Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Nội dung chính: Luận văn này tập trung tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến tăng trưởng tín dụng tại các NHTM, các tiêu chí đánh giá và các lý thuyết liên quan tăng trưởng tín dụng để tổng hợp các yếu tố lý thuyết tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Đồng thời thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan thì luận văn đã xác định các khoảng trống nghiên cứu, từ đó đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua phân tích hồi quy bảng để kiểm định các giả thuyết đã đặt ra. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2014 – 2024, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả. Mô hình hồi quy được thiết lập đã chứng minh khả năng giải thích đáng kể, với 53,61% sự biến động của tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình, khẳng định tính phù hợp và ý nghĩa của các yếu tố được lựa chọn.

Trong đó, các biến số tác động tích cực đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đó là tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ suất sinh lời, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sở hữu Nhà nước. Ngược lại các biến số tác động tiêu cực đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đó là quy mô ngân hàng, tăng trưởng huy động vốn. Ngoài ra, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ an toàn vốn, đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê tác động đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Từ kết quả nghiên cứu này thì luận văn đã tiến hành đề xuất các hàm ý cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tăng trưởng tín dụng ổn định trong tương lai

Từ khóa: Tăng trưởng tín dụng, quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, suất sinh lời, vĩ mô kinh tế.

ABSTRACT

Title: Factors Affecting Credit Growth of Vietnamese Commercial Joint Stock Banks

Content: This thesis primarily synthesizes foundational theories related to credit growth in commercial banks, evaluation criteria, and relevant theories to compile a comprehensive set of theoretical factors influencing the credit growth of Vietnamese commercial joint stock banks. Simultaneously, through a literature review of related studies, the thesis identifies research gaps, subsequently proposing a research model and hypotheses.

The study employs a quantitative methodology, specifically panel regression analysis, to test the formulated hypotheses. Data was collected from the audited financial reports of Vietnamese commercial joint stock banks during the 2014 – 2024 period, ensuring the objectivity and reliability of the results. The established regression model demonstrated significant explanatory power, with 53.61% of the variation in banks’ credit growth being explained by the independent variables in the model, affirming the suitability and significance of the selected factors. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Specifically, the variables that positively impact credit growth in Vietnamese commercial joint stock banks include the equity ratio, loan loss provision ratio, profitability ratio, economic growth rate, and state ownership. Conversely, the variables that negatively impact credit growth in Vietnamese commercial joint stock banks are bank size and deposit growth. Furthermore, income diversification, capital adequacy ratio, and the Covid-19 pandemic were found to have no statistically significant impact on credit growth in Vietnamese commercial joint stock banks.

Based on these research findings, the thesis proceeds to propose implications for Vietnamese commercial joint stock banks to achieve stable credit growth in the future.

Keywords: Credit growth, bank size, equity, profitability, macroeconomics.

Chương 1: Giới thiệu đề tài

1.1. Lý do chọn đề tài

Trong môi trường kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng không chỉ đơn thuần là động lực thúc đẩy kinh tế mà còn là một công cụ vĩ mô thiết yếu để Chính phủ điều tiết các hoạt động sản xuất, định hình chiến lược kinh tế, tái phân công lao động xã hội và kiểm soát lượng tiền tệ lưu thông. Hơn nữa, nó còn giúp tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, góp phần quan trọng vào việc kiềm chế lạm phát và duy trì sự ổn định của sức mua đồng tiền. Thông qua các hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) và tổ chức Tín dụng (TCTD) tại Việt Nam, dưới sự giám sát của Nhà nước, nguồn vốn này đã kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân có đủ vốn để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Mặc dù đóng vai trò tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội và kiểm soát lạm phát, việc quản lý lỏng lẻo tín dụng có thể dẫn đến sự mất cân đối giữa tiền và hàng hóa, gây ra hậu quả nghiêm trọng là lạm phát gia tăng.

Giai đoạn từ năm 2009 đến nay đã ghi nhận những biến động đáng kể về tăng trưởng tín dụng (TTTD). Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 đã tác động nặng nề đến nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Sau giai đoạn này, Tăng trưởng tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng. Cụ thể, giai đoạn 2008-2010, tín dụng tăng bình quân 31,8% mỗi năm (Ngân hàng Nhà nước, 2016), kéo theo tỷ lệ tín dụng trên GDP cũng tăng mạnh. Điều này gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát tăng cao ở mức hai con số, đồng thời đe dọa nghiêm trọng an toàn hệ thống tài chính với sự gia tăng của nợ xấu, đẩy hệ thống ngân hàng đứng trước nguy cơ đổ vỡ tiềm ẩn. Để ứng phó, từ năm 2012, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã triển khai giải pháp điều hành Tăng trưởng tín dụng theo định hướng toàn ngành và giao chỉ tiêu Tăng trưởng tín dụng hàng năm cho từng Tổ chức tín dụng. Mục tiêu chính là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Sau thời gian dài nỗ lực điều hành Tăng trưởng tín dụng, năm 2020, đại dịch Covid-19 bùng phát đã làm gián đoạn sâu rộng các hoạt động kinh tế – xã hội trên toàn cầu. Giai đoạn 2020-2021 đặc biệt khó khăn và thách thức đối với kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, khi thiên tai và dịch bệnh tác động lớn đến nền kinh tế và đời sống người dân. Theo số liệu từ NHNN, tốc độ Tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống NHTM (bao gồm cả ngân hàng Việt Nam và nước ngoài) trong năm 2020 và 2021 lần lượt là 12,1% và 12%, mức thấp nhất trong 5 năm. Đến năm 2022, Tăng trưởng tín dụng đạt 14,16%, cho thấy sự phục hồi tương đối. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2023 lại chứng kiến Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng chỉ đạt khoảng 4,03%. Điều này đồng nghĩa với việc, gần nửa năm trôi qua nhưng tốc độ Tăng trưởng tín dụng thực tế chỉ đạt hơn một phần tư so với mục tiêu 14-15% mà NHNN đặt ra cho năm 2023, ước tính là mức Tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong 10 năm qua (Ngân hàng Nhà nước, 2023).

Tăng trưởng tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. Nó cho phép người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn và doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó tạo ra việc làm và lợi nhuận trên vốn đầu tư. Các ngân hàng tài trợ cho các hoạt động kinh tế này thông qua việc cung cấp vốn tín dụng, đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ. Sự gia tăng tín dụng đồng nghĩa với việc tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế, cho phép Chính phủ điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định và phát triển kinh tế. Tăng trưởng tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã biến động liên tục từ năm 2008, tác động không nhỏ đến sự phát triển và ổn định kinh tế. Đây là một vấn đề mà các NHTM đặc biệt quan tâm, bởi lẽ Tăng trưởng tín dụng hợp lý và chất lượng là nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho các ngân hàng (Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến, 2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến Tăng trưởng tín dụng đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy nhiên, do sự khác biệt về bối cảnh địa lý, cấu trúc hệ thống tài chính, đặc thù ngân hàng và giai đoạn nghiên cứu, kết quả có thể khác nhau. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ để nghiên cứu nhằm đưa ra các hàm ý cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tăng trưởng tín dụng một cách bền vững và ổn định trong tương lai.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Luận văn sẽ xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tăng trưởng tín dụng ổn định, an toàn trong tương lai.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Với mục tiêu tổng quát trên thì các mục tiêu cụ thể được chi tiết hóa đó là: Một là xác định các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Hai là phân tích mức độ tác động của các yếu tố đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Ba là đề xuất các hàm ý quản trị cho ban lãnh đạo của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam để Tăng trưởng tín dụng ổn định, an toàn trong trong tương lai.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

Tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể thì các câu hỏi nghiên cứu sẽ được thiết lập đó là:

  • Một là các yếu tố nào tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam ?
  • Hai là mức độ tác động của các yếu tố đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam như thế nào ?
  • Ba là các hàm ý quản trị nào sẽ đề xuất cho ban lãnh đạo của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhằm Tăng trưởng tín dụng ổn định, an toàn trong trong tương lai ?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

  • Phạm vi nghiên cứu: Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Về không gian: Luận văn này sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 24 NHTMCP tại Việt Nam (chi tiết tại Phụ lục 1). Thứ nhất, 24 Ngân hàng thương mại cổ phần này chắc chắn nắm giữ hơn 75% thị phần và tổng tài sản của toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam. Tỷ trọng đáng kể này đảm bảo rằng các phát hiện từ nghiên cứu có tính đại diện cao, phản ánh chính xác xu hướng và đặc điểm hoạt động của phần lớn ngành ngân hàng thương mại trong nước. Thứ hai, các Ngân hàng thương mại cổ phần được lựa chọn cung cấp số liệu minh bạch và đầy đủ trên các Báo cáo Tài chính (BCTC) công khai qua các năm, đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2024.

Về thời gian: Luận văn này sẽ tập trung thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024. Việc lựa chọn khung thời gian này dựa trên những cân nhắc chiến lược về bối cảnh kinh tế và những biến động quan trọng đã diễn ra. Cụ thể, giai đoạn từ năm 2014 đánh dấu sự phục hồi và ổn định dần của nền kinh tế sau những ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Tuy nhiên, trong chính giai đoạn này, nhiều sự kiện lớn đã phát sinh, điển hình là dịch bệnh Covid-19 bùng nổ và tình trạng lạm phát tăng Những yếu tố này đã gây ra những tác động tiêu cực sâu rộng đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam, khiến các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách đáng kể. Kết quả là, Tăng trưởng tín dụng đã trải qua nhiều biến động lớn trong suốt thời kỳ này. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024 mang ý nghĩa quan trọng và cần thiết để hiểu rõ hơn về động lực và thách thức của ngành ngân hàng trong những năm gần đây.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này sẽ áp dụng sự kết hợp hai phương pháp nghiên cứu chính là định tính và định lượng nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Phương pháp định tính được sử dụng để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đầu tiên: xác định các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại NHTM. Điều này được thực hiện thông qua việc tổng hợp khung lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm đã có để nhận diện những khoảng trống nghiên cứu hiện tại, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh cụ thể của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu định tính còn bao gồm việc đánh giá tổng quan tình hình Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dựa trên dữ liệu thống kê chung trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2024.

Tuy nhiên, nghiên cứu định lượng là phương pháp chủ đạo của luận văn, nhằm giải quyết hai mục tiêu quan trọng còn lại: đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và từ đó đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp. Để thực hiện nghiên cứu định lượng, dữ liệu thứ cấp của 24 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024 sẽ được thu thập và thiết kế dưới dạng bảng (panel data). Dữ liệu này sau đó sẽ được xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 14.0 để tạo ra các kết quả cần thiết. Quá trình phân tích định lượng sẽ bao gồm các bước cụ thể: Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

  • Thống kê mô tả các đặc điểm của biến số trong mô hình nghiên cứu.
  • Tiến hành hồi quy với các mô hình phổ biến như Pooled OLS (Bình phương tối thiểu thông thường kết hợp), Fixed Effects Model (FEM – Mô hình hiệu ứng cố định) và Random Effects Model (REM – Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên).
  • Dựa trên các kết quả hồi quy ban đầu, luận văn sẽ thực hiện một loạt các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp nhất, bao gồm kiểm định Hausman và F-test.
  • Sau khi lựa chọn được mô hình tối ưu, luận văn sẽ kiểm định sự xuất hiện của các khuyết tật (ví dụ: phương sai sai số thay đổi, tự tương quan) và khắc phục chúng bằng phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Squares) để thu được kết quả hồi quy cuối cùng đáng tin cậy.

Những kết quả hồi quy này sẽ tạo cơ sở vững chắc để kết luận về các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra những hàm ý chính sách thiết thực cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

1.6. Đóng góp của đề tài

Luận văn này được xây dựng với mục tiêu kép, kết hợp giữa phát triển lý thuyết và cung cấp bằng chứng thực nghiệm. Đầu tiên, nghiên cứu sẽ tổng hợp lý thuyết nền tảng về Tăng trưởng tín dụng tại các NHTM, đồng thời tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan để nhận diện những khoảng trống tri thức hiện có. Từ đó, một mô hình nghiên cứu phù hợp sẽ được đề xuất, được thiết kế riêng để áp dụng vào bối cảnh đặc thù của các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Tiếp theo, thông qua việc thu thập và xử lý dữ liệu một cách hệ thống, nghiên cứu này sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm chi tiết về mối quan hệ cũng như mức độ tác động của các yếu tố khác nhau đến Tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Dữ liệu sẽ được phân tích trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2024, một thời kỳ đầy biến động nhưng cũng rất quan trọng đối với ngành ngân hàng Việt Nam. Dựa trên các kết quả thu được từ nghiên cứu thực nghiệm này, luận văn sẽ đưa ra những hàm ý cụ thể và thiết thực, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả Tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong tương lai.

1.7. Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu 5 chương và nội dung tổng quát từng chương như sau:

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài

Trong chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.

  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu

Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến Tăng trưởng tín dụng cũng như các tiêu chí đo lường, xác định các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các NHTM. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

  • Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các NHTM Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu. Cuối cùng chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán.

  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập đánh giá ban đầu về tình hình Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan.

  • Chương 5: Kết luận và hàm ý

Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ tác động của các yếu tố đến Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nhằm Tăng trưởng tín dụng.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về Tăng trưởng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam liên quan đến các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng, tình hình các nghiên cứu liên quan về các yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các NHTM. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu

2.1. Lý thuyết về tín dụng ngân hàng

2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

Theo Hồ Diệu (2001), tín dụng là mối quan hệ vay mượn, hay nói cách khác là sự trao đổi và sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay, với nguyên tắc cơ bản là có hoàn trả. Mở rộng hơn, Nguyễn Văn Ngọc (2012) nhấn mạnh rằng tín dụng thường ám chỉ các hình thức cho vay có hiệu ứng tiền tệ. Điều này có nghĩa là khi ngân hàng tăng mức cho vay, nó sẽ dẫn đến sự gia tăng tiền gửi ngân hàng, từ đó làm tăng cung ứng tiền tệ hoặc các phương tiện thay thế tiền như tín dụng thương mại. Mối liên hệ trực tiếp giữa tiền và tín dụng ở cấp độ kinh tế vĩ mô được thể hiện rõ khi phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền tệ dựa trên việc mở rộng tín dụng trong nước.

Đặc biệt đối với tín dụng ngân hàng, Nguyễn Văn Tiến (2015) giải thích đây là việc ngân hàng chấp thuận cho khách hàng sử dụng một lượng tài sản (có thể là tiền, tài sản thực hoặc uy tín) dựa trên sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn của khách hàng. Mối quan hệ tín dụng này được biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Hơn nữa, Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 47/2020/QH15, Điều 4) định nghĩa cấp tín dụng là một thỏa thuận cho phép tổ chức hoặc cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả. Các nghiệp vụ cụ thể của việc cấp tín dụng bao gồm cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Tóm lại, tại luận văn này thì tín dụng ngân hàng được hiểu là là một thỏa thuận tài chính quan trọng, trong đó người cho vay là ngân hàng và người đi vay có thể là các cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể kinh tế khác hoặc thậm chí là một ngân hàng khác. Theo thỏa thuận này, người đi vay có nghĩa vụ phải hoàn trả đầy đủ số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay khi đến hạn, có thể kèm hoặc không kèm theo lãi suất. Nhìn chung, tín dụng ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng và là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế hiện nay.

2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Tín dụng đóng một vai trò trọng yếu đối với hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của mọi chủ thể trong nền kinh tế, không chỉ ở các quốc gia trên thế giới mà còn đặc biệt tại Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng, tham gia vào nhiều hiệp định song phương và đa phương, tín dụng ngân hàng ngày càng phát huy hiệu quả ở nhiều khía cạnh chiến lược, củng cố vị thế là một trụ cột của sự phát triển:

Tái phân bổ tiền, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Thông qua kênh tín dụng, các ngân hàng thực hiện chức năng tái phân bổ nguồn lực tài chính, chuyển dịch tiền từ những chủ thể có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đến những chủ thể có nhu cầu vay vốn. Điều này cho phép tín dụng tập trung các nguồn vốn phân tán trong nền kinh tế và tái cho vay, qua đó điều hòa cung – cầu tiền tệ trên thị trường, đáp ứng linh hoạt nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế. Đây là yếu tố then chốt giúp duy trì sự liên tục của quá trình sản xuất và thúc đẩy quá trình tái sản xuất (King và Levine, 1993; Levine, 1997). Hơn nữa, khi sử dụng vốn vay từ ngân hàng, khách hàng bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định. Yêu cầu này buộc các khách hàng phải sử dụng vốn một cách hiệu quả, không chỉ để tạo ra lợi nhuận cho chính họ mà còn để đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với ngân hàng.

Góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng sản xuất, đẩy mạnh đầu tư phát triển: Trong một nền kinh tế hội nhập, các chủ thể kinh tế không thể giới hạn ở quy mô sản xuất hiện tại. Trước bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa khu vực tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh là một điều tất yếu. Tín dụng theo đó đã phát triển không ngừng, đa dạng hóa các loại hình vay gửi, linh hoạt về thời hạn và hình thức giải ngân, đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư vào các dự án mới. Điều này tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tổng thể (Levine, 2002).

Kênh truyền tải chính sách tiền tệ linh hoạt và hiệu quả: Tín dụng ngân hàng đóng vai trò là kênh truyền tải chính sách tiền tệ linh hoạt và hiệu quả. Chính sách tiền tệ, một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, được Ngân hàng Trung ương (NHTW) sử dụng thông qua các công cụ của mình để kiểm soát và điều tiết lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất, nhằm đạt được các mục tiêu vĩ mô về giá cả, sản lượng và việc làm (Tô Ngọc Hưng, 2012). Dựa vào chính sách tiền tệ của NHTW và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế trong từng thời kỳ, NHTW có thể can thiệp vào lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và hạn mức tăng trưởng tín dụng thông qua kênh tín dụng. Mục tiêu là để đảm bảo lượng tiền trong lưu thông ở mức phù hợp, vừa đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho nền kinh tế, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát (Giné và Townsend, 2004; Amaral và Quintin, 2010)..”

Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là tổng hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố quyết định mức độ hiệu quả và năng suất của một quốc gia. Với vai trò trụ cột trong việc phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy mở rộng đầu tư và sản xuất vào các ngành kinh tế mũi nhọn, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, và là công cụ thực thi chính sách tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng tín dụng đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế trong bối cảnh hội nhập gay gắt (Buera và cộng sự, 2011).

2.2. Tăng trưởng tín dụng Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

2.2.1. Khái niệm tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Tăng trưởng tín dụng (TTTD) là một khái niệm trung tâm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, thường được định nghĩa là sự gia tăng về giá trị dư nợ cho vay trong khu vực tư nhân, bao gồm cả các cá nhân và tổ chức (Bottazi và cộng sự, 2014). Khi quy mô tín dụng mở rộng, khách hàng có khả năng tiếp cận nhiều nguồn vốn hơn để phục vụ các mục đích chi tiêu, đầu tư và kinh doanh.

Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), Tăng trưởng tín dụng được hiểu là việc các ngân hàng thương mại (NHTM) sử dụng chính sách nhằm gia tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu cấp tín dụng, chiết khấu và đầu tư cho các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu vay vốn. Mục tiêu cuối cùng là từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu của ngân hàng trên thị trường. Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến (2011) cũng nhấn mạnh rằng Tăng trưởng tín dụng là mối quan tâm lớn của các NHTM, bởi lẽ một mức tăng trưởng hợp lý và chất lượng sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho ngân hàng. Phan Thị Thu Hà (2013) bổ sung rằng “tăng trưởng” là khái niệm đo lường sự gia tăng giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. Theo đó, Tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ phần trăm gia tăng lượng tiền cho vay đối với các cá nhân, tổ chức giữa hai kỳ liên tiếp. Ví dụ, nếu tổng dư nợ cho vay tăng từ 100 tỷ đồng lên 130 tỷ đồng, Tăng trưởng tín dụng là 30%.

Tổng hợp các quan điểm trên, Tăng trưởng tín dụng được hiểu là sự gia tăng của các khoản tín dụng do hệ thống ngân hàng cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế. Việc ngân hàng mở rộng các khoản tín dụng có ý nghĩa thiết yếu trong việc đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các chủ thể kinh tế trong quá trình phát triển xã hội. Về mặt tính toán, Tăng trưởng tín dụng ngân hàng là tỷ lệ phần trăm sự tăng lên (hoặc giảm xuống) của tổng giá trị tiền tệ mà hệ thống ngân hàng cung cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trong nền kinh tế ở kỳ này so với kỳ trước. Khi tín dụng tăng trưởng dương, một lượng cung tiền tương ứng dưới dạng bút tệ sẽ được đưa vào lưu thông trong nền kinh tế. Ngược lại, tín dụng tăng trưởng âm cho thấy xu hướng thắt chặt cung tiền, kéo theo những tác động nhất định đến nền kinh tế.

Tóm lại, Tăng trưởng tín dụng là sự gia tăng khoản mục cho vay khách hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Sự gia tăng này không chỉ tạo cơ hội cho các Ngân hàng thương mại cổ phần nâng cao lợi nhuận mà còn củng cố vị thế và thương hiệu của họ trên thị trường. Tốc độ Tăng trưởng tín dụng thường được xác định và theo dõi hàng năm nhằm mục đích ngăn chặn hiện tượng tín dụng tăng trưởng quá mức trong khi nền kinh tế có dấu hiệu suy giảm.

2.2.2. Tiêu chí đo lường tăng trưởng tín dụng ngân hàng Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Tăng trưởng tín dụng (TTTD) thường được xác định thông qua sự thay đổi hàng năm trong tổng số dư nợ của từng ngân hàng riêng lẻ (Ghosh, 2010). Là một chỉ tiêu mang tính tương đối, Tăng trưởng tín dụng được tính toán bằng cách so sánh tốc độ tăng hoặc giảm của giá trị cấp tín dụng tại thời điểm hiện tại với giá trị cấp tín dụng tại một thời điểm so sánh. Tùy thuộc vào mốc thời điểm được chọn làm cơ sở so sánh, Tăng trưởng tín dụng sẽ mang ý nghĩa là tốc độ tăng trưởng so với một kỳ gốc cố định hoặc tốc độ tăng trưởng liên hoàn (so với kỳ liền trước).”

Tăng trưởng tín dụng so với kỳ gốc: Đây là tỷ lệ phần trăm tăng thêm của giá trị tín dụng tại thời điểm tính tăng trưởng ti (thường tính bằng năm) với giá trị tín dụng tại thời điểm làm gốc so sánh t0. Công thức tính toán tăng trưởng tín dụng so với kỳ gốc như sau:

Tăng trưởng tín dụng liên hoàn: Đây là tỷ lệ phần trăm tăng “thêm của giá trị tín dụng tại thời điểm tính tăng trưởng ti (thường tính bằng năm) với giá trị tín dụng tại thời điểm liền kề trước đó ti-1. Với cách tính này, tình hình biến động của tín dụng sẽ được phản ánh liên tục qua các mốc thời gian liền kề nhau và tích các chỉ số tăng trưởng liên hoàn sẽ bằng chỉ số tăng trưởng so với kỳ gốc tương ứng. Công thức tính toán tăng trưởng tín dụng so với kỳ trước đó như sau:

Trong cả hai phương pháp tính toán Tăng trưởng tín dụng đã nêu trên (so với kỳ gốc và liên hoàn), giá trị cấp tín dụng tại các thời điểm so sánh phải bao gồm toàn bộ các khoản mục được xác định là cấp tín dụng theo các quy định pháp lý hiện hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong từng thời kỳ. Điều quan trọng là cần phân biệt rõ ràng chỉ tiêu này với chỉ tiêu “cho vay khách hàng”, vốn chỉ là một phần trong tổng thể các hoạt động cấp tín dụng. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, luận văn sẽ tiếp cận theo cách tính tăng trưởng tín dụng liên hoàn. Dữ liệu được sử dụng sẽ được thu thập từ 24 Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2024, nhằm cung cấp một cái nhìn chi tiết và liên tục về biến động của Tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng.

2.3. Các lý thuyết liên quan đến tăng trưởng tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

2.3.1. Lý thuyết cung – cầu tín dụng và vai trò của lãi suất

Lý thuyết cơ bản nhất để giải thích Tăng trưởng tín dụng là lý thuyết cung – cầu tín dụng. Theo lý thuyết này, Tăng trưởng tín dụng được xác định bởi sự tương tác giữa nhu cầu vay vốn từ các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình) và khả năng cung cấp vốn của các NHTM. Nhu cầu vay vốn chịu ảnh hưởng bởi triển vọng kinh tế, cơ hội đầu tư, mức độ tiêu dùng dự kiến, và đặc biệt là chi phí vay vốn được thể hiện qua lãi suất. Khi lãi suất thấp, chi phí đi vay giảm, điều này khuyến khích các chủ thể gia tăng nhu cầu vay để mở rộng đầu tư và tiêu dùng. Bernanke và Blinder (1988) cho thấy vai trò của kênh tín dụng trong việc truyền tải chính sách tiền tệ thông qua tác động lên cung tiền và khả năng cấp tín dụng của ngân hàng.

Về phía cung, khả năng cấp tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều nguồn lực, bao gồm nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng, vốn chủ sở hữu của ngân hàng, và các quy định pháp lý từ Ngân hàng Trung ương (NHTW) như tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay các tiêu chuẩn an toàn vốn. Lãi suất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình mức độ sẵn sàng và khả năng cho vay của các NHTM. Lãi suất được xem là biến số điều tiết chính, có chức năng cân bằng cung và cầu trên thị trường tín dụng. Do đó, bất kỳ sự thay đổi nào trong lãi suất chính sách của NHTW đều có thể trực tiếp tác động đến lãi suất cho vay của các NHTM, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ và quy mô Tăng trưởng tín dụng trong nền kinh tế.

2.3.2. Lý thuyết về rủi ro và quản lý rủi ro hoạt động tín dụng

Hoạt động tín dụng vốn dĩ luôn tiềm ẩn các loại rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, tức là khả năng người đi vay không thể hoặc không muốn hoàn trả khoản vay. Các lý thuyết về quản lý rủi ro giải thích cách thức các ngân hàng đánh giá, quản lý và định giá các rủi ro này trong suốt quá trình cấp tín dụng. Một trong những vấn đề cốt lõi là lý thuyết thông tin bất cân xứng, dẫn đến các hiện tượng như lựa chọn đối nghịch (ngân hàng khó phân biệt giữa người vay có khả năng trả nợ tốt và người vay có rủi ro cao trước khi cho vay) và rủi ro đạo đức (người vay có thể thay đổi hành vi theo hướng rủi ro hơn sau khi đã nhận được khoản vay). Để giảm thiểu các rủi ro này, ngân hàng phải áp dụng các quy trình thẩm định chặt chẽ, giám sát khoản vay thường xuyên và yêu cầu tài sản đảm bảo, những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến tốc độ và quy mô Tăng trưởng tín dụng (Stiglitz và Weiss, 1981).

Bên cạnh đó, lý thuyết về vốn và đệm vốn cũng đóng vai trò quan trọng. Mức độ vốn hóa của một ngân hàng, tức là lượng vốn chủ sở hữu mà ngân hàng nắm giữ, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thụ các cú sốc rủi ro và khả năng mở rộng tín dụng. Các quy định về an toàn vốn, như Hiệp ước Basel III, yêu cầu các ngân hàng duy trì một tỷ lệ vốn nhất định so với tài sản có rủi ro. Khi một ngân hàng có đệm vốn lớn, họ thường có sự tự tin và khả năng tài chính tốt hơn để mở rộng tín dụng. Ngược lại, áp lực tuân thủ các quy định về vốn có thể hạn chế khả năng Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng, đặc biệt trong những giai đoạn kinh tế khó khăn hoặc khi có sự gia tăng rủi ro trong danh mục cho vay (Acharya và cộng sự, 2010).

2.3.3. Lý thuyết về cấu trúc ngành và cạnh tranh ngân hàng Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Cấu trúc của ngành ngân hàng và mức độ cạnh tranh giữa các NHTM là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến Tăng trưởng tín dụng. Trong một thị trường có tính cạnh tranh cao, các ngân hàng thường phải điều chỉnh chiến lược của mình để thu hút khách hàng. Điều này có thể bao gồm việc giảm lãi suất cho vay hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng, từ đó thúc đẩy Tăng trưởng tín dụng chung của hệ thống. Ngược lại, trong một thị trường có tính độc quyền cao hoặc ít cạnh tranh, các ngân hàng có thể duy trì lãi suất cho vay ở mức cao hơn và áp dụng các điều kiện cho vay chặt chẽ hơn, dẫn đến tốc độ Tăng trưởng tín dụng chậm lại (Berger và cộng sự, 2004).

Ngoài ra, quy mô và hiệu quả hoạt động của từng ngân hàng cũng có tác động đáng kể. Các ngân hàng có quy mô lớn hơn, với nguồn lực tài chính dồi dào và quy trình quản lý hiệu quả hơn, thường có lợi thế trong việc mở rộng tín dụng. Hiệu quả hoạt động cao, thể hiện qua chi phí hoạt động thấp hoặc khả năng quản lý rủi ro tốt, cũng giúp ngân hàng có lợi thế cạnh tranh về lãi suất, từ đó thu hút được nhiều khách hàng vay hơn và thúc đẩy Tăng trưởng tín dụng. Claessens và Laeven (2004) đã phân tích mối quan hệ giữa cạnh tranh ngân hàng và hiệu quả hoạt động, gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng mở rộng tín dụng. Mức độ tập trung của ngành cũng có thể ảnh hưởng đến Tăng trưởng tín dụng, với các nghiên cứu cho thấy cả tác động tích cực và tiêu cực tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của thị trường.

2.3.4. Lý thuyết đại diện

Lý thuyết Agency, hay còn gọi là lý thuyết Đại diện, giải thích mối quan hệ giữa người ủy quyền (principal) và người đại diện (agent) khi lợi ích của hai bên không hoàn toàn trùng khớp. Trong bối cảnh ngân hàng, mối quan hệ agency tồn tại giữa các cổ đông (người ủy quyền) và ban quản lý (người đại diện). Các cổ đông mong muốn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, trong khi ban quản lý có thể theo đuổi các mục tiêu khác như tối đa hóa quy mô (thể hiện qua Tăng trưởng tín dụng), gia tăng lợi ích cá nhân, hoặc giảm thiểu rủi ro để đảm bảo vị trí của mình (Jensen và Meckling, 1976).

Sự xung đột lợi ích này có thể ảnh hưởng đến quyết định về Tăng trưởng tín dụng. Ví dụ, ban quản lý có thể ưu tiên tăng trưởng tín dụng nhanh chóng để mở rộng thị phần hoặc danh tiếng, ngay cả khi điều này tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao hơn và có thể không tối ưu cho lợi ích dài hạn của cổ đông. Ngược lại, nếu ban quản lý quá thận trọng để bảo vệ vị trí của mình, họ có thể bỏ lỡ các cơ hội Tăng trưởng tín dụng có lợi. Để giảm thiểu vấn đề agency, các cơ chế quản trị doanh nghiệp như cấu trúc hội đồng quản trị, hệ thống thù lao gắn với hiệu suất và giám sát bên ngoài là cần thiết để điều chỉnh hành vi của ban quản lý phù hợp với mục tiêu của cổ đông, từ đó ảnh hưởng đến chiến lược Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng.

2.3.5. Lý thuyết về cấu trúc vốn Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Lý thuyết về vốn chủ sở hữu và cấu trúc vốn, trong bối cảnh ngân hàng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngân hàng duy trì một cơ cấu vốn tối ưu để hỗ trợ hoạt động kinh doanh, đặc biệt là Tăng trưởng tín dụng. Vốn chủ sở hữu không chỉ là nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động cho vay mà còn là một tấm đệm quan trọng để hấp thụ thua lỗ từ rủi ro tín dụng (Modigliani và Miller, 1958; Diamond và Dybvig, 1983). Một tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao có thể giúp ngân hàng tăng cường khả năng chống chịu với các cú sốc, giảm thiểu rủi ro phá sản, và do đó, khuyến khích các ngân hàng tự tin hơn trong việc mở rộng tín dụng.

Tuy nhiên, việc duy trì vốn chủ sở hữu cao cũng có thể làm giảm lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) nếu các ngân hàng không thể sử dụng vốn hiệu quả. Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với sự đánh đổi giữa việc tăng cường an toàn thông qua vốn chủ sở hữu cao và việc tối đa hóa lợi nhuận. Các nghiên cứu gần đây, đã tập trung vào ảnh hưởng của các quy định vốn (ví dụ: Basel III) lên Tăng trưởng tín dụng. Những quy định này có thể buộc các ngân hàng phải tăng vốn, từ đó ảnh hưởng đến chiến lược cấp tín dụng của họ và khả năng mở rộng Tăng trưởng tín dụng (Gambacorta và Marques-Ibanez, 2011).

2.3.6. Lý thuyết về chu kỳ kinh doanh và ổn định tài chính

TTTD có mối liên hệ mật thiết với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, phản ánh sự tương tác giữa hoạt động kinh tế vĩ mô và quyết định cho vay của ngân hàng. Trong các giai đoạn kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ (giai đoạn bùng nổ), nhu cầu đầu tư và tiêu dùng trong xã hội tăng cao, triển vọng kinh doanh được đánh giá tích cực, và rủi ro tín dụng được cảm nhận là thấp hơn. Những yếu tố này tổng hợp lại thúc đẩy một Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và nhanh chóng.

Ngược lại, trong các giai đoạn suy thoái kinh tế, nhu cầu vay vốn giảm sút đáng kể, đồng thời rủi ro tín dụng tăng lên do khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp và cá nhân gia tăng. Trong bối cảnh này, các ngân hàng thường trở nên thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng, dẫn đến Tăng trưởng tín dụng chậm lại hoặc thậm chí có thể tăng trưởng âm. Lý thuyết bất ổn tài chính (Financial Instability Hypothesis) của Minsky (1992) nhấn mạnh rằng các giai đoạn tăng trưởng tín dụng quá mức, không kiểm soát có thể dẫn đến sự tích tụ rủi ro trong hệ thống tài chính, làm tăng khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính (Minsky, 1992). Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc quản lý và kiểm soát Tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý để duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và tránh các cú sốc tài chính. Các nghiên cứu gần đây về chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng (macroprudential policies) của Borio (2003) và Claessens, Dell’Ariccia và Ratnovski (2010), cũng đề cao việc quản lý chu kỳ tín dụng để đảm bảo ổn định tài chính.

2.4. Các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Nguyễn Văn Tiến (2015) khẳng định hoạt động tín dụng là xương sống và là nguồn mang lại thu nhập lớn nhất cho các Ngân hàng Thương mại (NHTM). Điều này xuất phát từ chức năng tài chính trung gian cốt lõi mà các ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế. Do đó, tăng trưởng tín dụng (TTTD) không chỉ phản ánh tham vọng về lợi nhuận và mong muốn tăng cường sức cạnh tranh của các NHTM, mà còn góp phần tạo ra sự ổn định chung cho thị trường tài chính. Với vai trò then chốt như vậy, Tăng trưởng tín dụng của các NHTM phụ thuộc đáng kể vào sự tương tác và tác động của các yếu tố nội tại (liên quan đến bản thân ngân hàng) và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế (liên quan đến môi trường kinh tế rộng lớn hơn).

2.4.1. Nhóm các yếu tố bên ngoài ngân hàng

2.4.1.1. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng của nền kinh tế là một chỉ số vĩ mô cốt lõi, thường được đo lường thông qua tốc độ tăng trưởng của Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Theo Mankiw (2014), GDP phản ánh sự gia tăng tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định, thể hiện trạng thái chung của nền kinh tế. Mặc dù có nhiều thước đo khác nhau cho tăng trưởng GDP, luận văn này sẽ tập trung vào mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội để đánh giá tình hình kinh tế vĩ mô.

Trong một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng tốt, sẽ hình thành một môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động của các NHTM (Stepanyan và Gou, 2011; Ivanovic, 2016). Khi kinh tế phát triển, nhu cầu tích lũy tài sản của người dân có xu hướng tăng cao, thúc đẩy họ gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng để hưởng lãi suất, từ đó làm gia tăng đáng kể nguồn vốn cho các NHTM cấp tín dụng. Đồng thời, xét từ góc độ đầu tư, tăng trưởng kinh tế tích cực khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng cơ sở vật chất và cải tiến công nghệ, dẫn đến nhu cầu vay vốn gia tăng. Trong vai trò trung gian tài chính, các NHTM sẽ đáp ứng nhu cầu này bằng cách thúc đẩy tăng trưởng tín dụng (TTTD) (Awdeh, 2017). Đối với khách hàng cá nhân, khi kinh tế tăng trưởng tốt, hoạt động lưu thông hàng hóa diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu mua sắm và tiêu dùng tăng cao. Điều này cũng làm gia tăng các khoản vay cá nhân, do đó các NHTM cũng nắm bắt cơ hội để gia tăng dư nợ tín dụng (Nguyễn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2014).

2.4.1.2. Lạm phát

Lạm phát là một chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng và Öner (2012) cho rằng đây là thước đo tốc độ tăng giá tổng thể trong một khoảng thời gian nhất định của nền kinh tế. Mặc dù lạm phát có thể được đánh giá trên phạm vi rộng, như mức tăng giá tổng thể hoặc chi phí sinh hoạt của người dân, nó cũng có thể được tính toán trong phạm vi hẹp hơn, ví dụ như đối với một số nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể như thực phẩm hay dịch vụ. Dù ở bối cảnh nào, lạm phát luôn phản ánh mức độ đắt đỏ do sự tăng giá của hàng hóa hoặc dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Vì lẽ đó, trong khuôn khổ luận văn này, tốc độ tăng giá cả tiêu dùng sẽ được sử dụng làm thước đo lạm phát. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Mối quan hệ giữa lạm phát và Tăng trưởng tín dụng có nhiều quan điểm trái chiều trong nghiên cứu kinh tế. Stepanyan và Gou (2011) lập luận rằng khi lạm phát tăng cao, lãi suất thực sẽ giảm, kéo theo chi phí đi vay giảm, từ đó thúc đẩy nhu cầu tín dụng gia tăng. Điều này có nghĩa là, khi lạm phát tăng, khách hàng có xu hướng vay nhiều hơn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc bổ sung vốn kinh doanh (Awdeh, 2017; Sofilda và cộng sự, 2020). Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại đưa ra lập luận ngược lại. Sharma và Gounder (2012) cùng Hussain và Junaid (2012) cho rằng khi lạm phát tăng cao, giá trị đồng tiền bị mất đi, khiến người dân có xu hướng nắm giữ tiền mặt hoặc các tài sản thực thay vì gửi tiết kiệm. Điều này làm cho việc huy động vốn của các ngân hàng trở nên khó khăn hơn. Do đó, các Ngân hàng Thương mại (NHTM) sẽ gặp trở ngại trong việc gia tăng dư nợ tín dụng, đặc biệt khi nguồn vốn từ tiết kiệm vẫn là nguồn chính và lớn nhất để cho vay (Lương Thị Nga và Đào Thị Thu Hiền, 2015). Sự khác biệt trong các kết quả nghiên cứu này cho thấy tính phức tạp của mối quan hệ giữa lạm phát và Tăng trưởng tín dụng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố bối cảnh và cấu trúc nền kinh tế.

2.4.2 Nhóm các yếu tố bên trong ngân hàng

2.4.2.1. Quy mô ngân hàng

Quy mô ngân hàng, thường được phản ánh qua tổng tài sản của ngân hàng (Haas và Lelyveld, 2006). Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng và chiến lược Tăng trưởng tín dụng. Các NHTM có quy mô lớn thường sở hữu tiềm lực tài chính mạnh mẽ và lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các ngân hàng nhỏ hơn. Điều này bao gồm khả năng duy trì mức dự phòng rủi ro tín dụng thấp hơn, nhờ vào danh mục cho vay đa dạng và quy trình quản lý rủi ro tốt hơn (Altunbas và cộng sự, 2007).

Bên cạnh tiềm lực tài chính, các NHTM lớn thường xây dựng được thương hiệu và uy tín vững chắc trên thị trường. Điều này giúp họ thu hút được một lượng lớn khách hàng gửi tiền, làm dồi dào nguồn vốn huy động, đồng thời hấp dẫn nhiều đối tượng vay vốn hơn. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng Tăng trưởng tín dụng. Singh và Sharma (2016) cũng nhấn mạnh rằng quy mô lớn của NHTM thể hiện qua vốn tự có dồi dào, đây là yếu tố then chốt quyết định năng lực huy động vốn và khả năng cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, quy mô ngân hàng còn liên quan đến việc đầu tư vào mạng lưới kết nối rộng khắp và công nghệ thông tin hiện đại. Những khoản đầu tư này giúp ngân hàng mở rộng quy mô khách hàng, từ đó nhu cầu và tham vọng Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng cũng tăng theo.

2.4.2.2. Tốc độ tăng trưởng tiền gửi huy động Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Tăng trưởng tiền gửi huy động phản ánh sự gia tăng trong các nguồn tài trợ chính của ngân hàng. Nguồn vốn này đặc biệt quan trọng, thường chiếm hơn 70% tổng nguồn vốn và là nguồn lớn nhất được sử dụng cho hoạt động cho vay (Dendawijaya, 2003; Ivanović, 2016). Do đó, sự biến động của tiền gửi huy động có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời của NHTM.

Nguồn vốn từ tiền gửi huy động không chỉ củng cố năng lực tài chính mà còn giúp các NHTM thực hiện tốt hơn vai trò trung gian tài chính của mình. Các ngân hàng thường căn cứ vào lượng tiền gửi huy động để đưa ra quyết định về Tăng trưởng tín dụng, nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất (Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến, 2011). Vì vậy, với sự tăng trưởng ổn định của tiền gửi huy động, các ngân hàng sẽ có cơ sở vững chắc hơn để hoạch định và triển khai các chiến lược cấp tín dụng một cách hiệu quả (Awdeh, 2017).

2.4.2.3. Tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi huy động

Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi huy động tại các NHTM là một chỉ số quan trọng, phản ánh hiệu quả trong việc phân phối nguồn vốn huy động của ngân hàng (Poerwanti và Kartika, 2018). Hay nói cách khác, tỷ lệ này còn thể hiện khả năng thanh khoản của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế.

Pandia (2012) cũng nhấn mạnh rằng tỷ lệ này minh họa cách các ngân hàng sử dụng các khoản tiền gửi để cấp phát các khoản vay. Khi tỷ lệ này càng cao, nó càng cho thấy hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đang được đẩy mạnh, đồng thời phản ánh tăng trưởng tín dụng (TTTD) đang diễn ra. Do đó, đây là một thước đo hữu ích để đánh giá mức độ tích cực của hoạt động cho vay dựa trên nguồn vốn huy động.

2.4.2.4. Rủi ro tín dụng

Ashour (2011) đã chỉ ra rằng, mặc dù hoạt động tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho các NHTM, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những rủi ro rất lớn. Rủi ro này thể hiện rõ nhất khi các khoản cho vay của ngân hàng không thể thu hồi được và chuyển thành nợ quá hạn. Đặc biệt, các nhóm nợ quá hạn từ nhóm 3, 4, 5 sẽ hình thành nợ xấu, dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được hoặc chậm thu hồi được cả gốc lẫn lãi. Đây chính là lúc Rủi ro tín dụng xuất hiện.

Khi tỷ lệ Rủi ro tín dụng gia tăng, các NHTM sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, mở rộng mối quan hệ với khách hàng cũng như các đối tác khác. Hay nói cách khác, khi các NHTM gặp phải tình trạng Rủi ro tín dụng đáng báo động, họ thường có xu hướng phải thu hẹp quy mô tín dụng của mình. Mục tiêu của việc thu hẹp này là để bảo toàn sự ổn định trong hoạt động kinh doanh và hạn chế sự gia tăng thêm của Rủi ro tín dụng (Herlianto và cộng sự, 2020; Shingjergji, 2021). Điều này cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa Rủi ro tín dụng và Tăng trưởng tín dụng đó là khi Rủi ro tín dụng tăng, Tăng trưởng tín dụng có xu hướng giảm. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

2.4.2.5. Tỷ suất sinh lời

Hussain và Junaild (2011) cho rằng khi các NHTM đạt được khả năng sinh lời tốt, điều này sẽ tạo động lực mạnh mẽ để họ tiếp tục đẩy mạnh Tăng trưởng tín dụng nhằm tìm kiếm thêm lợi nhuận. Khả năng sinh lời cao cho phép ngân hàng tích lũy vốn nội bộ, tăng cường đệm vốn và có nguồn lực dồi dào hơn để mở rộng hoạt động cho vay.

Tuy nhiên, trong trường hợp tỷ suất lợi nhuận giảm, đặc biệt khi kết hợp với vốn chủ sở hữu (VCSH) thấp hoặc hiệu quả sử dụng tài sản sinh lời kém, và các hoạt động tăng vốn như phát hành cổ phiếu hay gia tăng tài sản trở nên quá tốn kém, các NHTM thường có xu hướng giảm Tăng trưởng tín dụng. Quyết định này được đưa ra nhằm mục đích duy trì các chỉ số thanh khoản và an toàn vốn theo đúng quy định (Albertazzi và Gambacorta, 2006). Điều này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa khả năng sinh lời, cấu trúc vốn, và chiến lược Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng, nơi các yếu tố nội tại có thể buộc ngân hàng phải ưu tiên sự ổn định và tuân thủ quy định hơn là tăng trưởng nhanh chóng.

2.4.2.6. Tỷ lệ an toàn vốn

Shingjergji và Hyseni (2021) lập luận rằng, khi một NHTM duy trì tỷ lệ an toàn vốn cao, điều này cho thấy tổ chức đang sở hữu một nguồn vốn ổn định và đối mặt với mức độ rủi ro thấp. Trong bối cảnh này, việc NHTM có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng (TTTD) là hoàn toàn hợp lý.

Hay nói cách khác, khi tỷ lệ an toàn vốn của NHTM càng tăng, uy tín của ngân hàng trên thị trường càng được nâng cao. Điều này không chỉ củng cố niềm tin của các nhà đầu tư và người gửi tiền mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phân phối tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng. Một tỷ lệ an toàn vốn vững chắc là minh chứng cho sức khỏe tài chính của ngân hàng, từ đó khuyến khích cả phía cung (ngân hàng) và phía cầu (khách hàng) tham gia vào các hoạt động tín dụng.

2.5. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

2.5.1. Các nghiên cứu trong nước

Trong nhóm các yếu tố nội tại, khả năng sinh lời của ngân hàng có sự nhất quán tương đối trong các nghiên cứu. Nhiều tác giả như Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020), Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023) và Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023) đều đưa ra bằng chứng thuyết phục về tác động tích cực của ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) đối với Tăng trưởng tín dụng. Điều này được củng cố bởi phát hiện tương tự về ROA (tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) của Diệp Thanh Tùng và Nguyễn Văn Thuận (2022). Sự đồng thuận này ngụ ý rằng các ngân hàng hoạt động hiệu quả, có khả năng tạo ra lợi nhuận cao, sẽ có nhiều nguồn lực hơn để tái đầu tư vào hoạt động tín dụng, đồng thời củng cố niềm tin của thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng cho vay.

Tuy nhiên, khi xét đến quy mô ngân hàng, thì kết quả nhận được kém rõ ràng hơn. Các nghiên cứu của của Nguyễn Thị Thu Trang và Đặng Văn Trung (2021), Nguyễn Văn Thuận (2022), Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023) và Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023) đều chỉ ra rằng quy mô ngân hàng tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng. Lập luận phổ biến cho kết quả này là các ngân hàng lớn có thể đã đạt đến một mức độ bão hòa tăng trưởng hoặc họ ưu tiên quản lý rủi ro chặt chẽ hơn và đa dạng hóa danh mục tài sản thay vì chỉ tập trung vào tín dụng. Ngược lại, Diệp Thanh Tùng và Nguyễn Văn Thuận (2022) lại kết luận quy mô ngân hàng có tác động tích cực, có thể do các ngân hàng lớn có lợi thế về nguồn vốn, công nghệ và mạng lưới, giúp họ tiếp cận nhiều khách hàng và cơ hội cho vay hơn. Sự mâu thuẫn này đòi hỏi một phân tích sâu hơn để hiểu rõ cơ chế tác động của quy mô ngân hàng trong các bối cảnh cụ thể.

Về chất lượng tài sản, được phản ánh qua tỷ lệ nợ xấu, các nghiên cứu thường có sự nhất quán cao trong kết quả. Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020), Nguyễn Thị Thu Trang và Đặng Văn Trung (2021), và Nguyễn Văn Thuận (2022) đều khẳng định nợ xấu có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng. Đây là một kết quả hợp lý bởi vì tỷ lệ nợ xấu cao làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng, suy yếu vốn chủ sở hữu và buộc ngân hàng phải tăng cường trích lập dự phòng, từ đó hạn chế khả năng mở rộng cho vay mới. Đối với thanh khoản, sự khác biệt lại xuất hiện. Trong khi Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020) tìm thấy thanh khoản tác động tích cực, cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, thì Diệp Thanh Tùng và Nguyễn Văn Thuận (2022) lại chỉ ra thanh khoản ảnh hưởng tiêu cực. Điều này có thể phản ánh sự đánh đổi giữa việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao (ít sinh lời) và việc cấp tín dụng (sinh lời cao hơn nhưng rủi ro hơn). Cuối cùng, tăng trưởng huy động vốn được nhiều nghiên cứu như Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020), Nguyễn Văn Thuận (2022), Lê Vũ Hà và Đỗ Văn Lộc (2022) và Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023) đều kết luận rằng có tác động tích cực, nhấn mạnh vai trò thiết yếu của nguồn vốn ổn định đối với khả năng cấp tín dụng của ngân hàng. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Các yếu tố vĩ mô thường tác động gián tiếp nhưng sâu sắc đến Tăng trưởng tín dụng thông qua việc định hình môi trường kinh doanh và kỳ vọng của thị trường. Tăng trưởng kinh tế (GDP) là một ví dụ điển hình cho sự phức tạp này. Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020) và Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023) tìm thấy tác động tích cực của tăng trưởng GDP lên Tăng trưởng tín dụng, phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ thuận chiều giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tín dụng. Tuy nhiên, Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023) lại đưa ra bằng chứng về tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế. Sự mâu thuẫn này có thể xuất phát từ việc chính sách tiền tệ thường thắt chặt trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng để kiềm chế lạm phát, hoặc do các ngân hàng trở nên thận trọng hơn khi nhận thấy rủi ro tích tụ trong chu kỳ tăng trưởng kéo dài.

Về lạm phát, Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020) và Nguyễn Đức Trung và Bùi Đan Thanh (2023) đều chỉ ra tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng. Điều này có thể được lý giải bởi lạm phát cao làm giảm sức mua của người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả nợ, và khiến người gửi tiền có xu hướng chuyển sang các tài sản thực thay vì gửi tiền vào ngân hàng, làm giảm nguồn vốn huy động. Trái lại, Nguyễn Thị Thu Trang và Đặng Văn Trung (2021) chỉ ra tác động tiêu cực nhưng không quá mạnh. Cuối cùng, lãi suất cho vay bình quân/danh nghĩa hàng năm thường được các nghiên cứu như của Phan Thị Hoàng Yến và Trần Hải Yến (2020), Lê Vũ Hà và Đỗ Văn Lộc (2022), và Nguyễn Thị Thu Trang và cộng sự (2023) nhất quán xác định có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng, điều này phù hợp với nguyên lý cơ bản của cung cầu tín dụng sẽ làm lãi suất cao làm tăng chi phí vay, từ đó làm giảm nhu cầu vay vốn.

2.5.2. Các nghiên cứu nước ngoài

Về các yếu tố nội tại của ngân hàng, quy mô ngân hàng là một biến số được xem xét phổ biến nhưng với kết quả không đồng nhất. Bustamante và cộng sự (2019) trong nghiên cứu tại Peru và Rizkullah và Suhel (2023) tại Indonesia, đều chỉ ra quy mô ngân hàng tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng. Điều này cho thấy các ngân hàng lớn có thể có lợi thế về nguồn vốn, khả năng tiếp cận thị trường và đa dạng hóa hoạt động để thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, Najib và cộng sự (2023) trong nghiên cứu tại Malaysia lại đưa ra kết luận ngược lại, rằng quy mô ngân hàng tác động tiêu cực. Sự khác biệt này có thể do các ngân hàng lớn ở một số thị trường đã đạt đến giai đoạn tăng trưởng bão hòa, hoặc do các quy định chặt chẽ hơn áp dụng cho các tổ chức tài chính lớn.

Chất lượng tài sản thường được đo bằng tỷ lệ nợ xấu, cũng cho thấy kết quả đa dạng. Rizkullah và Suhel (2023) và Krisnanda và Loissa (2023) đều khẳng định rằng nợ xấu tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng, điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về rủi ro tín dụng. Nợ xấu cao làm giảm khả năng sinh lời và buộc ngân hàng phải thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng mới. Tuy nhiên, Bustamante và cộng sự (2019) và Najib và cộng sự (2023) lại kết luận nợ xấu tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng. Điều này có thể được giải thích trong một số trường hợp khi ngân hàng tiếp tục cho vay để tái cấu trúc nợ hoặc để hỗ trợ các khách hàng hiện tại, hoặc có thể do cơ chế truyền dẫn phức tạp hơn giữa nợ xấu và tăng trưởng tín dụng trong các nền kinh tế cụ thể. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Đối với thanh khoản, Bustamante và cộng sự (2019) và Najib và cộng sự (2023) cùng kết luận thanh khoản tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, cho thấy khả năng duy trì thanh khoản tốt giúp ngân hàng có đủ nguồn lực để mở rộng cho vay. Ngược lại, Rizkullah và Suhel (2023) lại tìm thấy tỷ lệ thanh khoản tác động tiêu cực, có thể do việc nắm giữ quá nhiều tài sản thanh khoản (thường có lợi suất thấp) làm giảm động lực cho vay. Tăng trưởng tiền gửi (huy động vốn) được Najib và cộng sự (2023) kết luận có tác động tích cực, củng cố vai trò của nguồn vốn ổn định đối với Tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, Krisnanda và Loissa (2023) lại tìm thấy tỷ lệ tiền gửi huy động tác động tiêu cực, một kết quả cần được làm rõ thêm trong bối cảnh cụ thể của nghiên cứu đó.

Về khả năng sinh lời (ROE) và vốn chủ sở hữu (VCSH), Bustamante và cộng sự (2019) tìm thấy ROE và tỷ lệ Vốn chủ sở hữu đều tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, cho thấy ngân hàng khỏe mạnh về tài chính có thể mở rộng tín dụng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, Rizkullah và Suhel (2023) lại chỉ ra tỷ lệ an toàn vốn tác động tiêu cực. Hơn nữa, Gómez và cộng sự (2020) đã khám phá các tương tác phức tạp giữa tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy mô ngân hàng và Vốn chủ sở hữu, với các tác động tích cực và tiêu cực đan xen tùy thuộc vào sự kết hợp của các biến số. Điều này nhấn mạnh rằng mối quan hệ không phải lúc nào cũng tuyến tính và đơn giản.

Khi xét đến các yếu tố vĩ mô, tăng trưởng kinh tế cho thấy một sự đồng thuận tương đối. Krisnanda và Loissa (2023) tại Indonesia và Najib và cộng sự (2023) tại Malaysia đều tìm thấy tăng trưởng kinh tế tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng, phản ánh mối liên hệ thuận chiều giữa hoạt động kinh tế sôi động và nhu cầu vay vốn. Đối với lạm phát, Krisnanda và Loissa (2023) chỉ ra tỷ lệ lạm phát tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng tại Indonesia, điều này có thể liên quan đến kỳ vọng lạm phát làm giảm giá trị thực của khoản nợ, khuyến khích vay mượn. Ngược lại, Najib và cộng sự (2023) lại kết luận tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng ở Malaysia, phù hợp với lo ngại về mất giá tiền tệ và khó khăn trong huy động vốn. Lãi suất cho vay được Krisnanda và Loissa (2023) và Najib và cộng sự (2023) nhất quán tìm thấy có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng, khẳng định nguyên tắc cơ bản của cung cầu: chi phí vay cao làm giảm nhu cầu. Ngoài ra, Najib và cộng sự (2023) còn mở rộng nghiên cứu đến các biến số chính sách tiền tệ cụ thể như lãi suất vay qua đêm và chính sách tiền tệ, và đều kết luận chúng có tác động tiêu cực đến Tăng trưởng tín dụng.

Ngoài ra, có một khía cạnh các nghiên cứu tập trung đó sự sở hữu của Nhà nước với các NHTM, trong đó các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc đang phát triển. Tuy nhiên, tác động của sở hữu nhà nước đến Tăng trưởng tín dụng thường cho ra kết quả đa dạng và đôi khi trái ngược nhau, điều này phản ánh sự phức tạp của mối quan hệ và sự khác biệt về bối cảnh. Một số nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ tiêu cực giữa sở hữu nhà nước và sự phát triển tài chính (La Porta và cộng sự., 2002). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng trong thời kỳ khủng hoảng, các NHTM có sở hữu Nhà nước có thể cho vay nhiều hơn và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định hệ thống tài chính (Micco và Panizza, 2006; Bertay và cộng sự, 2015). Điều này cho thấy vai trò của các ngân hàng sở hữu Nhà nước nhiều trong Tăng trưởng tín dụng có thể phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế và tình hình thị trường.

2.5.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

Dựa trên tổng hợp khung lý thuyết nền tảng và lược khảo các nghiên cứu hiện có về Tăng trưởng tín dụng tại các NHTM, luận văn này đã xác định được một số khoảng trống nghiên cứu quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam:

Thứ nhất, tỷ lệ an toàn vốn được xem là thước đo quan trọng cho sự ổn định tài chính của NHTM, mối quan hệ của nó với Tăng trưởng tín dụng vẫn còn gây tranh cãi. Shingjergji và Hyseni (2021) lập luận rằng tỷ lệ an toàn vốn cao cho thấy nguồn vốn ổn định và rủi ro thấp, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho NHTM đẩy mạnh Tăng trưởng tín dụng. Luận điểm này dựa trên quan điểm rằng một ngân hàng vững mạnh về vốn sẽ tự tin hơn trong việc mở rộng danh mục cho vay. Tuy nhiên, Rizkullah và Suhel (2023) lại đưa ra một quan điểm đối lập. Họ cho rằng, ngay cả khi tỷ lệ an toàn vốn cao, trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động và đối mặt với khó khăn, các NHTM vẫn có xu hướng giảm Tăng trưởng tín dụng để duy trì sự an toàn và bảo toàn vốn. Điều này gợi ý rằng trong các giai đoạn bất ổn, ưu tiên của ngân hàng có thể chuyển từ tăng trưởng sang bảo toàn. Đặc biệt, các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tập trung sâu vào việc phân tích động thái này, tạo ra một khoảng trống quan trọng về cách thức tỷ lệ an toàn vốn ảnh hưởng đến chiến lược cấp tín dụng của NHTM trong các điều kiện thị trường khác nhau..

Thứ hai, khi đề cập đến Rủi ro tín dụng và tác động của nó đến Tăng trưởng tín dụng, phần lớn các công trình nghiên cứu thường sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm chỉ tiêu phản ánh. Phương pháp này khá phổ biến và trực quan, bởi nợ xấu cao rõ ràng làm giảm chất lượng tài sản, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và vốn của ngân hàng, từ đó hạn chế Tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, Gómez và cộng sự (2020) đã đưa ra một hướng tiếp cận khác bằng cách sử dụng chỉ tiêu dự phòng rủi ro tín dụng (DPRRTD) để phản ánh Rủi ro tín dụng, đồng thời chỉ ra rằng nó có tác động tích cực đến Tăng trưởng tín dụng. Gómez và cộng sự (2020) cho rằng Dự phòng rủi ro tín dụng là một chi phí hoạt động được trích lập và tác động trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Theo quan điểm này, khi khẩu vị rủi ro của các ngân hàng cao và họ muốn bù đắp cho chi phí trích lập dự phòng, họ lại càng gia tăng hoạt động cho vay, dẫn đến việc gia tăng tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng. Sự khác biệt trong chỉ tiêu và chiều hướng tác động này chưa được các nghiên cứu tại Việt Nam khai thác và làm rõ, đặc biệt là việc khám phá liệu Dự phòng rủi ro tín dụng, một chỉ số mang tính chủ động hơn nợ xấu, có thực sự thúc đẩy hay kìm hãm Tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh cụ thể.

Thứ ba, các NHTM đang tìm cách đa dạng hóa nguồn thu nhập nhằm gia tăng sức ảnh hưởng và lợi nhuận. Bustamante và cộng sự (2019) lập luận rằng để đạt được điều này, các ngân hàng phải cơ cấu lại tỷ lệ cho vay, mở rộng các hoạt động bán lẻ khác và không chỉ tập trung vào tín dụng truyền thống. Mục đích của chiến lược này không chỉ là gia tăng doanh thu mà còn nhằm hạn chế rủi ro từ hoạt động tín dụng thuần túy. Do đó, đa dạng hóa thu nhập được coi là một trong những tiêu chí có tiềm năng ảnh hưởng rất lớn đến Tăng trưởng tín dụng tại các NHTM. Tuy nhiên, khía cạnh này lại chưa được nghiên cứu sâu rộng, đặc biệt trong các công trình về Tăng trưởng tín dụng, tạo ra một khoảng trống nghiên cứu quan trọng. Việc khám phá mối quan hệ giữa mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng và xu hướng Tăng trưởng tín dụng có thể mang lại cái nhìn mới về chiến lược kinh doanh của ngân hàng và tác động của nó đến tăng trưởng danh mục cho vay.

Cuối cùng, hiện nay các nghiên cứu vẫn chưa tập trung về tác động của đại dịch COVID-19 đến Tăng trưởng tín dụng của các NHTM. Đại dịch này đã gây ra những khó khăn kinh tế chưa từng có tiền lệ trên toàn cầu, ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động sản xuất, tiêu dùng và dòng tiền của doanh nghiệp, từ đó tác động trực tiếp đến nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 của luận văn đã thực hiện việc tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến Tăng trưởng tín dụng, bao gồm các tiêu chí đo lường và những yếu tố tác động đến Tăng trưởng tín dụng tại các NHTM. Song song đó, chương 2 cũng đã cũng tiến hành lược khảo chi tiết các nghiên cứu trước đây có liên quan. Mục đích chính của việc này là nhằm xác định rõ các khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại trong lĩnh vực này. Việc nhận diện các khoảng trống này là cơ sở để luận văn đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu cụ thể, chi tiết cho Chương 3. Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của các NH […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x