Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng QL Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình Giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Vài nét về tình hình đặc điểm kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
2.1.1. Khái quát về tình hình đặc điểm vị trí địa lý và kinh tế – xã hội
Lương Tài là một huyện thuộc đồng bằng chiêm trũng của tỉnh Bắc Ninh, cách thành phố Bắc Ninh khoảng 30 km, huyện có 13 xã, 01 thị trấn và 102 thôn, diện tích tự nhiên là 105,66km2, dân số trên 110.000 người. Phía Đông giáp với thị xã Chí Linh và huyện Nam Sách (Hải Dương), sông Thái Bình là ranh giới tự nhiên, phía Tây giáp với huyện Thuận Thành, phía Nam giáp với huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), phía Bắc giáp với huyện Gia Bình.
Huyện Lương Tài có đầy đủ các công trình công cộng thiết yếu như: bệnh viện, trường học, trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính, trung tâm văn hóa… Nhiều tuyến đường trong huyện liên tục được xây mới và mở rộng, các tuyến đường cũng được trải nhựa và lắp đèn cao áp. Tuyến đường đê sông Thái Bình chạy qua huyện cũng được nâng cấp. Kinh tế chung của huyện ngày càng được cải thiện, chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng cao đây là một điều kiện thuận lợi cho giáo dục phát triển. Lương Tài cũng là một huyện mà có cả người theo đạo phật và đạo Thiên chúa giáo. Hai cộng đồng sống đoàn kết hòa thuận nên chính trị địa phương tương đối ổn định. Nhận thức tư duy của người dân có sự tiến bộ trong việc xây dựng môi trường sống lành mạnh phát triển để sánh kịp với các địa phương khác trong tỉnh cũng như cả nước. Tuy nhiên Lương Tài là địa phương xa trung tâm, một số xã còn nghèo như Mỹ Hương, An Thịnh, Trừng Xá, Lâm Thao mặt bằng kinh tế còn thấp. Đây là những địa phương vùng đất chiêm trũng, dân số thuần nông còn chiếm tỉ lệ cao. Học sinh ngoài giờ lên lớp vẫn phải phụ giúp cha mẹ việc đồng áng nên ảnh hưởng nhiều đến công tác giáo dục.
2.1.2. Khái quát về Giáo dục và đào tạo của Huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Lương Tài là huyện có truyền thống khoa bảng của tỉnh, nhân dân hiếu học. Các cấp lãnh đạo quan tâm đặc biệt đến giáo dục và luôn chỉ đạo các cấp các ngành chú trọng ưu tiên đầu tư cho giáo dục.
Huyện Lương Tài có trường Trung học phổ thông khá nổi tiếng trong tỉnh là Trường Trung học phổ thông Lương Tài. Là trường Trung học phổ thông khá lâu đời ở tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra còn có ngôi trường mới thành lập năm 2000 – Trường Trung học phổ thông Lương Tài số 2. Cả hai trường đều góp phần quan trọng vào chất lượng giáo dục của tỉnh nhà. Trong đó trường Trung học phổ thông Lương Tài là ngôi trường có bề dày thành tích, là một trong những trường Trung học phổ thông đứng tốp đầu về chất lượng giáo dục của tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Mạng lưới trường học ở tất cả các bậc học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông phát triển đều khắp trên địa bàn toàn huyện. Tính đến nay toàn huyện đã có hơn 51 trường ở tất cả các bậc học. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và phát triển bằng các hoạt động thiết thực thông qua các trung tâm giáo dục cộng đồng, các hội khuyến học huyện đến các thôn làng, dòng họ đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của giáo dục của huyện Lương Tài.
Về đội ngũ giáo viên 100% đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ , trên 30% đạt trên chuẩn. Có nhiều giáo viên cốt cán đạt đạt GV giỏi cấp tỉnh ở các bộ môn. Công tác giao lưu chuyên môn trong huyện, tỉnh được tổ chức định kì giúp GV được học hỏi nâng cao kinh nghiệm giảng dạy.
Chính sách khuyến dạy khuyến học phát triển mạnh mẽ góp phần thúc đẩy phong trào dạy và học của GV và HS như phần thưởng có giá trị cho HS đạt giải cấp tỉnh, cấp quốc gia. Phần thưởng cho GV đạt thành tích xuất sắc trong giảng dạy, ôn đội tuyển HS giỏi, thi ĐH.
2.2. Giới thiệu vài nét về khảo sát thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
2.2.1. Mục đích
Để thấy rõ trực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn tại hai trường nhằm tìm ra được những điểm mạnh và hạn chế để tiếp tục phát huy cũng như đề ra hướng khắc phục. Hướng tới nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học môn Ngữ văn để bắt kịp đổi với bộ môn Ngữ văn nói riêng và đổi mới giáo dục nói chung.
2.2.2. Đối tượng khảo sát
Bao gồm đội ngũ giáo viên dạy môn Ngữ văn các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh và 500 học sinh ( lựa chọn lớp ngẫu nhiên) ở tại hai trường.
2.2.3. Phạm vi khảo sát
Các hoạt động liên quan đến việc giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh trên phạm vi hai trường ( Trung học phổ thông Lương Tài và Trung học phổ thông Lương Tài số 2) trong năm học 2024- 2025.
2.2.4. Phương pháp khảo sát
- Sử dụng phiếu hỏi và phân tích số liệu, đánh giá kết quả khảo sát.
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
2.3.1. Thực trạng về hoạt động dạy của giáo viên
- Bảng 2.1. Thống kê về đội ngũ cán bộ giáo viên dạy môn Ngữ văn các trường THPT huyện Lương tài, tỉnh Bắc Ninh (tính đến tháng 5 năm 2025)
Với kết quả trên ta thấy, trình độ chuyên môn của CBGV đều đạt chuẩn. (đa phần giáo viên đều là những giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình, say mê, sáng tạo trong công việc).
Hàng năm 100% cán bộ giáo viên được đánh giá xếp loại theo chuẩn nghề nghiệp từ đạt yêu cầu trở lên. Tuy nhiên thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá toàn diện giáo viên hằng năm thì giáo viên Ngữ văn về nghiệp vụ sư phạm vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được bồi dưỡng để hoàn thiện hơn đặc biệt cần lưu ý đến việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên.
Thông qua số liệu tổng kết năm học và kết quả xếp loại thi đua của 3 năm học gần đây nhất:2022 – 2023, 2023 – 2024 và 2024 – 2025; các trường Trung học phổ thông trong huyện Lương tài được đánh giá là có chất lượng giáo dục tốt, ổn định và ngày một nâng cao. Có nhiều biện pháp sáng tạo trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục phổ thông như mở các lớp tập huấn, các chuyên đề sinh hoạt chuyên môn theo trường và cụm trường. Đặc biệt với nhiều thành tích ổn định và phát triển trong nhiều năm liền, năm học 2024-2025 trường Trung học phổ thông Lương Tài số 1 vinh dự được nhận danh hiệu lá cờ đầu trong hệ thống giáo dục tỉnh Bắc Ninh; trường Trung học phổ thông Lương tài số 2 tiếp tục được chủ tịch UBND tỉnh ký công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn hai (2024-2023).
Hiện nay các nhà trường tiếp tục thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, thông qua việc nâng cao chất lượng giáo viên bằng các biện pháp bồi dưỡng giúp giáo viên vững vàng về chuyên môn để thực hiện có hiệu quả chương trình phổ thông mới sắp tới.
Nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là đáp ứng được nhu cầu giáo dục của con em trong khu vực. Tập trung nâng cao giáo dục mũi nhọn và giáo dục đại trà. Tiếp tục thực hiện Kế hoạch phát triển GD&ĐT của nhà trường trong những năm tiếp theo.
- Tình hình và định hướng phát triển của nhà trường trong những năm tới.
Trong những năm vừa qua nhà trường vẫn duy trì được chất lượng giáo dục đảm bảo, đáp ứng được phần nhiều những mong muốn của phụ huynh con em trong huyện. Trong những năm tiếp theo nhà trường định hướng và phát triển nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hơn nữa với việc: Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Tập trung quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị của các năm học tiếp theo và các nhiệm vụ trọng tâm năm học của Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh..
Phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực hiện qui hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục đến năm 2030. Tổ chức tốt công tác bồi dưỡng gắn với việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, tăng cường biện pháp kỷ luật tích cực trong nhà trường cho Cán bộ quản lý, giáo viên. Tiếp tục tổ chức đánh giá, phân loại giáo viên và Cán bộ quản lý theo các chuẩn qui định. Quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách cho CBGV. Quan tâm công tác phát triển Đảng, phát huy dân chủ trong nhà trường.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng công tác giáo dục lễ giáo, kỹ năng sống, giáo dục thể chất và sức khỏe. Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học. Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và phương thức kiểm tra, đánh giá. Đẩy mạnh phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, khuyến khích giáo viên tiếp cận phương pháp giáo dục mới.
Tích cực đầu tư trang thiết bị theo hướng hiện đại, đồng bộ theo tiêu chuẩn trường Trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2. Phát triển qui mô số lớp theo hướng cân đối phù hợp với số lượng khảo sát thực tế tại địa bàn. Thực hiện tốt công tác quản lý và khai thác sử dụng trang thiết bị phục vụ dạy học.
Thực hiện Kế hoạch phát triển giáo dục và Qui hoạch mạng lưới trường lớp đến năm 2030 tầm nhìn 2035. Chuẩn bị các điều kiện thực hiện chương trình Giáo dục phổ thông mới. Thực hiện nghiêm túc các văn bản qui định mức thu, sử dụng học phí và một số khoản thu khác trong trường.
Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội đầu tư phát triển giáo dục. Giữ vững và pháp huy kết quả giáo dục đã đạt được trong những năm trước, đồng thời cần sáng tạo, không ngừng đổi mới để nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
- Tinh thần trách nhiệm, thái độ nghề nghiệp
Bảng 2.2. Khảo sát tinh thần trách nhiệm, thái độ nghề nghiệp
Kết quả khảo sát cho thấy tinh thần trách nhiệm, thái độ nghề nghiệp của GV môn Ngữ văn trong các nhà trường tương đối tốt, đáp ứng được nhu cầu người học ( 75% GV tự hài lòng với tinh thần trách nhiệm của mình), về phía HS đánh giá 69% GV có thái độ, tinh thần trách nhiệm cao. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên.
Bảng 2.3. Thống kê kết quả khảo sát thực trạng hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của GV
Nhìn vào kết quả cho thấy: Đa số GV đã chú trọng tới khâu chuẩn bị bài, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá. Đặc biệt là đã chú trọng tới khâu kiểm tra đánh giá . Song bên cạnh đó việc cập nhật, mở rộng bài giảng với những kiến thức mới còn hạn chế.
- Thực trạng sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
Để dạy văn thành công GV phải hết sức chú trọng tới đặc thù của các phân môn trong bộ môn để có những phương pháp đúng, phù hợp với môn học và người học. Sử dụng phương pháp phải gắn với hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng bài, từng phân môn cụ thể của môn học.
- Bảng 2.4. Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn.
Theo bảng khảo sát 2.4, về các phương pháp, Hình thức tổ chức dạy học đã được áp dụng đại đa số ý kiến của GV và HS đều tương đồng, tương đối thống nhất, song riêng phần tổ chức câu lạc bộ yêu thích văn chương, tổ bộ môn chưa làm được (mới chỉ dừng lại ở những buổi: dạ hội văn học; ngoại khóa văn học). Tổ chức hoạt động nhóm, thảo luận chưa được đồng bộ giữa các GV trong tổ. Qua phỏng vấn chúng tôi nhận thấy: một số thầy cô còn hạn chế về năng lực nghiệp vụ sư phạm, do trình độ của đối tượng học sinh không đồng đều, một số bạn quá yếu về năng lực khi tổ chức thảo luận HS không chịu trình bày, còn rụt rè không dám phát biểu trước tập thể….với những lý do đó, GV e ngại không thực hiện thảo luận nhóm, càng làm ảnh hưởng đến tính sáng tạo, năng động của HS.
2.3.2. Thực trạng về hoạt động học tập của học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Qua khảo sát chúng tôi thấy
Về kiến thức: Hầu hết học sinh đã có những kiến thức cơ bản, kết quả khảo sát chất lượng đầu năm thu được kết quả như sau: 86% HS trên trung bình; 14 % HS dưới trung bình.
Về hứng thú học: 68 % học sinh có hứng thú học bộ môn Ngữ văn.
Về hình thức học: Gần 44 % học sinh thích hoạt động nhóm; 16 % học sinh thích tự suy nghĩ; 40% học sinh thích nghe giảng và bình. Nhìn chung, các em mong muốn được kết hợp các hình thức học đa dạng, phong phú phù hợp với đặc trưng của bộ môn. HS được 1,5 điểm môn Ngữ văn (nhân đôi) cộng với 2 môn còn lại và điểm khuyến khích học nghề, cộng điểm ưu tiên (tổng = 11 điểm) là đã trúng tuyển. Như vậy, việc thi tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông của các trường trong huyện Lương tài chưa thực sự được tuyển chọn, đa số HS dự thi đều được vào học (trừ điểm liệt – không điểm). Do chất lượng đầu vào như vậy, cho nên khi tìm hiểu về thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn tác giả tập trung tìm hiểu những thực trạng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của HS: mục đích, động cơ học tập; Ý thức, thái độ học tập; phương pháp và kết quả học tập của HS.
- Mục đích, động cơ học tập
Qua điều tra HS các khối lớp, đa số HS đều xác định được mục đích và động cơ học tập, tuy nhiên trong quá trình học mức độ nhận thức của từng cá nhân HS lại khác nhau.
Nhóm 1- Khối lớp 12: Là những HS cuối cấp chuẩn bị thi Trung học phổ thông Quốc gia trong đó có có môn Ngữ văn bắt buộc để xét tốt nghiệp và xét đại học, cho nên thái độ học tập của học sinh lớp 12 đối với môn Ngữ văn tương đối tốt (70% học sinh có hứng thú học tập môn Ngữ văn)
Nhóm 2- Khối 11: Là HS giữa cấp học, học sinh đạt mức trung bình (55% ) học sinh có hứng thú học tập môn Ngữ văn
Nhóm 3 – Khối 10: Theo bảng điều tra phụ lục 4, câu hỏi 1 khi được hỏi về điểm thi đầu vào môn Ngữ văn (số liệu điều tra năm học 2025- 2026) thì có 225 HS/ 500 HS dự thi đạt điểm trung bình trở lên.
- Ý thức, thái độ học tập
Kết quả khảo sát cho thấy 24% ý kiến cho rằng ý thức, thái độ học tập của HS ở mức tốt, 31% ở mức khá, còn 27% ở mức yếu. Trong quá trình học vẫn còn HS bỏ học với nhiều lý do khác nhau: chán học, hoàn cảnh gia đình, mải chơi… một số em cho rằng cho rằng môn học này không quan trọng, khó và khô khan..
- Phương pháp học tập của học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về mức độ thực hiện các hoạt động học tập môn Ngữ văn của HS
Theo kết quả điều tra (bảng 2.5) phương pháp học của HS chưa cao, mức độ thực hiện các hoạt động học tập của HS ở 8 nội dung còn trên dưới 20% được đánh giá yếu và kém. Kết quả khảo sát cho thấy còn có 40% HS chưa đầu tư, thậm chí chưa soạn bài trước khi đến lớp (bảng 2.5). Hệ thống hóa kiến thức, tóm tắt các phần đã được học, phân tích, bình giảng, chứng minh…là một trong các khâu quan trọng để dẫn đến sự thành công trong phương pháp học văn. Việc thuyết trình, thảo luận, đóng vai… cả GV và HS đều thống nhất ý kiến rằng hầu hết HS mới chỉ dừng ở mức thực hiện.
- Kết quả học tập của học sinh
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát học tập của HS năm học 2024 – 2025
- Kết quả ở bảng 2.6 cho thấy tỷ lệ học sinh trên trung bình còn ở mức độ khiêm tốn, chưa được cao.
2.4. Thực trạng quản lý về hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương tài, tỉnh Bắc Ninh.
2.4.1. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên
Công tác quản lý hoạt động dạy của giáo viên được bắt đầu từ việc phân tích nhu cầu môn học, quan tâm đến vấn đề thực hiện nề nếp chuyên môn, chỉ đạo hoạt động dạy học đúng chương trình, kế hoạch.
2.4.1.1 Quản lý việc lập kế hoạch công tác của GV
- Bảng 2.7. Thực trạng quản lý hoạt động lập kế hoạch của GV:
Kết quả khảo sát ở bảng 2.7 cho thấy, việc xây dựng kế hoạch đã và thường xuyên được quan tâm, có tới 36% Cán bộ quản lý và 40% GV đánh giá tốt, tuy nhiên vẫn còn tồn tại 40% Cán bộ quản lý vẫn ở mức TB, 10% GV được đánh giá việc thực hiện ở mức yếu. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Quản lý khâu soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp
Chúng tôi đã thực hiện khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên của hai trường Trung học phổ thông trên địa bàn Huyện Lương Tài về thực trạng về quản lý khâu chuẩn bị của GV trước khi lên lớp, kết quả như sau:
- Bảng 2.8. Thực trạng quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của GV
Nhà trường đã xác định khâu kiểm tra việc soạn giảng giáo án của giáo viên là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học. Tuy nhiên mức độ thực hiện ở loại tốt và khá chưa được nhiều, mức độ thực hiện trung bình còn tương đối cao. Mức độ kiểm tra định kỳ đã được quan tâm, nhưng việc bồi dưỡng phương pháp soạn giảng để giảm bớt % trung bình thì còn gặp nhiều hạn chế (CBQL đánh giá 25% tốt, GV 14% tốt), nội dung quản lý này chưa được quan tâm thường xuyên và có hiệu quả chưa cao.
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
Chúng tôi đã thực hiện khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên của hai trường Trung học phổ thông trên địa bàn Huyện Lương Tài về thực trạng về quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy của GV , kết quả như sau:
- Bảng 2.9. Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy của GV
Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy việc thường xuyên kiểm tra, theo dõi việc thực hiện chương trình chưa được cao. Chủ yếu các ý kiến đều ở mức trung bình.
- Quản lý cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy
Bảng 2.10. Thực trạng quản lý hoạt động cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá giờ dạy của GV Ngữ văn
Kết quả khảo sát bảng 2.10 cho thấy các nội dung quản lý ở mức độ tốt còn khiêm tốn, chủ yếu tập trung ở mức độ khá và trung bình. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Bảng 2.11. Thực trạng QL hoạt động KT – ĐG kết quả học tập của HS
Trong bảng 2.11, về mức độ đổi mới KT – ĐG hầu hết các ý kiến của Cán bộ quản lý và GV đều tập trung đánh giá ở mức độ khá trở lên. Tuy nhiên, kiểm tra sổ điểm, học bạ theo định kỳ, đột xuất chưa được tốt, vẫn còn 37,5% Cán bộ quản lý; 46,5% GV đánh giá trung bình.
- Quản lý việc thực hiện hồ sơ chuyên môn
Bảng 2.12. Thực trạng quản lý thực hiện quy định hồ sơ chuyên môn của GV
Kết quả khảo sát cho thấy cán bộ quản lý thực hiện tốt một số mục sau: Đề ra những quy định cụ thể về hồ sơ chuyên môn (Số lượng, nội dung, hình thức..) đạt loại tốt chiếm: trên 60 %; Chỉ đạo tổ bộ môn kiểm tra định kỳ, đột xuất về hồ sơ của GV (75% đạt loại tốt). Tuy nhiên, một số hoạt động còn thực hiện chưa tốt: Sử dụng kết quả kiểm tra để xếp loại viên chức, thi đua cho GV (loại tốt chỉ chiếm 30 %); Chỉ đạo kế hoạch nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn (loại tốt chỉ chiếm 25 %)
2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh
Bảng 2.13. Thực trạng QL hoạt động học tập của HS môn Ngữ văn
- Giáo dục động cơ và thái độ học tập của học
Để hoạt động học tập có chất lượng, việc nâng cao giáo dục động cơ và tinh thần học tập của học sinh là nhiệm vụ cần thiết, quan trọng và phải thường xuyên. Tuy theo kết quả khảo sát chỉ 12 % Cán bộ quản lý, 7,3% GV cho rằng việc giáo dục động cơ tinh thần học tập môn Ngữ văn của HS còn yếu.
- Thực hiện tổ chức các lớp bồi dưỡng về phương pháp học mới
Thực tế các trường Trung học phổ thông ở Huyện Lương Tài đã chỉ đạo sát sao bộ môn môn Ngữ văn bồi dưỡng các phương pháp cụ thể về học tập tích cực cho học sinh. Đa số Cán bộ quản lý và GV đều đánh giá việc làm này thực hiện tương đối tốt, chỉ 12,5% Cán bộ quản lý, 0% GV đánh giá yếu (bảng 2.13).
- Xây dựng những quy định cụ thể về nề nếp học tập trên lớp và việc tự học của học sinh
Quản lý hoạt động tự học và nề nếp học tập môn Ngữ của học sinh tốt sẽ có tác động lớn tới chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập. Tuy nhiên, vấn đề này thực hiện chưa được quan tâm, chỉ đạo sát sao, bởi thế, còn 12,5% Cán bộ quản lý, 14,2% GV đánh giá yếu (bảng 2.13), Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
- Yêu cầu kết hợp kiểm tra việc đọc sách và tài liệu tham khảo của HS
Theo bảng 2.13 việc kiểm tra đọc tư liệu tham khảo của HS chưa được nhiều. Nhà trường đã đầu tư sách tham khảo ở thư viện nhưng chưa được nhiều, chưa thu hút được học sinh lên thư viện để đọc tài liệu. Khi phỏng vấn việc đọc sách và tài liệu tham khảo của học sinh, hầu hết đánh giá ở mức trung bình và yếu, có tới 12,5% Cán bộ quản lý, 10,7% GV đánh giá ở mức yếu.
- Khen thưởng và xử lý kịp thời học sinh về việc thực hiện nề nếp học tập
Có tới 25% Cán bộ quản lý, 14,3% GV đánh giá việc áp dụng khen thưởng kỷ luật ở mức yếu.
2.4.3. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất và phương tiện dạy học môn Ngữ văn
Cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học là các công cụ mà GV và HS sử dụng trong quá trình dạy và học môn Ngữ văn, đó là các thiết bị dạy học và giáo dục như: Phòng dạy học, các phương tiện dạy học máy tính, máy chiếu, loa, bút điều khiển, tranh ảnh, tư liệu…Tất cả các trang thiết bị này góp phần quan trọng đối với quá trình nhận thức của người học, tăng hiệu quả của hoạt động dạy. Do vậy tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và giáo dục là việc làm thường xuyên, cần thiết của người cán bộ quản lý giáo dục.
Để khảo sát thực trạng việc tăng cường cơ sở vật chất quản lí và sử dụng bảo quản thiết bị dạy học, đồ dùng cho dạy học bộ môn, tác giả đã điều tra 36 Cán bộ quản lý và GV. Kết quả như sau:
Bảng 2.14. Kết quả khảo sát về biện pháp tăng cường cơ sở vật chất, QL giáo viên sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm thực hiện tốt hoạt động dạy học môn Ngữ văn
Qua bảng 2.14 ta thấy các nhà trường đã nhận thức đúng vai trò việc tăng cường và sử dụng trang thiết bị đồ dùng dạy học trong hoạt động dạy học môn Ngữ văn hiện nay. Một số CBGV đã có ý thức trong việc sử dụng phương tiện thiết bị đồ dùng dạy học một cách thường xuyên, khoa học và hiệu quả tốt, việc bảo quản, khai thác, sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học gọn gàng khoa học, đặc biệt một số giáo viên còn sáng tạo trong sử dụng thiết bị dạy học. Tuy nhiên các biện pháp chỉ đạo của Ban giám hiệu chưa cao. Tỉ lệ đánh giá tốt ở một số biện pháp dưới 50 %, tỉ lệ làm chưa tốt còn cao như: biện pháp kiểm tra sử dụng thiết bị dạy học qua hội thi hội giảng giáo viên dạy giỏi, hội thi sử dụng đồ dùng, thiết bị, hoạt động của các phòng chức năng, bồi dưỡng tập huấn cho giáo viên sử dụng các thiết bị dạy học. Điều tra một số biện pháp tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động dạy học các môn nói chung, môn Ngữ văn nói riêng. Ta thấy công tác tham mưu xã hội hoá giáo dục của BGH đã được thực hiện song hiệu quả thấp: Còn tới trên 25 % chưa thực hiện tốt, các nhà trường tuy đã có đủ phòng học nhưng nhiều phòng chất lượng cơ sở vật chất xuống cấp, chưa đảm bảo, nên ảnh hưởng đến hoạt động dạy học bộ môn. Do nguồn ngân sách cấp còn hạn hẹp nên công tác xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, và phương tiện dạy học đạt hiệu quả chưa cao: quản lý việc tăng cường cơ sở vật chất còn gặp những khó khăn và bất cập nhất định, hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị và phương tiện dạy học thấp. Biện pháp tăng cường chỉ đạo giáo viên sử dụng thiết bị dạy học, phục vụ hoạt động dạy học tỉ lệ làm chưa tốt, chỉ đạt 30 %. Công tác bồi dưỡng cho GV sử dụng thiết bị và phương tiện phục vụ hoạt động dạy học hiệu quả hạn chế. Điều đó cho thấy cần phải có các biện pháp chỉ đạo phù hợp hơn trong giai đoạn tới.
2.4.4. Thực trạng các điều kiện hỗ trợ cho quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Để tìm hiểu về công tác quản lí các điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến Cán bộ quản lý, GV, kết quả thể hiện ở bảng 2.15 dưới đây.
- Bảng 2.15. Kết quả khảo sát về thực trạng các điều kiện hỗ trợ đảm bảo cho Hoạt động dạy học môn Ngữ văn
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.12, có 5/5 tiêu chí quản lí các điều kiện hỗ trợ Hoạt động dạy học môn Ngữ văn được thực hiện “thường xuyên” và kết quả ở mức “Tốt”, “Khá”, “TB”, “Yếu”. Đó là các nội dung sau:
“Tăng cường khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương thức dạy học phục vụ Hoạt động dạy học môn Ngữ văn” được xếp loại khả quan hơn so với các tiêu chí khác. Đối với các trường Trung học phổ thông ở Lương Tài việc tăng cường khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, phương thức dạy học phục vụ Hoạt động dạy học môn Ngữ văn là phải làm cho từng HS được sử dụng một cách có hiệu quả các phương tiện dạy học, tuyệt đối không được để phương thức dạy học nằm chết trong các kho chứa, gây lãng phí. Trong đó, chúng ta cần phải chú ý đến vai trò của GV Ngữ văn – người trực tiếp lựa chọn, điều khiển, sử dụng thiết bị giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo, mới chính là người quyết định hiệu quả của thiết bị giáo dục và theo đó là chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
Về việc “huy động các nguồn lực để trang bị, bổ sung cơ sở vật chất, phương thức dạy học phục vụ Hoạt động dạy học môn Ngữ văn” được Cán bộ quản lý và GV đánh giá chủ yếu ở mức độ tốt là 44%, khá 36%. Các trường đã làm tốt việc huy động các nguồn lực (vật lực, nhân lực, tài lực) trong những năm gần đây. Cụ thể là huy động nguồn tài chính, thiết bị giáo dục phục vụ cho đổi mới Phương pháp dạy học môn Ngữ văn. Trong đó, các trường có chú ý đến việc trang bị đầy đủ và đồng bộ các nguồn lực huy động được, nhằm bổ sung vào các cơ sở vật chất, phương thức dạy học hiện có.
Tiêu chí “tổ chức phong trào thi đua thực hiện đổi mới Phương pháp dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá vẫn còn thấp (12% BBGV đánh giá ở mức độ trung bình. Thi đua là biện pháp tích cực tạo cơ hội cho GV được phát huy hết khả năng của mình. Ngoài ra, tổ chức phong trào thi đua còn giúp kích thích sự nỗ lực vươn lên của từng GV và tập thể, đề cao tinh thần trách nhiệm và hình thành các mối quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. Tuy nhiên, đa số các trường đều tổ chức phong trào thi đua trong Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hướng lồng ghép vào phong trào thi đua chung của GV Ngữ văn theo từng học kì. Vì vậy, kết quả đạt được ở tiêu chí này chỉ ở mức “khá”. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Tiêu chí được đánh giá thực hiện thường xuyên và đạt kết quả tốt là: “Tạo môi trường sư phạm tốt cho việc thực hiện Hoạt động dạy học môn Ngữ văn”. Ở các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài luôn chú ý tạo ra môi trường vật chất mang tính sư phạm (các điều kiện về vệ sinh sức khỏe, điều kiện an toàn, điều kiện thẩm mĩ mà các cơ sở vật chất, phương thức dạy học mang lại), thuận lợi cho các hoạt động thực hiện đổi mới DH môn Ngữ văn. Bên cạnh đó, môi trường tinh thần mang tính sư phạm (học hỏi, giúp đỡ, đoàn kết, kỉ cương, tình thương, trách nhiệm) cũng được chú trọng. Vì thế, mà đây là tiêu chí duy nhất trong 5 tiêu chí được Cán bộ quản lý và GV đánh giá kết quả đạt được ở mức “tốt: 60% và khá: 40%.
Việc “đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm Hoạt động dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá ở mức độ trung bình khá. Ở các trường Trung học phổ thông, hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết kinh nghiệm về thực hiện Hoạt động dạy học môn Ngữ văn đã được triển khai thực hiện trong nhà trường với hình thức viết sáng kiến kinh nghiệm. Qua hoạt động này, các kinh nghiệm hay của GV Ngữ văn sẽ được cùng chia sẻ, học hỏi trong tập thể sư phạm, các tấm gương điển hình được nhân rộng để mọi người học tập, các PPDH tích cực được sử dụng phù hợp trong từng bài học sẽ được các GV học tập lẫn nhau… Từ đó đổi mới Hoạt động dạy học môn Ngữ văn thực sự được triển khai sâu rộng.
Tóm lại, thực trạng quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông Lương Tài cho thấy các trường có quan tâm, chú trọng từ khâu xây dựng kế hoạch dạy học ; Tổ chức chỉ đạo thực hiện, đến kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện và quản lí các điều kiện hỗ trợ Hoạt động dạy học môn Ngữ văn. Bên cạnh những kết quả đạt được thì các trường vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cần có phương án khắc phục trong thời gian tới.
2.5. Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo CTGDPT mới tại các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
2.5.1. Ưu điểm
Ban Giám hiệu nhà trường và lãnh đạo các tổ bộ môn có năng lực, chủ động, có kinh nghiệm quản lý, có năng lực chuyên môn, có sự quan tâm tốt đời sống của giáo viên trong nhà trường. Việc giảng dạy và học tập đã thực hiện theo đúng quy định và nội quy. Đội ngũ giáo viên Ngữ văn có lòng yêu nghề, có kinh nghiệm giảng dạy. Giáo viên Ngữ văn đã chịu khó tìm tòi, đầu tư sưu tầm tư liệu: tranh, hình ảnh về các tác giả, tác phẩm, các địa danh có liên quan đến bài giảng làm đa dạng và phong phú cho bài giảng, tình trạng dạy chay đã giảm nhiều so với 3 năm về trước.
2.5.2. Hạn chế
Kế hoạch năm học của Nhà trường vẫn còn một số công việc tính khả thi chưa cao.
Chưa chú trọng đến quản lý và giám sát kế hoạch của tổ bộ môn. Tổ chức thực hiện kế hoạch nhiều khi chưa khoa học, thiếu tính thường xuyên. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
Chưa chú trọng và đầu tư nhiều đến việc quản lý và tổ chức hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ văn chương, hội thảo văn học…
Chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn còn chung chung, nặng về hình thức, mang tính hành chính, chưa có chiều sâu, chưa cụ thể hoá các chuyên đề trong sinh hoạt tổ.
Việc chỉ đạo tổ chuyên môn dự giờ thăm lớp, đúc kết kinh nghiệm và việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chuyên đề chưa được duy trì liên tục trong năm.
Các trường chưa tự tổ chức việc bồi dưỡng chuyên đề về văn học, bồi dưỡng năng lực giảng dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới, chủ yếu giáo viên được bồi dưỡng theo yêu cầu của Sở GD&ĐT và do Sở tổ chức.
2.5.3. Nguyên nhân
Một số cán bộ quản lý chưa sáng tạo, linh hoạt trong công tác quản lý.
Đội ngũ giáo viên có sự luân, không ổn định. Một số giáo viên còn hạn chế về năng lực chuyên môn, ngại thay đổi phương pháp dạy học và áp dụng Công nghệ thông tin trong dạy học
Chưa có biện pháp triệt để quản lý hoạt động dạy học cụ thể môn Ngữ văn, nhất là theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới.
Tiểu kết chương 2
Tóm lại, qua tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội; thực trạng giáo dục ở huyện Lương Tài; thực trạng giáo dục của các nhà trường; thực trạng hoạt động dạy học môn Ngữ văn và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông huyện Lương Tài, có thể rút ra những kết luận như sau:
Ban giám hiệu nhà trường đã có nhiều sáng kiến nhằm cải tiến, đổi mới quản lý để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói riêng và hoạt động dạy học nói chung trong nhà trường. Song trong quá trình quản lý đôi khi còn lúng túng về điều hành công việc, xây dựng kế hoạch, chỉ đạo hoạt động chuyên môn, thiếu tính cương quyết, còn nặng về tình nhiều hơn lý khi xử lý công việc. Từ cơ sở lý luận và thực trạng trên, tác giả đưa ra “Một số giải pháp QL Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Lương Tài”. Những biện pháp đề xuất trong chương 3 sẽ phần nào khắc phục những mặt còn hạn chế và góp phần hoàn thiện vào công tác quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn nói riêng và quản lý hoạt động dạy học trong các trường Trung học phổ thông tại huyện Lương Tài trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học môn Ngữ văn tại các trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
