Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong mọi chính sách phát triển của mỗi quốc gia, chính sách về giáo dục đào tạo được coi là chính sách hàng đầu bởi vì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Đầu tư cho con người, gia tăng các giá trị cho con người là quyết tâm hàng đầu được các quốc gia luôn luôn chú trọng.

Việt Nam đang cùng nhân loại bước vào nhữmg năm đầu của thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ. Xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc được trong một môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa. Thực tế đặt ra cho ngành Giáo dục đối với việc dạy và học ngoại ngữ là đào tạo ra nguồn nhân lực lao động có chất lượng cao, có khả năng sử dụng được ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp trong công việc hàng ngày.

Trước những biến đổi và xu thế phát triển hiện nay, không chỉ có Việt Nam mà rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi đất nước. Trong bối cảnh đó, nền giáo dục Việt Nam cũng có nhiều đổi mới. Bên cạnh các môn học tự nhiên và xã hội, tiếng Anh là phương tiện để người học có thể tiếp cận nhanh chóng nhất tới các nền văn hoá và tri thức của thế giới. Mặc dù môn tiếng Anh có đặc điểm riêng nhưng cũng giống như các môn học khác cần được đổi mới nội dung chương trình để phù hợp hơn, đáp ứng được đòi hỏi của xã hội. Từ khi đổi mới chương trình Trung học phổ thông, việc dạy và học môn Tiếng Anh cũng có những thay đổi theo, có ảnh hưởng đến các hoạt động dạy, kiểm tra, đánh giá của GV và việc học tập của HS. Do vậy, việc quản lý hoạt động dạy và học tiếng Anh ở Trung học phổ thông cần những sự thay đổi thích ứng.

Nhận thức về tầm quan trọng của tiếng Anh, đặc biệt khi nước ta gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Chính phủ đặt ra mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nâng cao kiến thức, năng lực quản lý điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước. Để đạt mục tiêu đó, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Quyết định số 1400 ngày 30 tháng 9 năm 2018 về phê duyệt đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2018-2030”, trong đó nêu rõ mục tiêu chung là: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2025 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sủ dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2030 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sủ dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [30]. Từ đó cho thấy, để Việt Nam có thể đi tắt, đón đầu, vươn tới tầm cao về khoa học công nghệ trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay và tiến nhanh trên con đường Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, con đường hiệu quả nhất là đầu tư, phát triển giáo dục và lực lượng lao động phải biết ngoại ngữ.

Trong những năm qua hoạt động quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông Huyện Ba Vì vẫn theo cách làm truyền thống đã được hình thành từ nhiều thập kỷ trước. Cách quản lý hoạt động dạy học của nhà trường nói chung và môn học tiếng Anh nói riêng phần lớn theo kinh nghiệm tự học hỏi nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Vì vậy, Tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” với mong muốn xây dựng được các biện pháp khả thi và hiệu quả trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm quản lý tốt hoạt động dạy học môn ngoại ngữ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông và đánh giá thực trạng các hoạt động này trong địa bàn huyện Ba Vì thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học này trong các nhà trường Trung học phổ thông thuộc địa bàn nghiên cứu.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

4. Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì những năm gần đây đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn có nhiều hạn chế. Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học một cách hợp lí, khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông.
  • Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì.
  • Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
  • Tổ chức khảo nghiệm khẳng định tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu

  • Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ở 4 trường Trung học phổ thông thuộc huyện Ba Vì: Trường Trung học phổ thông Quảng Oai; Trường Trung học phổ thông Ba Vì; Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền – Ba Vì; Trường Trung học phổ thông Bất Bạt.

Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn là số liệu của ba trường giai đoạn từ năm 2021 đến 2024.

6.3 Giới hạn khách thể điều tra

Đề tài tiến hành khảo sát trên các đối tượng cụ thể sau:

  • Cán bộ quản lý: 16 (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng tổ chuyên môn và Tổ trưởng tổ bộ môn tiếng Anh).
  • Giaó viên dạy tiếng Anh:
  • Học sinh:

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lí luận, các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước có liên quan đến GD và ĐT, quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy học môn tiếng Anh nói riêng để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra

Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trưng cầu ý kiến của các Cán bộ quản lý, GV và HS trường Trung học phổ thông để tìm hiểu thực trạng dạy học môn tiếng Anh tại địa bàn nghiên cứu.

  • Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn một số Hiệu trưởng, Hiệu phó, tổ trưởng bộ môn và GV dạy tiếng Anh của một số trường Trung học phổ thông để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong dạy học môn tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh nhằm góp phần làm rõ thực trạng.

  • Phương pháp quan sát

Mục đích thu thập thông tin về cách thức quản lý, cách thực hiện hoạt động dạy học môn tiếng Anh hiện nay của GV và HS các trường Trung học phổ thông để thu thập tài liệu bổ sung cho kết quả điều tra.

7.3. Phương pháp toán học

Sử dụng phương pháp toán học để thống kê và xử lý số liệu, thông tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu trên phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường trung học phổ thông.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hoá thì vai trò của tiếng Anh ngày càng được khẳng định. Trong bậc học Trung học phổ thông, việc dạy và học môn tiếng Anh như thế nào nhằm đảm bảo mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế đang là vấn đề cấp thiết và là nhiệm vụ trong tâm của các nhà trường.

Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, điều này đã được cụ thể hoá trong chiến lược phát triển giáo dục 2021- 2030. “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[6]. Đứng trước nhiệm vụ đổi mới Giáo dục và đào tạo, đổi mới nội dung chương trình và Phương pháp dạy học cho các môn học trong chương trình giáo dục, tiếng Anh không đứng tách rời các môn học khác nên phần lớn các biện pháp quản lý dạy học nói chung đều có thể áp dụng được khi nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh.

Một số giáo trình, tài liệu của các tác giả liên quan đến đề tài như: Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1986; Trần Khánh Đức, Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM , 2014; Trần Kiểm, Bùi Minh Hiền, Quản lý và Lãnh đạo nhà trường, Nxb Trường ĐHSP, Hà Nội, 2016; Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường , Bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục, 2019; Đặng Xuân Hải, Quản lý nhà nước về giáo dục, Bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục, 2019; Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đại cương khoa học quản lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020… đã được ứng dụng rộng rãi và mang lại một số hiệu quả nhất định trong QL nói chung, Quản lý giáo dục, QL trường học nói riêng.

Liên quan trực tiếp đến đề tài tác giả đang nghiên cứu có một số công trình sau đây: Lê Tường Vân, Quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh cho lớp chất lượng cao tại trường trung học phổ thông dân lập Nguyễn Siêu, Hà Nội, luận văn thạc sỹ QLDG, 2020; Trần Thị Hằng, Biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông Nam Phù Cừ – Tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục, 2024…Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đạt được những thành tựu nhất định về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy nhiên việc áp kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của các nhà trường, đặc biệt là đối với các trường Trung học phổ thông ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Cho đến nay, việc nghiên cứu các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì chưa có ai thực hiện.

Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Xã hội càng phát triển thì vấn đề này càng được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu giáo dục, ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: Khẳng định vai trò quan trọng của công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học.

Nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp QL Hoạt động dạy học trong nhà trường. Có nhiều luận văn thạc sỹ quan tâm tới đề tài “Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường” với nhiều cách tiếp cận về vấn đề quản lý khác nhau, ở những địa phương khác nhau với phạm vi nghiên cứu rộng, hẹp khác nhau. Tuy nhiên việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện thực tế của các nhà trường đặc biệt là với các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì. Cho đến nay việc nghiên cứu về QL hoạt động DH môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì chưa có ai thực hiện. Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của hoạt động QLDH, thực trạng các biện pháp QL Hoạt động dạy học môn tiếng Anh, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp QL Hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý, chức năng của quản lý

  • Khái niệm quản lý

QL là một sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng quản lí, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời kiếm tìm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin thì “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra” [24, tr. 283].

Theo tác giả K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [21, tr. 480]

Như vậy K.Marx đã cho chúng ta hiểu được bản chất QL là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người. QL đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.

  • Quan niệm về QL của các tác giả Việt Nam.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29, tr.35].

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể quản lý (người bị QL) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8, tr. 9].

Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định: “QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sủ dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã định”[18, tr.6].

  • Quan niệm về QL của các tác giả nước ngoài.

Tác giả Harold. Knoontz cũng nhấn mạnh: “QL là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà QL là nhằm hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [17, tr. 33 ].

K.Marx và Angel cho rằng “QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” ” QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”, họ đã nghiên cứu quá trình lao động và cho rằng “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất”.

  • Có nhiều định nghĩa khác nhau về QL, song nhìn chung các định nghĩa trên đều đi đến thống nhất:

QL luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể QL (người QL, tổ chức QL); khách thể QL (người bị QL, đối tượng QL) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác QL do chủ thể QL áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể QL và khách thể QL, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể QL và khách thể QL. Như vậy, có thể hiểu QL là một dạng hoạt động đa cấp, đa dạng và hơn nữa lại được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về QL. Mặc dù có những cách tiếp cận và hiểu khác nhau nhưng về bản chất, QL là sự tác động có mục đích của người QL (chủ thể QL) đến người bị QL (khách thể QL) nhằm thực hiện mục tiêu chung.

QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. QL mang tính khoa học vì các hoạt động của QL có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những qui luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời QL mang tính nghệ thuật vì nó được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội.

  • Các chức năng quản lý

Toàn bộ quá trình QL được thực hiện thông qua các chức năng QL đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Các chức năng QL có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong khoảng thời gian, không gian xác định. Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý, được coi là mạch máu lưu thông giữa các bộ phận đảm bảo cho toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý. Mối liên hệ giữa các chức năng và thông tin trong QL được biểu diễn theo sơ đồ 1.

  • Sơ đồ 1.1: Các chức năng và thông tin trong quản lý

Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của QL, lập kế hoạch bao gồm: Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công việc của đơn vị, dự báo, đánh giá triển vọng, đề ra mục tiêu, chương trình, xác định tiến độ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên tắc tiêu chuẩn, xây dựng các thể thức thực hiện…

Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Xây dựng các cơ cấu, nhóm, tạo sự hợp tác liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi dưỡng cho phù hợp, phân công nhóm và cá nhân.

Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức.Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên, thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế.

Chức năng kiểm tra: là hoạt động của chủ thể QL nhằm đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức. Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, PP đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh. Ngoài 4 chức năng cơ bản trên đây, cần lưu ý rằng, trong mọi hoạt động của Quản lý giáo dục, thông tin Quản lý giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như “mạch máu” của hoạt động Quản lý giáo dục.

Quá trình QL nói chung, quá trình Quản lý giáo dục nói riêng là một thể thống nhất trọn vẹn. Sự phân chia thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối giúp cho người QL định hướng thao tác trong hoạt động của mình. Trong thực tế, các giai đoạn diễn ra không tách bạch rõ ràng, thậm chí có chức năng diễn ra cả ở một số giai đoạn khác nhau trong quá trình đó.

1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

  • Quản lý giáo dục

QLGD là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên lý của QL nói chung vào lĩnh vực giáo dục.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “QL giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể QL nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [33, tr.50]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QL giáo dục theo nghĩa tổng quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành của các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài)” [1, tr. 8]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm Quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả QL hệ giáo dục quốc gia, QL các phân hệ của nó, đặc biệt là QL trường học):“QL giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình DH giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[29, tr.35].

Tác giả Phạm Minh Hạc cũng khẳng định: “QL giáo dục là tổ chức các hoạt động DH. Có tổ chức được các hoạt động DH, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [13, tr.9].

Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội. Trong Quản lý giáo dục, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người QL với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS, giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập.

  • Quản lý nhà trường

Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu. Hầu hết các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường thông qua hệ thống nhà trường. Nhà trường là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Theo đó quan niệm quản lý giáo dục luôn đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường.

Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ. Thành tích tập trung nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ của học sinh, ở việc đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục – đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước.

“Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [29, tr.43].

Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó. Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận.

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triển lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.

Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm:

  • Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS.
  • Quản lý tốt nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước đồng thời thực hiện xã hội hoá giáo dục, động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và DH.
  • Quản lý đội ngũ các giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ trong trương chình công tác của nhà trường.
  • Quản lý tốt các hoạt động chuyên môn theo trương trình giáo dục của Bộ GD và nhà trường. Thực hiện nghiêm túc chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng DH.
  • Quản lý tốt việc học tập của HS. Quản lý HS bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần và thái độ và phương pháp học tập.
  • Quản lý việc kiểm tra và đánh giá.
  • Quản lý việc chăm lo đến đới sống vật chất và tinh thần của tập thể GV, công nhân viên của nhà trường.

Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường. Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc đổi mới công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường.

1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học

  • Hoạt động dạy học

Con người muốn tồn tại thì phải hoạt động. Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng các tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và nhóm xã hội.

Khái niệm về Hoạt động dạy học: dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng; hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tập của HS. Trong đó dưới sự điều khiển của GV, người học tự giác, tích cực tự tổ chức điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những hoạt động dạy học. Trong hoạt động dạy học, hoạt động học tập của HS có vai trò tự giác, chủ động tích cực. Hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS có liên hệ tác động lẫn nhau. Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, việc dạy học sẽ không diễn ra. Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hai hoạt động dạy và học trong mối quan hệ biện chứng thống nhất của chúng.

Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp cho học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người.

Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và trong đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, yêu CHXN. Ở trẻ em đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh sau này. Vì vậy có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Hoạt động dạy học có mối quan hệ biện chứng với nhau:

  • Giữa dạy với học
  • Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy.
  • Giữa lĩnh hội và với tự điều khiển trong học.

Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình trò chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò. Dạy có hai chức năng: truyền đạt thông tin dạng học và điều khiển hoạt động DH.

Hoạt động DH giúp trò lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của trò, giúp trò nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ. Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển nội dung, chương trình DH theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học. Để đạt được mục đích, người dạy và người học đề phải phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân (phẩm chất và năng lực của người dạy và người học) để xác định nôi dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, các phương tiện dạy – học phù hợp.

Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện. Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học có hai chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển. Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành học vấn của bản thân.

Nhưng để học đạt được hiệu qủa và tránh được những sai lầm thì học phải có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của thầy. Như vậy học cần phải diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với hoạt động dạy của thầy, mối quan hệ này có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo mức độ tự lực của người học, để đạt được mục đích cuối cùng của người học, đó là:

  • Nắm vững tri thức khoa học
  • Phát triển tư duy và năng lực hoạt động
  • Hình thành thái độ, đạo đức và nhân cách, lý tưởng sống

Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Hoạt động dạy và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó tồn tại song song và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, chúng bổ sung cho nhau, kết quả hoạt động học của học sinh không thể tách rời kết quả hoạt động dạy của thầy và kết quả hoạt động dạy của thầy không thể tách rời kết quả học tập của học sinh. Điều này được thể hiện trong sơ đồ 1.2 dưới đây

  • Sơ đồ 1.2: Cấu trúc chức năng của hoạt động dạy học

Từ sơ đồ trên cho ta thấy mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, chúng ta có thể đi đến kết luận: Hoạt động học, trong đó có hoạt động nhận thức của HS có vai trò quyết định kết quả DH. Để hoạt động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người GV, GV phải xuất phát từ lôgíc của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng như của học, đồng thời bảo đảm liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững. Vì vậy, muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học ở trường thì người hiệu trưởng phải đặc biệt chú ý hoàn thiện hoạt động dạy của GV; chuẩn bị cho họ có khả năng hình thành và phát triển ở học sinh các phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập, đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động học của HS.

Khi xét quá trình DH như là một hệ thống thì trong đó, quan hệ giữa hoạt động dạy của GV với hoạt động học của HS thực chất là mối quan hệ điều khiển. Với tác động sư phạm của mình, GV tổ chức, điều khiển hoạt động của HS. Từ đó, chúng ta có thể thấy công việc của người QL nhà trường là: hành động QL (điều khiển hoạt động dạy học) của hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của GV và trực tiếp đối với GV, thông qua hoạt động dạy của GV mà QL hoạt động học của HS.

  • Quản lý hoạt động dạy học

Điều cần khẳng định trước tiên: Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hoạt động dạy của GV và quản lý cả hoạt động học của HS. Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động học của HS là quản lý gián tiếp thông qua hoạt động của GV. Chính GV mới là người quản lý trực tiếp việc học của HS

Nếu hoạt động dạy học được xem là hoạt động trọng tâm trong nhà trường thì quản lý hoạt động này được xem là mấu chốt để nâng cao chất lượng dạy học.

Quản lý hoạt động dạy học là sự tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Nhiệm vụ của quản lý dạy học là lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, định hướng hoạt động dạy học. Nội dung của quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường thường bao gồm các hoạt động sau:

  • Quản lý hoạt động dạy của
  • Quản lý hoạt động học của
  • Quản lý môi trường dạy học.
  • Quản lý các nguồn lực phục vụ yêu cầu dạy học.

Quản lý hoạt động dạy học có bản chất là quản lý hoạt động của người dạy và của người học cùng với việc quản lý đồng bộ và thống nhất các mặt hoạt động mang tính phương tiện thực hiện mục đích dạy học. Trong điều kiện bình thường, để quản lý tốt quá trình dạy học, trước hết phải đảm bảo cho mọi người tham gia vào quá trình này quán triệt rõ mục đích và phát huy được tác dụng của các phương tiện thực hiện mục đích dạy học.

Như vậy, các phương tiện dạy học tất nhiên sẽ quyết định chất lượng dạy học. Cụ thể hơn, quản lý hoạt động dạy học là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học đến chủ thể dạy học (người dạy học và người học) bằng các biện pháp phát huy tác dụng của các phương tiện dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học.

Quản lý hoạt động dạy học phải đồng thời quản lý hoạt động giảng dạy và học tập nhưng trước hết là quản lý hoạt động giảng dạy của người dạy (các khâu soạn bài, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học). Yêu cầu của quản lý dạy học là phải quản lý các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học, nhưng trước hết các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông qua quy trình hoạt động của người dạy một cách đồng bộ, hài hoà, hợp quy luật, đúng nguyên tắc dạy học. Quá trình đó có tính tuần hoàn và được bắt đầu từ khâu soạn bài, tiếp đó là giảng bài và tạm thời kết thúc ở khâu định giá kết quả. Do đó, quản lý dạy học trước hết là quản lý các khâu soạn bài, giảng bài và đánh giá kết quả dạy học của GV.

Quản lý Hoạt động dạy học chính là các biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS,… nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong năm học.

Quản lý hoạt động dạy học chính là sự tác động lên đội ngũ GV, HS qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh nhằm thực hiện mục tốt nhất mục tiêu giáo dục. Trong đó, người GV đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt HS đi tìm chân lý. Người học chủ động tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu. Đặc biệt, vai trò người học trên cơ sở hướng dẫn của người GV biết tự xây dựng kế hoạch, tự kiểm tra đánh giá để đạt chuẩn với yêu cầu trong giáo dục.

1.2.4. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học

Theo Từ điển Tiếng Việt – 2008 (Hoàng Phê chủ biên): „„Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể‟‟[27], hoặc có thể hiểu đó là cách thức để tiến hành một hành động để đạt đến mục đích xác định. Biện pháp quản lý là những cách thức cụ thể để thực hiện công tác quản lý. Cụ thể hơn: Biện pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý sử dụng công cụ quản lý tác động vào đối tượng quản lý và các khâu trong quá trình quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý.

Vì các đối tượng quản lý thường phức tạp nên đòi hỏi các biện pháp quản lý phải đa dạng, phong phú, linh hoạt phù hợp với đối tượng quản lý. Các biện pháp quản lý phải có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện pháp. Các biện pháp này sẽ giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý của mình, mang lại hiệu quả hoạt động tối ưu của bộ máy. Biện pháp quản lý thể hiện tính năng động sáng tạo của chủ thể quản lý, hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc một phần quan trọng vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh hoạt các biện pháp quản lý.

Để thực hiện nội dung quản lý, các nhà quản lý phải sử dụng một hệ thống các biện pháp quản lý cụ thể, phù hợp, có kế hoạch chi tiết và biết huy động nội lực để thực hiện. Do thực tế sinh động và phức tạp nên các biện pháp quản lý cũng mềm dẻo, linh hoạt, không được cứng nhắc, rập khuôn. Không có biện pháp quản lý nào là vạn năng, hoàn hảo, có thể dùng cho mọi trường hợp, mọi con người và hoàn cảnh. Mỗi biện pháp đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng của mình, nhà quản lý phải biết phát huy những điểm mạnh của các biện pháp, hạn chế, khắc phục điểm yếu của chúng bằng cách kết hợp linh hoạt các biện pháp. Như thế mới có thể đạt được hiệu quả cao trong công việc.

Nếu hoạt động dạy học được tổ chức, điều khiển thông qua các biện pháp nhất định của người dạy thì việc quản lý hoạt động cũng được thực hiện thông qua những biện pháp quản lý nhất định của nhà quản lý. Đó là phương tiện, phương thức của chủ thể quản lý nhằm tác động và gây ảnh hưởng đối với đối tượng quản lý. Biện pháp quản lý là cầu nối hướng tới và thực hiện mục tiêu dạy học, đưa hoạt động giáo dục ở cơ sở đó đạt được yêu cầu mong muốn.

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học là cách thức của chủ thể quản lý sủ dụng công cụ quản lý để tác động vào các thành tố của quá trình dạy học nhằm vận hành quá trình dạy học một cách có kế hoạch, có tổ chức, có điều khiển, điều chỉnh nhằm đạt đến mục tiêu xác định.

Cụ thể, biện pháp quản lý hoạt động dạy học bao gồm:

  • Biện pháp quản lý hoạt động dạy của GV, gồm biện pháp quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học, việc thực hiện quy pháp chế chuyên môn, việc thực hiện nội dung chương trình dạy học, việc đổi mới phương pháp dạy học,…
  • Biện pháp quản lý hoạt động học của HS, gồm biện pháp quản lý hoạt động học tập trên lớp, hoạt động tự học,…
  • Biện pháp quản lý môi trường và các điều kiện phục vụ dạy học.
  • Biện pháp quản lý chất lượng dạy học.

Các biện pháp quản lý đã nêu có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý. Để quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả, nhà quản lý phải biết phát huy tốt các nguồn lực của nhà trường, kết hợp nhuần nhuyễn hoạt động dạy và học, xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung thích hợp, thực hiện đúng kế hoạch, áp dụng linh hoạt các biện pháp, tận dụng hết các phương tiện và điều kiện đang có, tổ chức linh hoạt các hình thức dạy học, tìm ra cách thức kiểm tra đánh giá kết quả hợp lý,…

1.3. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông

Bản chất của việc học nói chung và học ngoại ngữ nói riêng được hiểu là sự biến đổi năng lực vốn có của người học với các đặc điểm sau:

  • Học ngoại ngữ không chỉ dừng lại ở sự hiểu kiến thức mà còn phải sử dụng nó làm công cụ nghiên cứu các chuyên môn khác và làm phương tiện giao tiếp.
  • Hoạt động học ngoại ngữ chỉ làm thay đổi chủ thể chứ không tác động vào khách thể (không sáng tạo, nghiên cứu ra cái gì mới vào môn ngoại ngữ được học) như các môn học khác. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có sự đam mê (passion) ở người học mới có thể học tốt được.

1.3.1. Vị trí, vai trò của môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông

Tiếng Anh với tư cách là một môn ngoại ngữ, là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông. Tiếng Anh còn là một môn thi tốt nghiệp Trung học phổ thông bắt buộc đối với HS sau khi hoàn thành chương trình Trung học phổ thông.

Tiếng Anh không chỉ là một trong các môn học cơ bản, không thể thiếu của học vấn phổ thông, mà còn phương tiện hữu hiệu để khai thác thông tin công cụ giao tiếp, cập nhật tri thức để hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Với tư cách là môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục Trung học phổ thông, môn tiếng Anh cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa đa dạng, phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế.

Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của môn tiếng Anh trong trường phổ thông, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, thông tư về việc đổi mới và không ngừng nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ trong các trường Trung học phổ thông. Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 – 2020 đã nhấn mạnh: “Chú trọng trang bị và nâng cao kiến thức ngoại ngữ cho HS, sinh viên” [10]. Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giáo dục (sửa đổi), trong đó có quy định tại Điều 7, mục 3 như sau: “Ngoại ngữ được quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sủ dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả” [10].

Môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông còn góp phần phát triển tư duy (trước hết là tư duy ngôn ngữ), hỗ trợ cho việc dạy học, tiếng Anh không những chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác mà còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách của HS, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông.

Để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, với nhu cầu của người học và điều kiện dạy học cụ thể của từng địa phương. Việc quản lý dạy học môn tiếng Anh cần: Quản lý mục tiêu và nội dung dạy học môn tiếng Anh, đào tạo và bồi dưỡng GV dạy tiếng Anh, quản lý hoạt động dạy của và hoạt động học của trò, quản lý việc thực hiện chương trình, Sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, cải tiến các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn, với hoàn cảnh của mỗi địa phương, đảm bảo HS được học liên tục 7 năm ở bậc trung học (từ lớp 6 đến lớp 12), đầu tư Cơ sở vật chất, thiết bị, sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả, đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá cho phù hợp chương trình, phương pháp giảng dạy và yêu cầu của bộ môn tiếng Anh.

1.3.2. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông

Với nét đặc trưng riêng, dạy và học tiếng Anh không giống với các môn học khác. Trong quá trình dạy và học, HS phải luôn tham gia với tư thế chủ động hơn. Các kỹ năng nghe – nói – trả lời câu hỏi luôn đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy nhanh và đặc biệt người học phải phản xạ kịp thời, mạnh dạn để khả năng giao tiếp trong giờ học tốt. Nhằm đạt được yêu cầu đó, GV đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc lập kế hoạch, tổ chức, sắp xếp, kiểm tra đánh giá, khích lệ HS và giúp các em từng bước lĩnh hội kiến thức của môn tiếng Anh

Hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy học môn tiếng Anh nói riêng đều phải quan tâm đến 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết. Hoạt động dạy học môn tiếng Anh là một quá trình liên tục, giúp người học từng bước làm chủ được 4 kỹ năng của ngôn ngữ mà họ học.

Với mục tiêu học tiếng Anh được mở rộng như một công cụ giao tiếp. Do vậy phương pháp dạy học môn tiếng Anh phải xuất phát từ mục tiêu đào tạo, nhằm đạt được mục đích của giáo dục. Phương pháp phải gắn với nội dung dạy học, phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như lứa tuổi HS. Trên cơ sở những nguyên tắc đó, phương pháp dạy học môn tiếng Anh đặt ra các yêu cầu sau:

  • GV, người tổ chức, hướng dẫn, đóng vai trò người trọng tài, người cố vấn các hoạt động của HS.
  • HS, chủ thể nhận thức, được phát triển trong hoạt động, được GV hướng dẫn, khuyên giải. HS học tập bằng hành động tuỳ theo hứng thú và khả năng của mình, từ chỗ làm quen chuyển dần sang tái tạo.
  • Sử dụng ngày càng nhiều các phương pháp và phương tiện kỹ thuật để cá thể hóa việc học tập của HS.
  • Quan tâm chu đáo việc hướng dẫn HS học tập cá nhân, giúp HS phát triển khẩu ngữ, khả năng giao tiếp.

Việc lựa chọn các phương pháp dạy học môn tiếng Anh cụ thể phải phối hợp tối ưu những năng lực sáng tạo của GV, kinh nghiệm nhận thức của HS và những đặc điểm, nội dung của môn học.

1.3.3. Chương trình môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông

Chương trình môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông hiện nay có những điểm cụ thể là:

Chương trình quan tâm đều đến cả 4 kỹ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết. Qua chương trình này, HS có thể luyện được cả 4 kỹ năng. Tuy nhiên, với chương trình này đòi hỏi HS cần phải phát huy tính tự giác, ý thức học tập cao.

Lượng kiến thức chương trình khó và quá tải đối với HS. Hơn thế nữa, sự phân bố thời gian để học phần ngữ pháp của chương trình tiếng Anh đổi quá ngắn so với lượng kiến thức mà các em phải học, điều này làm cho chương trình trở nên khó đối với người dạy, đặc biệt là người học cảm thấy là chương trình trở nên rất quá tải.

Với chương trình này đòi hỏi GV phải linh hoạt áp dụng, kết hợp các phương pháp giảng dạy để các em có thể tiếp thu và vận dụng được kiến thức đã học trong các tình huống cuộc sống thực tại, giúp các em có hứng thú trong học tập, từ đó có thể tiếp thu kiến thức một cách chủ động, tự giác vận dụng kiến thức đã học vào các tình huống thực tế để giúp các em biến kiến thức đã học thành kiến thức của mình.

Quy mô lớp học theo chương trình này phù hợp với sĩ số từ 15 đến 25 HS là tối đa, song thực tế sĩ số hiện tại đang dạy ở các khối lớp phổ biến ở mức 40 đến 45 HS. Do đó, việc luyện kỹ năng cho HS cũng gặp rất nhiều khó khăn vì số HS trong một lớp quá đông không thể bao quát hết được các em một cách đồng đều. Đây cũng là lý do không thể nâng cao được chất lượng học tiếng Anh cho HS.

Theo chương trình hiện nay, nếu đáp ứng được những điều kiện của chương trình, chẳng hạn như sỹ số lớp học chỉ khoảng từ 15 đến 25, trang thiết bị dạy học hiện đại, khả năng thích ứng của GV về phương pháp giảng dạy là lấy HS làm trung tâm, HS giữ được vai trò chủ đạo trong một tiết học, đặc biệt khi GV biết cách vận dụng tối đa trang thiết bị trong một giờ học thì HS sẽ tiếp thu rất có hiệu quả từ đó các em có thể luyện tập được tối đa thời gian trong một giờ học cũng như trong một bài học. Nếu được như vậy, HS sẽ cảm thấy việc học một ngoại ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ dễ dàng hơn, một cách nhẹ nhàng và có hiệu quả cao.

1.3.4. Chủ thể quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông

  • Hiệu trưởng

Vai trò, chức năng của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông:

Khoản 1 điều 54 Luật Giáo dục có ghi: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bổ nhiệm, công nhận” [23].

Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông được đại diện cơ quan quản lý giáo dục cấp trên (Giám đốc sở giáo dục) quyết định bổ nhiệm. Hiệu trưởng có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về quản lý chuyên môn, tổ chức, hành chính trong nhà trường, Hiệu trưởng trực tiếp tổ chức, điều khiển các hoạt động giáo dục, quản lý, chỉ đạo việc thực hiện các công tác của nhà trường theo đường lối, quan điểm, mục tiêu giáo dục của Đảng, chấp hành tốt pháp luật, thể lệ, quy định của nhà nước, theo mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính trước cơ quan quản lý giáo dục cấp trên là Sở giáo dục và Đào tạo cùng với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh về quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường, thay mặt nhà trường quan hệ với bên ngoài.

  • Nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông:

Điều 19 – Điều lệ trường trung học qui định Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây [3]:

  • Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
  • Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 3 Điều 20 của Điều lệ này;
  • Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
  • Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
  • Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với GV, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng GV, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
  • Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho HS tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật HS;
  • Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
  • Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên, HS; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
  • Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;
  • Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

Tổ trưởng chuyên môn

Tổ trưởng chuyên môn là người đứng đầu Tổ chuyên môn, do hiệu trưởng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về phân phối nguồn lực của tổ, hướng dẫn, điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ của Tổ chuyên môn theo qui định, góp phần đưa nhà trường đạt đến mục tiêu đã đề ra theo kế hoạch. Tổ trưởng chuyên môn có nhiệm vụ thực hiện các nội dung ở Điều 16 của Điều lệ trường trung học ban hành theo Quyết định số 07/2017/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó nhấn mạnh đến các nhiệm vụ trọng tâm:

Quản lý giảng dạy của giáo viên

  • Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần tháng, học kì và cả năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt động khác theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường;
  • Xây dựng kế hoạch cụ thể dạy chuyên đề, tự chọn, ôn thi tốt nghiệp, dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém;
  • Xây dựng kế hoạch cụ thể về sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học đúng, đủ theo các tiết trong phân phối chương trình;

Hướng dẫn xây dựng và quản lý việc thực hiện kế hoạch cá nhân, soạn giảng của tổ viên (kế hoạch cá nhân dạy chuyên đề, tự chọn, ôn thi tốt nghiệp, dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém; sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học đúng, đủ theo các tiết trong phân phối chương trình; soạn giáo án theo phân phối chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng và sách giáo khoa, thảo luận các bài soạn khó; viết sáng kiến kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém…);

Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ, giáo viên mới tuyển dụng (đổi mới phương pháp dạy học; đổi mới kiểm tra, đánh giá; dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng; sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học, ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá…).

Điều hành hoạt động của tổ (tổ chức các cuộc họp tổ theo định kì quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và các hoạt động giáo dục khác; lưu trữ hồ sơ của tổ; thực hiện báo cáo cho Hiệu trưởng theo quy định);

  • Quản lý, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên (thực hiện hồ sơ chuyên môn; soạn giảng theo kế hoạch dạy học và phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng; ra đề kiểm tra, thực hiện việc cho điểm theo quy định; kế hoạch dự giờ của các thành viên trong tổ…);
  • Dự giờ giáo viên trong tổ theo quy định (4 tiết/giáo viên/năm học);
  • Các hoạt động khác (đánh giá, xếp loại giáo viên; đề xuất khen thưởng, kỉ luật giáo viên…Việc này đỏi hỏi tổ trưởng chuyên môn phải nắm thật rõ về tổ viên của mình về ưu điểm hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy được phân công).

Quản lý học tập của học sinh

  • Nắm được kết quả học tập của học sinh thuộc bộ môn quản lý để có biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục;
  • Đề xuất, xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động nội, ngoại khóa để thực hiện mục tiêu giáo dục.
  • Các hoạt động khác (theo sự phân công của Hiệu trưởng).
  • Giáo viên

Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm; kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ; lên lớp đúng giờ; không tuỳ tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động do nhà trường tổ chức; Coi thi, chấm thi: thi học kỳ, thi lên lớp, thi tuyển vào lớp đầu cấp, thi tốt nghiệp … Tham gia các họat động sinh hoạt chuyên môn: Họp hội đồng giáo dục, họp tổ chuyên môn, dự giờ, rút kinh nghiệm giáo dục và giảng dạy học sinh.

  • Tham gia công tác phổ cập giáo dục tại địa phương
  • Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy và giáo dục.
  • Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trừơng; thực hiện quyết định của hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và của các cấp quản lý giáo dục.
  • Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh; đối xử công bằng với học sinh; bảo vệ các quyền lợi và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ các bạn đồng nghiệp.
  • Phối hợp với Giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục.
  • Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

1.4. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông

1.4.1. Quản lý thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học môn tiếng Anh

Mục tiêu dạy học phải cung cấp nhận thức, tác động thái độ và hình thành kỹ năng Tiếng Anh được đưa vào chương trình giáo dục Trung học phổ thông nhằm đạt ba mục đích: Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, nâng cao trình độ văn hóa và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức.

Cả ba mục đích đều quan trọng, có quan hệ mật thiết với nhau. Mục đích thực hiện giao tiếp trở thành cơ bản nhất, còn hai mục đích kia phải luôn luôn gắn chặt với mục đích thứ nhất.

Mục tiêu dạy học được xác định rõ là sau khi hoàn thành chương trình Trung học phổ thông, HS có thể sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết; có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lý lứa tuổi; có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước đó; biết tự hào, yêu quý và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình. Điều này có nghĩa, sau khi hoàn thành chương trình, HS phải có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, sử dụng được vốn từ được học để hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp sau này.

Quán triệt được mục tiêu của dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông nhằm cung cấp cho HS những kiến thức, kỹ năng cơ bản về tiếng Anh phát triển phẩm chất trí tuệ để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.

  • Về kiến thức

Sau khi học xong chương trình Trung học phổ thông, HS đã nắm được kiến thức cơ bản và tương đối hệ thống về tiếng Anh thực hành hiện đại, phù hợp với lứa tuổi; có sự hiểu biết khái quát ban đầu về văn hóa của một số nước sử dụng tiếng Anh.

  • Về kỹ năng

HS có kỹ năng cơ bản sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ đơn giản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết. Cụ thể là:

Kỹ năng nghe bao gồm: Nghe hiểu được tiếng Anh sử dụng trong lớp học; Nghe hiểu được tiếng Anh về các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ được đề cập trong chương trình.

Kỹ năng nói bao gồm: Thực hiện các yêu cầu giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Anh trong lớp học và ngoài lớp học; diễn đạt các nội dung giao tiếp đơn giản hàng ngày liên quan đến các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ đã học trong chương trình.

Kỹ năng đọc bao gồm: Đọc hiểu nội dung chính của đoạn văn ngắn (khoảng 150 từ), đơn giản (phạm vi 1500 từ tối thiểu) về các chủ điểm đã học trong chương trình; Đọc hiểu các nội dung thông tin trên cơ sở ngữ liệu đã học, có kết hợp với suy đoán và tra cứu từ điển.

Kỹ năng viết bao gồm: Viết các hướng dẫn, các đoạn văn mô tả hoặc báo cáo tường thuật về các hoạt động của cá nhân hay lớp học trong khuôn khổ ngôn ngữ và chủ điểm của chương trình; Viết để phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân, xã giao đơn giản (như điền vào các phiếu cá nhân, bảng điều tra, viết thư cho bạn,…).

  • Về thái độ, tình cảm

Học tiếng Anh giúp HS có tình cảm và thái độ đúng đắn với đất nước, con người, nền văn hóa, ngôn ngữ của đất nước đang học tiếng, trên cơ sở đó bồi dưỡng, phát triển thái độ, tình cảm tốt đẹp biết tự hào, yêu quý, tôn trọng đối với ngôn ngữ và văn hóa dân tộc mình. Bước đầu có nhu cầu tìm hiểu, biết cách tự học để nắm vững, sử dụng tiếng nước ngoài trong học tập cũng như trong đời sống. Xây dựng và phát triển ý thức, năng lực làm việc trong cộng đồng thông qua các hoạt động ngôn ngữ.

1.4.2. Quản lý thực hiện chương trình, nội dung dạy học môn tiếng Anh

Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành là căn cứ pháp lý để Bộ, Sở Giáo dục tiến hành chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động giảng dạy trong nhà trường. Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý đề người Cán bộ quản lý quản lý GV theo yêu cầu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra cho từng cấp học.

Trong trường Trung học phổ thông, tổ trưởng bộ môn và BGH đứng đầu là Hiệu trưởng trực tiếp quản lý hoạt động dạy tiếng Anh theo nội dung, chương trình, phương pháp và lập kế hoạch hoạt động môn học cho một học kỳ, một năm học. Chương trình tiếng Anh ở bậc Trung học phổ thông được xây dựng theo quan điểm giao tiếp với những định hướng cơ bản sau:

  • Kỹ năng giao tiếp mang lại mục tiêu của quá trình dạy học; kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp.
  • HS là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của quá trình dạy học. GV là người tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học.
  • Nội dung dạy học được lựa chọn và trình bày theo hệ thống chủ điểm, vừa đảm bảo tính giao tiếp cao, vừa đảm bảo tính cơ bản, chính xác và hiện đại của ngôn ngữ.
  • Chương trình là cơ sở cho việc biên soạn sách giáo khoa, quản lý quá trình dạy và học, kiểm tra kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp, đánh giá kết quả học tập và chất lượng giảng dạy.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học, điều kiện thực tế, nền kinh tế, xã hội, các cấp quản lý đã tiến hành đổi mới cả về chương trình, nội dung Sách giáo khoa sao cho phù hợp với khả năng, yêu cầu của HS, giúp cho HS có đủ kiến thức cần thiết để có thể hội nhập được vào HS cùng lứa tuổi ở các nước khác.

Đối với giáo dục Trung học phổ thông, chương trình, nội dung phải nhằm thực hiện được mục tiêu của dạy học môn tiếng Anh, giúp HS nắm được kỹ năng giao tiếp cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở trang bị kiến thức cơ bản về ngôn ngữ, sự hiểu biết về đất nước họ; có được những phẩm chất, trí tuệ cần thiết để tiếp tục học cao hơn.

Chương trình và Sách giáo khoa tiếng Anh cho bậc Trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành từ năm học 2016 – 2017 (từ lớp 10 đến lớp 12) bao gồm 2 loại sách: Sách không nâng cao dùng cho ban là ban Cơ bản và Ban Khoa học tự nhiên, Sách nâng cao dùng cho ban Khoa học xã hội. Nội dung được mở rộng theo hình xoáy trôn ốc và bám sát các chủ điểm về con người, gia đình, bè bạn, đất nước, môi trường, khoa học. Với mục tiêu thực hành giao tiếp và phát triển khẩu ngữ cho HS, các trường Trung học phổ thông phải thực hiện tốt chương trình đã được Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành.

  • Để quản lý tốt việc thực hiện chương trình tiếng Anh Trung học phổ thông, người hiệu trưởng cần làm các việc sau:

Với xu hướng phân cấp mạnh cho các trường tự chủ hiện nay, hiệu trưởng cần căn cứ vào tình hình cụ thể của nhà trường để định hướng cho GV xây dựng chương trình cho phù hợp nhưng phải đảm bảo tiến độ dạy học và kế hoạch dạy học chung.

Quản lý việc thực hiện chương trình là quản lý việc thực hiện đúng, đủ các bài, đủ số giờ quy định của môn học (theo kế hoạch của nhà trường); dạy học đúng tiến độ, kiểm tra đánh giá đúng thời gian quy định của GV.

  • Chỉ đạo tổ chuyên môn thảo luận, bàn bạc về những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy trong năm học trước và những vấn đề đổi mới chương trình, Sách giáo khoa, Phương pháp dạy học để thống nhất thực hiện trong năm học.
  • Thực hiện nghiêm túc triển khai các mặt hoạt động theo yêu cầu của Bộ, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục, kế hoạch của nhà trường, tuy nhiên cần chú ý đảm bảo cân đối các hoạt động trong năm theo tình hình đặc trưng của nhà trường để GV thực hiện hết chương trình dạy học.
  • Theo dõi nắm tình hình thực hiện chương trình dạy học thông qua: Sổ ghi đầu bài, sổ báo giảng, sổ sinh hoạt chuyên môn, qua tổ trưởng hoặc nhóm trưởng chuyên môn,…
  • Sử dụng thời khoá biểu điều khiển, kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình của mỗi cá nhân, kịp thời xử lý các sự cố xảy ra (nếu có).
  • Xử lý những sự cố (nếu có) làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình, đảm bảo chương trình không bị cắt xén.

1.4.3. Quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV tiếng Anh

Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho GV là một việc làm vô cùng cần thiết của hiệu trưởng. Nội dung bồi dưỡng bao gồm cập nhật kiến thức, hướng dẫn cải tiến phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp mới vào dạy học, kỹ năng sử dụng phương tiện Công nghệ thông tin,… nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Các hoạt động bồi dưỡng gồm:

Tổ chức dự giờ thăm lớp và rút kinh nghiệm giảng dạy nhằm giúp GV có cơ hội trao đổi chuyên môn, học hỏi lẫn nhau. Phân công GV giỏi giúp đỡ GV yếu và GV mới.

Thực hiện chuyên đề, hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học cũng như các lớp tập huấn kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin. Bồi dưỡng GV sử dụng đồ dùng dạy học, các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, đèn chiếu, máy projecter,…

Tổ chức thi viết sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp hữu ích nhằm giúp GV tổng kết rút kinh nghiệm quá trình giảng dạy của mình, đồng thời giúp cho các GV khác tham khảo, học hỏi, đóng góp ý kiến. Đây cũng là bước đầu để GV làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.

Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá kết quả về trình độ chuyên môn, chất lượng giảng dạy của đội ngũ GV tiếng Anh trong các trường Trung học phổ thông.

Tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho GV tham gia các khoá bồi dưỡng và đào tạo trên chuẩn, GV tiếng Anh cũng phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, tự nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm nhằm không ngừng nâng cao năng lực của bản thân về mọi mặt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học môn tiếng Anh nói riêng.

1.4.4. Quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học môn tiếng Anh

Với đặc thù của tiếng Anh là thực hành giao tiếp, rèn luyện 4 kỹ năng: Nghe – Nói – Đọc – Viết nên đồ dùng dạy học rất cần thiết phải phong phú nhằm hỗ trợ đắc lực cho hiệu quả giảng dạy. Việc đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh chỉ phát huy hiệu quả khi GV có kiến thức chuyên môn vững vàng và được trang bị các phương tiện trợ giảng như thiết bị dạy học, thiết bị nghe nhìn,… Nếu được sử dụng hiệu quả, HS có hứng thú, dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ, qua đó, giúp GV chuyển tải được nội dung đến HS một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy cần:

  • Đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, phòng học, đồ dùng dạy học cần thiết cho HS học tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông (phòng Lab, máy cassette, projector, máy chiếu đa vật thể,…).
  • Nghiên cứu, sản xuất, cung cấp các thiết bị, đồ dùng dạy học phù hợp với yêu cầu chương trình và Sách giáo khoa.
  • Tăng cường phát động, khuyến khích GV tự làm đồ dùng dạy học phục vụ giảng dạy tiếng môn Anh.
  • Động viên, khuyến khích, quy định, đánh giá việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các giờ dạy tiếng Anh nhằm nâng cao trách nhiệm của GV cũng như gây hứng thú học tập cho HS.
  • Biên soạn các tài liệu, sách tham khảo, từ điển hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.

1.4.5. Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh ở trường THPT

Kiểm tra, đánh giá là một trong những hoạt động quan trọng trong hoạt động dạy học của nhà trường. Kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, hiệu quả không chỉ đánh giá đúng năng lực thực sự của HS để từ đó có những điều chỉnh kịp thời mà còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy động cơ, thái độ tích cực và sáng tạo của HS. Ngoài ra, việc kiểm tra, đánh giá trong hoạt động quản lý cũng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức và công tác quản lý của tổ chức.

Với xu thế đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá theo tinh thần “lấy người học làm trung tâm” hiện nay, GV cần phối hợp cách đánh giá truyền thống bên cạnh áp dụng những phương pháp đánh giá đa dạng khác. Có thể phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá theo phương pháp định lượng (quantitative assessment) với các hình thức như kiểm tra thông qua các hoạt động giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết), kiểm tra thông qua các thành phần ngôn ngữ (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng,…) và hình thức kiểm tra theo phương pháp chất lượng (qualitative assessment) với các hình thức như điểm sách (critical reviews) bằng cách yêu cầu HS phân tích, bình luận một đề tài dưới dạng bài viết (essay) hoặc trình bày trước lớp (presentation); báo cáo (reports) bằng cách viết thu hoạch về một vấn đề quan sát,…

Để quản lý tốt công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông hiện nay phải làm các việc sau:

  • Tổ chức cho GV học tập nắm vững quy chế đánh giá HS Trung học phổ thông. Giám sát chặt chẽ quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
  • Quản lý, giám sát nội dung, mức độ, hình thức kiểm tra của GV, đảm bảo khách quan, công bằng trong đánh giá HS.
  • Chỉ đạo thực hiện tốt việc cho điểm, vào điểm, tính điểm của Trong đó đảm bảo: ra đề kiểm tra chính xác, đúng yêu cầu; coi kiểm tra nghiêm túc, trung thực, khách quan, chấm kiểm tra đúng đáp án, biểu điểm, thời gian; trả bài kiểm tra công khai, minh bạch, tính điểm tổng kết chính xác. Quản lý đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của HS bằng phần mềm quản lý.
  • Xây dựng tiêu chí thi đua, khen thưởng trong dạy học và thực hiện thường xuyên, kịp thời nhằm động viên khuyến khích GV và HS.
  • Xây dựng, cải tiến các hình thức và nội dung kiểm tra, đánh giá, dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông phù hợp với mục đích, nội dung dạy học.
  • Xây dựng các cấu trúc bài kiểm tra, bài thi mẫu, kiểm tra dưới các hình thức trắc nghiệm hay tự luận với số lượng, thang điểm cụ thể, rõ ràng.

1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh các trường Trung học phổ thông

1.5.1. Yếu tố chủ quan

Việc quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông không chỉ chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài mà còn ảnh hưởng chính bởi những phẩm chất, năng lực quản lý và trình độ chuyên môn của nhà quản lý đặc biệt là Hiệu trưởng.

Những phẩm chất và năng lực quản lý của Hiệu trưởng: Người Hiệu trưởng muốn quản lý tốt hoạt động dạy học trường Trung học phổ thông trước hết phải là người có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức, tác phong mẫu mực, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường, phải quản lý, thuyết phục cán bộ trong nhà trường bằng chính năng lực của mình, phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng, đúng mục tiêu cấp học.

Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý: Để quản lý tốt Hoạt động dạy học, người Cán bộ quản lý phải có năng lực chuyên môn: Phải có kiến thức sâu, toàn diện về các môn học; phải nắm vững các phương pháp giảng dạy, phải có kỹ năng phân tích, đánh giá chuyên môn của GV, có năng lực chuyên môn về phần việc đơn vị mình lãnh đạo; biết lường trước các tình huống có thể xảy ra; biết dồn hết tiềm lực vào khâu trọng yếu trong quản lý; biết tận dụng các cơ hội có lợi nhất; có đủ kiến thức về kinh tế thị trường, vốn sống thực tiễn; phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ quản lý.

Người Cán bộ quản lý phải tham gia đầy đủ các chuyên đề giảng dạy dành cho GV, các lớp tập huấn dành cho Cán bộ quản lý, nắm bắt và chỉ đạo sát, đúng yêu cầu giảng dạy trong từng giai đoạn đổi mới nhất là đổi mới về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay.

Điều kiện về số lượng, trình độ chuyên môn của GV, thái độ của GV đối với chất lượng của HS, thái độ học tập, rèn luyện của HS.

1.5.2. Yếu tố khách quan

Ngoài những yếu tố do chính bản thân người quản lý ảnh hưởng đến công việc còn có những yếu tố của môi trường bên ngoài tác động vào việc quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông.

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục là những định hướng quan trọng, những nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra, là những căn cứ có tính pháp lệnh để từ đó người Cán bộ quản lý giáo dục nói chung, người Cán bộ quản lý nhà trường nói riêng, đặc biệt là người Hiệu trưởng áp dụng một cách chủ động, sáng tạo vào tình hình thực tế của đơn vị mình.

Chương trình dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; yêu cầu đổi mới sách giáo khoa cũng ảnh hưởng không nhỏ tới biện pháp quản lý Hoạt động dạy học. Đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa thường đặt ra những thay đổi trong nhận thức và hành động của GV, buộc GV phải thay đổi nhiều hoạt động sống và hoạt động chuyên môn, gây thêm khó khăn cho GV. Điều này đòi hỏi Hiệu trưởng nhà trường cần lường trước các tình huống, nghiên cứu trước và kỹ hơn những điều cần thiết, cơ bản về đổi mới chương trình, thận trọng và có cách xử lý kịp thời trước những khó khăn của GV đối với nội dung, chương trình và sách giáo khoa mới cũng như những hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên trong quá trình triển khai chương trình.

  • Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường:

Cơ sở vật chất – kỹ thuật, nhà trường như bàn ghế, phòng học, phòng thư viện, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị khác… là các phương tiện phục vụ cho việc giảng dạy.

Các điều kiện Cơ sở vật chất có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng của một giờ dạy học và việc phục vụ mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện của nhà trường.

Quản lý Hoạt động dạy học của GV, Hiệu trưởng phải quan tâm chỉ đạo tăng cường Cơ sở vật chất bảo đảm những điều kiện vật chất tốt nhất cho hoạt động giảng dạy của GV.

Điều kiện về đội ngũ GV và HS Trung học phổ thông. Số lượng, chất lượng đội ngũ GV, HS là một trong những yếu tố quan trọng chi phối kết quả quản lý hoạt động dạy học. Đời sống vật chất, tinh thần của GV và HS ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dạy học

Quy mô lớp, phân công GV cho đồng đều là một trong những nhiệm vụ khó khăn đối với Hiệu trưởng để nhà trường đạt được kết quả dạy học một cách tốt nhất.

Sự hợp tác, phối hợp của các thành viên, tổ chức trong nhà trường như các Phó hiệu trưởng, tổ trưởng, chủ tịch công đoàn, Đoàn thanh niên,… trong trường tạo thành một bộ máy hoàn chỉnh vận hành tốt, hoạt động đạt hiệu quả cao, coi trọng tổ chuyên môn, hội đồng sư phạm nhằm tạo chuyển biến về chất trong công tác giảng dạy.

Vấn đề chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo cấp trên đối với nhà trường. Trong công tác quản lý hoạt động dạy học sự chỉ đạo của cấp trên rất quan trọng, đưa ra những định hướng, kim chỉ nam giúp nhà trường xác định đúng mục tiêu, phương hướng hoạt động dạy học. Đồng thời việc kiểm tra, đánh giá của cấp trên còn giúp nhà trường kịp thời điều chỉnh, bổ sung, khắc phục những tồn tại để có những giải pháp thực thi hiệu quả đưa hoạt động dạy học của nhà trường đạt được mục tiêu đề ra.

Ngoài ra, các điều kiện kinh tế văn hoá – xã hội ở địa phương cũng có ảnh hưởng đến chất lượng dạy học của nhà trường. Do đó, người Hiệu trưởng cần quan tâm đến các vấn đề như chủ trương, đường lối của Đảng, các chính sách của địa phương; phải khai thác được các thế mạnh, hạn chế những khó khăn của địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền, sự tham gia giáo dục của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương; phối hợp tích cực có hiệu quả công tác giáo dục giữa nhà trường với gia đình, địa phương. Đặc biệt, đây là vùng bán sơn địa, điều kiện kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư cho việc học tập của HS vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là các điều kiện phục vụ học tập môn tiếng Anh.

Tiểu kết chương 1

Từ cách hiểu về các khái niệm quản lý có liên quan và khái niệm về dạy và học ngoại ngữ có thể xem quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ trong nhà trường Trung học phổ thông là công việc của một bộ phận liên kết giữa các thành viên như các GV trực tiếp giảng dạy, nhóm trưởng, tổ trưởng, giám hiệu phụ trách chuyên môn dưới sự chỉ đạo chung của người hiệu trưởng thực hiện các công việc như: đặt ra mục tiêu, lập kế hoạch, xác định các điều kiện, tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát các hoạt động này trong mối quan hệ với các hoạt động chuyên môn và các hoạt động khác trong nhà trường để phát triển toàn diện nhân cách của HS, nâng cao chất lượng học tập cho các em

Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định (điều lệ, quy chế, nội quy,…) về hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS, đảm bảo cho hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nề nếp ổn định, có chất lượng và hiệu quả cao.

Quản lý dạy học ở trường Trung học phổ thông nhằm quản lý việc xây dựng mục tiêu, nội dung dạy học, kế hoạch giảng dạy và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý phương pháp giảng dạy thực tế của GV, hoạt động học tập của HS, quản lý phương tiện dạy học, quản lý kiểm tra, đánh giá, làm cho các kế hoạch giảng dạy, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ, chính xác về nội dung và tiến độ thời gian, quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu dạy học.

Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông là quản lý mục tiêu và nội dung dạy học môn tiếng Anh, quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung sách giáo khoa, quản lý về đào tạo và bồi dưỡng GV dạy tiếng Anh, quản lý về cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học, quản lý về kiểm tra, đánh giá môn tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông.

Có rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong các trường Trung học phổ thông. Nếu các cán bộ quản lý biết phát huy những yếu tố thuận lợi và khắc phục những khó khăn trong việc thực hiện các biện pháp quản lý trên cơ sở đề xuất được các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn tiếng Anh phù hợp với tình hình thực tế địa phương thì việc quản lý Hoạt động dạy học môn tiếng Anh sẽ mang lại hiệu quả cao.

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993