Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU

4.1.1. Tăng trưởng tín dụng trung bình của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ năm 2014 – 2024

Từ năm 2014 đến năm 2024 thì tỷ lệ Tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam có nhiều biến động và được biểu diễn dưới đồ thị sau:

  • Hình 4.1: Tăng trưởng tín dụng trung bình của 24 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Đồ thị hình 4.1 cho thấy tình hình Tăng trưởng tín dụng trung bình của 24 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024 đã trải qua những biến động rõ rệt, thể hiện một xu hướng chung có tính chu kỳ và phản ánh các giai đoạn phát triển kinh tế vĩ mô. Từ mức cao nhất ghi nhận vào năm 2014 là 11,35%, Tăng trưởng tín dụng trung bình có xu hướng giảm đều đặn trong 5 năm liên tiếp, đạt mức thấp nhất là 7,62% vào năm 2019. Giai đoạn này cho thấy một sự điều chỉnh hoặc chậm lại trong tốc độ mở rộng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần. Nguyên nhân có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như:

Chính sách tiền tệ thận trọng hơn: NHNN có thể đã thực hiện các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn đối với tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát hoặc quản lý rủi ro hệ thống sau giai đoạn tăng trưởng nóng trước đó.

Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: Giai đoạn này có thể trùng với nỗ lực tái cơ cấu, xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, khiến các Ngân hàng thương mại cổ phần phải thận trọng hơn trong việc cho vay để củng cố bảng cân đối kế toán.

Môi trường kinh doanh: Mặc dù kinh tế vĩ mô Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng, nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại có thể phản ánh một số thách thức hoặc sự dịch chuyển trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp, hoặc sự cạnh tranh gay gắt hơn trong thị trường cho vay. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Sau khi chạm đáy vào năm 2019, Tăng trưởng tín dụng trung bình đã cho thấy sự phục hồi rõ nét, tăng từ 7,62% lên 8,00% vào năm 2020, và tiếp tục duy trì đà tăng nhẹ qua các năm tiếp theo: 8,10% (2021), 8,24% (2022), 8,58% (2023) và đạt 8,69% vào năm 2024. Giai đoạn này trùng khớp với những biến động lớn của nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam, đặc biệt là đại dịch Covid 19 và các cuộc xung đột địa chính trị. Sự phục hồi và duy trì tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn này có thể được lý giải bởi:

Chính sách hỗ trợ kinh tế: Để ứng phó với tác động tiêu cực của đại dịch Covid 19, Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều gói hỗ trợ tín dụng, giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ để giúp doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn. Điều này đã kích thích nhu cầu vay vốn và thúc đẩy Tăng trưởng tín dụng.

Nhu cầu vốn cấp thiết: Trong bối cảnh đại dịch, nhiều doanh nghiệp và cá nhân đối mặt với áp lực thanh khoản nghiêm trọng, buộc phải tìm đến nguồn vốn vay từ ngân hàng để duy trì hoạt động hoặc phục hồi sản xuất kinh doanh. Đây là một yếu tố quan trọng đẩy Tăng trưởng tín dụng đi lên ngay cả trong giai đoạn khó khăn.

Sự thích nghi của các ngân hàng: Các NHTM đã có sự điều chỉnh trong chiến lược kinh doanh và quản trị rủi ro để thích nghi với bối cảnh mới, tiếp tục cung cấp vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt hơn.

Tóm lại, xu hướng chung của Tăng trưởng tín dụng trung bình trong giai đoạn 2014-2024 cho thấy một sự chuyển dịch từ giai đoạn giảm tốc và điều chỉnh sang giai đoạn phục hồi và ổn định. Điều này phản ánh sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố nội tại của ngành ngân hàng, chính sách vĩ mô và những biến động của môi trường kinh tế.

4.1.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn trong bảng sau:

  • Bảng 4.1: Thống kê mô tả

CR (Tăng trưởng tín dụng): Giá trị trung bình là 8,80% với độ lệch chuẩn 3,78%. Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là khá tích cực. Phạm vi giá trị nhỏ nhất từ 2,69% của SCB năm 2022 đến giá trị lớn nhất là 23,84% SGB năm 2015 phản ánh sự biến động đáng kể trong hiệu quả hoạt động tín dụng giữa các ngân hàng và qua các năm, cho thấy có những ngân hàng tăng trưởng rất nhanh nhưng cũng có những ngân hàng tăng trưởng chậm.

SIZE (Quy mô ngân hàng): Giá trị trung bình của logarit tổng tài sản là 32,84, với độ lệch chuẩn 1,23. Phạm vi từ giá trị nhỏ nhất là 30,32 của SGB năm 2015 đến giá trị lớn nhất là 35,53 của BIDV năm 2024 cho thấy sự chênh lệch đáng kể về quy mô giữa các Ngân hàng thương mại cổ phần được khảo sát. Việc sử dụng logarit giúp giảm bớt sự biến thiên của dữ liệu quy mô rất lớn.

DGR (Tăng trưởng tiền gửi): Tốc độ tăng trưởng tiền gửi trung bình là 33,75%, với độ lệch chuẩn 4,13%. Mức tăng trưởng tiền gửi cao cho thấy khả năng huy động vốn hiệu quả của các ngân hàng, điều này rất quan trọng để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng. Phạm vi từ giá trị nhỏ nhất là 25,03% của SCB năm 2022 đến giá trị lớn nhất là 47,67% của VPB năm 2019 thể hiện sự khác biệt trong năng lực huy động của từng ngân hàng.

CAP (Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu): Tỷ lệ Vốn chủ sở hữu trung bình là 11,89%, với độ lệch chuẩn 3,37%. Giá trị nhỏ nhất là 4,72% của SCB năm 2018 và lớn nhất là 23,02% của VPB năm 2020. Điều này cho thấy sự đa dạng trong cơ cấu vốn và mức độ đệm vốn tự có giữa các ngân hàng, phản ánh các chiến lược vốn và khả năng chịu đựng rủi ro khác nhau.

CAR (Hệ số an toàn vốn): Hệ số an toàn vốn trung bình là 13,31%, với độ lệch chuẩn 3,18%. Mức trung bình này cho thấy các ngân hàng nhìn chung tuân thủ các quy định về an toàn vốn. Tuy nhiên, sự chênh lệch từ giá trị nhỏ nhất là 8,67% của VCB năm 2017 đến mức lớn nhất là 32,64% của KLB năm 2024 phản ánh sự khác biệt về mức độ thận trọng và khả năng quản lý vốn giữa các ngân hàng. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

DIVER (Đa dạng hóa thu nhập): Tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập trung bình là 30,56%, với độ lệch chuẩn tương đối lớn là 14,42%. Đặc biệt, giá trị nhỏ nhất của ACB năm 2014 là -41,83% cho thấy có những trường hợp ngân hàng ghi nhận thu nhập ngoài lãi âm hoặc tổng thu nhập hoạt động có sự biến động lớn, trong khi giá trị lớn nhất là 50,00% của VPB năm 2016 cho thấy có ngân hàng đã đa dạng hóa rất tốt. Điều này phản ánh sự khác biệt đáng kể trong chiến lược kinh doanh và mức độ phụ thuộc vào tín dụng.

LLR (Tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng): Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trung bình là 2,10%, với độ lệch chuẩn 1,24%. Phạm vi từ mức nhỏ nhất là 0,34% của SCB năm 2017 đến mức cao nhất 8,81% của SHB năm 2014 cho thấy sự khác biệt trong mức độ trích lập dự phòng và chất lượng tài sản giữa các ngân hàng. Mức trung bình tương đối thấp có thể phản ánh nợ xấu được kiểm soát hoặc chính sách trích lập dự phòng của từng ngân hàng.

ROA (Tỷ suất sinh lời trên tài sản): Tỷ suất ROA trung bình là 0,86%, với độ lệch chuẩn 0,66%. Phạm vi từ giá trị nhỏ nhất 0,01% của VIETCAP năm 2018 đến giá trị lớn nhất là 3,21% của TCB năm 2024 chỉ ra sự chênh lệch đáng kể về hiệu quả sinh lời trên tài sản giữa các ngân hàng. Mức trung bình dưới 1% cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản còn có thể cải thiện ở một số ngân hàng.

GDP (Tăng trưởng kinh tế): Tăng trưởng GDP trung bình là 5,81%, với độ lệch chuẩn 1,63%. Phạm vi từ tăng trưởng thấp nhất là 2,58% tại năm 2021 đến 8,02% năm 2022 phản ánh sự biến động của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, bao gồm cả những giai đoạn tăng trưởng chậm (do đại dịch Covid 19) và những giai đoạn phục hồi mạnh mẽ.

INF (Tỷ lệ lạm phát): Tỷ lệ lạm phát trung bình là 3,74%, với độ lệch chuẩn 2,20%. Phạm vi từ tỷ lệ thấp nhất là 0,63% năm 2015 đến tỷ lệ cao nhất là 4,08% năm 2014 cho thấy lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn này nhìn chung được kiểm soát trong khoảng mục tiêu, mặc dù có những biến động nhất định giữa các năm.

4.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

4.2.1. Ma trận tương quan

Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không ? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967).

Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập và trích xuất tại Bảng 4.2. Khi xét độ lớn các hệ số tương quan trên ma trận thì giá trị lớn nhất là 0,63 vẫn thấp hơn 0,8 điều này cho thấy mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiệm trọng.

4.2.2. Kết quả kiểm định cho các mô hình hồi quy

Như đã đề cập chi tiết tại Chương 3 về phương pháp nghiên cứu, luận văn này sẽ sử dụng ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất để phân tích sự tác động của các yếu tố đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Ba mô hình này bao gồm: Pooled OLS (Ordinary Least Squares), FEM (Fixed Effects Model) và REM (Random Effects Model).

  • Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM

Với kết quả tại bảng 4.3 thì hệ R2 đều lớn hơn 50%. Điều này cho thấy các biến số độc lập có ý nghĩa thống kê giải thích được trên 50% sự thay đổi của CR. Ngoài ra, kết quả hồi quy của ba mô hình có sự tương đồng về sự tác động tích cực của biến số CAP, ROA, GDP, STA đến CR và biến số SIZE tác động tiêu cực đến CR. Các biến số còn lại không tác động đến CR, nhưng khi xét về chiều ảnh hưởng thì các biến số đều có sự tương đồng. Do đó, mô hình vẫn có sự phù hợp về số liệu, nên cần kiểm định lựa chọn mô hình nào phù hợp để tiếp tục kiểm định.

4.2.3. Kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Luận văn này sẽ tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình thông qua ba kiểm định tương ứng dưới bảng 4.4 như sau:

  • Bảng 4.4: Kiểm định lựa chọn mô hình

Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp.

Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM thì luận văn sử dụng kiểm định Breus – Pargan test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình REM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > chibar2 là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình REM phù hợp. Với hai kiểm định trên thì ta thấy FEM và REM phù hợp hơn Pooled OLS. Do đó, kiểm định Hausman dưới đây sẽ kết luận mô hình phù hợp nhất cho luận văn này.

Khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Kết quả tại Bảng 4.4 cho thấy giá trị P –value của kiểm định này cao hơn 5% nên chấp nhận H0, hay nói cách khác thì mô hình REM phù hợp hơn.

4.2.4. Kiểm định khuyết tật của mô hình REM

Trong các hiện tượng khuyết tật của mô hình REM cần kiểm định là hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan thì kết quả kiểm định dưới bảng sau:

  • Bảng 4.5: Kết quả kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình REM

Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình. Kết quả kiểm định tại Bảng 4.5 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Kết quả kiểm định tại Bảng 4.5 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng tự tương quan.

4.2.5. Khắc phục khuyết tật của mô hình REM Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Như vậy khi xác định được mô hình REM đã có tồn tại hai hiện tượng phương sai số thay đổi và tự tương quan thì cần phải tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS, nhằm xác định kết quả cuối cùng để thảo luận và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.

  • Bảng 4.6: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Sau quá trình kiểm định và khắc phục các hiện tượng khuyết tật (như phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và đa cộng tuyến) bằng phương pháp Bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares – FGLS), kết quả ước lượng của mô hình cho thấy mức ý nghĩa thống kê cao. Cụ thể, giá trị P-value của mô hình theo phương pháp FGLS là 0,000, một giá trị nhỏ hơn đáng kể so với mức ý nghĩa 5% (p < 0.05). Điều này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để khẳng định rằng mô hình cuối cùng này phù hợp với tổng thể và có ý nghĩa thống kê. Khả năng giải thích của mô hình không chỉ là ngẫu nhiên mà thực sự phản ánh mối quan hệ giữa các biến số. Điều này cho phép tiếp tục sử dụng mô hình này để phân tích chuyên sâu và thảo luận về tác động của các yếu tố đến tăng trưởng tín dụng (CR). Mặt khác, một điểm quan trọng cần lưu ý là sự tương đồng cao về dấu ảnh hưởng của các biến độc lập và các biến kiểm soát trong mô hình FGLS với các mô hình ban đầu (Pooled OLS, FEM, REM) đã được ước lượng. Sự nhất quán về chiều hướng tác động (dấu của hệ số hồi quy) này, ngay cả sau khi đã khắc phục các khuyết tật, củng cố thêm độ tin cậy và tính vững chắc của các kết quả nghiên cứu. Điều này cho thấy rằng những mối quan hệ cơ bản giữa các biến đã được nắm bắt một cách ổn định. Dựa trên kết quả bảng 4.6 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau: CRi,t = 0,721 – 0,020∗SIZEi,t – 0,127∗DGRi,t + 0,228∗CAPi,t + 0,022∗LLRi,t + 1,944∗ROAi,t + 0,06∗GDPt + 0,104∗COVIDt + 0,015∗STAt

4.3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Dựa trên kết quả bảng 4.6 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi yếu tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ tiến hành kết luận phù hợp hoặc không phù hợp

  • Bảng 4.7: Kết quả tổng hợp

Bảng 4.7 đã trình bày kỳ vọng về giả thuyết và kết quả đối sánh. Mặt khác, đối với biến CR thì SIZE, DGR, CAP, LLR, ROA, GDP, INF, STA đã giải thích được 53,61% sự thay đổi của CR. Tuy nhiên, về chiều hướng tác động của một số biến số độc lập đến biến phụ thuộc có sự không giống với kỳ vọng ban đầu, nên phần dưới đây luận văn sẽ tiến hành thảo luận kết quả này với bối cảnh các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

  • Quy mô ngân hàng

Kết quả hồi quy cho thấy quy mô ngân hàng (SIZE) có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng và có ý nghĩa thống kê ở mức rất cao (p-value = 0,000 < 0,01). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết H1 đã đặt ra, vốn kỳ vọng tác động tích cực. Điều này tương đồng với một số nghiên cứu tại Việt Nam như của Nguyễn Thị Thu Trang và Đặng Văn Trung (2021), Nguyễn Văn Thuận (2022), Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023) và Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023), cũng như nghiên cứu của Najib và cộng sự (2023) tại Malaysia. Giải thích cho kết quả này có thể là các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng lớn, đã đạt đến một ngưỡng bão hòa tăng trưởng tín dụng. Thay vì tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng dư nợ một cách ồ ạt, các ngân hàng lớn có xu hướng ưu tiên quản lý rủi ro chặt chẽ hơn, củng cố chất lượng tài sản, và đa dạng hóa danh mục tài sản sang các hoạt động phi tín dụng để tìm kiếm nguồn thu bền vững hơn. Điều này trái ngược với lợi thế về vốn, công nghệ và mạng lưới mà các ngân hàng lớn thường có (Diệp Thanh Tùng và Nguyễn Văn Thuận, 2022; Bustamante và cộng sự, 2019; Rizkullah và Suhel, 2023), cho thấy rằng ở một giai đoạn phát triển nhất định, lợi thế về quy mô có thể chuyển dịch từ việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh sang ổn định và tối ưu hóa hiệu quả..

  • Tốc độ tăng trưởng tiền gửi Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Kết quả hồi quy cho thấy tăng trưởng tiền gửi (DGR) có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (p-value = 0,001 < 0,01). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết H2 (kỳ vọng tác động tích cực) và trái ngược với phần lớn lược khảo nước ngoài và trong nước như của Najib và cộng sự (2023), Diệp Thanh Tùng và Nguyễn Văn Thuận (2022), Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023), Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020), Nguyễn Văn Thuận (2022), Lê Vũ Hà và Đỗ Văn Lộc (2022). Sự mâu thuẫn này có thể phản ánh một thực tế đặc thù. Mặc dù tăng trưởng tiền gửi cung cấp nguồn vốn cho hoạt động cho vay, nhưng nếu ngân hàng tăng cường huy động tiền gửi quá mức trong bối cảnh nhu cầu tín dụng không tương xứng hoặc trong môi trường kinh doanh đầy thách thức, lượng tiền gửi dư thừa này có thể không được chuyển hóa hiệu quả thành tín dụng. Thay vào đó, nó có thể được giữ dưới dạng tài sản có tính thanh khoản cao nhưng lợi suất thấp, hoặc ngân hàng trở nên thận trọng hơn trong việc cho vay để tránh rủi ro khi nguồn vốn dồi dào. Điều này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn trong bối cảnh cụ thể của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nơi có thể tồn tại các áp lực về quản lý thanh khoản hoặc chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến việc chuyển hóa tiền gửi thành tín dụng.

  • Tỷ lệ vốn chủ sở hữu

Kết quả hồi quy cho thấy tỷ lệ Vốn chủ sở hữu (CAP) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, và có ý nghĩa thống kê ở mức rất cao (p-value = 0,000 < 0,01). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết H3 đã đặt ra (kỳ vọng tác động tiêu cực), mà thay vào đó ủng hộ quan điểm rằng vốn chủ sở hữu cao là nền tảng vững chắc cho hoạt động tín dụng. Mặc dù lý thuyết có thể cho rằng cổ đông mong muốn lợi nhuận ổn định và ít rủi ro (Gómez và cộng sự, 2020; Rizkullah và Suhel, 2023; Najib và cộng sự, 2023), nhưng trong thực tế Việt Nam, một tỷ lệ Vốn chủ sở hữu cao có thể được xem là một lợi thế cạnh tranh và một tấm đệm vững chắc giúp ngân hàng tự tin hơn trong việc mở rộng tín dụng. Vốn chủ sở hữu lớn không chỉ đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn mà còn cung cấp khả năng hấp thụ thua lỗ, từ đó giảm thiểu rủi ro cho các khoản vay mới và khuyến khích ngân hàng mở rộng danh mục tín dụng. Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Bustamante và cộng sự (2019) cho thấy tỷ lệ Vốn chủ sở hữu đều tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng.

  • Tỷ lệ an toàn vốn

Kết quả hồi quy cho thấy hệ số an toàn vốn (CAR) có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê (p-value = 0,855 > 0,1). Điều này cho thấy mối quan hệ giữa CAR và Tăng trưởng tín dụng chưa thực sự rõ ràng về mặt thống kê trong mẫu dữ liệu nghiên cứu này. Mặc dù giả thuyết H4 kỳ vọng tác động tiêu cực (Rizkullah và Suhel, 2023) với lập luận rằng ngân hàng tăng CAR để phòng bị rủi ro, từ đó thận trọng hơn trong cho vay, kết quả thực nghiệm lại cho thấy tác động không đáng kể. Điều này có thể là do các ngân hàng Việt Nam đã và đang tuân thủ tốt các quy định về an toàn vốn tối thiểu, và việc duy trì một mức CAR phù hợp không nhất thiết dẫn đến sự kiềm chế tăng trưởng tín dụng đáng kể. Thay vào đó, CAR có thể đóng vai trò như một giới hạn dưới hơn là một yếu tố chủ động điều chỉnh Tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh thị trường hiện tại. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

  • Đa dạng hóa thu nhập

Kết quả hồi quy cho thấy đa dạng hóa thu nhập (DIVER) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, và có ý nghĩa thống kê ở mức 10% (p-value = 0,065 < 0,1). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết H5 đã đặt ra (kỳ vọng tác động tiêu cực, với lập luận ngân hàng đa dạng hóa để giảm phụ thuộc tín dụng – Bustamante và cộng sự, 2019). Ngược lại, phát hiện này gợi ý rằng các ngân hàng càng đa dạng hóa nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng (như dịch vụ, đầu tư, bancassurance), càng có thể củng cố nền tảng tài chính và quản lý rủi ro tốt hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hoạt động tín dụng. Thu nhập ổn định từ các mảng kinh doanh khác có thể cung cấp thêm nguồn lực tài chính, giảm áp lực sinh lời từ hoạt động cho vay, và cho phép ngân hàng chấp nhận rủi ro tín dụng một cách có kiểm soát hơn để thúc đẩy tăng trưởng. Điều này cũng có thể phản ánh một xu hướng tích cực trong ngành ngân hàng Việt Nam, nơi đa dạng hóa được xem là một chiến lược bổ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể.

  • Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

Kết quả hồi quy cho thấy tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng (dấu dương), và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (p-value = 0,008 < 0,01). Kết quả này phù hợp với giả thuyết H6 đã đặt ra (TTTD cao dẫn đến tăng trích lập dự phòng – Gómez và cộng sự, 2020). LLR trong mô hình này được xem là một biến độc lập tác động đến CR. Mối quan hệ tích cực này có thể được giải thích rằng, khi ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là vào các phân khúc rủi ro hơn hoặc trong một môi trường kinh tế không chắc chắn, nguy cơ phát sinh nợ xấu tiềm ẩn cũng tăng lên. Để đảm bảo an toàn tài chính và tuân thủ quy định, ngân hàng buộc phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Do đó, LLR cao không phải là nguyên nhân hạn chế Tăng trưởng tín dụng mà là hệ quả của một chiến lược tăng trưởng tín dụng tích cực, nơi ngân hàng chủ động quản lý rủi ro đi kèm với việc mở rộng cho vay. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

  • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân

Kết quả hồi quy cho thấy tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng và có ý nghĩa thống kê ở mức rất cao (p-value = 0,000 < 0,01). Kết quả này phù hợp với giả thuyết H7 đã đặt ra. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020); Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023); Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023); Diệp Thanh Tùng và Nguyễn Văn Thuận (2022). Hiệu suất sinh lời cao của ngân hàng cho thấy khả năng quản lý tài sản hiệu quả, tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận cao không chỉ củng cố vốn tự có, giảm áp lực lên các nguồn vốn bên ngoài mà còn cho phép ngân hàng tái đầu tư vào hoạt động cốt lõi, đặc biệt là mở rộng tín dụng. Một ngân hàng có ROA cao thường được đánh giá là hoạt động tốt, tạo dựng niềm tin cho cả nhà đầu tư và khách hàng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thu hút nguồn vốn và đẩy mạnh cho vay.

  • Tăng trưởng kinh tế

Kết quả hồi quy cho thấy tăng trưởng kinh tế (GDP) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng (dấu dương), và có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (p-value = 0,039 < 0,05). Kết quả này phù hợp với giả thuyết H8 và tương đồng với kết quả nghiên cứu của Krisnanda và Loissa (2023); Najib và cộng sự (2023); Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020); Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023). Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất, đầu tư, và cá nhân tăng chi tiêu, dẫn đến nhu cầu vay vốn gia tăng đáng kể. Môi trường kinh tế ổn định và tăng trưởng cũng giúp giảm rủi ro tín dụng tổng thể, khuyến khích các ngân hàng tự tin hơn trong việc mở rộng cho vay. Mặc dù nghiên cứu của Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023) cho thấy tác động tiêu cực do chính sách thắt chặt tiền tệ, nhưng trong bối cảnh Việt Nam, mối quan hệ thuận chiều giữa GDP và Tăng trưởng tín dụng vẫn là xu hướng chủ đạo, phản ánh sự hỗ trợ lẫn nhau giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển tín dụng.

  • Tỷ lệ lạm phát

Kết quả hồi quy cho thấy tỷ lệ lạm phát (INF) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng và có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (p-value = 0,036 < 0,05). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết H9 đã đặt ra (kỳ vọng tác động tiêu cực) và trái ngược với một số nghiên cứu của Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020); Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023) và Najib và cộng sự (2023). Kết quả này có thể được giải thích trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam hoặc giai đoạn nghiên cứu. Trong một số trường hợp, lạm phát ở mức độ vừa phải có thể kích thích nhu cầu vay vốn để đầu tư vào tài sản thực nhằm phòng ngừa mất giá tiền tệ, hoặc để tận dụng các cơ hội kinh doanh khi giá cả tăng. Các doanh nghiệp có thể tìm kiếm tín dụng để tài trợ cho chi phí sản xuất tăng lên. Ngoài ra, việc tăng lãi suất để đối phó với lạm phát (như đã phân tích trong giả thuyết) có thể không đủ mạnh để làm giảm đáng kể nhu cầu vay vốn, hoặc có độ trễ nhất định. Kết quả này cần được xem xét cẩn trọng hơn trong bối cảnh các chính sách điều hành vĩ mô và kỳ vọng lạm phát của thị trường.

  • Đại dịch Covid 19 Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Kết quả hồi quy cho thấy Đại dịch Covid 19 (COVID) có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng nhưng không có ý nghĩa thống kê (p-value = 0,166 > 0,1). Kết quả này không phù hợp với giả thuyết H10 đã đặt ra (kỳ vọng tác động tích cực). Mặc dù có lập luận rằng đại dịch sẽ làm tăng nhu cầu vốn vay từ các doanh nghiệp và cá nhân để duy trì hoạt động và ứng phó khó khăn, dẫn đến Tăng trưởng tín dụng tăng (như đã phân tích trong giả thuyết), kết quả thực nghiệm lại không cho thấy bằng chứng rõ ràng về điều này. Điều này có thể được giải thích là dù nhu cầu vay vốn tăng từ một số đối tượng, nhưng rủi ro tín dụng cũng gia tăng đáng kể trong bối cảnh kinh tế bất ổn. Các ngân hàng có thể trở nên thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng mới, thắt chặt điều kiện cho vay để bảo toàn chất lượng tài sản, hoặc tập trung vào cơ cấu lại nợ hơn là mở rộng tín dụng mới. Do đó, tác động tổng thể của đại dịch lên Tăng trưởng tín dụng có thể bị trung hòa bởi hai yếu tố đối lập này, dẫn đến kết quả không có ý nghĩa thống kê.

  • Sở hữu Nhà nước

Kết quả hồi quy cho thấy Sở hữu Nhà nước (STA) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (p-value = 0,003 < 0,01). Kết quả này phù hợp với giả thuyết H11 đã đặt ra. Phát hiện này ủng hộ quan điểm rằng các NHTM có sở hữu Nhà nước càng lớn thì càng có lợi thế trong việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Micco và Panizza (2006); Bertay và cộng sự (2015) về vai trò ổn định hệ thống tài chính của các ngân hàng nhà nước. Tại Việt Nam, các Ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước chi phối thường có uy tín cao, khả năng tiếp cận nguồn vốn ổn định hơn, và có thể được sử dụng như một công cụ để thực hiện các mục tiêu chính sách vĩ mô của chính phủ, bao gồm cả việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trong các lĩnh vực ưu tiên hoặc trong giai đoạn kinh tế cần được hỗ trợ. Lợi thế về tài chính và thương hiệu giúp các ngân hàng này cạnh tranh tốt hơn trên thị trường, dễ dàng tiếp cận khách hàng và mở rộng dư nợ tín dụng.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Chương này tập trung vào việc phân tích tình hình chung của tốc độ Tăng trưởng tín dụng của 24 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024. Ngoài ra, tiến hành thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu, phân tích sự tương quan và hồi quy. Đồng thời, tiến hành kiểm định sự lựa chọn các mô hình và REM được chọn để phân tích. Sau khi phát hiện các hiện tượng khuyết tật và khắc phục thì mô hình REM cho các kết quả đó là các biến số tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đó là tỷ lệ Vốn chủ sở hữu, tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ suất sinh lời ROA, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sở hữu Nhà nước. Ngược lại các biến số tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đó là quy mô ngân hàng, tăng trưởng huy động vốn. Ngoài ra, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ an toàn vốn, đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và hàm ý Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

5.1. KẾT LUẬN

Luận văn này đã thực hiện việc tổng hợp các khung lý thuyết liên quan đến Tăng trưởng tín dụng và các yếu tố tác động đến nó tại các Ngân hàng thương mại cổ phần. Đồng thời, thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định các yếu tố được xây dựng trong mô hình nghiên cứu và có sự tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là quy mô ngân hàng, tỷ lệ Vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn, tăng trưởng huy động vốn, tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ suất sinh lời ROA, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, đại dịch Covid 19 và sở hữu Nhà nước.

Sau đó, thông qua nghiên cứu định lượng với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ 2014 – 2024 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Các biến số tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đó là tỷ lệ Vốn chủ sở hữu, tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ suất sinh lời ROA, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sở hữu Nhà nước. Ngược lại các biến số tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đó là quy mô ngân hàng, tăng trưởng huy động vốn. Ngoài ra, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ an toàn vốn, đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Từ các kết quả nghiên cứu này thì các hàm ý quản trị tương ứng sẽ được đề xuất phần dưới đây.

5.2. HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

5.2.1. Đối với quy mô ngân hàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng, điều này cho tháy các ngân hàng lớn có xu hướng tăng trưởng tín dụng chậm lại. Đối với các nhà quản lý ngân hàng, điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong chiến lược tăng trưởng. Thay vì chỉ tập trung vào việc mở rộng quy mô dư nợ tín dụng một cách ồ ạt, các ngân hàng lớn cần ưu tiên vào việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao chất lượng danh mục tín dụng và phát triển các nguồn thu phi tín dụng bền vững hơn.

Cơ quan quản lý, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, cần nhận thức rằng việc khuyến khích sáp nhập hoặc mở rộng quy mô ngân hàng có thể không đồng nghĩa với việc thúc đẩy Tăng trưởng tín dụng nhanh hơn ở các tổ chức đã đạt đến một ngưỡng nhất định. Thay vào đó, chính sách cần tập trung vào việc tạo điều kiện cho các ngân hàng lớn phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đóng vai trò dẫn dắt trong việc định hình các chuẩn mực quản trị rủi ro và công nghệ tiên tiến.

Đối với các ngân hàng nhỏ và vừa, kết quả này có thể là một tín hiệu tích cực, cho thấy họ vẫn có dư địa lớn để tăng trưởng tín dụng nhanh chóng. Chính sách hỗ trợ các ngân hàng này trong việc tiếp cận nguồn vốn, nâng cao năng lực quản trị và công nghệ sẽ giúp họ khai thác tối đa tiềm năng tăng trưởng, góp phần đa dạng hóa hệ thống ngân hàng và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.

5.2.2. Đối với tăng trưởng tiền gửi

Việc tăng trưởng tiền gửi có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng là một kết quả đáng chú ý và đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng với bối cảnh kinh tế. Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần, điều này gợi ý rằng việc huy động tiền gửi không chỉ đơn thuần là tăng quy mô nguồn vốn mà còn phải đi đôi với khả năng chuyển hóa nguồn vốn đó thành tín dụng một cách hiệu quả. Ngân hàng cần xem xét lại chiến lược huy động vốn, đảm bảo rằng việc thu hút tiền gửi phù hợp với nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, tránh tình trạng dư thừa thanh khoản không được sử dụng hiệu quả.

NHNN cần nghiên cứu sâu hơn về cơ chế truyền dẫn giữa tăng trưởng tiền gửi và Tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh Việt Nam. Nếu tình trạng tiền gửi tăng nhanh nhưng tín dụng lại tăng chậm hoặc giảm, điều này có thể phản ánh sự tắc nghẽn trong kênh dẫn vốn, hoặc sự thận trọng quá mức của ngân hàng trong việc cho vay. Chính sách có thể cần tập trung vào việc tháo gỡ các rào cản, khuyến khích các ngân hàng đẩy mạnh cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kiểm soát rủi ro một cách hợp lý. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Ngoài ra, các ngân hàng cần chú trọng hơn vào việc quản lý tài sản nợ – tài sản có (ALM) để tối ưu hóa việc sử dụng nguồn vốn huy động. Việc phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu thị trường, cải thiện quy trình thẩm định và giải ngân, cũng như nâng cao năng lực quản lý rủi ro sẽ giúp chuyển hóa tiền gửi thành tín dụng một cách hiệu quả hơn, đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng huy động và tăng trưởng cho vay.

5.2.3. Đối với tỷ lệ vốn chủ sở hữu

Theo kết quả nghiên cứu thì tỷ lệ Vốn chủ sở hữu tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Nên việc gia tăng tỷ lệ này có lợi cho Tăng trưởng tín dụng, do đó các ngân hàng cần tăng tỷ lệ này theo hướng:

Các Ngân hàng thương mại cổ phần cần phải gia tăng tỷ lệ Vốn chủ sở hữu, khi tỷ suất này tăng lên đồng nghĩa với việc ngân hàng có thêm nguồn vốn dài hạn, giảm được tối đa áp lực thanh toán các khoản lãi tiền gửi đến hạn liên tục. Mặt khác, có cơ hội đầu tư nhiều vào các loại hình công nghệ hay nguồn lực để có thể xác định được khoản vay có chất lượng để giải ngân. Do đó, việc gia tăng tỷ lệ Vốn chủ sở hữu là một trong những lợi thế ngân hàng có thể tạo ra và cần thiết phải làm. Để có thể tăng vốn chủ sở hữu trong giai đoạn hiện nay, các Ngân hàng thương mại cổ phần nên tập trung vào một số giải pháp như:

Thứ nhất, về việc phát hành thêm cổ phiếu: Đây là một trong những phương thức trực tiếp nhất để tăng vốn điều lệ, thông qua việc chào bán cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu (phát hành quyền mua) hoặc thu hút các nhà đầu tư chiến lược mới, bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài. Để giải pháp này đạt hiệu quả tối ưu, các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cần đặc biệt chú trọng vào việc nâng cao tính minh bạch thông tin và công khai tài chính. Một báo cáo tài chính rõ ràng, đáng tin cậy cùng với chiến lược kinh doanh hấp dẫn sẽ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư, từ đó gia tăng khả năng huy động vốn thành công thông qua thị trường chứng khoán. Việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài còn mang lại lợi ích kép là chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản trị tiên tiến.

Thứ hai, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc phát hành cổ phiếu thưởng: Đây là một hình thức tăng vốn nội bộ, trong đó lợi nhuận giữ lại được chuyển đổi thành vốn điều lệ thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu. Phương pháp này có ưu điểm là không làm giảm tiền mặt của ngân hàng và thể hiện cam kết của ban lãnh đạo trong việc tái đầu tư lợi nhuận để phục vụ mục tiêu tăng trưởng dài hạn. Hơn nữa, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu có thể nâng cao ý thức và trách nhiệm của cổ đông đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, vì lợi ích của họ gắn liền trực tiếp với sự phát triển và giá trị gia tăng của cổ phiếu ngân hàng. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Thứ ba, tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại: Mặc dù việc chia cổ tức là một phần tất yếu trong quản trị doanh nghiệp khi ngân hàng đạt được lợi nhuận, việc tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại là một chiến lược hiệu quả để tích lũy vốn nội bộ. Thay vì phân phối toàn bộ lợi nhuận dưới dạng cổ tức tiền mặt, ngân hàng có thể giữ lại một phần lớn hơn để tái đầu tư vào hoạt động kinh doanh, đặc biệt là vào việc tăng cường nguồn cấp tín dụng. Để thực hiện được điều này, cần có sự thảo luận và thống nhất giữa ban lãnh đạo và đại hội đồng cổ đông để ấn định một mức tỷ lệ hợp lý, cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn của cổ đông (cổ tức) và lợi ích dài hạn từ việc mở rộng quy mô kinh doanh và khả năng sinh lời của ngân hàng. Việc tăng lợi nhuận giữ lại giúp củng cố nền tảng vốn mà không làm pha loãng quyền sở hữu hiện có, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục hoạt động kinh doanh và thúc đẩy Tăng trưởng tín dụng bền vững.

5.2.4. Đối với tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

Kết quả cho thấy tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng. Điều này ngụ ý rằng, khi ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là vào các phân khúc có tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro, việc tăng cường trích lập dự phòng là một biện pháp quản lý rủi ro cần thiết và hợp lý. Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì một chính sách trích lập dự phòng chủ động và đầy đủ. Cơ quan quản lý cần tiếp tục giám sát chặt chẽ việc trích lập dự phòng của các ngân hàng, đảm bảo rằng các quy định về dự phòng được tuân thủ nghiêm ngặt. Việc khuyến khích các ngân hàng tăng cường dự phòng khi Tăng trưởng tín dụng tăng cao là cần thiết để bảo vệ hệ thống khỏi các cú sốc tiềm ẩn từ nợ xấu. Điều này không nên được xem là yếu tố cản trở Tăng trưởng tín dụng mà là một phần không thể thiếu của một chiến lược tăng trưởng bền vững. Việc trích lập dự phòng đầy đủ không chỉ giúp ngân hàng có nguồn lực để xử lý nợ xấu mà còn củng cố niềm tin của thị trường vào sự ổn định tài chính của ngân hàng. Điều này gián tiếp hỗ trợ khả năng huy động vốn và mở rộng tín dụng trong dài hạn.. Do đó, tỷ lệ nợ xấu và dự phòng cần được kiểm soát theo mức an toàn thông qua các cách:

Thứ nhất, về việc xây dựng và duy trì hệ thống tài chính vững chắc: Đề xuất này nhấn mạnh vai trò thiết yếu của một nền tảng pháp lý và thể chế mạnh mẽ. Việc quy định các chuẩn mực, quy tắc, chế độ kiểm toán, quyết toán, kế toán và quản trị riêng biệt cho từng loại hình thị trường tài chính – tiền tệ là cực kỳ quan trọng. Mục tiêu là tạo ra một khuôn khổ rõ ràng, minh bạch và có khả năng điều tiết hiệu quả, giúp các chủ thể tham gia thị trường hoạt động trong một môi trường ổn định và giảm thiểu rủi ro hệ thống. Đây là tiền đề để các ngân hàng thương mại có thể tự tin mở rộng hoạt động tín dụng, vì một hệ thống tài chính vững chắc sẽ giảm bớt sự bất định và tăng cường niềm tin của thị trường.

Thứ hai, việc siết chặt các quy định về bảo đảm an toàn hệ thống: Đề xuất này tập trung vào các biện pháp phòng ngừa và ứng phó với rủi ro. Việc đặt an toàn hệ thống lên hàng đầu, đặc biệt khi đối mặt với nguy cơ khủng hoảng hoặc phá sản, là nguyên tắc cơ bản trong điều tiết ngân hàng. Các quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng (ví dụ: tỷ lệ an toàn vốn – CAR), phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, và việc kiểm soát chặt chẽ quá trình mở rộng quy mô, phạm vi, lĩnh vực hoạt động tiềm ẩn rủi ro đều cần được xem xét và siết chặt. Điều này là cần thiết để ngăn chặn sự tích tụ rủi ro quá mức, bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định tài chính. Mặc dù việc siết chặt quy định có thể tạm thời làm chậm tốc độ tăng trưởng tín dụng ở một số lĩnh vực, nhưng về dài hạn, nó sẽ góp phần vào một Tăng trưởng tín dụng bền vững hơn, dựa trên nền tảng quản lý rủi ro vững chắc.

Thứ ba, giám sát tình hình nợ xấu một cách hiệu quả: Đề xuất này đi sâu vào một trong những thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng. Việc phân tích, phân loại nợ xấu theo định kỳ là công cụ quan trọng để nhận diện sớm các vấn đề. Quan trọng hơn, đề xuất nhấn mạnh việc kiểm tra, đánh giá thực trạng và nguyên nhân phát sinh nợ xấu một cách thường xuyên, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cá nhân liên quan, đặc biệt là những người phụ trách các đơn vị có tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Việc gắn trách nhiệm xử lý nợ xấu với các cá nhân liên quan trực tiếp đến việc cấp tín dụng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để nâng cao chất lượng thẩm định và quản lý khoản vay, từ đó hạn chế phát sinh nợ xấu mới và cải thiện chất lượng danh mục tín dụng tổng thể, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Tăng trưởng tín dụng. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Thứ tư, tăng cường các cơ chế thỏa thuận, thương lượng trong xử lý nợ xấu: Đề xuất này tập trung vào giải pháp mềm dẻo, linh hoạt để xử lý hậu quả của nợ xấu. Thay vì các biện pháp cứng nhắc, việc khuyến khích đối thoại và thương lượng giữa ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn có thể dẫn đến các phương án trả nợ hợp lý hơn, phù hợp với tình hình thực tế của cả hai bên. Các giải pháp như thay đổi thời điểm trả nợ, điều chỉnh các điều khoản hợp đồng tín dụng sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động và có khả năng phục hồi trả nợ. Điều này không chỉ giúp ngân hàng thu hồi nợ hiệu quả hơn mà còn duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng, giảm thiểu chi phí pháp lý và hành chính trong quá trình xử lý nợ xấu, từ đó gián tiếp hỗ trợ hoạt động cấp tín dụng mới.

5.2.5. Đối với tỷ suất sinh lời trên tài sản

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến Tăng trưởng Tín dụng (TTTD) tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) Việt Nam. Điều này khẳng định lợi nhuận là một động lực cốt lõi cho khả năng mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Để duy trì và gia tăng tỷ suất sinh lời, một tham vọng chính đáng của mọi ngân hàng, đòi hỏi các chiến lược toàn diện và có chiều sâu.

Đầu tiên, việc quản lý chi phí hoạt động một cách chiến lược là yếu tố then chốt để cải thiện ROA. Mặc dù việc cắt giảm chi phí một cách đơn thuần có thể không phù hợp hoặc gây tổn hại đến chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh, các Ngân hàng thương mại cổ phần cần tập trung vào việc tối ưu hóa hiệu quả chi phí. Điều này bao gồm rà soát các khoản mục chi tiêu để loại bỏ lãng phí, tái cấu trúc quy trình nội bộ nhằm giảm thiểu các bước không cần thiết, và áp dụng các công cụ quản lý hiện đại để nâng cao năng suất trên mỗi đơn vị chi phí. Một cách tiếp cận thông minh là đầu tư vào công nghệ và con người để giảm chi phí vận hành trong dài hạn, thay vì cắt giảm đột ngột các yếu tố thiết yếu.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu suất quản lý đóng vai trò trọng yếu trong việc cải thiện ROA. Ngân hàng thương mại cổ phần cần chú trọng phát triển công tác quản trị, đồng thời thu hút và bồi dưỡng đội ngũ nhân sự có năng lực, chuyên môn cao. Việc tổ chức các buổi đào tạo thường xuyên, cập nhật kiến thức và kỹ năng cho nhân viên sẽ góp phần nâng cao hiệu suất làm việc, giảm thiểu sai sót, và tăng cường khả năng phục vụ khách hàng. Bên cạnh đó, việc cải thiện chính sách lương thưởng, gắn liền với hiệu quả công việc, sẽ tạo động lực mạnh mẽ để nhân viên nỗ lực hoạt động năng suất, từ đó đóng góp trực tiếp vào mục tiêu lợi nhuận và tăng trưởng chung của ngân hàng.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển ngân hàng số là một giải pháp mang tính chiến lược để tối ưu hóa chi phí và gia tăng lợi nhuận. Việc triển khai các dịch vụ ngân hàng số, internet banking, và ứng dụng di động không chỉ giúp tự động hóa nhiều quy trình, cắt giảm đáng kể chi phí vận hành tại các chi nhánh truyền thống mà còn nâng cao trải nghiệm khách hàng. Sự tiện lợi, nhanh chóng và khả năng tiếp cận 24/7 của ngân hàng số sẽ thu hút một lượng lớn khách hàng mới, tăng cường lòng trung thành của khách hàng hiện tại, đồng thời mở rộng kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Điều này trực tiếp làm tăng doanh thu, giảm chi phí giao dịch, và góp phần ổn định nguồn lợi nhuận, từ đó thúc đẩy khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

5.2.6. Đối với tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế (GDP) có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, điều này khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa sức khỏe của nền kinh tế và hoạt động tín dụng. Đối với các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững là yếu tố tiên quyết để đảm bảo Tăng trưởng tín dụng lành mạnh. Chính phủ cần tiếp tục thực hiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, và cải thiện môi trường kinh doanh.

Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan để điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế. Khi GDP tăng trưởng, nhu cầu tín dụng sẽ gia tăng, và hệ thống ngân hàng cần sẵn sàng đáp ứng nhu cầu này một cách hiệu quả, tránh tình trạng “khát vốn” hoặc “thừa vốn” không được giải quyết.

Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần, việc theo dõi sát sao các chỉ số kinh tế vĩ mô, đặc biệt là GDP, là rất quan trọng để điều chỉnh chiến lược tín dụng. Khi kinh tế tăng trưởng tốt, ngân hàng có thể tự tin hơn trong việc mở rộng cho vay, đồng thời tập trung vào các ngành, lĩnh vực có tiềm năng phát triển cao.

5.2.7. Đối với tỷ lệ lạm phát

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lạm phát có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, một phát hiện có phần trái ngược với kỳ vọng thông thường. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều. Đối với NHNN, cần xem xét kỹ lưỡng mức độ và bản chất của lạm phát. Nếu lạm phát ở mức độ vừa phải và có tính chất cầu kéo (do nhu cầu tăng), nó có thể kích thích hoạt động kinh tế và nhu cầu vay vốn. Tuy nhiên, nếu lạm phát vượt ngưỡng kiểm soát, nó có thể dẫn đến những hệ lụy tiêu cực khác.

Các Ngân hàng thương mại cổ phần cần có cơ chế linh hoạt trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay và chính sách tín dụng để thích ứng với biến động của lạm phát. Trong môi trường lạm phát, việc quản lý rủi ro tín dụng cần được tăng cường, đặc biệt là đối với các khoản vay dài hạn, để tránh rủi ro mất giá đồng tiền và khả năng trả nợ của khách hàng bị ảnh hưởng.

Chính sách vĩ mô cần hướng tới việc kiểm soát lạm phát ở mức ổn định, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Mặc dù lạm phát có thể kích thích Tăng trưởng tín dụng trong một số bối cảnh, nhưng lạm phát cao và không ổn định về lâu dài sẽ gây bất lợi cho cả nền kinh tế và hoạt động ngân hàng. Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

5.2.8. Đối với sở hữu Nhà nước

Kết quả cho thấy sở hữu Nhà nước có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) trong việc thúc đẩy tín dụng tại Việt Nam. Đối với cơ quan quản lý, cần tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của các NHTMNN trong việc dẫn dắt Tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội.

Tuy nhiên, việc phát huy vai trò này cần đi đôi với việc nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của các NHTMNN. Tránh tình trạng lạm dụng vị thế để cho vay kém hiệu quả, gây ra nợ xấu tiềm ẩn. Chính phủ cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu, cổ phần hóa và nâng cao năng lực quản trị của các NHTMNN để đảm bảo tính cạnh tranh và bền vững.

Đối với các Ngân hàng thương mại cổ phần có sở hữu Nhà nước, cần tận dụng lợi thế về uy tín và nguồn lực để mở rộng tín dụng một cách có trách nhiệm, hướng tới các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời không ngừng cải thiện hiệu quả kinh doanh để cạnh tranh lành mạnh với các ngân hàng tư nhân. Sự kết hợp giữa vai trò dẫn dắt và hiệu quả thị trường sẽ giúp các ngân hàng này đóng góp tối đa vào Tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

5.3. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

5.3.1. Hạn chế nghiên cứu

Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ BCTC của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2024 nên chắc chắn khó có thể tránh được những thiếu sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu và ảnh hưởng đến kết quả.

Một số biến độc lập trong mô hình bị đổi dấu so với kỳ vọng của tác giả và của một số nghiên cứu khác. Điều này xuất phát từ phía mẫu dữ liệu và điều kiện thực tế tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Hạn chế của tác giả là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng được sử dụng trong luận văn.

Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình. Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh thực trạng thu nhập của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và một số Ngân hàng thương mại cổ phần trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Chương 5 đã tiến hành kết luận chung nhất về các kết quả đạt được của luận văn. Đồng thời dựa trên kết quả hồi quy đa biến đề xuất các hàm ý cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhằm Tăng trưởng tín dụng ổn định trong tương lai. Mặt khác, chương này cũng đánh giá các hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x