Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học tiếng Anh ở trường THPT

Đánh giá post

Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

2.1. Vài nét khái quát về huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

2.1.1. Vị trí địa lí, dân cư

Huyện Ba Vì nằm ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội có diện tích 424 km2, được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi, vùng đồi gò và vùng đồng bằng với hai con sông lớn sông Hồng và sông Đà bao bọc. Dân số trên 265 ngàn người gồm ba dân tộc Kinh, Mường, Dao cùng sinh sống. Ba Vì có 30 xã và 1 thị trấn trong đó có 7 xã miền núi, 1 xã giữa sông và có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trung ương đóng trên địa bàn. Điều kiện khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm. Đất đai được chia làm hai nhóm đó là nhóm đồng bằng có 12.892 ha chiếm 41,1% diện tích đất đai và nhóm đồi núi có 18.478 ha chiếm 58,9 % diện tích đất đai của huyện.

2.1.2. Về kinh tế – xã hội

Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI, với những điều kiện thuận lợi cùng với những khó khăn, thách thức đan xen. Tình hình kinh tế – chính trị trong nước và khu vực còn có những diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương các cấp. Song được sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, sự nỗ lực phấn đấu các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân các dân tộc huyện nhà trong suốt những năm qua, cho nên tình hình kinh tế xã hội của huyện tiếp tục được phát triển và hoàn thành vượt mức kế hoạch 13/17 chỉ tiêu trên tất cả các mặt. Tổng giá trị sản xuất đạt 17.670 tỷ đồng đạt 100% kế hoạch tăng 12% so với cùng kỳ năm 2023, giá trị tăng thêm đạt 8.630 tỷ đồng đạt 101% kế hoạch, tăng trưởng kinh tế đạt 12,1%, cơ cấu kinh tế theo giá trị tăng thêm đạt và vượt kế hoạch đề ra, nhóm ngành du lịch –dịch vụ chiếm 52%, nông – lâm nghiệp chỉ còn 33%, công nghiệp xây dựng chiếm 15% thu nhập bình quân đầu người đạt 31 triệu đồng/năm.

Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp tiếp tục được quan tâm chỉ đạo đã mạnh dạn đưa khoa học kỹ thuật với các giống mới vào trồng trọt đã đem lại kết quả cao về giá trị, năng suất và chất lượng. Tổng diện tích gieo trồng cả năm 22.679 ha, sản lượng lúa đạt 85.200 tấn, tống sản lượng cây có hạt là 102.252 tấn, chăn nuôi phát triển mạnh mẽ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành nông nghiệp trong đó đàn bò sữa đạt 8.800 con đạt 102% kế hoạch tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái, đàn bò BBB đạt 4.200 con, tổng giá trị tăng thêm ngành lâm nghiệp đạt 2842 tỷ đồng đạt 101% kế hoạch. Việc xây dựng nông thôn mới theo tinh thần nghị quyết 02 của Thành ủy cơ bản đã hoàn thành ở 3 xã (Cổ Đô, Thuần Mỹ và Tản Hồng) có 10 xã đạt từ 13-16 tiêu chí, còn 17 xã cơ bản đạt từ 9-13 tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo quy định, từ đó bộ mặt nông thôn ngày càng được đổi mới; cho đến tháng 12 năm 2024 toàn huyện đã dồn điền đổi thửa và chia ruộng ngoài thực địa 600ha lũy kế đạt 5.262 ha đạt 115% kế hoạch thành phố giao. Trong lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp cũng có bước tăng trưởng khá, giá trị tăng thêm 1.320 tỷ đồng đạt 102% kế hoạch, công tác đầu tư xây dựng xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội được quan tâm chỉ đạo; thực hiện tích cực, đồng bộ có hiệu quả năm trật tự văn minh đô thị trong năm 2024 đã tổ chức tốt 4 đợt ra quân giải tỏa hành lang an toàn giao thông đường bộ góp phần tạo cảnh quan đô thị sáng – xanh – sạch đẹp hơn hoàn thành quy hoạch chung xây dựng thị trấn Tây Đằng và quy hoạch hệ thống nước sạch nông thôn trên địa bàn huyện giai đoạn 2023 – 2030.

2.1.3. Về tình hình giáo dục Trung học phổ thông

2.1.3.1 Mạng lưới các trường Trung học phổ thông

Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội có 9 trường Trung học phổ thông bao gồm; Trường Trung học phổ thông Quảng Oai, Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền – Ba Vì, Trường Trung học phổ thông Bất Bạt, Trường Trung học phổ thông Ba Vì, Trường Trung học phổ thông Minh Quang, Trường PTDT Nội Trú, Trung tâm GDTX, Trường Trung học phổ thông Lương Thế Vinh, Trường Trung học phổ thông Trần Phú – Ba Vì.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả chỉ lấy số liệu của 4 trường Trung học phổ thông đó là: Trường Trung học phổ thông Quảng Oai, Trường Trung học phổ thông Ba Vì, Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền – Ba Vì, Trường Trung học phổ thông Bất Bạt.

  • Bảng 2.1. Kết quả thống kê quy mô trường lớp, HS các trường Trung học phổ thông năm học 2024 – 2025

Theo bảng 2.1 cả bốn trường đều là trường hạng I số lớp của các trường đều đạt chuẩn (không quá 45 lớp, tuy nhiên số hs/lớp còn vượt quá quy đinh chuẩn (> 45hs/lớp).

Các trường đều có bề dày truyền thống trên 30 năm có trường thành lập được trên 50 năm (THPT Quảng Oai 53 năm; Trung học phổ thông Ba Vì 52 năm), các trường đều có số lớp và số học sinh đông học sinh phải học 2 ca/ ngày. Các trường đã được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1, chất lượng dạy và học bước đầu đáp ứng được yêu cầu trường chuẩn, tuy nhiên còn phải cố gắng hơn trong những năm tiếp theo để giữ vững được danh hiệu trường chuẩn.

2.1.3.2 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

Về đội ngũ cán bộ quản lý

  • Bảng 2.2. Thống kê số liệu đội ngũ cán bộ quản lý

Trong nhiều năm qua ngành Giáo dục và đào tạo Hà Nội đã quan tâm, đầu tư cho công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ Cán bộ quản lý, 100% hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các trường đều đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và trình độ quản lý giáo dục. Hiện nay mỗi trường đều có 04 đồng chí cán bộ quản lý và tổng số cán bộ quản lý của 04 trường là 16 đồng chí gồm 11 nam và 05 nữ, 16/16 đồng chí cán bộ quản lý đều đạt trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn, bình quân tuổi đời còn trẻ, tuổi nghề cũng khá cao, thâm niên quản lý hơn 1 nhiệm kỳ. Đây là điều kiện giúp hiệu trưởng chỉ đạo các hoạt động giáo dục trong nhà trường có hiệu quả.

Về đội ngũ giáo viên

  • Bảng 2.3. Thống kê số liệu đội ngũ giáo viên

Kết quả thống kê bảng 2.3 cho thấy số lượng giáo viên của các trường đáp ứng đủ so với định mức quy định (2,25 giáo viên/lớp). Số lượng giáo viên phải dạy vượt số tiết quy định là không đáng kể. Các trường đều đi vào ổn định tổ chức 100% giáo viên đã đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó số giáo viên đạt trên chuẩn có tỷ lệ khá cao, đây là những yếu tố thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục trong gia đoạn hiện nay.

Về đội ngũ nhân viên

  • Bảng 2.4. Thống kê số liệu đội ngũ nhân viên

Theo thông tư liên tịch số 35/2016/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 23/8/2016 quy định nhân viên tại các trường Trung học phổ thông công lập gồm kế toán, văn thư, thủ quỹ, thiết bị, thí nghiệm, thư viện, y tế, bảo vệ, lao công.

Kết quả bảng 2.4 cho thấy ở 4 trường số nhân viên đều có nhưng chưa đủ so với yêu cầu của nhà trường. Đây là những khó khăn cho việc thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa.

2.1.3.3 Học sinh

Chất lượng giáo dục và đào tạo của các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì thành phố Hà Nội trong những năm gần đây được thể hiện qua các bảng sau:

  • Bảng 2.5. Thống kê chất lượng giáo dục trí dục của học sinh 3 năm gần đây
  • Bảng 2.6. Thống kê chất lượng của môn Tiếng Anh 3 năm gần đây
  • Bảng 2.7. Thống kê chất lượng giáo dục đạo đức 3 năm gần đây
  • Biểu đồ 2.1. So sánh chất lượng môn Tiếng Anh với kết quả học lực năm học 1014 – 2025

Các số liệu thống kê cho thấy chất lượng giáo dục toàn diện của các nhà trường trong những năm qua đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ học sinh có học lực từ trung bình trở lên đạt >97%, các trường luôn giữ gìn được kỷ cương và nề nếp trong giảng dạy và học tập, tuy nhiên vẫn còn một số những hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phát triển toàn diện của các nhà trường, đó là chất lượng mũi nhọn chưa cao, tỉ lệ HS giỏi thấp, bên cạnh đó kết quả môn Tiếng Anh so với kết quả mặt bằng chung còn khá chênh lệch.

2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Qua điều tra thực tế các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội đã thu được kết quả thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh như sau: Tất cả các trường đều khẳng định trường mình thực hiện dạy học ngoại ngữ. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy, 100% các trường dạy học môn tiếng Anh theo chương trình của ban Cơ bản với 100% số ý kiến được hỏi và không có trường nào dạy ban Khoa học Xã hội do chương trình tiếng Anh của ban này nặng và môi trường học tiếng Anh của huyện còn hạn chế nên không có trường nào lựa chọn.

2.2.1. Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV và HS Trung học phổ thông về chương trình tiếng Anh

Để tìm hiểu nhận thức của Cán bộ quản lý, GV Tiếng Anh và HS về chương trình tiếng Anh. Qua điều tra về mức độ khó trong chương trình tiếng Anh hiện nay ở cả ba đối tượng Cán bộ quản lý, GV Tiếng Anh và HS, kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.8:

  • Bảng 2.8. Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV và HS về mức độ khó của chương trình tiếng Anh

Kết quả khảo sát ở bảng 2.8 cho thấy:

  • Đa số những người được điều tra cho rằng chương trình tiếng Anh khó (chiếm 80,5%).
  • Không có ai trong số những người được điều tra cho rằng chương trình tiếng Anh dễ (0,0%).
  • Số người cho rằng chương trình tiếng Anh hiện nay ở mức bình thường (không dễ quá, không khó quá) chỉ chiếm tỷ lệ thấp (19,5%).

So sánh giữa nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và HS cho thấy có sự tương đồng trong đánh giá về mức độ khó của chương trình tiếng Anh. Cả Cán bộ quản lý, GV và HS đều nhận thấy chương trình tiếng Anh hiện nay thực sự khó, trong đó HS khẳng định chương trình tiếng Anh hiện nay khó chiếm tỷ lệ cao nhất (90,0%); tiếp đến là các GV – những người trực tiếp giảng dạy tiếng Anh cũng đồng thuận với ý kiến trên với tỷ lệ thấp hơn (73,1%), còn Cán bộ quản lý cũng nhận thấy khó chỉ chiếm 68,7%. Sở dĩ Cán bộ quản lý lại có sự nhìn nhận như vậy đối với chương trình tiếng Anh hiện nay bởi chỉ một bộ phận nhỏ Cán bộ quản lý là các tổ trưởng bộ môn tiếp xúc trực tiếp với chương trình có sự đánh giá khá chính xác về nó. Còn HS vốn xem tiếng Anh một trong những môn học khó nhất vì thế đa số các em có đánh giá như trên.

Để bổ sung nhận thức về chương trình tiếng Anh, chúng tôi tiếp tục khảo sát GV và HS về mức độ khó của các nội dung kiến thức trong chương trình tiếng Anh hiện nay, kết quả thu được ở bảng 2.9:

  • Bảng 2.9. Đánh giá của GV và HS về độ khó của nội dung kiến thức môn tiếng Anh

Qua bảng 2.9 cho thấy, bốn nội dung trên đều được GV và HS đánh giá khó, trong đó nội dung được đánh giá khó nhất đối với HS và GV là đặt câu (40,9%). Đặt câu trong tiếng Anh một nội dung đòi hỏi HS cần phải có kiến thức tiếng Anh tổng hợp rất vững, để có thể đặt câu được chính xác đòi hỏi HS cần phải học tốt ngữ pháp cũng như từ vựng tiếng Anh,… Tiếp đến các kiến thức về ngữ pháp (27,3%). Còn việc học từ vựng chỉ có 10,6%.

Điều này cũng có thể giải thích rằng việc học ngữ pháp tiếng Anh rất khó nên cần sự ghi nhớ, linh hoạt sử dụng và sự chăm chỉ luyện tập, còn việc học từ vựng cũng khó nhưng dưới sự hướng dẫn của GV, HS có thể tự học từ vựng ở nhà hiệu quả. Đặc biệt học tiếng Anh không thể không học từ vựng, HS muốn học giỏi tiếng Anh trước hết phải trang bị cho mình một vốn từ vựng phong phú. Học từ vựng, điều bắt buộc đối với người học ngoại ngữ, không thể có thời gian học tại lớp mà phải học ở nhà theo hướng dẫn của GV. Về kỹ năng học tiếng Anh, kết quả khảo sát thể hiện rõ ở bảng 2.10 dưới đây:

  • Bảng 2.10. Đánh giá của GV và HS về mức độ khó của các kỹ năng học tiếng Anh đối với HS

Qua bảng trên cho thấy: Toàn bộ GV và HS được điều tra cho rằng kỹ năng nghe khó nhất (47%). Trong tiếng Anh, ngoài việc trang bị kiến thức về ngữ pháp, từ vựng,… HS còn được trang bị những kỹ năng cơ bản: Nghe, Nói, Đọc và Viết.

Kỹ năng nghe giúp HS có thể nghe hiểu được tiếng Anh sử dụng trong lớp học; nghe hiểu được tiếng Anh về các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ được đề cập đến trong chương trình.

Kỹ năng nói bao gồm việc thực hiện các yêu cầu giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Anh trong lớp học và ngoài lớp học; diễn đạt các nội dung giao tiếp đơn giản hàng ngày liên quan đến các chủ điểm, nội dung ngôn ngữ đã học trong chương trình.

Kỹ năng đọc bao gồm đọc hiểu nội dung chính các đoạn văn ngắn (khoảng 150 từ), đơn giản (phạm vi 1500 từ tối thiểu) về các chủ điểm đã học trong chương trình; Đọc hiểu các nội dung thông tin trên cơ sở ngữ liệu đã học, có kết hợp với suy đoán và tra cứu từ điển.

Kỹ năng viết bao gồm viết có hướng dẫn các đoạn văn mô tả hoặc báo cáo tường thuật về các hoạt động của cá nhân hoặc lớp học trong khuôn khổ ngôn ngữ, chủ điểm của chương trình; Kỹ năng viết để phục vụ các nhu cầu giao tiếp cá nhân, xã giao đơn giản (như điền vào các phiếu cá nhân, bằng điều tra, viết thư cho bạn,…). Để hình thành được các kỹ năng trên trong học tiếng Anh rất khó khăn đối với HS. Tuy nhiên mức độ khó khăn trong việc hình thành các kỹ năng trên theo quan điểm của GV và HS có khác nhau.

Có thể nói, kỹ năng nghe trong học tiếng Anh luôn gặp nhiều khó khăn nhất, vì HS chưa được trang bị đầy đủ vốn từ vựng và ngữ pháp cần thiết, đồng thời khi nghe chỉ được nghe trong một thời điểm rất ngắn không có sự hỗ trợ nào từ các phương tiện xung quanh.

Tiếp đến là kỹ năng nói với 28,8% ý kiến đồng ý do hình thành kỹ năng nói cho HS, yêu cầu GV cần giảng dạy với những phương pháp tích cực thu hút được sự chủ động tham gia vào hoạt động của lớp học. Trong dạy học môn tiếng Anh, để HS có thể tự tin nói bằng tiếng Anh đòi hỏi GV cần tạo cơ hội cho HS được chủ động nói, giao tiếp thường xuyên với các bạn xung quanh,… Tuy nhiên, thực tế dạy học môn tiếng Anh ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, tâm lý tự ti của chính HS vẫn còn nặng nề nên việc hình thành kỹ năng nói còn gặp nhiều khó khăn.

Trong tiếng Anh kỹ năng đọc được khẳng định ít khó nhất (9,1% ý kiến đánh giá). Sở dĩ cả GV và HS đánh giá như vậy do kỹ năng này được hình thành trong học tập được sự hỗ trợ của GV và từ điển.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS về khó khăn trong việc hình thành các kỹ năng trong học tập tiếng Anh của HS ở bảng 2.10 cho thấy có sự tương đồng nhất định. Nhìn chung trong nhận thức về độ khó của chương trình tiếng Anh hiện nay ở GV và HS Trung học phổ thông cho thấy chương trình có mức độ khó cả về kiến thức và các kỹ năng tiếng Anh.

2.2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh

Để nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh hiện nay, đề tài luận văn đã nghiên cứu từ nội dung, chương trình đến hoạt động học tập của HS, việc tổ chức dạy học của GV,…

Về nội dung chương trình tiếng Anh, GV và HS có sự đánh giá về mức độ thích hợp của nội dung, chương trình trong giáo dục Trung học phổ thông hiện nay với kết quả thu được ở bảng 2.11 dưới đây:

  • Bảng 2.11. Đánh giá của GV và HS về nội dung, chương trình Sách giáo khoa

Việc đánh giá của GV và HS về chương trình ở bảng 2.11 cho thấy, 57,6% GV và HS đánh giá hợp lý, 31,8% ý kiến bình thường, hơn nữa vẫn còn có tới 10,6% ý kiến cho rằng không hợp lý. Việc xây dựng chương trình tiếng Anh hiện nay được các chuyên gia, các nhà giáo nghiên cứu kế thừa chương trình cũ và phân loại xây dựng chương trình theo 3 ban là Tự nhiên, Xã hội và Cơ bản. Chương trình tiếng Anh được biên soạn nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của HS trong thời kỳ hội nhập cũng như đòi hỏi của xã hội.

Các trường thuộc huyện Ba Vì đều lựa chọn chương trình tiếng Anh thuộc ban Cơ bản để giảng dạy cho HS. Chương trình tiếng Anh thuộc ban Cơ bản – chương trình đại trà phù hợp với HS không chuyên tiếng Anh với sự kế thừa của chương trình THCS và có định hướng giúp HS có thể tiếp tục học tập lên bậc học cao hơn hoặc giúp HS tự tin bước ra cuộc sống. Sở dĩ vẫn còn có tới 12,1% ý kiến khẳng định chương trình không hợp lý một phần do nhận thức của HS chưa đầy đủ về chương trình tiếng Anh hiện nay, có rất nhiều HS cảm thấy chưa thích nghi với chương trình này mà cho rằng chương trình tiếng Anh khó.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS về nội dung, chương trình sách giáo khoa tiếng Anh cho thấy đa số GV cảm thấy chương trình sách giáo khoa hợp lý với 65,8% ý kiến và 3,8% GV cho rằng không hợp lý. Trong khi đó số HS cảm thấy hợp lý chỉ có 52,5% và vẫn còn có tới 15% HS cho rằng không hợp lý. Để lý giải điều này chúng ta thấy GV nhận thức tốt xu thế phát triển của đất nước và đòi hỏi của xã hội về ngoại ngữ (tiếng Anh) đối với HS Trung học phổ thông, đồng thời nhận thấy việc đổi mới chương trình này phù hợp với xu thế tất yếu trong việc đổi mới giáo dục hiện nay. Bên cạnh đó, có một số HS cảm thấy nội dung, chương trình sách giáo khoa không hợp lý bởi các em có thể chưa thích nghi được với việc đổi mới chương trình và đối với các em tiếng Anh là môn học khó.

Trong dạy học môn tiếng Anh các phương pháp dạy học đạt hiệu quả như thế nào chúng tôi nghiên cứu về mức độ hiểu bài của HS khi GV sử dụng. Kết quả thể hiện ở bảng 2.12 dưới đây:

  • Bảng 2.12. Đánh giá của GV và HS về phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông

Trong dạy học nói chung và dạy học môn tiếng Anh nói riêng ở trường Trung học phổ thông, việc sử dụng các phương pháp dạy học cần phải thường xuyên được đổi mới hướng vào người học, HS chính là chủ thể hoạt động, do vậy cần khuyến khích các em tích cực, chủ động, sáng tạo, độc lập trong học tập.

Tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội từ khi đổi mới chương trình dạy học các GV cũng đã tích cực, chủ động đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung, chương trình. Hiệu quả của việc đổi mới phương pháp đó được GV và HS đánh giá ở bảng 2.12 cho thấy có 56,1% số ý kiến cho rằng các phương pháp dạy học của GV tiếng Anh dễ hiểu nhưng vẫn có 7,6% ý kiến đánh giá các phương pháp của GV khó hiểu, đặc biệt có 3,0% ý kiến lại cho rằng các phương pháp GV sử dụng không hiểu.

Với kết quả trên cho thấy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy của GV tiếng Anh chưa thực sự đem lại hiệu quả. Vì vậy, trong điều kiện cũng như yêu cầu hiện nay của xã hội đòi hỏi người GV cần tích cực tìm tòi, học tập để cải tiến các phương pháp dạy học của bản thân sao cho phù hợp với HS giúp các em hiểu bài hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp dạy học môn tiếng Anh cũng chỉ có 61,5% GV tự tin cho rằng các phương pháp giảng dạy của mình giúp HS dễ hiểu bài bên cạnh đó cũng chỉ có 52,5% HS đánh giá ở mức độ này. Trong khi không có GV nào cho rằng các phương pháp dạy học của mình sử dụng làm cho HS khó hiểu hoặc không hiểu bài thì lại có 12,5% HS cảm thấy khó hiểu và 5,0% HS không hiểu bài đối với các phương pháp dạy học của GV.

Từ khi đổi mới chương trình luôn đòi hỏi GV không ngừng cải tiến, đổi mới các phương pháp dạy học đã giúp cho chất lượng dạy học môn tiếng Anh được nâng lên nhưng việc sử dụng, đổi mới phương pháp cũng chưa giúp tất cả HS dễ hiểu bài. Tất nhiên, kết quả trên cũng đặt ra một câu hỏi rằng tại sao vẫn còn GV chưa thực sự tự tin đối với bản thân và tại sao vẫn có những HS không hiểu bài? Kết quả này cho thấy, GV cần cố gắng hơn nữa trong việc cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học của mình, hơn nữa các cấp quản lý cũng cần quan tâm sát sao hơn nữa trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh của nhà trường.

Trong dạy học môn tiếng Anh, ngoài việc quan tâm đến nội dung, chương trình, phương pháp đề tài còn nghiên cứu việc GV tổ chức phong trào học tập tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Kết quả thể hiện ở bảng 2.13 dưới đây:

  • Bảng 2.13. Đánh giá của GV và HS về hoạt động học tập tiếng Anh tại các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Trong chương trình Trung học phổ thông, tiếng Anh, môn học có đặc thù riêng cho nên việc tổ chức giảng dạy và học tập cũng có những nét đặc trưng nhất định. Ngoài việc học tập trên lớp, GV còn tổ chức cho HS học tập ngoại khóa, thành lập câu lạc bộ yêu thích tiếng Anh, nhóm học tập, các buổi sinh hoạt chuyên đề bằng tiếng Anh nhằm giúp HS có hứng thú học tập, thích học tiếng Anh hơn,…

Thực chất ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội việc tổ chức các phong trào học tập như vậy cũng chưa được triển khai đồng đều để thu hút được HS tham gia nhiệt tình.

Cụ thể kết quả ở bảng 2.13 cho thấy, chỉ có 10,6% ý kiến GV và HS khẳng định các phong trào học tập tiếng Anh được tổ chức rất sôi nổi, 40,9% ý kiến nhận xét các phong trào học tập ở mức sôi nổi nhưng có tới 18,2% ý kiến cho rằng các phong trào diễn ra không sôi nổi.

Để các hoạt động học tập được sôi nổi các cấp quản lý cần quan tâm hơn nữa để GV có thể đầu tư công sức cho các hoạt động học tập của HS, đồng thời cũng có sự chỉ đạo các đoàn thể đặc biệt là Đoàn Thanh niên cần tổ chức các hoạt động phong trào gắn học tập với thực tiễn đặc biệt môn tiếng Anh tại các nhà trường.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS về các phong trào học tập tiếng Anh tại các trường cho thấy có sự tương đồng. Chỉ có hơn một nửa số ý kiến nhận xét các phong trào này diễn ra sôi nổi, vẫn còn tới 18,2% ý kiến khẳng định không sôi nổi (15,4% ý kiến của GV và 20% ý kiến của HS). Điều này cho thấy các phong trào học tập tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội chưa thu hút được nhiều GV và HS tham gia. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến thái độ học tập và giảng dạy môn tiếng Anh trong nhà trường, đòi hỏi các cấp lãnh đạo cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm tổ chức các phong trào dạy học môn tiếng Anh sôi nổi thu hút sự tham gia tích cực của GV và HS

Phương pháp giảng dạy, việc tổ chức các phong trào học tập của nhà trường cũng ảnh hưởng rất nhiều đến thái độ của HS trong việc học tập tiếng Anh. Sau đây là kết quả khảo sát thái độ của HS các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đối với môn tiếng Anh. Kết quả thu được ở bảng 2.14 sau:

  • Bảng 2.14. Đánh giá của GV và HS về thái độ của HS đối với môn tiếng Anh

Tiếng Anh, môn học khó đối với đa số HS, nên khi được hỏi về thái độ của HS đối với môn tiếng Anh theo chương trình mới cả GV và HS đều trả lời ở cả 4 mức độ được nêu ở bảng 2.14, đặc biệt HS không thích học môn tiếng Anh chiếm 25,0%. Đa số những ý kiến HS đánh giá có thái độ rất thích học tiếng Anh, một phần các em có được những tố chất cần thiết để học tốt môn này và phần lớn do các em đã lựa chọn tiếng Anh là môn học để mình có thể học tiếp lên.

Khi trao đổi với em Dương Thu H (Lớp 12A6 Trường Trung học phổ thông Ba Vì) với câu hỏi: “Vì sao em rất thích học môn tiếng Anh?” Em H trả lời: “Sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông em sẽ thi khối D, vì vậy ngay từ khi mới vào học Trung học phổ thông em đã cố gắng học tốt môn tiếng Anh, dành nhiều thời gian và công sức cho môn này”. Với những HS có ý kiến thích học tiếng Anh do các em có nhận thức đúng vai trò của môn tiếng Anh trước hết, đối với việc học tập tiếng Anh, môn bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp. Còn một bộ phận nhỏ HS không thích học tiếng Anh một phần do các em coi tiếng Anh, môn học khó và chưa thực sự chú tâm trong học tiếng Anh.

Chỉ khi nào HS có thái độ đúng đắn đối với môn học thì chất lượng của học tập mới được nâng lên. HS có thái độ như trên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học, điều này đòi hỏi GV phải tạo ra hứng thú cho HS đối với môn học của mình, giúp các em nhận thức đúng đắn được vai trò của môn tiếng Anh không chỉ đối với quá trình học tập mà nó còn rất cần thiết đối với mỗi người trong cuộc sống hiện nay.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS, về thái độ của HS đối với môn tiếng Anh ở bảng 2.14 cho thấy có sự khác biệt khá lớn. Ở mức độ rất thích, bình thường tỷ lệ đánh giá có sự chênh lệch không lớn lắm. Còn mức độ thích thì chênh lệch lên đến 26,4% (53,9% GV so với 27,517% HS). Đặc biệt ở mức độ không thích không có GV nào cho rằng HS không thích học tiếng Anh nhưng khi chúng tôi khảo sát HS thì có tới 25,0% HS được hỏi cho rằng mình không thích học tiếng Anh.

Như vậy, khi đánh giá về thái độ của HS đối với môn tiếng Anh thì GV mới chỉ nhìn bề ngoài mà chưa tìm hiểu được tâm tư, nguyện vọng của HS khi học bộ môn mình dạy. Điều này cũng cho thấy, GV chưa thực sự gần gũi, tạo ra hứng thú học tập, lôi cuốn HS trong các tiết dạy của mình.

Kết quả trên đã phản ánh một phần hoạt động giảng dạy và học tập môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Dưới đây đề tài tiếp tục nghiên cứu việc tổ chức dạy học môn tiếng Anh. Kết quả thu được ở bảng 2.15 dưới đây:

  • Bảng 2.15. Đánh giá của GV và HS về việc tổ chức dạy học môn tiếng Anh

Việc tổ chức dạy học môn tiếng Anh của GV được thể hiện ở bảng 2.15 với điểm trung bình khá thấp. Trong 6 nội dung:

Xếp thứ nhất là “GV sử dụng nhiều phương pháp dạy học mới” với X = 2,50 (trong đó chỉ có 33 ý kiến cho rằng GV thường xuyên sử dụng). “GV sử dụng nhiều phương tiện dạy học hiện đại” có X = 2,21 với xếp thứ 4 (trong đó có 18 ý kiến đánh giá ở mức độ thường xuyên, 44 ý kiến đánh giá ở mức thỉnh thoảng và 4 ý kiến đánh giá ở mức không bao giờ). Trong đổi mới nội dung, chương trình dạy học đặc biệt đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh, phương tiện dạy học nhất là phương tiện dạy học hiện đại luôn hỗ trợ đắc lực nhất nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.

Tuy nhiên, các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội lại chưa sử dụng thường xuyên một phần là do các trường còn thiếu phương tiện, mặt khác, do GV chưa được đào tạo, bồi dưỡng để sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. Xếp thứ 5 trong bảng khảo sát, “Tổ chuyên môn rút kinh nghiệm hàng tuần” với X = 2,20. Để thực hiện được nội dung này thực sự rất khó nhưng nhằm nâng cao chất lượng dạy học thì việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy cũng rất cần thiết. Xếp thứ bậc thấp nhất, nội dung “GV kích thích HS tích cực, chủ động và hứng thú học tập tiếng Anh” với X = 2,14 (trong đó có 16 ý kiến cho rằng GV thường xuyên kích thích HS học tập, có tới 7 ý kiến cho rằng GV chưa bao giờ làm điều này). Kết quả này có thể lý giải thêm tại sao HS lại có thái độ như vậy đối với môn học này.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS về việc GV tổ chức hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở bảng 2.15 cho thấy, có những tương đồng trong đánh giá về một số nội dung như nội dung “GV sử dụng nhiều phương pháp mới”, “GV hướng dẫn HS phương pháp học tập tiếng Anh” “GV kích thích HS tích cực chủ động và hứng thú học tập tiếng Anh”, nhưng vẫn còn một số nội dung lại có sự khác biệt về thứ bậc trong đánh giá giữa GV và HS như nội dung “GV sử dụng nhiều phương tiện dạy học hiện đại” (GV đánh giá xếp thứ 6, còn HS đánh giá xếp thứ 3).

Kết quả bảng trên cho thấy, các cấp quản lý có rất nhiều việc phải làm đặc biệt cần có những biện pháp quản lý hoạt động dạy học, cần động viên, khuyến khích, tạo điều kiện để GV học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ giúp cho hoạt động dạy học đạt được hiệu quả, chất lượng.

Trong quá trình dạy học, không thể thiếu được việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Kiểm tra, đánh giá là khâu cơ bản, nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường. Tổng hợp các yếu tố thúc đẩy sự học tập và rèn luyện của HS, giữ vai trò quyết định đến chất lượng dạy học.

Qua các bài kiểm tra, chúng tôi nghiên cứu về mức độ khó của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS trong dạy học môn tiếng Anh. Kết quả thể hiện ở bảng 2.16 sau:

  • Bảng 2.16. Đánh giá của GV và HS về việc kiểm tra, đánh giá HS môn tiếng Anh

Trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của HS Trung học phổ thông bao gồm các bài kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra học kỳ. Các bài kiểm tra kết quả học tập môn tiếng Anh của HS bảng 9 cho thấy không có ý kiến nào cho rằng các bài kiểm tra đánh giá là dễ. Mức độ vừa sức có số ý kiến lớn nhất 47,0%, đặc biệt có 13,6% số ý kiến cho rằng đề thi rất khó.

Như vậy, đa số ý kiến cho rằng các bài kiểm tra môn tiếng Anh thực sự khó đối với HS, GV chưa quan tâm tìm hiểu cũng như kiểm tra đầu vào của từng HS, đại đa số HS trong lớp để có những bài kiểm tra phù hợp với số đông HS.

So sánh giữa đánh giá của GV và HS về mức độ khó của các bài kiểm tra, đánh giá kết quả HS ở bảng 2.16 cho thấy có sự chênh lệch rất lớn ở tất các các mức độ. Ở mức độ “rất khó” độ chênh lệch chỉ có 12,5% (0% so với 12,5%) nhưng đến mức độ “khó” độ chênh lệch lên đến 20,7% (26,9% so với 47,5%). Sự chênh lệch lớn nhất ở mức độ vừa sức lên đến 33,1% (trong đó 73,1% đánh giá của GV so với 40,0% đánh giá của HS).

Có sự chênh lệch trên do sự đánh giá chủ quan của các đối tượng khảo sát, mặc dù đều có ý kiến ở mức độ rất khó và khó, song đa số GV đánh giá việc kiểm tra, đánh giá HS của mình vừa sức nhưng có tới hơn một nửa HS cảm thấy khó trở lên. Điều này đặt ra cho GV, tổ chuyên môn, các cấp quản lý cần nghiên cứu kỹ đối tượng để có thể ra đề kiểm tra, đánh giá sao cho vừa sức với đại đa số HS. Đặc biệt cần có những biện pháp kèm cặp, giúp đỡ các HS yếu trong học tập môn học của mình.

Tóm lại, từ những phân tích ở trên cho thấy, hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, số lượng GV dạy tiếng Anh và HS học tiếng Anh ngày càng tăng, hình thức dạy học môn tiếng Anh ngày càng phong phú, đa dạng. Đa số GV và HS cho rằng chương trình tiếng Anh khó. Các phương pháp dạy học đã được đổi mới song vẫn còn nhiều hạn chế do GV chưa quan tâm hết đến từng HS, chưa hiểu rõ đặc điểm tâm lý – nhận thức của HS nên lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học chưa phù hợp với đối tượng. Vì vậy, các cấp lãnh đạo cần có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh.

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Để đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh của Cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, tác giả đã tiến hành khảo sát 16 Cán bộ quản lý, 26GV, 40 HS với 05 nội dung sau:

  • Quản lý thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học môn tiếng
  • Quản lý thực hiện chương trình, sách giáo khoa môn tiếng
  • Quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng GV tiếng
  • Quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học môn tiếng
  • Quản lý kiểm tra, đánh giá dạy học môn tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông.

Cách đánh giá kết quả mức độ nhận thức về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động DH môn tiếng Anh như sau:

Tầm quan trọng:

  • Rất quan trọng (RQT) : 3 điểm – Quan trọng (QT): 2 điểm
  • Không quan trọng (KQT) : 1 điểm

Mức độ thực hiện:

  • Tốt: 3 điểm – Khá: 2 điểm – TB: 1 điểm

Sau đó lấy điểm tổng, điểm trung bình của mỗi nội dung và xếp thứ bậc. Kết quả khảo sát cụ thể như sau:

2.3.1. Quản lý thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học môn tiếng Anh

2.3.1.1 Nhận thức thức của Cán bộ quản lý về tầm quan trọng của các nội dung quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường

  • Bảng 2.17. Nhận thức của Cán bộ quản lý về tầm quan trọng của các nội dung quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong trường Trung học phổ thông

Nhận xét, kết quả ở bảng 2.17 cho thấy, các Cán bộ quản lý đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng của các nội dung quản lý Hoạt động dạy học. Có 9/10 nội dung quản lý Hoạt động dạy học được các Cán bộ quản lý xếp ở mức rất cần thiết X > 2,5, chỉ có một nội dung xếp ở trung bình. Điều này chứng tỏ Cán bộ quản lý đã xác định việc quản lý Hoạt động dạy học trong nhà trường là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản.

CBQL rất coi trọng quản lý việc lên lớp của GV, quản lý hoạt động học của HS, Quản lý công tác kiểm tra và đánh giá GV, HS, Quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của GV, với X > 2,70.

CBQL nhận thức không thật cần thiết việc thực hiện chương trình, hồ sơ chuyên môn là ở mức trung bình, X = 2,44.

2.3.1.2 Nhận thức của cán bộ quản lý và GV về tầm quan trọng của các nội dung quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường

  • Bảng 2.18. Nhận thức của Cán bộ quản lý và GV về tầm quan trọng các nội dung quản lý Hoạt động dạy học tiếng Anh của trường Trung học phổ thông

Nhận xét: Kết quả bảng 2.18 cho thấy, điểm trung bình đánh giá về tầm quan trọng của 10 nội dung đều không nhỏ hơn X = 2,64 chứng tỏ cán bộ quản lý và GV đều đánh giá tương đối tốt về mức độ quan trọng của việc quản lý nội dung dạy học. Trong đó các nội dung được đánh giá cao, như quản lý: thực hiện chương trình, hồ sơ chuyên môn; quản lý công tác kiểm tra và đánh giá GV, HS với X = 2,98; công tác quản lý việc xây dựng, thực hiện kế hoạch; quản lý việc lên lớp của GV; quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng thiết bị giảng dạy với X = 2,86; Quản lý việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn của GV, quản lý hoạt động học của HS, quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ GV với X ³ 2,81. Tuy nhiên vẫn còn đánh giá về nội dung quản lý Cơ sở vật chất phục vụ dạy học của hiệu trưởng chưa toàn diện. Cụ thể là: Quản lý Cơ sở vật chất phục vụ dạy học với X = 2,64, xếp thứ 10.

2.3.2. Quản lý thực hiện chương trình, nội dung dạy học môn tiếng Anh

Để nghiên cứu thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học Cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông tại huyện Ba Vì chúng tôi nghiên cứu, lấy ý kiến của 16 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và tổ trưởng tổ Ngoại Ngữ, 26 GV của tất cả các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện.

Quy định tính điểm cho phần thực hiện các nội dung quản lý Hoạt động dạy học như sau:

  • Thực hiện tốt: 3 điểm – Bình thường: 2 điểm – Chưa tốt: 1 điểm

Sau đó tính tổng điểm (å) và tính điểm bình quân ( X ) để xem xét mức độ thực hiện, mức độ tác dụng của các nội dung quản lý hoạt động dạy học.

2.3.2.1 Thực trạng quản việc xây dựng thực hiện kế hoạch của GV

  • Bảng 2.19. Mức độ thực hiện các nội dung quản lý xây dựng và thực hiện kế hoạch của GV

Nhận xét: Kết quả ở bảng 2.19 cho thấy mức độ thực hiện các nội dung quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của GV được đánh giá ở mức khá, với điểm bình quân X =2,73. Trong đó hiệu trưởng đánh giá với X = 2,56 còn GV đánh giá ở mức cao hơn với X = 2,81; kết quả này cho chúng ta thấy những người làm trực tiếp, thì thường đánh giá việc mình thực hiện là tốt, mang ý kiến chủ quan nhiều hơn. Người ngoài cuộc đánh giá có thể khách quan hơn, nhưng cũng có thể không sâu, không nhìn nhận hết mọi vấn đề.

Các nhiệm vụ thực hiện không đồng đều, thể hiện 2,73 < X < 2,97; Nhiệm vụ thực hiện tốt nhất là “Hiệu trưởng duyệt kế hoạch năm học, môn học, tổ chuyên môn” với X = 2,97. Nhiệm vụ thực hiện thấp nhất là “Chỉ đạo tổ chuyên môn, GV xây dựng kế hoạch năm học, môn học” với X = 2,73. Hai nhiệm vụ cần quan tâm chỉ đạo đó là: “Quy định số lượng, chất lượng hồ sơ chuyên môn GV, tổ chuyên môn” với X = 2,78; ” Tổ chức việc kiểm tra đánh giá GV, HS” với X = 2,95. Mức chênh lệch giữa hai nhiệm vụ đó là không đáng kể, tuy nhiên để đạt hiệu quả cao, Cán bộ quản lý cần phải chú ý tới việc thực hiện các nội dung một cách đồng bộ.

2.3.2.2 Thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học

Nội dung quản lý thực hiện chương trình dạy học môn tiếng Anh của hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông của huyện được hiệu trưởng và GV đánh giá thực hiện tương đối tốt, các hiệu trưởng đã có nhiều cách thức để quản lý, chỉ đạo GV thực hiện tốt, đầy đủ chương trình dạy học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo với X = 2,73. Điều này khẳng định hiệu trưởng đã làm tốt công tác quản lý chương trình dạy học. Song bên cạnh đó thì các nhiệm vụ được thực hiện không đồng đều.

Nhiệm vụ được đánh giá thực hiện tốt nhất đó là: Hiệu trưởng duyệt kế hoạch năm học, tổ chuyên môn với X = 2,97. Nhiệm vụ được đánh giá thấp nhất là “Chỉ đạo chuyên môn, GV xây dựng kế hoạch năm học, môn học” với X = 2,73 cho thấy trong quá trình quản lý hiệu trưởng chưa tổ chức nhiều kênh thông tin để nắm việc thực hiện chương trình dạy học của GV. Do vậy cần được phát huy và điều chỉnh giữa các nội dung cho hợp lý hơn.

2.3.3. Quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV tiếng Anh

2.3.3.1 Mức độ nhận thức về nội dung quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng GV tiếng Anh

Không thể quản lý thành công bất kỳ một hoạt động nào nếu hoạt động đó không có sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn. Qua khảo sát các Cán bộ quản lý trong huyện, chúng tôi có kết quả sau đây:

  • Bảng 2.20. Mức độ nhận thức về nội dung quản lý đào tạo, bồi dưỡng GV tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì

Nhận xét, kết quả ở bảng 2.20 cho thấy, các Cán bộ quản lý đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng của các nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Có 6/6 nội dung đào tạo bồi dưỡng được các Cán bộ quản lý xếp ở mức rất cần thiết X > 2,63.

CBQL và GV rất coi trọng quản lý “Tổ chức hội thảo chuyên đề, tổng kết kinh nghiệm, Công tác bồi dưỡng GV kế hoạch của Sở Giáo dục, Xây dựng tập thể đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau nâng cao trình độ sư phạm, với X > 2,81.

2.3.3.2 Mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng GV tiếng Anh

Đề tài tiến hành khảo sát mức độ thực các nội dung QL hoạt động đào tạo, bồi dưỡng GV tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì. Kết quả nhận được như sau:

  • Bảng 2.21. Mức độ thực hiện các nội dung quản lý đào tạo, bồi dưỡng GV tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì

Bảng 2.21 cho thấy hầu hết các nội dung được thực hiện ở mức khá.

Cán bộ quản lý chỉ bồi dưỡng GV theo chương trình của cấp trên. Công tác tổ chức hội thảo chuyên đề chưa được trú trọng, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng còn hạn chế, thăm quan học hỏi kinh nghiệm, còn chưa được đánh giá cao.

So sánh bảng 2.20 và bảng 2.21: Mặc dù Cán bộ quản lý đánh giá việc Tổ chức hội thảo chuyên đề để nâng cao chất lượng đào tạo nhưng vẫn chưa thực hiện tốt. Hầu hết các nội dung thực hiện ở mức Khá.

2.3.4. Quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học môn tiếng Anh

2.3.4.1 Mức độ nhận thức các nội dung quản lý Cơ sở vật chất dạy học môn tiếng Anh

Qua khảo sát các Cán bộ quản lý trong huyện về nhận thức việc quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị và đồ dùng dạy học môn tiếng Anh, chúng tôi có kết quả sau đây:

  • Bảng 2.22. Mức độ nhận thức các nội dung quản lý Cơ sở vật chất dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì

Nhận xét: Kết quả bảng 2.22 cho thấy, điểm trung bình đánh giá về tầm quan trọng của 5 nội dung đều không nhỏ hơn X = 2,63 chứng tỏ cán bộ quản lý đều đánh giá tương đối tốt về mức độ quan trọng của việc quản lý quản lý Cơ sở vật chất. Trong đó các nội dung được đánh giá cao, như “Bổ sung, mua sắm các thiết bị dạy học hiện đại” X = 2,88; “Xây dựng phòng nghe nhìn, phòng Lab phục vụ dạy học môn tiếng Anh” X = 2,81. “Xây dựng thư viện phong phú sách tham khảo dạy học môn tiếng Anh” X = 2,75. Tuy nhiên, vẫn còn đánh giá về nội dung “Chỉ đạo tổ chức làm đồ dùng dạy học, có chế độ khuyến khích hợp lý” X = 2,63.

2.3.4.2 Mức độ thực hiện các nội dung quản Cơ sở vật chất dạy học môn tiếng Anh

  • Bảng 2.23. Mức độ thực hiện các nội dung quản lý Cơ sở vật chất dạy học tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì

Đề tài đã tiến hành khảo sát mức độ thực các nội dung quản lý Cơ sở vật chất dạy học tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì. Kết quả nhận được như sau:

Cả 4 trường Trung học phổ thông ở huyện Ba Vì chưa trường nào có phòng bộ môn nghe nhìn, phòng Lab phục vụ dạy học môn tiếng Anh, các thiết bị phục vụ việc học Tiếng Anh gồm có máy chiếu (projector) chỉ dùng khi thao giảng, thăm lớp dự giờ. Trong giờ học chỉ có đài, sách giáo khoa, tranh ảnh và một số đồ dùng trực quan do GV chuẩn bị.

Kết quả ở bảng 2.23 cho thấy mức độ thực hiện nội dung quản lý quản lý Cơ sở vật chất dạy tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất nghèo nàn. Việc đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học chưa đáp ứng được với khoa học kỹ thuật hiện nay.

2.3.5. Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh ở trường THPT

2.3.5.1 Mức độ nhận thức các nội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh

  • Bảng 2.24. Mức độ nhận thức các nội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh

Nhận xét: Kết quả bảng 2.24 cho thấy, điểm trung bình đánh giá về tầm quan trọng của 5 nội dung đều không nhỏ hơn X = 2,75 chứng tỏ cán bộ quản lý đều đánh giá cao về các nội dung quản lý kiểm tra đánh giá. Trong đó các nội dung được đánh giá cao, như “Quán triệt GV nắm vững Quy chế đánh giá HS trung học”,“Xây dựng tiêu chí thi đua khen thưởng và thực hiện việc thi đua khen thưởng một cách khách quan, công bằng” X = 3,00.

2.3.5.2 Mức độ thực hiện các nội dung quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh

  • Bảng 2.25. Mức độ thực hiện các nội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì

Qua bảng 2.25 cho thấy Cán bộ quản lý làm tốt công tác tập huấn để GV và HS nắm vững quy chế đánh giá xếp loại HS trung học, giám sát chặt chẽ quy trình kiểm tra, đánh giá HS đúng tính chất bộ môn.

Tuy nhiên, việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cần phải được quan tâm hơn nữa, Cán bộ quản lý khuyến khích thúc đẩy tổ chuyên môn xây dựng ngân hàng câu hỏi theo bộ môn, từng khối lớp và theo chủ điểm. Việc xây dựng tiêu chí thi đua khen thưởng, khen thưởng phải kịp thời, khách quan và công bằng.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì thành phố Hà Nội

2.4.1. Điểm mạnh

Mặc dù còn khó khăn nhiều về Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học bộ môn tiếng Anh, nhưng công tác quản lý của các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì đạt được một số kết quả sau:

Việc quản lý thực hiện kế hoạch của tổ bộ môn có kết quả khá tốt. Cán bộ quản lý đã chỉ đạo một cách sâu sát đến việc lên các kế hoạch năm học của tổ bộ môn Ngoại ngữ, giám sát thực hiện có hiệu quả có sự điều chỉnh kịp thời để phù hợp với những thay đổi trong quá trình dạy học.

Cán bộ quản lý đã nhận thức được vai trò của Ngoại ngữ trong đời sống xã hội, có chính sách khuyến khích bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

Quản lý hoạt động đánh giá HS cũng được các Cán bộ quản lý quan tâm, trong đó việc quán triệt các văn bản, công văn về Quy chế đánh giá HS trung học được nhận thức và thực hiện triệt để nhất.

Cán bộ quản lý các trường đã sử dụng một số nội dung quản lý vào việc quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh. Đã có việc nhận thức về các nội dung đó ở mức độ cao, song thực hiện chưa tương xứng với nhận thức đó. Vì vậy, hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chưa cao

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân

Cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ dạy học môn tiếng Anh của các nhà trường còn thiếu. Hiện nay, vẫn chưa có trường nào có phòng thực hành tiếng (Lab), chỉ với máy cassette thì việc dạy nghe nói khó có thể đạt kết quả cao được. Mặc dù Cán bộ quản lý nhận thức được cần phải đầu tư cho Cơ sở vật chất nhưng kinh phí đầu tư cấp cho Cơ sở vật chất còn hạn chế.

Việc bồi dưỡng GV về chuyên môn nghiệp vụ, công tác chuyên đề, thăm lớp dự giờ chỉ mang tính hình thức do quy chế thi đua khen thưởng thực hiện chưa thường xuyên, kịp thời.

Phong trào học tập tiếng Anh còn hạn chế, phụ huynh HS chỉ đầu tư cho các em vào các môn thi đại học, cao đẳng.

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực giao tiếp cho HS (communicative approach) tuy có thực hiện nhưng chưa tạo thành phong trào trong các trường Trung học phổ thông trong huyện do hình thức thi tốt nghiệp Trung học phổ thông môn tiếng Anh vẫn nghiêng nhiều về kiểm tra kiến thức ngôn ngữ.

Tiểu kết chương 2

  • Qua nghiên cứu thực trạng vấn đề nghiên cứu, chúng tôi có một số kết luận sau:

Quản lý dạy học môn tiếng Anh tại các trường Trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định, chất lượng dạy học môn tiếng Anh ngày càng được nâng cao.

Cán bộ quản lý các trường đã sử dụng một số nội dung quản lý vào việc quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh. Đã có việc nhận thức về các nội dung đó ở mức độ cao, song thực hiện chưa tương xứng với nhận thức đó vì vậy mà hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh chưa cao.

Các nội dung quản lý dạy học môn tiếng Anh đã được các nhà trường sử dụng từ quản lý mục tiêu dạy học môn tiếng Anh đến quản lý thực hiện chương trình, nội dung, quản lý hoạt động dạy của GV, hoạt động học tập của HS, quản lý Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập môn tiếng Anh, quản lý kiểm tra, đánh giá dạy học môn tiếng Anh.

Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong công tác quản lý. Công tác chỉ đạo có thống nhất nhưng thực hiện chưa được đồng bộ tại các trường trong huyện, tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chưa thường xuyên, trọng tâm. GV thực hiện phương pháp giảng dạy tiếng Anh chưa thật nhuần nhuyễn và đều tay, còn hình thức. Bên cạnh đó, việc đầu tư Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chưa nhiều, GV sử dụng đồ dùng dạy học chưa thường xuyên do còn thiếu, chưa thành thạo cách thức sử dụng đồ dùng dạy học hiện đại. Khó khăn nữa đó là việc quản lý hình thức kiểm tra, đánh giá chưa phù hợp với mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp dạy học môn tiếng Anh. Để khắc phục những hạn chế trên cần có các nội dung quản lý phù hợp để đạt hiệu quả hơn.

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993