Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý của hiệu trưởng đối với bồi dưỡng GV ở các trường Trung học cơ sở Quận 3, TP.HCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình chung, tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội, tình hình giáo dục Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

2.1.1 Tình hình chung

Địa danh Quận 3, TP.HCM chính thức có tên trên bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn từ ngày 27/12/1952 theo sắc lệnh số 104-NV của chính quyền Sài Gòn cũ và đã qua nhiều lần điều chỉnh phân chia địa giới. Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, đến ngày 17/9/1988 Hội Đồng Bộ Trưởng (Chính phủ) có Quyết định số 145-HĐBT phân vạch lại địa giới hành chánh Quận 3 từ đó nay.

Quận 3 có diện tích tương đương 4.92 km2 tức là 492 ha (Theo bản đồ do Sở Tài Nguyên- Môi Trường đo vẽ tháng 10, 11/2019 và theo số liệu thống kê cập nhật của Phòng Thống kê Quận 3 năm 2025, bảng phụ lục 1). Quận 3 có 14 phường, 63 khu phố, 874 tổ dân phố. Quận 3 được xem là một quận nội thành nằm trong khu vực trung tâm của Thành phố, có địa giới hành chánh rất quan trọng, là nơi có nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chánh, cơ quan thông tấn, báo chí, cơ quan ngoại giao và nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Quận 3 còn có vị trí quan trọng về thương mại, dịch vụ… là một địa bàn có đường giao thông đường bộ trọng yếu của Thành phố (đường bộ, đường sắt). Toàn quận có khoảng 45.250 hộ, 222.446 người (bảng phụ lục 2), mật độ dân số 38.573 người/km2, là quận có mật độ dân số cao đứng hàng thứ 5 của Thành phố. Có 20 dân tộc sinh sống trên địa bàn, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 95,71%.

2.1.2 Tình hình kinh tế -văn hóa – xã hội

Về kinh tế: Quận 3 là một quận có các hoạt động kinh tế thuộc loại khá của Thành phố và phát triển đúng định hướng theo cơ cấu: Dịch vụ – Thương mại – Tiểu thủ công nghiệp, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm doanh thu thương mại – dịch vụ (loại trừ yếu tố trượt giá) tăng 36,9%; doanh nghiệp thành lập mới hàng năm tăng mạnh, chủ yếu trên các lĩnh vực: Tài chính – tín dụng – ngân hàng, bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin truyền thông, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn, du lịch, y tế, giáo dục… Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Quận 3 năm 2025 đạt trên 1.500 tỷ đồng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 1.150 tỷ đồng (Chỉ tính các doanh nghiệp ngoài quốc doanh), doanh thu thương mại – dịch vụ đạt hơn 80.000 tỷ đồng (chỉ tính các doanh nghiệp ngoài quốc doanh). Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Về văn hóa: Quận 3 có 03 cơ sở văn hóa lớn: Trung tâm văn hóa ca nhạc 126, Nhà hát Nam Quang đường Cách Mạng Tháng Tám; rạp Đại Đồng đường Cao Thắng. Số hộ đạt gia đình văn hóa hàng năm khoảng từ 85 đến 90%, số khu phố văn hóa đạt khoảng 70% (45/63 khu phố), số phường đạt phường văn hóa là 50% (7/14 phường). Trên địa bàn quận có 05 di tích cách mạng, 02 bảo tàng, 03 đình, 03 đền, 09 miếu – chùa – nhà thờ…

Về xã hội: Từ cuối năm 2022 Quận 3 đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo trước thời hạn 3 năm (theo chuẩn qui định trước đây là 6 triệu đồng/người/năm), tỷ lệ thất nghiệp còn khoảng 4,8%, thu nhập bình quân trên đầu người trên 41 triệu đồng/người/năm, chi tiêu bình quân là 33,5 triệu đồng/người/năm. Công tác chăm sóc sức khỏe người dân, Quận 3 có 06 bệnh viện cấp thành phố, 01 bệnh viện tư nhân và bệnh viện Quận 3, Viện Pasteur, 14 trạm y tế phường, 387 phòng khám tư nhân, Y tế cộng đồng. Việc chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân luôn được quan tâm đầu tư nâng cấp Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế; nâng cao y đức, trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ y, bác sỹ, từng bước đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hoạt động y tế ngoài công lập được tạo điều kiện phát triển đã góp phần đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng dân cư. Trong phong trào thể dục – thể thao, Quận 3 có 03 nhà thi đấu, 02 sân bóng chuyền, 05 sân cầu lông, 04 hồ bơi, 17 sân tennis, 99 tụ điểm và 44 câu lạc bộ thể dục thể thao trên địa bàn 14 phường. Phong trào Thể dục thể thao của quận nhiều năm liên tục được xếp hạng cao (từ 1 đến 4) của Thành phố, đạt nhiều huy chương tại các giải đấu trong nước và quốc tế. Quận 3 là một trong những đơn vị dẫn đầu phong trào Thể dục thể thao của Thành phố trong giai đoạn 2021 – 2025. (Các nội dung 2.1 được trích và tổng hợp từ nguồn tài liệu của Phòng Thống kê Quận 3 và từ văn bản báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội 5 năm (2020-2025) tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ X nhiệm kỳ 2025-2030).

2.1.3 Tình hình Giáo dục Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ X nhiệm kỳ 2025 -2030 (tổ chức ngày 06, 07 và 08/8/2025) đánh giá về công tác GD&ĐT nhiệm kỳ IX (2020-2025): Thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2019 của Ban Bí Thư Trung ương về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục”, Quận đã lãnh đạo ngành Giáo dục Quận 3 tích cực đổi mới phương pháp dạy và học, đội ngũ Cán bộ quản lý, GV được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đạt chuẩn nghề nghiệp, đủ về số lượng, đồng bộ về chất lượng, một số CB, đảng viên, GV đã được nâng cao trình độ trên chuẩn. Công tác GD&ĐT đạt được mục tiêu đổi mới toàn diện, tiếp tục giữ vững vị trí là một trong những quận có chất lượng cao của Thành phố. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục, việc chăm lo đời sống nhà giáo ngày càng được cải thiện; quận quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường lớp, đạt vượt chỉ tiêu đề ra; hoàn thành quy hoạch chi tiết mạng lưới trường lớp đến năm 2035 làm cơ sở phát triển sự nghiệp giáo dục.

Về tình hình chung trường lớp Quận 3, TP.HCM (bảng phụ lục 3 và 4), quy mô ngành giáo dục Quận 3 khá lớn, Phòng GD&ĐT Quận quản lý 74 đơn vị từ giáo dục mầm non đến giáo dục Trung học cơ sở và dạy nghề. Toàn quận có 03 trường chuẩn quốc gia, có 01 trường đã được tặng Huân chương Độc lập hạng III, 04 trường được tặng Huân chương Lao động hạng III, 13 trường được tặng bằng khen của Thủ tướng và Bộ GD&ĐT. Trong hơn 5 năm qua đã xây mới được 08 trường, trong đó vừa xây xong 01 trường Mầm non chuẩn quốc gia (6/2026) và 01 trường tiểu học chuẩn quốc gia (6/2026) sẽ đưa vào hoạt động năm học 2026-2027; sửa chữa nâng cấp kiên cố hóa 24 trường; nâng cấp cải tạo 06 trường; chuẩn bị xây mới và cải tạo thêm 06 trường. Nhìn chung về phát triển mạng lưới trường lớp Quận 3 khá ổn định, tổng số lớp học và học sinh mỗi năm có sự tăng giảm nhưng không nhiều do điều kiện dân số tự nhiên ổn định, vì vậy không ảnh hưởng nhiều đến quy hoạch phát triển chung của ngành [55], [56], [ 58].

  • Về công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục

Biểu đồ 2.1. Thống kê xóa mù chữ và phổ cập giáo dục Quận 3

Quận 3 đã được Ủy ban Nhân dân TP.HCM công nhận đạt chuẩn phổ cập Trung học phổ thông vào năm 2020 (bảng phụ lục 5 và biểu đồ 2.1) và đã được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ. Tỷ lệ xóa mù chữ, Phổ cập giáo dục TH, Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và Trung học phổ thông hàng năm đều tăng, như xóa mù chữ tăng từ 98.89% (2020) lên 99.99% (2025), Phổ cập giáo dục Trung học phổ thông tăng từ 82.12% (2020) lên 86.86% (2025).

  • Điều này cho thấy sự nghiệp giáo dục Quận 3 khá ổn định, trình độ dân trí người dân ngày càng được quan tâm.

Về kinh phí đầu tư cho giáo dục, qua thống kê (bảng phụ lục 6, 7, 8, 9, 10) tác giả nhận thấy kinh phí dành cho giáo dục Quận 3 hàng năm được đầu tư khá lớn từ nguồn ngân sách của Quận. Ngoài ra tùy điều kiện từng trường, ngành còn vận động Phụ huynh học sinh, các mạnh thường quân, các công ty, các nhà hảo tâm đóng góp chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, điều này cho thấy công tác Xã hội hóa giáo dục tại Quận 3 được xã hội và nhân dân quan tâm đồng tình ủng hộ. Để ngăn chặn bỏ học và thực hiện Phổ cập giáo dục TH, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, từ năm học 2020-2021 ngành GD&ĐT Quận 3 thực hiện miễn giảm học phí đối với học sinh diện xóa đói giảm nghèo với kết quả đến năm 2025 (bảng phụ lục 11).

Về chất lượng dạy – học và các hoạt động giáo dục, qua thống kê (bảng phụ lục 12, 13, 14, 15) cho thấy trong những năm qua ngành GD&ĐT Quận 3 đã không ngừng xây dựng, hình thành và phát triển để góp phần đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân. Kết quả giáo dục các cấp học hàng năm đều được tăng lên, hiệu suất đào tạo ngày càng cao hơn, ổn định hơn. Quận 3 là một quận có truyền thống về chất lượng giáo dục, các cấp học phát triển khá mạnh, thu hút được nhiều học sinh các quận khác trong thành phố đến học. Năm 2015, Quận đã được Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT TP.HCM chọn là nơi thực hiện thí điểm nhiều chuyên đề về giáo dục các cấp học và là một trong 14 tỉnh – thành thực hiện thí điểm chương trình thay sách giáo khoa Trung học cơ sở cho cả nước. Toàn ngành hiện nay có 23 chi bộ độc lập, còn lại là chi bộ ghép với tổng số 318 Đảng viên, 100% trường đều có Đảng viên, ngành GD&ĐT Quận 3 luôn cải tiến công tác quản lý. Đội ngũ Cán bộ quản lý và GV có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ trên chuẩn ngày càng cao. Ngành GD&ĐT Quận 3 trong những năm qua có nhiều Cán bộ quản lý – GV đạt nhiều thành tích cao trong các hội thi GV giỏi toàn quốc, thành phố và quận, đến nay có 01 Cán bộ quản lý được tặng Huân chương lao động hạng III, 06 Cán bộ quản lý – GV được phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú, và nhiều GV khác được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT, Chiến sỹ thi đua cấp thành phố…

  • Về tình hình bồi dưỡng GV của quận Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Biểu đồ 2.2. Thống kê trình độ chuyên môn giáo viên Trung học cơ sở Quận 3

Qua thống kê trong biểu đồ 2.2 cho ta thấy sau 5 năm GV toàn ngành Quận 3 có trình độ từ đạt chuẩn trở lên tăng đáng kể, từ 96.2% (2020) lên 99.2% (2026), GV có trình độ trên chuẩn cũng tăng từ 44% (2020) lên 77.3% (2026), ngoài ra GV có trình độ thạc sỹ từ 01 (2020) lên 13 GV (2026). Điều này cho thấy GV Quận 3 đã có nhiều cố gắng nâng chất lượng theo chủ trương của Nhà nước, theo chỉ đạo của ngành để tham gia nâng cao chất lượng giáo dục.

2.1.4 Tình hình giáo dục của trường Trung học cơ sở tại Quận 3, TP.HCM

Ngành GD&ĐT Quận 3, TP.HCM hiện nay có 14 trường Trung học cơ sở, trong đó có 11 trường công lập và 3 trường ngoài công lập. Về quy mô số lớp trường công lập thì trường có số lớp nhiều nhất là 51 lớp, trường có số lớp ít nhất cùng 18 lớp, còn đối với trường ngoài công lập thì trường có số lớp nhiều nhất là 61 lớp, trường ít nhất là 07 lớp; toàn quận có 08 trường Trung học cơ sở thực hiện dạy 02 buổi/ngày, các trường còn lại do Cơ sở vật chất chưa đầy đủ nên chỉ thực hiện 2 buổi/ngày trên một số lớp; toàn quận có 06 trường có tổ chức dạy Tiếng Anh tăng cường, 01 trường có dạy Tiếng Pháp tăng cường, 01 trường có dạy Tiếng Nhật tăng cường, 02 trường có dạy Tin học tăng cường, ngoài ra các trường còn thực hiện các chủ đề tự chọn một số bộ môn, mạng lưới các trường Trung học cơ sở tại Quận 3 phân bố tương đối đồng đều tại các phường nên khá thuận tiện cho con em sinh sống tại Quận 3 đi học.

2.1.5 Kết quả giáo dục học sinh trung học cơ sở

Qua thống kê xếp loại HS Trung học cơ sở Quận 3 (trong bảng phụ lục 14, 15 và biểu đồ 2.3) nhìn chung tỷ lệ HS có hạnh kiểm tốt hàng năm tăng dần (từ 64,2% năm 2021 lên 77,12% năm 2026), trong đó năm học 2025-2026 có tỷ lệ hạnh kiểm loại tốt xếp cao nhất (75.34%), tỷ lệ HS có hạnh kiểm yếu giảm dần từ 0.26% năm 2021 xuống còn 0.13% năm 2026. Về học lực, tỷ lệ HS có học lực giỏi hàng năm đều tăng, cụ thể từ 19.13% năm 2021 lên 36.82% năm 2026 (kết quả cuối năm học 2025-2026), tỷ lệ HS học lực yếu có xu hướng giảm dần từ 8.89% năm 2021 xuống còn 4.56% năm 2026, điều này cho thấy tình hình giáo dục HS Trung học cơ sở Quận 3 ngày càng có chất lượng đi lên ổn định, số HS ngoan, giỏi ngày càng tăng. Tuy nhiên về tỷ lệ HS yếu kém vài năm gần đây có giảm nhưng chưa đồng đều, cần lưu ý (yếu: 4.59%=715 HS, kém: 0.42%=66HS).

  •  Biểu đồ 2.3. Hạnh kiểm và học lực của học sinh năm học 2025-2026

2.2. Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Trên cơ sở vận dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kê, các phương pháp bổ trợ và những số liệu thực tế về trường, lớp, Cán bộ quản lý – GV – CNV và HS, qua quá trình công tác và những kinh nghiệm trong công tác của bản thân, mặc dù điều kiện nghiên cứu của tác giả còn nhiều hạn chế nhưng tác giả đã cố gắng thực hiện khảo sát trên 28 Cán bộ quản lý và 254 GV của 05/11 trường Trung học cơ sở, trong đó có 02 trường trước đây là trường bán công đã được chuyển đổi thành trường công lập, vì vậy tác giả có được số liệu khảo sát tương đối phong phú về đối tượng GV.

  • Từ kết quả khảo sát, tác giả xin được tóm lượt như sau:

Về cán bộ quản lý: Khảo sát 28/30 (93.33%) Cán bộ quản lý, gồm 11 hiệu trưởng và 17 phó hiệu trưởng. Hầu hết Cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở tại Quận 3 có tuổi đời khá cao, từ 36 tuổi trở lên là 26/28 Cán bộ quản lý (92.8%), chỉ có 01/28 Cán bộ quản lý tuổi dưới 30 (3.6%); tuổi nghề của Cán bộ quản lý từ 20 năm trở lên là 21/28 Cán bộ quản lý (75%); có 28/28 Cán bộ quản lý (100%) có trình độ đại học; có 25/28 Cán bộ quản lý (89.3%) có bằng trung cấp lý luận trở lên, trong đó có 05/28 Cán bộ quản lý (17.9%) có bằng cử nhân chính trị; 25/28 Cán bộ quản lý có trình độ ngoại ngữ từ chứng chỉ A trở lên, trong đó có 05 Cán bộ quản lý (17.9%) có trình độ đại học; 100% Cán bộ quản lý đã có chứng chỉ từ A trở lên, trong đó có 15/28 (53.6%) đã được bồi dưỡng chương trình ứng dụng Công nghệ thông tin (Intel); 100% Cán bộ quản lý đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ Quản lý giáo dục, trong đó có 07 Quản lý giáo dục (25%) có bằng cử nhân; 100% Cán bộ quản lý là Đảng viên, trong đó có 19/28 Cán bộ quản lý (67.9%) tham gia cấp ủy Đảng; Về thành tích cá nhân của Cán bộ quản lý, có 24/28 Cán bộ quản lý (85.7%) đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở trở lên, trong đó có 09/28 Cán bộ quản lý (32.1%) đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp thành phố, có 17/28 Cán bộ quản lý (60.7%) được tặng danh hiệu từ bằng khen của Ủy ban Nhân dân TP.HCM trở lên.

Về giáo viên: Khảo sát 254/256 (99.22%) GV tất cả các bộ môn của 05 trường. Tuổi đời từ 36 tuổi trở lên chiếm đa số là 161/254 GV (63.4%), dưới 30 tuổi là 56/254 GV (22%). Tuổi nghề GV có thâm niên nghề nghiệp từ 20 năm trở lên là 102/254 GV (42%); có 244/254 GV (96.1%) có trình độ chuẩn nghề nghiệp quy định từ cao đẳng trở lên, trong đó có 04/254 GV (1.6%) có trình độ thạc sỹ, có 174/254 GV (68.5%) có trình độ đại học, có 23/254 GV (9%) có trình độ lý luận chính trị trung cấp, có 05/254 GV (2%) có trình độ lý luận cao cấp. Về trình độ ngoại ngữ, có 161/254 GV (64.4%) có trình độ từ A trở lên, trong đó có bằng đại học là 36/254 GV (14.2%), có 01 thạc sỹ (0.4%). Về trình độ tin học, có 239/254 GV (94.1%) có trình độ từ A trở lên, trong đó 122/254 GV (48%) đã được bồi dưỡng chương trình Intel khởi đầu. Về trình độ Quản lý giáo dục, có 22/254 GV (8.6%) được bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục. Số GV hiện đang tham gia đi học đại học có 30/254 GV (14.2%), học thạc sỹ là 06/254 GV (2.4%). Trong số 254 GV có 55 GV (21.7%) làm công tác nhóm trưởng chuyên môn, 25 GV (9.8%) làm công tác tổ trưởng chuyên môn và 02 GV (0.8%) làm công tác mạng lưới chuyên môn của quận, có 13 GV tham gia Ban chấp hành công đoàn trường, có 10 GV tham gia Ban Thanh tra nhân dân trường, có 06 GV là Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Có 20 GV là Đảng viên, trong đó có 07 Đảng viên tham gia cấp ủy cơ sở Đảng. Về thành tích GV, có 92/254 GV (36.2%) đạt GV giỏi từ cấp cơ sở trở lên, trong đó có 54/254 GV (21.3%) đạt danh hiệu từ chiến sỹ thi đua cấp quận trở lên, có 14 GV (5.5%) đạt chiến sỹ thi đua cấp toàn quốc, có 46 GV được tặng huy chương “Vì sự nghiệp giáo dục”.

2.2.1. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Chương trình bồi dưỡng GV Trung học cơ sở theo chương trình của Bộ GD&ĐT bao gồm: Bồi dưỡng chu kỳ, bồi dưỡng thay sách giáo khoa, bồi dưỡng nâng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sư phạm… Thực hiện chương trình bồi dưỡng GV của Bộ GD&ĐT là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, là thực hiện chiến lược phát triển GD&ĐT của cả nước trong từng giai đoạn cụ thể, vì vậy việc bồi dưỡng GV phải được thực hiện sao cho đảm bảo được mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian, cách thức tổ chức bồi dưỡng và điều kiện thực hiện chương trình.

  • Bảng 2.4. Đánh giá chung về bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT

Qua kết quả khảo sát thực tế trong bảng 2.4, việc bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT thực hiện tại các trường Trung học cơ sở Quận 3 đã được phần lớn Cán bộ quản lý (82.1%) cho rằng việc bồi dưỡng GV được thực hiện khá tốt, điều này cũng được 180/254 GV (70.9%) nhất trí. Tuy nhiên vẫn còn một số Cán bộ quản lý (17.9%) và GV (15%) cho là việc bồi dưỡng GV theo chương trình của Bộ GD&ĐT chưa tốt, có 3.9% GV nhận xét không thực hiện và đặc biệt có 26 GV (10.2%) không có ý kiến gì. Điều này cho thấy quan điểm nhận xét của Cán bộ quản lý và GV có phần nào khác biệt, vấn đề này tác giả phân tích trong phần nhận xét, đánh giá ở các nội dung sau.

2.2.2. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng của Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM

Nhằm nâng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sư phạm cho GV, từ chương trình bồi dưỡng GV của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT TP.HCM xây dựng chương trình bồi dưỡng áp dụng cho GV toàn thành phố thực hiện, tuy nhiên do tính chất vùng miền có nhiều đặc thù, nên chương trình bồi dưỡng GV cũng có những nét riêng biệt phù hợp với địa phương như TP.HCM.

  • Bảng 2.5. Đánh giá chung bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Sở GD&ĐT TP.HCM

Qua kết quả khảo sát trong bảng 2.5, việc bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Sở GD&ĐT TP.HCM, ta nhận thấy có 26/28 Cán bộ quản lý (92.8%) đánh giá rằng việc bồi dưỡng GV được thực hiện khá tốt, tương ứng với điều này có 180/254 GV (70.9%) nhận xét, tuy nhiên tỷ lệ đồng tình của GV có phần ít hơn, chênh lệch tỷ lệ (21.9%), điều này cho thấy sự nhận xét giữa Cán bộ quản lý và GV cũng chưa tương đồng. Ngoài ra, có 3.9% GV cho rằng không thực hiện chương trình bồi dưỡng này, và có 10.2% GV không cho ý kiến nhận xét.

2.2.3. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình bồi dưỡng của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 3, TP.HCM

Vì Quận 3 là đơn vị có vị trí trung tâm của TP.HCM, giáo dục Quận 3 nói chung và giáo dục cấp Trung học cơ sở nói riêng, Quận 3 thường xuyên được Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT TP.HCM chọn làm một trong những đơn vị thực hiện thí điểm nhiều chương trình giáo dục mới của cả nước và thành phố (thay sách giáo khoa mới, dạy Tiếng Anh tăng cường, Tiếng Pháp tăng cường, Tiếng Nhật tăng cường, dạy tin học tăng cường…), vì vậy chương trình bồi dưỡng GV tại Quận 3 khi triển khai cho GV thực hiện từ chỉ đạo của Bộ và Sở cũng có những nét đặc thù riêng biệt Quận 3, việc bồi dưỡng này phải vừa đảm bảo tính nhất quán từ Trung ương đến địa phương nhưng cũng phải vận dụng cho phù hợp với tình hình thực tế kinh tế – văn hóa – xã hội Quận 3.

  • Bảng 2.6. Đánh giá chung bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Phòng GD&DT Quận 3

Qua kết quả từ bảng khảo sát từ bảng 2.6, việc thực hiện bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Phòng GD&ĐT Quận 3. Có 28/28 Cán bộ quản lý (100%) đánh giá rằng việc bồi dưỡng GV Trung học cơ sở hàng năm đã được thực hiện khá tốt. Điều này được 189/254 GV (74.4%) đồng tình, tuy nhiên mức độ xác nhận từ khá đến tốt giữa Cán bộ quản lý và GV dao động từ 74.4% đến 100%. Có 18.5% ý kiến GV cho rằng chương trình bồi dưỡng GV của Phòng GD&ĐT Quận 3 thực hiện chưa tốt, hoặc không thực hiện (3.5%), hoặc không ý kiến (7.1%). Điều này cho thấy cũng có sự chênh lệch khá lớn trong nhận xét đánh giá giữa Cán bộ quản lý và GV. Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

2.2.4. Thực trạng bồi dưỡng giáo viên theo chương trình của trường, tổ bộ môn các trường Trung học cơ sở Quận 3, TP.HCM

Công tác bồi dưỡng GV có đạt hiệu quả cao hay không là nhờ sự quản lý chặt chẽ của hiệu trưởng, chương trình bồi dưỡng GV của các cấp từ Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT phải được hiệu trưởng quan tâm quán triệt một cách triệt để đến hội đồng sư phạm nhà trường, đến từng tổ chuyên môn để triển khai thực hiện, việc bồi dưỡng GV cũng tùy thuộc điều kiện của mỗi trường nên hiệu trưởng có thể vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong công tác quản lý điều hành, đây cũng chính là nghệ thuật trong quản lý của hiệu trưởng và điều này sẽ đưa đến việc chất lượng giáo dục của mỗi trường có thể cao hay thấp khác nhau và tạo ra vị thế riêng giữa trường này với trường khác.

  • Bảng 2.7. Đánh giá bồi dưỡng GV theo chương trình của Trường, Tổ bộ môn

Qua kết quả khảo sát từ bảng 2.7, việc bồi dưỡng GV theo chương trình của trường và tổ bộ môn các trường Trung học cơ sở tại Quận 3, TP.HCM. Có 28/28 Cán bộ quản lý (100%) và 212/254 GV (83.5%) đánh giá việc bồi dưỡng GV theo chương trình của trường và tổ bộ môn được thực hiện khá tốt, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ GV (5.1%) cho rằng thực hiện chưa tốt và có 09 GV (3.5%) đánh giá không thực hiện. Điều này cho thấy cũng có sự chênh lệnh trong đánh giá giữa Cán bộ quản lý và GV.

2.2.5. Thực trạng tự bồi dưỡng của giáo viên

  • Bảng 2.8. Đánh giá tự bồi dưỡng của giáo viên

Công tác tự bồi dưỡng GV là nội dung rất quan trọng của việc tự quyết định nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV, đây là cốt lõi của vấn đề nâng chất lượng, chất lượng HS phần lớn phụ thuộc bởi chất lượng GV. Qua bảng khảo sát 2.8 nêu trên, ta nhận thấy về phía Cán bộ quản lý đánh giá tự bồi dưỡng GV ở mức độ tốt là 07/28 Cán bộ quản lý (25%), mức độ khá 17/28 (60.7%), có 01/28 Cán bộ quản lý (3.6%) đánh giá chưa tốt, có 03 Cán bộ quản lý (10.7%) không tham gia ý kiến. Về phía GV đánh giá công tác tự bồi dưỡng ở mức độ tốt là 39%, khá là 39.8%, chưa tốt là 6.7%, không thực hiện là 5.1% và không có ý kiến 9.4%.

Tóm lại, qua nhận xét đánh giá khảo sát từ nội dung trong bảng 2.4, 2.5, 2.6, 2.7, 2.8 nêu trên ta nhận thấy thực trạng bồi dưỡng GV tại Quận 3 từ chương trình bồi dưỡng của Bộ đến việc tự bồi dưỡng của GV nói chung được Cán bộ quản lý và GV đa số đánh giá khá tốt, cấp quản lý càng gần thì việc đánh giá tốt tỷ lệ càng cao, chứng tỏ công tác bồi dưỡng GV tại Quận 3 thời gian qua được quan tâm thực hiện khá tốt nhất là cấp quản lý Phòng GD&ĐT và trường, đảm bảo được chương trình bồi dưỡng GV từ Bộ GD&ĐT đến địa phương, việc triển khai chương trình thực hiện xuyên suốt, đối với Cán bộ quản lý có sự quan tâm tốt hơn nên tỷ lệ đánh giá cao hơn GV. Tuy nhiên vẫn đáng lưu ý vì cũng có một số GV cho rằng thực hiện chưa tốt, hoặc không thực hiện. Điều này hiệu trưởng cần phải xem xét lại công tác bồi dưỡng GV được triển chặt chẽ chưa, hiệu trưởng cần tìm hiểu thêm nguyên nhân nào GV cho rằng không thực hiện, đặc biệt trong 5 nội dung khảo sát đều có tỷ lệ trên dưới 10% GV không tham gia ý kiến, hiệu trưởng cần rà soát lại trong quá trình quản lý công tác bồi dưỡng GV có vấn đề gì dẫn đến GV nhận xét chưa quan tâm thực hiện: Do quản lý? Do chương trình nội dung hình thức bồi dưỡng? Do nhận thức của GV? Hay lý do nào khác? Giải quyết được những vấn đề này hiệu trưởng sẽ tìm được những biện pháp phù hợp nhằm điều chỉnh công tác quản lý của mình.

2.3. Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng trường trung học cơ sở quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

2.3.1. Thực trạng thực hiện các chức năng quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng

2.3.1.1.  Chức năng kế hoạch hóa (lập kế hoạch hay ra quyết định)

  • Bảng 2.9. Đánh giá công tác lập kế hoạch bồi dưỡng GV của hiệu trưởng

Trong công tác quản lý bồi dưỡng GV, kế hoạch hóa là việc đầu tiên và quan trọng mà hiệu trưởng phải thực hiện nhằm để tính toán, xác định phương hướng hoạt động và phát triển đội ngũ GV trong một thời gian nhất định, đề ra các kết quả cần đạt được trong tương lai, trong một năm học hoặc một giai đoạn… Qua kết quả khảo sát trong bảng 2.9, ta nhận thấy hầu hết Cán bộ quản lý và GV đều nhận xét đánh giá công tác lập kế hoạch của hiệu trưởng khá tốt, thể hiện từ nội dung chương trình của Bộ, Sở đến Phòng GD&ĐT và việc lập kế hoạch bồi dưỡng GV tại trường có định hướng theo từng năm, từng giai đoạn ngắn hạn, dài hạn…, tỷ lệ đánh giá khá tốt của Cán bộ quản lý qua các nội dung thể hiện từ 92.8% đến 100%, tỷ lệ của GV là từ 77.2% đến 83.5%.

Tìm hiểu thêm về vấn đề này qua xem các kế hoạch hàng năm của một số hiệu trưởng, tác giả nhận thấy hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Quận 3 đều có xây dựng kế hoạch vào đầu mỗi năm học, trong kế hoạch đều có đề cập đến công tác bồi dưỡng GV hàng năm, tuy nhiên về cách lập kế hoạch, có hiệu trưởng thì lập kế hoạch riêng về công tác bồi dưỡng GV, có hiệu trưởng lập thành một mục trong kế hoạch chung. Trong hồ sơ lưu tại các trường, tác giả thấy đa số hiệu trưởng có nắm bắt và triển khai các văn bản chỉ đạo về công tác bồi dưỡng cho GV của các cấp lãnh đạo, của Phòng GD&ĐT, của trường Bồi dưỡng giáo dục Quận 3 ngay cả kế hoạch bồi dưỡng trong hè 2026 cũng đã được chuẩn bị như kế hoạch số 1205/GDĐT-TC ngày 26/5/2026 của Sở GD&ĐT TP.HCM và kế hoạch số 15/KH-BDGD ngày 17/5/2026 của trường Bồi dưỡng giáo dục Quận 3.

2.3.1.2. Chức năng tổ chức

Tổ chức thực hiện là một khâu trong chu trình quản lý, là một chuỗi những hoạt động diễn ra trong một giai đoạn của quá trình quản lý của hiệu trưởng. Trong bảng thống kê 2.10 dưới đây, ta thấy hầu hết Cán bộ quản lý đều đánh giá cao công tác tổ chức bồi dưỡng GV được hiệu trưởng thực hiện khá tốt, nhất là việc sử dụng các biện pháp thực hiện nhằm đảm bảo công tác bồi dưỡng GV được đánh giá 100%, tỷ lệ này tương ứng với GV đồng tình cũng đạt hơn 80%. Điều này cho thấy hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở Quận 3 đã thực hiện khá tốt chức năng tổ chức bồi dưỡng GV của mình trong quản lý tại trường, từ việc triển khai thực hiện đến phân công bố trí lực lượng tham gia và có sử dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo công tác bồi dưỡng GV được thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra.

  • Bảng 2.10. Đánh giá việc tổ chức bồi dưỡng GV của hiệu trưởng

2.3.1.3. Chức năng chỉ đạo Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Chỉ đạo thực hiện là thể hiện tính tích cực, năng động của hiệu trưởng nhằm chỉ huy, lãnh đạo, dẫn dắt trong hoạt động quản lý của mình, chỉ đạo để thực hiện đạt mục tiêu kế hoạch đề ra nhằm mang lại hiệu quả một cách tốt nhất. Từ kết quả tổng hợp khảo sát nêu trong bảng 2.11 trong trang sau, ta thấy tỷ lệ cao Cán bộ quản lý đều đánh giá hiệu trưởng thực hiện tròn vẹn chức năng này, đối với GV nhận xét hiệu trưởng đảm bảo chức năng này cũng chiếm tỷ lệ dao động từ 81.5% đến 88.6%. Điều này cho thấy hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở Quận 3 đã thể hiện tốt vai trò, trách nhiệm hiệu trưởng của mình trong quản lý chỉ đạo nhằm điều khiển, thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng GV.

  • Bảng 2.11. Đánh giá việc chỉ đạo bồi dưỡng GV của Hiệu trưởng

2.3.1.4. Chức năng kiểm tra

Kiểm tra là công việc quản lý của hiệu trưởng nhằm theo dõi, phát hiện, điều chỉnh, động viên mọi người thực hiện đúng kế hoạch đề ra, kết quả thực hiện việc bồi dưỡng có đạt cao hay không một phần là nhờ sự kiểm tra, đôn đốc chặt chẽ của hiệu trưởng. Từ kết quả khảo sát trong bảng 2.12, ta thấy rằng phần lớn Cán bộ quản lý đều đánh giá việc thực hiện chức năng này của hiệu trưởng khá tốt, đối với GV cũng có tỷ lệ nhận xét đồng tình cao (dao động từ 81.3% đến 87%). Tuy nhiên trong chức năng kiểm tra này, hiệu trưởng cần phải lưu ý để điều chỉnh quản lý, nhất là việc tổ chức rút kinh nghiệm sau khi kết thúc bồi dưỡng GV chưa được chặt chẽ lắm vì còn một số ý kiến (10.7% Cán bộ quản lý, 19.7% GV) cho rằng hiệu trưởng thực hiện chưa tốt hoặc không thực hiện chức năng này.

  • Bảng 2.12. Đánh giá việc kiểm tra bồi dưỡng GV của hiệu trưởng

Tóm lại, để đảm bảo thực hiện tốt bốn chức năng trên, hiệu trưởng cần phải có sự phối hợp liên tục trong quá trình quản lý. Qua kết quả thống kê khảo sát trong các bảng 2.9, 2.10, 2.11, 2.12, cả bốn chức năng quản lý của hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Quận 3 đều được đánh giá cao, tỷ lệ Cán bộ quản lý và GV cho rằng hiệu trưởng thực hiện khá tốt chiếm cao, điều này cho thấy việc quản lý bồi dưỡng GV của hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở Quận 3 khá yên tâm. Tuy nhiên với các ý kiến đánh giá chưa thể hiện rõ quan điểm đóng góp xây dựng thì hiệu trưởng cần phải để ý xem xét vấn đề, rà soát công tác quản lý và rà soát đội ngũ GV nhất là về nhận thức cá nhân góp ý xây dựng của họ qua khảo sát để có biện pháp tốt hơn nhằm điều chỉnh trong công tác quản lý GV của mình.

2.3.2. Thực trạng thực hiện các nội dung cơ bản của công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Vài nét về trình độ Cán bộ quản lý tất cả 11 trường Trung học cơ sở công lập Quận 3: Qua 2 bảng phụ lục 18 và 19 thống kê từ năm học 2020-2021 đến nay, hiện nay có 33/33 Cán bộ quản lý (100%) đủ chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ trường trung học, trong đó có 32/33 Cán bộ quản lý (97%) có trình độ trên chuẩn; 100% Cán bộ quản lý đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trường Trung học cơ sở; có 25/33 Cán bộ quản lý (75.8%) có trình độ chính trị từ trung cấp trở lên; có 16/33 Cán bộ quản lý (48.5%) có trình độ ngoại ngữ từ A trở lên; có 33/33 Cán bộ quản lý (100%) có trình độ tin học từ A trở lên, Từ thực tế trên ta thấy Cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở tại Quận 3, TP.HCM có trình độ chuyên môn nghiệp vụ khá cao, 100% Cán bộ quản lý có trình độ từ đại học trở lên. Tuy nhiên về trình độ ngoại ngữ thì còn tương đối thấp, còn hơn 50% Cán bộ quản lý chưa có trình độ A ngoại ngữ. Về trình độ sau đại học, tính đến thời điểm tháng 5/2026 có 01 Cán bộ quản lý là thạc sỹ (có bằng vào tháng 5/2026), có 05 Cán bộ quản lý đang theo học sau đại học.

Về trình độ GV tất cả các trường Trung học cơ sở công lập Quận 3. Qua 2 bảng phụ lục 20 và 21 thống kê tình hình GV các trường Trung học cơ sở công lập Quận 3, có 695/702 GV (99%) đạt chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ trường trung học, trong đó có 534/702 GV (76.1%) đạt trình độ trên chuẩn; 07/702 GV (1.%) được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trường Trung học cơ sở; 30/702 GV (4.3%) có trình độ chính trị từ trung cấp trở lên; có 229/702 GV (32.6%) có trình độ ngoại ngữ từ A trở lên; 628/702 GV (89.5%) có trình độ tin học từ A trở lên.

  • Biểu đồ 2.13. Thống kê trình độ giáo viên Trung học cơ sở Quận 3

Tìm hiểu thêm, từ năm học 2020-2021 đến nay, tác giả nhận thấy tổng số GV Trung học cơ sở Quận 3 hàng năm được bố trí tương đối đầy đủ, đồng đều ở tất cả các bộ môn, việc bổ sung GV đảm bảo định mức biên chế cho phép, phân công đúng bộ môn theo quy định tại Thông tư liên tịch 35/2021/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 23/8/2021 của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ về “Hướng dẫn định mức biên chế GV ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập” và văn bản số 5344/UBND-VX ngày 22/8/2023 của Ủy ban Nhân dân TP.HCM về “Định biên các chức danh trong tổ chức bộ máy các trường học tại TP.HCM”. Điều này cho thấy đội ngũ GV Quận 3 các năm qua tương đối ổn định về số lượng. Tuy nhiên vẫn còn 07 GV chưa đạt chuẩn trình độ CĐSP theo Quyết định số 22/2021/QĐ ngày 12/5/2021 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT “T6Ban hành quy định về việc bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo chưa đạt trình độ chuẩnT6”6T và Quyết định 09/2020/QĐ-TTg ngày 11/01/2020 của Thủ trướng Chính phủ (khoản 2, điều 1)T6, còn tỷ lệ thấp GV được bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, trình độ ngoại ngữ cũng vẫn còn thấp, tỷ lệ GV có trình độ tin học tối thiểu có cao nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu 100% GV phải có trình độ từ A trở lên theo văn bản chỉ đạo số 1506/GDĐT-BDGV ngày 20/10/2020 của Sở GD&ĐT TP.HCM. Điều này cho thấy việc chăm lo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho GV tại Quận 3 trong những năm qua có quan tâm khá tốt, nhưng nếu nhìn về góc độ bồi dưỡng toàn diện GV thì chưa được thực hiện đầy đủ, các năm qua chỉ tập trung nhiều vào bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ GV, còn bồi dưỡng nâng trình độ về chính trị, ngoại ngữ và tin học với kết quả như thống kê trong bảng phụ lục 20 và 21 là còn rất khiêm tốn.

Về đánh giá chất lượng GV theo Thông tư 30/2024/TT-BGDĐT ngày 22/10/2024 của T4Bộ GD&ĐT qT4uy định Chuẩn nghề nghiệp GV Trung học cơ sở, qua bảng phụ lục 2.20 thống kê đánh giá năng lực GV đến cuối năm học 2025-2026 của các trường Trung học cơ sở Quận 3, hầu hết GV Trung học cơ sở Quận 3 đều được đánh giá có năng lực chuyên môn (98.86%) và năng lực sư phạm (98.86%) đạt yêu cầu công tác, GV đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay chiếm tỷ lệ cao 682/702 GV (97.15%). Như vậy, đội ngũ GV Trung học cơ sở quận 3 nhìn chung có thể khẳng định là khá vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực nghề nghiệp công tác, tỷ lệ GV được xếp đạt yêu cầu cao, đây là một thế mạnh, là yếu tố cơ bản thuận lợi cho việc duy trì, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục tại Quận 3. Tuy nhiên vẫn còn một số GV được đánh giá là chưa đạt yêu cầu năng lực chuyên môn (08 GV = 1.15%) và năng lực sư phạm (08 GV = 1.14%) dù tỷ lệ này ít, nhưng cần đáng chú ý nhất theo thống kê là giáo dục bậc Trung học cơ sở Quận 3 còn 20 GV (2.85%) được đánh giá là chưa đạt để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

2.3.2.1. Quản lý bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở của hiệu trưởng theo chương trình bồi dưỡng của Bộ Giáo dục và Đào tạo

  • Bảng 2.14. Đánh giá quản lý bồi dưỡng GV theo chương trình bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT

Qua bảng khảo sát 2.14 nêu trên, ta thấy các nội dung cơ bản chương trình bồi dưỡng GV của Bộ GD&ĐT được hiệu trưởng triển khai đầy đủ từ chủ trương của Đảng, Nhà nước và của ngành đến các nội dung chủ yếu thực hiện theo yêu cầu nhiệm vụ mới, cụ thể tỷ lệ Cán bộ quản lý đánh giá cao về công tác triển khai bồi dưỡng thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực (100% Cán bộ quản lý ghi nhận), đối với GV cũng đánh giá cao ở các nội dung này (tỷ lệ đồng tình chiếm trên dưới 90%). Điều này chứng tỏ hiệu trưởng đã nghiêm túc thực hiện quản lý bồi dưỡng GV theo chương trình của Bộ. Tuy nhiên công tác bồi dưỡng đổi mới kiểm tra đánh giá chưa thật sự tốt lắm, còn tỷ lệ 20,5% GV cho rằng công tác quản lý ở nội dung này chỉ ở mức trung bình yếu.

2.3.2.2. Quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng theo chương bồi dưỡng của Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM

  • Bảng 2.15. Đánh giá chung về việc quản lý bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở theo chương trình của Sở GD&ĐT TP.HCM

Việc quản lý bồi dưỡng GV theo chương trình của Sở GD&ĐT TP.HCM. Qua bảng đánh giá 2.15 ở trang trên, ta thấy hiệu trưởng thực hiện quản lý bồi dưỡng GV theo chương trình của Sở GD&ĐT TP.HCM cũng khá tốt, tỷ lệ đánh giá của Cán bộ quản lý khá cao (đều hơn 90% cho rằng khá tốt), đối với GV thì tỷ lệ đồng tình cũng dao động từ 72.4% đến 93.3%. Tuy nhiên theo một số GV thì việc hiệu trưởng tạo điều kiện cho GV đi học chuẩn và trên chuẩn còn hạn chế. Khi đối chiếu bảng phụ lục 20 thì hiện nay vẫn còn GV chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo và mặc dù tỷ lệ GV có trình độ trên chuẩn mỗi năm một tăng nhưng tỷ lệ 76,1% GV có trình độ trên chuẩn cũng còn khá khiêm tốn, như vậy việc nhận xét ở nội dung này ta thấy GV đánh giá là có cơ sở đúng thực tế.

2.3.2.3. Quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng theo chương trình bồi dưỡng của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 3, TP.HCM

  • Bảng 2.16. Đánh giá chung về việc quản lý bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở theo chương trình của Phòng GD&ĐT Quận 3

Việc quản lý bồi dưỡng GV Trung học cơ sở theo chương trình bồi dưỡng của Phòng GD&ĐT Quận 3 qua bảng 2.16, ta cũng thấy hiệu trưởng quan tâm khá tốt, đa số được Cán bộ quản lý và GV đánh giá cao, tuy nhiên việc tạo điều kiện cho GV có trình độ lý luận chính trị và ngoại ngữ hiện nay chưa được đẩy mạnh. Đối chiếu lại bảng phụ lục 21 ở trên ta thấy việc nhận xét của Cán bộ quản lý và GV khá chính xác vì hiện nay về trình độ chính trị chỉ có 30/702 GV (4.27%) có trình độ lý luận từ trung cấp trở lên, về ngoại ngữ chỉ có 229/702 GV (32.6%) có trình độ từ A trở lên, trong đó có 77 người là GV dạy ngoại ngữ. Như vậy tỷ lệ này thấp nhiều so với yêu cầu trình độ ngoại ngữ hiện nay.

2.3.2.4. Quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng theo chương trình của trường và tổ bộ môn

  • Bảng 2.17. Đánh giá chung về việc quản lý bồi dưỡng GV Trung học cơ sở theo chương trình của trường Trung học cơ sở, tổ bộ môn tại Quận 3, TP.HCM Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Quản lý công tác bồi dưỡng GV tại trường mang ý nghĩa quyết định rất lớn cho việc nâng cao chất lượng nhà giáo và giáo dục HS, nếu hiệu trưởng quan tâm tốt đến vấn đề này tại trường thì hiệu quả giáo dục chắc chắn sẽ mang lại nhiều kết quả như mong muốn. Qua thống kê khảo sát một số nội dung bồi dưỡng tại trường trong bảng 2.17 trên, ta thấy sự đánh giá của Cán bộ quản lý và GV đối với công tác quản lý bồi dưỡng GV của hiệu trưởng khá cao, tỷ lệ đánh giá của Cán bộ quản lý từ 92.9% trở lên, tương ứng GV là từ 84.2% đến 93.3%, sự đánh giá các nội dung cũng tương đối đồng đều. Điều này cho thấy hiệu trưởng có sự quan tâm đồng bộ đến công tác bồi dưỡng GV tại trường, trong đó việc quan tâm bồi dưỡng những chủ trương của Đảng, Nhà nước và công tác chuyên môn soạn giảng, thi đua dạy tốt được thường xuyên đẩy mạnh.

2.3.2.5. Quản lý việc tự bồi dưỡng của giáo viên

  • Bảng 2.18. Đánh giá công tác quản lý tự bồi dưỡng giáo viên

Qua thống kê trong bảng khảo sát 2.18 nêu trên, tỷ lệ đánh giá công tác quản lý tự bồi dưỡng GV cũng khá cao, việc hiệu trưởng có lập kế hoạch và tổ chức các loại hình phong phú cho GV tự bồi dưỡng được đánh giá cao, tuy nhiên về phiá GV mặc dù tỷ lệ đồng tình cao nhưng vẫn còn một số GV cho rằng công tác quản lý này của hiệu trưởng vẫn chưa được tốt, chế độ ưu tiên khuyến khích, tạo điều kiện cũng như việc trang bị đầy đủ các tài liệu cho GV tự bồi dưỡng vẫn còn hạn chế. Công tác kiểm tra theo dõi đôn đốc GV tự bồi dưỡng cũng cần được quan tâm nhiều hơn.

Để có thêm cơ sở nhận xét chính xác hơn về vấn đề này, tác giả đã trao đổi tìm hiểu thêm và xem một số hồ sơ kế hoạch bồi dưỡng GV của một số hiệu trưởng, kể cả vài hiệu trưởng trường tiểu học, mầm non có kinh nghiệm, trao đổi với một số GV là cán bộ công đoàn, mạng lưới, GV giỏi cốt cán của ngành giáo dục Quận 3 và với một số chuyên viên Phòng GD&ĐT Quận 3, TP.HCM thì được thống nhất quan điểm là công tác bồi dưỡng GV nói chung và GV Trung học cơ sở nói riêng là một phần không thể thiếu trong công tác thực hiện nhiệm vụ của GV và của những người làm công tác quản lý và công tác chuyên môn, việc bồi dưỡng GV hàng năm theo các chương trình của Bộ GD&ĐT, của Sở GD&ĐT TP.HCM, của Phòng GD&ĐT Quận 3 luôn được quan tâm triển khai thực hiện, có chủ trương quy định, có lộ trình, có nội dung chương trình và kế hoạch tổ chức thực hiện bồi dưỡng từ Bộ đến cơ sở. Theo tác giả tìm hiểu thì Quận 3 là một trong 14 tỉnh thành được Bộ GD&ĐT chọn tổ chức triển khai thực hiện thí điểm chương trình thay sách giáo khoa mới Trung học cơ sở từ năm học 2015-2016, sau đó được tham gia rút kinh nghiệm với Bộ trước khi triển khai thực hiện đại trà trên cả nước, vì vậy GV Quận 3 cũng có thuận lợi là được tham gia dạy trước và góp ý xây dựng cho chương trình.

Tóm lại, có thể khẳng định việc thực hiện bồi dưỡng GV theo các chương trình của Bộ, Sở, Phòng và các trường Trung học cơ sở tại Quận 3 đã được triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ đến GV. Việc đánh giá nhận xét các nội dung trên của Cán bộ quản lý là đáng tin cậy. Còn về phía GV, phần lớn cũng tự đánh giá cao về thực hiện bồi dưỡng theo chương trình của các cấp, nhưng vẫn còn một số ít chưa thật sự quan tâm tích cực đến công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là công tác tự bồi dưỡng ở một số GV vẫn còn hạn chế.

2.3.3. Thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng thông qua các hoạt động hỗ trợ Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

2.3.3.1. Quản lý hoạt động thi đua dạy tốt

  • Bảng 2.19. Đánh giá quản lý hỗ trợ thi đua dạy tốt

Hoạt động thi đua dạy tốt là hoạt động chính yếu trong công tác giáo dục Trung học cơ sở. Thường xuyên tổ chức các hoạt động thi đua dạy tốt và các hoạt động hỗ trợ dạy tốt cho GV là nhằm giúp GV tham gia rèn luyện tay nghề và nâng cao năng lực giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục HS. Qua kết quả bảng khảo sát 2.19 nêu trên cho ta thấy, công tác quản lý bồi dưỡng GV Trung học cơ sở tại Quận 3 thông qua hoạt động hỗ trợ dạy tốt được tổ chức nhiều hoạt động khá phong phú, đa dạng đã tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội cho GV tham gia. Điều đáng ghi nhận là khi tổ chức các hoạt động thi đua dạy tốt hiệu trưởng luôn tạo mọi điều kiện và hỗ trợ để GV có điều kiện bồi dưỡng chuyên môn. Các mức độ đánh giá công tác quản lý của hiệu trưởng về hoạt động hỗ trợ dạy tốt nhìn chung có tỷ lệ khá cao, hầu hết Cán bộ quản lý đều đánh giá bồi dưỡng GV qua hoạt động thi đua dạy tốt khá tốt (tỷ lệ dao động từ 85.7% đến 96.4%), còn về phía GV có sự đánh giá khiêm tốn hơn (tỷ lệ dao động từ 77.5% đến 90.6%). Qua phần khảo sát trên, đối chiếu với thực tế đánh giá toàn diện GV Trung học cơ sở cuối năm học 2025-2026 (5-2026) trong bảng phụ lục 22 đánh giá các mặt về năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, ta thấy sự đánh giá thống kê giữa bảng 2.19 và bảng phụ lục 22 là sự phản ánh phù hợp với thực tế.

2.3.3.2. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng

  • Bảng 2.20. Đánh giá quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và trang bị cơ sở vật chất

Công nghệ thông tin ngày càng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Trong hoạt động giảng dạy những thiết bị, phương tiện thông tin hỗ trợ cho GV khi giảng dạy trở nên nhẹ nhàng, sinh động và tiện dụng hơn, việc để GV không bị lạc hậu và “mù” sử dụng Công nghệ thông tin cần phải được quan tâm. Việc đầu tư trang thiết bị phục vụ dạy học bằng Công nghệ thông tin và khai thác mọi nguồn thông tin vô tận để phục vụ cuộc sống và giảng dạy là vô cùng cần thiết đối với công tác quản lý của hiệu trưởng. Qua bảng khảo sát 2.20 ở trên ta thấy việc đầu tư trang thiết bị, Cơ sở vật chất, áp dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy và khai thác thông tin phục vụ giảng dạy được các trường Trung học cơ sở tại Quận 3 khá quan tâm. Điều này phù hợp với chủ trương của Bộ và Sở GD&ĐT TP.HCM về ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học. Tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra đến hết năm 2023 tất cả Cán bộ quản lý và GV phải có ít nhất bằng A tin học nhưng thực tế tại Quận 3 chỉ có Cán bộ quản lý đạt yêu cầu về tin học, còn GV chưa đạt 100% như yêu cầu (năm 2025 tỷ lệ GV có bằng A tin học chỉ đạt 628/702 GV, 89.5%). Điều nay cho thấy một bộ phận GV vẫn chưa đạt trình độ “phổ cập” về tin học. Mặt khác công tác quản lý của hiệu trưởng vẫn chưa triệt để đối với GV trong công tác bồi dưỡng tin học. Về trang bị Cơ sở vật chất phục vụ dạy học bằng Công nghệ thông tin, dù tất cả các trường đều có trang bị cho GV giảng dạy nhưng vẫn còn một số hạn chế qua nhận xét của một số GV. Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

2.3.3.3. Quản lý bồi dưỡng GV qua tham quan, tìm hiểu thực tế

Việc tổ chức cho GV đi tham quan, nghiên cứu học tập là tạo điều kiện cho GV có dịp tìm thêm kiến thức về thiên nhiên, xã hội nhằm nâng cao hiểu biết thực tế phục vụ công tác tốt hơn. Qua kết quả khảo sát ghi nhận trong bảng 2.21 bên dưới, ta nhận thấy các trường Trung học cơ sở Quận 3 đều có tổ chức cho GV đi tham quan học tập tìm hiểu thực tế, nhưng việc tổ chức chỉ thực hiện chủ yếu vào dịp hè hàng năm, hoặc trong các dịp Lễ như 8/3, 30/4 hoặc Tết Dương lịch, tập trung nhiều nhất là dịp hè. Qua tìm hiểu một số hiệu trưởng, tùy theo điều kiện và khả năng kinh phí, hàng năm có trường tổ chức đi xa (Hà Nội, các tỉnh Miền Bắc…) hoặc Miền Trung (Huế, Đà Nẵng, Quảng Bình…), nhưng cũng có trường do kinh phí hạn hẹp nên chỉ tổ chức cho GV đi tham quan nghỉ dưỡng tại các tỉnh gần TP.HCM (Vũng Tàu, Phan Thiết, Cần Thơ, Hà Tiên, Phú Quốc, Nha Trang, Đà Lạt…). Trong những năm gần đây, do nhu cầu CB và GV muốn tìm hiểu thêm về văn hóa giáo dục các nước tiên tiến trên thế giới, một số trường có điều kiện đã tổ chức cho GV đi tham quan học tập nước ngoài tại các nước khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Campuchia, Indonesia hoặc Hồng-kông, Trung Quốc, Hàn Quốc… Ngoài ra một số trường còn tổ chức xây dựng mô hình tham quan học tập kết hợp với giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động tham quan dã ngoại theo chuyên đề. Tuy nhiên việc khuyến khích GV bồi dưỡng qua tự tổ chức tham quan du lịch thì vẫn còn chưa phổ biến vì thực tế cuộc sống của GV hiện nay vẫn còn khó khăn nhiều mặt nên điều kiện chưa cho phép.

  • Bảng 2.21. Đánh giá bồi dưỡng GV qua tham quan du lịch

Tóm lại: Từ kết quả khảo sát trong các bảng 2.19, 2.20, 2.21, ta thấy bồi dưỡng GV qua hoạt động hỗ trợ là nhằm làm phong phú thêm cho công tác bồi dưỡng GV, làm tăng thêm những kiến thức thông qua các hoạt động thi đua dạy tốt, các hoạt động tìm hiểu khám phá năng lực cá nhân cũng như tìm hiểu tham quan thực tế, qua đó làm tăng kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao hiểu biết và năng lực cá nhân GV. Việc tổ chức hiệu quả các hoạt động hỗ trợ sẽ làm tăng thêm chất lượng nghề nghiệp, chất lượng cuộc sống và tinh thần GV, phát hiện những cá nhân điển hình xuất sắc trong giảng dạy giáo dục đồng thời cũng làm tăng thêm tinh thần xây dựng đoàn kết nội bộ, xây dựng môi trường thân thiện nhằm cùng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

2.4. Nhận xét đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

2.4.1. Ưu điểm

Qua thực trạng giáo dục Quận 3, TP.HCM, tác giả nhận thấy đội ngũ GV nói chung, đội ngũ GV Trung học cơ sở nói riêng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ trên chuẩn nghề nghiệp khá cao. Hầu hết GV Trung học cơ sở được đánh giá là có năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm vững vàng, đạt yêu cầu công tác đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.

Nhận thức được chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, Sở GD&ĐT TP.HCM, Phòng GD&ĐT Quận 3 và hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở Quận 3 đã có sự quan tâm tốt đến công tác nâng cao chất lượng GV. Hàng năm, đều có xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, chính trị hè, bồi dưỡng thường xuyên cho GV. Đa số GV có ý thức chấp hành và tham gia bồi dưỡng nghiêm túc, chất lượng GV và chất lượng giáo dục Quận 3 ngày càng được củng cố và phát triển.

Về công tác bồi dưỡng GV, nhìn chung GV Trung học cơ sở Quận 3 có ý thức trách nhiệm, có nhận thức tốt, có quan tâm và có tinh thần học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Các nội dung, hình thức và chương trình bồi dưỡng GV được quan tâm triển khai đầy đủ, kịp thời, đáp ứng cơ bản yêu cầu chủ trương của Đảng, Nhà nước và của ngành.

Về công tác quản lý bồi dưỡng GV, hầu hết hiệu trưởng có tinh thần trách nhiệm cao, có quan tâm sâu sát tổ chức thực hiện các nội dung bồi dưỡng, có kế hoạch triển khai chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng, có quan tâm đầu tư trang thiết bị và tạo mọi điều kiện hỗ trợ cho GV tham gia bồi dưỡng đạt yêu cầu.

2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Qua thực trạng giáo dục Quận 3 những năm qua, ngành GD&ĐT Quận 3 đã có nhiều cố gắng nâng chất lượng đội ngũ nhà giáo Trung học cơ sở, tính đến tháng 6/2026 tỷ lệ GV đạt chuẩn tăng từ 96.7% (2020) lên 99% (2026), tỷ lệ GV Trung học cơ sở đạt trên chuẩn từ 56.4% (2020) tăng lên 76.1% (2026), đó là một sự nổ lực nâng cao trình độ đáng ghi nhận. Tuy nhiên vẫn còn 07 GV (1%) chưa đạt chuẩn trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ GD&ĐT (chưa tốt nghiệp cao đẳng sư phạm), mặc dù theo tìm hiểu của tác giả, hầu hết các GV này đều lớn tuổi sắp nghỉ hưu. Tổng số GV đến 6/2026 vẫn chưa đạt 100% GV có trình độ tin học A theo quy định của Sở GD&ĐT TP.HCM để thực hiện Công nghệ thông tin hóa trong trường (quy định đến cuối năm 2023 phải đạt 100% GV có trình độ tin học A). Tỷ lệ GV có trình độ ngoại ngữ và trình độ từ trung cấp chính trị trở lên cũng còn thấp.

Nội dung, chương trình, hình thức bồi dưỡng GV tuy được triển khai thực hiện đầy đủ nhưng chưa phong phú, đa dạng, vẫn còn mang nhiều tính lý thuyết nên chưa thật sự thu hút GV chủ động tích cực tự giác tham gia.

Cơ sở vất chất, trang thiết bị và phương tiện phục vụ bồi dưỡng GV các trường được hiệu trưởng quan tâm nhưng vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ, việc trang bị Cơ sở vật chất nhất là máy móc, phương tiện thông tin chậm hơn so với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ tin học nên khi được trang bị một thời gian ngắn sẽ trở nên lạc hậu.

Một bộ phận GV có nhận thức chưa tốt về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, một số GV tỏ thái độ không quan tâm đến công tác bồi dưỡng (qua khảo sát GV không tham gia ý kiến).

2.4.3. Nguyên nhân

Do đường lối giáo dục đúng đắn của Đảng và Nhà nước, chính sách đổi mới giáo dục và phát triển nguồn nhân lực nhà giáo luôn được Đảng, Nhà nước và chính quyền quan tâm, giáo dục vẫn luôn được xem là quốc sách hàng đầu.

Cùng với sự phát triển đất nước, giáo dục nước ta cũng tiến vào con đường hội nhập với các nước khu vực và thế giới. Trong thời đại Công nghệ thông tin đang phát triển mạnh toàn cầu là cơ hội mở ra cho bất kỳ những ai có nhu cầu học tập và học tập suốt đời, vì vậy nâng cao chất lượng nhà giáo và nguồn nhân lực vừa là cơ hội vừa là yêu cầu trách nhiệm của người Cán bộ quản lý và mỗi cá nhân GV. Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Quận 3, TP.HCM là đơn vị quận có nhiều điều kiện tương đối thuận lợi về địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội, dân cư địa bàn ổn định. Vì vậy giáo dục Quận 3 có những nền tảng vững chắc để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục lâu dài.

Tất cả các trường Trung học cơ sở Quận 3 đều có Chi bộ Đảng sinh hoạt độc lập lãnh đạo, có đầy đủ tổ chức công đoàn, đoàn thể, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Cán bộ quản lý giáo dục được bố trí đầy đủ. Đội ngũ Cán bộ quản lý, hiệu trưởng có nhiều kinh nghiệm, có thâm niên nghề nghiệp, có bản lĩnh và được đào tạo nghiệp vụ quản lý trường học. Quận 3 có ưu điểm là tất cả Cán bộ quản lý trước khi được đề bạt bổ nhiệm đều được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ từ quy hoạch nguồn Cán bộ quản lý kế cận, lấy phiếu tín nhiệm hàng năm đến khi đề bạt bổ nhiệm. Tất cả Cán bộ quản lý đều là quần chúng ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng trước khi được quy hoạch lực lượng Cán bộ quản lý kế cận.

Đội ngũ GV hầu hết có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, yêu nghề mến trẻ, có tâm huyết tận tụy với nghề, chịu khó nghiên cứu, tìm tòi học hỏi, có tinh thần chịu đựng khó khăn, gian khổ, hy sinh với nghề, đó là một phẩm chất cao quý nhất của người thầy giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, việc quán triệt sâu sắc đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác bồi dưỡng GV của hiệu trưởng chưa đạt hiệu lực tối đa trong quản lý, chưa kiên quyết đồng bộ bồi dưỡng GV giữa yêu cầu chuyên môn với các yêu cầu trình độ năng lực phẩm chất khác nên kết quả bồi dưỡng GV tại trường chưa đạt yêu cầu cao nhất của ngành quy định (tin học, ngoại ngữ, chính trị còn thấp).

Công tác tham mưu với Phòng GD&ĐT Quận 3, phối hợp với trường Bồi dưỡng giáo dục Quận 3 và kêu gọi xã hội hóa giáo dục còn hạn chế nên việc bồi dưỡng và đầu tư trang thiết bị còn giới hạn.

Việc thực hiện các chức năng quản lý và tổ chức quản lý theo các chương trình bồi dưỡng các cấp chưa được quan tâm đẩy mạnh thường xuyên, công tác đánh giá đội ngũ GV chưa được chú trọng nên hiệu quả bồi dưỡng GV chưa cao.

Về đội ngũ GV, một bộ phận GV chưa ý thức hết tầm quan trọng của sứ mệnh giáo dục mà mình gánh vác nên đến nay vẫn còn GV chưa đạt trình độ chuẩn, một số GV còn có tư tưởng chưa dứt khoát trong tham gia xây dựng, nhận xét đánh giá (hầu hết các bảng khảo sát đều có GV không ý kiến). Một bộ phận GV lớn tuổi còn thụ động, ngại thay đổi nên tư tưởng đổi mới còn chậm. Nguồn tài chính dành cho công tác bồi dưỡng GV hiện nay quá hạn chế.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

Qua nghiên cứu thực trạng về tình hình giáo dục và thực trạng quản lý bồi dưỡng GV của hiệu trường trường Trung học cơ sở của Quận 3, TP.HCM, tác giả thấy rằng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của Quận, ngành giáo dục Quận 3 đã từng bước củng cố và phát triển, chất lượng giáo dục Quận 3 đã đi vào thực chất, công tác đầu tư cơ bản được đẩy mạnh, trường lớp ngày càng được đầu tư sửa chữa, xây dựng mới ngày một khang trang, hiện đại, công tác giáo dục học sinh ngày càng có chất lượng, công tác phổ cập giáo dục đã hoàn thành chỉ tiêu phổ cập hàng năm theo quy định, công tác bồi dưỡng GV những năm qua luôn được coi trọng, đặc biệt việc bồi dưỡng chuyên môn GV Quận 3 luôn được quan tâm, phong trào khuyến khích giảng dạy bằng Công nghệ thông tin được từng bước đẩy mạnh, hiệu quả giảng dạy có sự hỗ trợ của Công nghệ thông tin ngày càng cao hơn. Tuy nhiên, công tác quản lý, tổ chức bồi dưỡng GV chưa được đồng đều ở các mặt, về chuyên môn thì có sự quan tâm tốt nhưng cũng chưa được hấp dẫn GV tham gia bồi dưỡng, các hình thức và nội dung bồi dưỡng còn nặng lý thuyết, gò bó, công tác quản lý của hiệu trưởng chưa được nhận thức đúng mức trong việc nâng cao trình độ toàn diện GV nên chưa được quán triệt đẩy mạnh, từ đó dẫn đến xây dựng nguồn nhân lực giáo dục chất lượng phát triển có chậm so với yêu cầu thực tiễn. Chính vì vậy, từ việc nhận ra thực trạng của công tác này, ngành GD&ĐT Quận 3 cần tập trung tìm ra những biện pháp cần thiết, khả thi và phù hợp để đẩy mạnh hơn nữa công tác bồi dưỡng GV nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực GV, làm nền tảng xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục Quận 3 nâng lên vị trí xứng tầm là quận trung tâm của TP.HCM. Luận văn: Thực trạng của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp của hiệu trưởng bồi dưỡng GV trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x