với chương trình mới, phương pháp mới.
Trình độ năng lực của đội ngũ Cán bộ quản lý, GV nhà trường đáp ứng yêu cầu về dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Về trình độ, năng lực, phẩm chất của Cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý phải là người am hiểu mục tiêu giáo dục, nguyên lí giáo dục, phương pháp giáo dục và Phương pháp dạy học; có khả năng lãnh đạo, tiếp thu các chủ trương, các chương trình, kế hoạch một cách sâu sắc, có khả năng triển khai, chỉ đạo tổ chức thực hiện nội dung phương pháp dạy. Hiệu trưởng phải là người có hiểu biết về tâm lí quản lý, có uy tín gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, thực tế ở một số nhà trường năng lực chỉ đạo về đổi mới chương trình còn chưa đáp ứng yêu cầu.
Về năng lực trình độ, phẩm chất của đội ngũ giáo viên hiện nay: cơ bản đáp ứng đủ về số lượng và chất lượng dạy học, đa số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, nhưng trong thực tế năng lực chuyên môn, nhận thức về đổi mới chương trình còn ở mức độ khác nhau.
Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp: Người GV phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm gương trong việc thực hiện ý thức đạo đức nghề nghiệp của mình. Đặc biệt với GV dạy môn Ngữ văn thì càng phải chú ý hơn tới lời nói tác phong để thành tấm gương cho HS tôn trọng và học tập.
Như vậy, trình độ năng lực chuyên môn, kĩ năng sư phạm, phẩm chất của GV có ảnh hưởng tác động trực tiếp chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục của nhà trường.
- Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Một số yếu tố tác động đến môi trường học tập: nhà trường, HS, gia đình. Đây là những nhân tố cơ bản có tác động rất tích cực để xây dựng môi trường học tập mới.
Về gia đình: Gia đình giữ vai trò quan trọng trong việc giúp HS hình thành những chuẩn mực đạo đức, ý thức trách nhiệm, thực hiện chức năng cơ bản của mình. Để có được chức năng xã hội hóa tốt đòi hỏi phải có sự chăm sóc, dạy bảo, hướng dẫn, rèn giũa của các bậc phụ huynh giúp các em làm quen với việc thực hiện những chuẩn mực, nền nếp trong gia đình và ngoài xã hội.
Về phía nhà trường: Tập trung tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cảnh quan môi trường tạo môi trường học tập thân thiện, tập trung đổi mới Phương pháp dạy học, giảm áp lực học theo hình thức tiếp cận nội dung, thực hiện theo quan điểm đổi mới giáo dục; giảm áp lực về hình thức đánh giá HS như vậy mới có thể có môi trường học tập tích cực để HS không cảm thấy ngại học văn như trước. Như vậy các em sẽ phát huy được khả năng năng lực của bản thân trong hoạt động học.
Sự phối hợp của các bên liên quan trong và ngoài nhà trường trong quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Những năm qua Đảng và nhà nước đã quan tâm đến phát triển và đổi mới giáo dục. Từ năm 2021-2022 chương trình SGK phổ thông mới sẽ được áp dụng cho bậc PTTH trong đó trọng tâm là phát triển khả năng tích cực tự học sáng tạo của HS.
Ngành GD&ĐT đã có sự chuẩn bị chu đáo theo lộ trình các cuộc tập huấn, hội thảo chuyên môn các cấp được triển Nguồn lực phục vụ cho quá trình đổi mới như thiết bị dạy học, cơ sở hạ tầng, Công nghệ thông tin … Nhưng vẫn chưa đi vào thực thi nên chưa được rút kinh nghiệm và không tránh khỏi những thiếu sót.
Áp lực từ phía xã hội với GD trong thời đại Công nghệ thông tin hiện nay cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi chương trình sắp tới.
Vậy ngoài thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ, nhà quản lý phải biết nắm bắt và xác định được những yếu tố tác động tới QLDH, biết vận dụng hợp lý trên cơ sở phối hợp tích cực giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Thực hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đưa Hoạt động dạy học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng đạt kết quả cao nhất.
Tiểu kết chương 1
Như vậy, quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới nói riêng là mục tiêu quan trọng của của nhà trường trong công tác giáo dục học sinh. Lịch sử nghiên cứu về hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Ngữ văn đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả của Hoạt động dạy học của bộ môn nhất là trong nền giáo dục hiện đại.
Quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới thực chất nhằm hướng tới phát huy cao nhất những thế mạnh của môn học mang lại cho công tác giáo dục. Thực tế về Hoạt động dạy học môn Ngữ văn và quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn vẫn còn nhiều vấn đề phải quan tâm. Do vậy cần phải định hướng trọng tâm cho Hoạt động dạy học là quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên, quản lý việc thực hiện chương trình dạy học và quản lý việc lĩnh hội tri thức của học sinh.
Ở chương 1 chúng tôi tập trung trình bày những cơ sở lí luận liên quan tới đề tài: Tổng quan nghiên cứu về Hoạt động dạy học trong và ngoài nước: Các khái niệm cơ bản có liên quan đến Hoạt động dạy học và QL HĐHD và đặc biệt là Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông theo định hướng của chương trình Giáo dục phổ thông mới. Từ cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ tìm hiểu thực trạng ở chương 2 và đề xuất những giải pháp ở chương 3. Luận văn: Quản lí dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
