Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung luận văn: Luận văn này đã thực hiện việc tổng hợp các khung lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp và các yếu tố tác động đến nó tại các doanh nghiệp. Đồng thời, thông qua tóm lược các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định, đại diện cho cấu trúc vốn là hệ số nợ tổng thể, cùng với đó là các biến độc lập được chọn để xây dựng trong mô hình nghiên cứu và có sự tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam là quy mô doanh nghiệp; tscđ hữu hình; tỷ suất sinh lời; tăng trưởng doanh nghiệp; tỷ lệ thanh khoản; tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp; sở hữu nhà nước; tăng trưởng kinh tế; lạm phát; đại dịch Covid 19.
Sau đó, thông qua nghiên cứu định lượng với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam từ 2015 – 2025 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Kết quả nghiên cứu của mô hình FGLS cho thấy các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam đã làm rõ các biến có ý nghĩa thống kê. Trong đó, các biến số quy mô doanh nghiệp, tỷ suất sinh lời, TSCĐ hữu hình, thuế suất thu nhập doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Biến số tăng trưởng doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu Nhà nước, tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát thì tác động ngược chiều đến hệ số nợ tổng thể. Tỷ lệ thanh khoản và đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê tác động đến hệ số nợ tổng thể. Cuối cùng từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thì luận văn tiến hành đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp ngành xây dựng thép tại Việt Nam có cấu trúc vốn phù hợp với hoạt động kinh doanh trong tương lai.
Từ khóa: Cấu trúc vốn, ngành thép, quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định, vĩ mô.
- ABSTRACT Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Tittle: Factors Affecting the Capital Structure of Listed Steel Enterprises on the Vietnamese Stock Market
Thesis Content: This thesis compiled theoretical frameworks related to the capital structure of enterprises and the factors impacting it. Simultaneously, by summarizing relevant studies, research gaps were identified. Consequently, the first research objective was addressed: defining the proxy for capital structure as the overall debt ratio, along with selecting independent variables for the research model that impact the capital structure of listed steel enterprises on the Vietnamese Stock Market (VN Stock Market). These variables include firm size; tangible fixed assets; profitability; firm growth; liquidity ratio; corporate income tax rate; state ownership; economic growth; inflation; and the Covid-19 pandemic.
Subsequently, the second research objective was fulfilled through quantitative research involving the collection of secondary data from 24 listed steel enterprises in Vietnam from 2015 to 2025. The data was structured in panel form and analyzed using multivariate regression. The research results from the FGLS (Feasible Generalized Least Squares) model clarify the variables that are statistically significant in affecting the capital structure of listed steel enterprises on the VN Stock Market. Among these, the variables firm size, profitability, tangible fixed assets, and corporate income tax rate exhibit a positive impact on the overall debt ratio. Conversely, the variables firm growth, state ownership structure, GDP growth, and inflation rate show a negative impact on the overall debt ratio. The liquidity ratio and the Covid-19 pandemic were found to have no statistically significant impact on the overall debt ratio. Finally, based on these empirical research findings, the thesis proceeds to propose implications for Vietnamese steel construction enterprises to achieve a capital structure suitable for future business operations.
Keywords: Capital structure, steel industry, firm size, fixed assets, macroeconomics.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Cấu trúc vốn (CTV) là quyết định của doanh nghiệp, phản ánh qua tỷ lệ đòn bẩy tài chính, là một bài toán tối ưu hóa phức tạp giữa lợi ích từ lá chắn thuế do lãi vay mang lại và chi phí kiệt quệ tài chính tiềm tàng. Sự hợp lý của việc sử dụng vốn vay được đánh giá thông qua việc cân bằng các yếu tố nội tại và ngoại vi. Về mặt nội tại, các nghiên cứu thực nghiệm thường chỉ ra rằng khả năng sinh lời có mối quan hệ nghịch biến với tỷ lệ nợ (theo Lý thuyết Trật tự Phân hạng), vì các công ty sinh lời cao ưu tiên sử dụng vốn nội bộ. Ngược lại, quy mô doanh nghiệp và tỷ trọng tài sản hữu hình lại có mối quan hệ thuận chiều với nợ, do quy mô lớn đảm bảo uy tín và tài sản hữu hình dễ dàng làm tài sản thế chấp, giúp giảm chi phí vay. Hơn nữa, cơ hội tăng trưởng thường có mối quan hệ nghịch biến, bởi các công ty này cần duy trì sự linh hoạt tài chính và tránh các ràng buộc nợ nần. Về mặt ngoại vi, đặc thù ngành (ví dụ: ngành có dòng tiền ổn định như tiện ích thường có tỷ lệ nợ cao) và các yếu tố vĩ mô như lãi suất thị trường (ảnh hưởng đến chi phí nợ) hay thuế suất (ảnh hưởng đến lợi ích lá chắn thuế) cũng đóng vai trò định hình Cấu trúc vốn. Tóm lại, một quyết định sử dụng vốn vay được xem là hợp lý khi doanh nghiệp đạt được sự cân bằng tối ưu (theo lý thuyết đánh đổi) tại điểm mà chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) đạt mức thấp nhất, hay nói cách khác, mức nợ được lựa chọn phù hợp với đặc điểm rủi ro kinh doanh và các cơ hội đầu tư của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường hiện tại. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Hiện nay diện mạo đô thị Việt Nam ngày càng phát triển về hạ tầng, chất lượng và hình thức. Phần nào cho thấy vị trí quan trọng và sự lớn mạnh của ngành công nghiệp xây dựng và vật liệu đi kèm, trong đó tiêu biểu là vật liệu thép. Đây là sự nỗ lực rất nhiều của Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền trong nhiều thập kỷ qua, để khẳng định vị trí của ngành công nghiệp sản xuất thép là mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Trong các báo cáo giai đoạn 2023 – 2025 thì ngành thép là ngành công nghiệp quan trọng của mỗi quốc gia. Ngành thép phát triển là sự đảm bảo ổn định cho các ngành công nghiệp nặng hay công nghiệp xây dưng và đi lên của nền kinh tế một cách chủ động, vững chắc. Sản phẩm thép là nguyên liệu chủ yếu, là nền tảng của nhiều ngành kinh tế quan trọng nó có vai trò quyết định tới sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê sản lượng thép của Việt Nam đạt 175,19 triệu tấn trong năm 2023, tăng 16,9% so với năm 2022 và sản lượng này tăng đến hơn 250 triệu tấn vào năm 2025, tăng 18% so với năm 2024. Xu hướng tăng trưởng này đang kéo dài cho những năm tiếp theo. Đây được xem là sự nỗ lực rất lớn của các doanh nghiệp trong ngành này trong việc duy trì sự ổn định và tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh, trong đó quan trọng nhất chính là sự cân đối giữa các nguồn tài trợ và việc hình thành tài sản để vận hành doanh nghiệp. Như các doanh nghiệp kinh doanh khác thì ngành thép, để đáp ứng được sự phát triển thì các doanh nghiệp cần lựa chọn một Cấu trúc vốn phù hợp để cân bằng giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu. Thép là sản phẩm đặc thù của nền kinh tế nhưng hiện nay với yêu cầu cao của ngành công nghiệp nên các sản phẩm của thép có những đặc tính cần được cải tiến hoặc chuyên môn hoá cao với từng ngành nghề, do đó, sẽ dễ dàng dẫn đến hàng tồn kho hay sản lượng tiêu thụ, vì vậy sẽ tác động đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép. Chủ động lựa chọn một cơ cấu tài trợ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết. Song song với vấn đề đó thì việc tìm ra những yếu tố nào tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp là một vấn đề cần được quan tâm.
Trong những năm qua, những nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường chứng khoán tại các quốc gia rất nhiều. Đa phần, kết quả của các nghiên cứu tập trung vào các nhóm yếu tố đó là tài chính (Titman và Wessels, 1988); thị trường (Frank và Goyal, 2004) và kinh tế vĩ mô (Almeida và Philippon, 2008). Ngoài ra, Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp chịu tác động bởi các yếu tố thuộc nội tại doanh nghiệp bao gồm quy mô (Adesina, 2022); tuổi đời (Titman và Wessels, 1988); lợi nhuận (Dittmar và Thakor, 2008); đòn bẩy (Chen và Zhao, 2007); rủi ro (Chen và Zhao, 2007); cơ hội tăng trưởng (Brealey và Myers, 2012) và thuế (Pand và cộng sự, 2014). Tuy nhiên, trên thực tế cấu trúc vốn sẽ thay đổi tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố nhưng thường tập trung vào các đặc điểm như sau: Tình hình của từng doanh nghiệp, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động cũng như các tác động từ sự biến động vĩ mô của nền kinh tế, các yếu tố văn hóa, tôn giáo và hành vi quản trị của nhà quản trị (Nguyễn Minh Kiều, 2013). Thay vì tìm hiểu tỷ lệ nợ trên tổng tài sản tối ưu đạt được giá trị nào thì các nhà nghiên cứu tài chính thường quan tâm đến việc tìm ra các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng vốn vay, hay nói cách khác là quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Nhưng nhìn chung, tại các bối cảnh, thời gian nghiên cứu khác nhau hay các ngành nghề kinh doanh thì các tác giả cho những quan điểm khác nhau về các yếu tố tác động. Do đó, tạo ra các khoảng trống nghiên cứu về phạm vi lẫn đối tượng ngành nghề, đặc biệt là cấu trúc sở hữu có mặt của các cơ quan Nhà nước tác động đến kinh doanh và định hướng Cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Mặt khác, ngoài các yếu tố GDP và lạm phát đại diện cho vĩ mô nền kinh tế thì giai đoạn 2021 – 2023 thế giới chứng kiến sự có mặt của đại dịch Covid 19, nó gây tác động xấu đến hoạt động kinh doanh nói chung và các ngành nghề nói riêng, vì thế Cấu trúc vốn ít nhiều sẽ chịu sự tác động nhưng đa phần các nghiên cứu chưa tập trung đến.
Như vậy, với sự nhận thức về tầm quan trọng của cơ cấu vốn và mục tiêu cao nhất trong việc tối đa hoá giá trị doanh nghiệp, thì tác giả chọn đề tài: “Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ nhằm đề xuất cho các lãnh đạo doanh nghiệp ngành thép có các chiến lược duy trì Cấu trúc vốn hợp lý thông qua các yếu tố tác động.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn được thực hiện nhằm xác định và đo lường sự tác động của các yếu tố đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị cho các lãnh đạo doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam xây dựng các chiến lược duy trì Cấu trúc vốn hợp lý thông qua các yếu tố tác động trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu tổng quát được cụ thể hóa như sau:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Thứ hai, đo lường sự tác động của các yếu tố đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho lãnh đạo doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam xây dựng các chiến lược duy trì Cấu trúc vốn hợp lý thông qua các yếu tố tác động trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với các mục tiêu cụ thể thì các câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Thứ nhất, các yếu tố nào tác động đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam ?
- Thứ hai, sự tác động của các yếu tố đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào ?
- Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam xây dựng các chiến lược duy trì Cấu trúc vốn hợp lý thông qua các yếu tố tác động trong tương lai ?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn sẽ thực hiện thu thập dữ liệu 24 doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE. Nguyên nhân tác giả lựa chọn số doanh nghiệp này vì tổng thị phần và tài sản chiếm trên 70%, ngoài ra các doanh nghiệp này có đầy đủ các số liệu báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng cần thiết khi thu thập từ năm 2015 – 2025.
Về thời gian: Luận văn thu thập dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp ngành thép từ năm 2015 – 2025, vì giai đoạn này nền kinh tế trả qua rất nhiều sự biến động như năm 2019 suy thoái kinh tế và năm 2021 – 2023 xuất hiện đại dịch Covid 19.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng đồng thời hai phương pháp luận chủ yếu là định tính và định lượng, trong đó, phương pháp nghiên cứu định tính đảm nhận vai trò trọng yếu trong việc hoàn thành mục tiêu nghiên cứu số một đó là nhận diện hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Quá trình này được triển khai tuần tự thông qua ba bước nền tảng. Thứ nhất, thực hiện việc tổng hợp có chọn lọc các khung lý thuyết tài chính kinh điển, thiết lập cơ sở lý luận vững chắc về sự hình thành và biến động của Cấu trúc vốn. Thứ hai, lược khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đó nhằm xác định xu hướng tác động của các biến số và đồng thời chỉ ra những khía cạnh chưa được khám phá (khoảng trống nghiên cứu). Cuối cùng, dựa trên sự phân tích tổng hợp các phát hiện trên, nghiên cứu định tính sẽ đề xuất một mô hình nghiên cứu ứng dụng vào bối cảnh cụ thể của nhóm doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn vẫn là nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết được hai mục tiêu đó là đo lường sự tác động của các yếu tố đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam và từ đó đề xuất các hàm ý quản trị. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thì cần thiết nhất là thu thập dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.trong giai đoạn 2015 – 2025 và thiết kế dạng bảng. Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, luận văn sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng. Với kết quả đó tạo cơ sở để kết luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất các hàm ý quản trị cho các lãnh đạo của doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.6. Đóng góp của đề tài Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Về mặt lý luận: Luận văn đã tiến hành hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp, lược khảo các nghiên cứu liên quan nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu và tạo cơ sở đề xuất mô hình, giả thuyết nghiên cứu cho bối cảnh Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam. Hay nói các khác, luận văn này đã cung cấp kết quả nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam. Đặc biệt, luận văn đã tập trung xem xét sự tác động của sở hữu Nhà nước và xuất hiện đại dịch Covid 19 đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam, đây là hai khía cạnh mà các nghiên cứu trước chưa cập nhật hoặc chưa tập trung nhiều đến.
Về mặt thực tiễn: Từ kết quả thực nghiệm về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn đã đề xuất các hàm ý quản trị mang tính khả thi cho lãnh đạo doanh nghiệp ngành thép, thông qua các yếu tố tác động để có được Cấu trúc vốn hợp lý nhằm duy trì sự ổn định của hoạt động kinh doanh trong tương lai. Đồng thời, kết quả này có thể làm cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu tiếp theo có cùng sự quan tâm về Cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong các ngành liên quan.
1.7. Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương và nội dung tổng quát từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài: Chương này thiết lập bối cảnh và phạm vi cho đề tài, bắt đầu bằng việc trình bày lý do lựa chọn và xác định rõ mục tiêu cùng các câu hỏi nghiên cứu cần được giải quyết. Từ đó, luận văn khoanh vùng đối tượng (CTV) và phạm vi (doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam). Đồng thời, chương này tóm tắt phương pháp nghiên cứu tổng quát được áp dụng để đạt được mục tiêu. Cuối cùng, nghiên cứu chỉ rõ đóng góp thực tiễn của mình, cung cấp cơ sở cho các quyết định quản trị cấu trúc vốn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu: Chương hai xây dựng nền tảng lý luận bằng cách tổng hợp các lý thuyết cấu trúc vốn cốt lõi và các tiêu chí đo lường Cấu trúc vốn. Nghiên cứu tiến hành lược khảo các công trình thực nghiệm liên quan để xác định các xu hướng tác động đã được chứng minh. Hoạt động này nhằm mục đích cốt lõi là chỉ ra khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh ngành thép Việt Nam, từ đó tạo tiền đề lý thuyết cho việc thiết lập mô hình.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu: Chương ba tập trung vào thiết kế quy trình kiểm định. Dựa trên khoảng trống nghiên cứu từ chương 2, luận văn đề xuất mô hình hồi quy và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho ngành thép. Chương này sau đó trình bày chi tiết về phương pháp đo lường các biến số, quy trình lấy mẫu và thu thập dữ liệu thứ cấp (dạng bảng). Cuối cùng, luận văn mô tả các phương pháp tính toán thống kê (ví dụ: Pooled OLS, FEM, REM, kiểm định Hausman) và giải thích ý nghĩa của các hệ số hồi quy sẽ được sử dụng để phân tích kết quả. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập tại các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại HOSE trong giai đoạn 2015 – 2025. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ tác động của các yếu tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các doanh nghiệp duy trì Cấu trúc vốn hợp lý thông qua việc điều chỉnh các yếu tố tác động tới nó.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 thiết lập bối cảnh và phạm vi cho đề tài, bắt đầu bằng việc trình bày lý do lựa chọn và xác định rõ mục tiêu cùng các câu hỏi nghiên cứu cần được giải quyết. Từ đó, luận văn khoanh vùng đối tượng (CTV) và phạm vi (doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam). Đồng thời, chương này tóm tắt phương pháp nghiên cứu tổng quát được áp dụng để đạt được mục tiêu. Cuối cùng, nghiên cứu chỉ rõ đóng góp thực tiễn của mình, cung cấp cơ sở cho các quyết định quản trị cấu trúc vốn.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Cấu trúc vốn của doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm về cấu trúc vốn tại doanh nghiệp
Ross và cộng sự (2009) cho rằng Cấu trúc vốn của một tổ chức được xác định dựa trên tỷ lệ giữa nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu (VCSH), qua đó phản ánh tỷ trọng của hai cấu phần này trong tổng nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động. Tỷ số này cung cấp thông tin thiết yếu về sự phân bổ các nguồn tài trợ hiện hành. Cụ thể, doanh nghiệp có tỷ lệ Vốn chủ sở hữu cao thể hiện khả năng tự chủ tài chính mạnh mẽ. Ngược lại, tỷ lệ vốn vay ở mức cao cho thấy doanh nghiệp đang tận dụng đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh. Khi đạt được trạng thái cân bằng tối ưu giữa tỷ lệ vốn vay và Vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp được xem là có Cấu trúc vốn tối ưu. Việc đạt đến trạng thái này sẽ giúp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn cổ phần và đồng thời tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu.
Ross và cộng sự (2013) cũng cho rằng Cấu trúc vốn là sự kết hợp cụ thể giữa các khoản nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu, hoạt động như nguồn lực tài trợ cho quá trình hình thành tài sản của đơn vị. Vì vậy, các quyết định liên quan đến Cấu trúc vốn hay quyết định về nguồn tài trợ, được xem là một chiến lược quan trọng mà bất kỳ doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào cũng phải thực hiện. Mục tiêu cốt lõi của các quyết định này là tối đa hóa lợi ích cho cổ đông và gia tăng giá trị tổng thể của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Nguyễn Minh Kiều (2013) cho rằng Cấu trúc vốn là sự phối hợp giữa thành phần nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn mà doanh nghiệp có thể huy động nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường xuyên. Việc lựa chọn Cấu trúc vốn trong một doanh nghiệp thường dựa vào tình hình kinh doanh nội tại hoặc chịu tác động bởi biến động của thị trường, buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh để thích ứng và duy trì hoạt động kinh doanh ổn định.
Nguyễn Đình Luận (2017) cho rằng Cấu trúc vốn hay cơ cấu vốn là sự mô tả về tỷ trọng tương đối của nợ vay và Vốn chủ sở hữu cấu thành nên tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu như vận hành hoạt động kinh doanh hằng ngày, trang bị tài sản cố định, hoặc đầu tư vào các hạng mục chiến lược. Cơ cấu vốn thường có những biến động theo các chu kỳ kinh doanh tương ứng. Ngoài ra, sự lựa chọn cơ cấu vốn có thể mang lại lợi ích hoặc hạn chế cho doanh nghiệp, tùy thuộc vào quyết định được đưa ra.
Tóm lại, tại nghiên cứu này Cấu trúc vốn được hiểu là sự tổng hòa giữa nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu của doan nghiệp. Trong đó, nguồn vốn này nhằm phục vụ cho hoạt động mua sắm tài sản, cơ sở vật chất, và vận hành kinh doanh của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn thường tập trung vào mối quan hệ giữa nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu, do đó một cấu trúc được coi là hợp lý cần phải có sự hài hòa giữa nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Khi đó, chi phí sử dụng vốn sẽ thấp cùng với mức độ rủi ro có thể chấp nhận, phù hợp với các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.2. Thành phần của cấu trúc vốn tại doanh nghiệp
2.1.2.1. Nợ phái trả của doanh nghiệp
Nợ được Nguyễn Minh Kiều (2013) cho rằng là toàn bộ các khoản nợ phải trả mà doanh nghiệp gánh chịu, thường được phân loại thành hai nhóm chính là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Quan điểm này nhận được sự ủng hộ từ nhiều học giả khác. Cụ thể, Michaelas và cộng sự (2000) chỉ ra rằng nếu các yếu tố tác động lên nợ vay ngắn hạn khác biệt so với nợ vay dài hạn, việc sử dụng cả hai chỉ tiêu này để đo lường Cấu trúc vốn là cần thiết. Đồng thời, Bennette và Donnelly (1993) cũng cho rằng trong trường hợp doanh nghiệp có chính sách tài trợ riêng biệt đối với các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn, sẽ xuất hiện sự tương tác qua lại giữa mức nợ vay của hai nhóm này. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Do đó, các khoản nợ vay là tổng thể các nghĩa vụ tài chính trong doanh nghiệp, bao gồm không chỉ các khoản vay thông thường mà còn cả tín dụng thương mại hay các khoản vốn tạm thời khác. Những nguồn này đóng vai trò đáng kể trong chiến lược tài trợ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Phân loại và hình thức huy động Nợ:
Nợ ngắn hạn: Đây là các khoản nợ có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc không vượt quá một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường. Các khoản mục điển hình bao gồm các khoản phải trả người bán, các khoản phải trả nội bộ, và các khoản vay hoặc nợ thuê tài chính hiện hành tại thời điểm lập báo cáo.
Nợ dài hạn: Đây là các khoản nợ có thời hạn thanh toán từ 12 tháng trở lên hoặc kéo dài hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường. Các ví dụ bao gồm các khoản phải trả người bán dài hạn, các khoản phải trả nội bộ dài hạn, hoặc các khoản vay và thuê tài chính dài hạn. Ross và cộng sự (2013) cho rằng doanh nghiệp có thể huy động các khoản nợ thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, hoặc bằng cách tự phát hành các chứng khoán nợ.
Vay ngân hàng: Đây là hình thức doanh nghiệp thiết lập hợp đồng tín dụng với ngân hàng, cam kết hoàn trả cả gốc và lãi vô điều kiện. Kỳ hạn vay được xác định tương ứng với mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.
Phát hành trái phiếu dài hạn: Đây là hình thức doanh nghiệp phát hành các loại trái phiếu với đa dạng phương thức trả lãi (một lần hoặc định kỳ – coupon) và lãi suất (cố định hoặc thả nổi). Phát hành trái phiếu được đánh giá là một phương thức linh hoạt nhưng phụ thuộc chủ yếu vào uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Dù cũng cam kết hoàn trả gốc và lãi vô điều kiện, trái phiếu huy động thường xếp sau nợ vay ngân hàng trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro phá sản.
Thuê tài sản: Đây là hình thức doanh nghiệp thuê tài sản từ các bên cho thuê (có thể là tổ chức, quỹ đầu tư, hoặc doanh nghiệp khác). Hình thức này giúp các doanh nghiệp chưa đủ tiềm lực tài chính để mua sắm tài sản cố định hoặc cơ sở vật chất lớn vẫn có thể đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách đi thuê.
2.1.2.2. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Rajan và Zingales (1995) cho rằng Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ doanh nghiệp, các thành viên trong liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Vốn chủ sở hữu được hình thành từ ba nguồn cơ bản: số tiền góp vốn ban đầu của các nhà đầu tư, tổng lợi nhuận tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối), và chênh lệch đánh giá lại tài sản. Về mặt cấu trúc, Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn kinh doanh (gồm vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, và các quỹ nội bộ như quỹ phát triển, quỹ dự trữ, hay quỹ khen thưởng phúc lợi. Doanh nghiệp có thể huy động Vốn chủ sở hữu thông qua nhiều cách thức khác nhau như vốn góp ban đầu, tăng vốn góp, phát hành cổ phiếu (ưu đãi hoặc thường), hoặc giữ lại lợi nhuận. Các hình thức huy động Vốn chủ sở hữu:
Vốn góp ban đầu: Là khối lượng tài sản mà các nhà đầu tư, bao gồm cổ đông hoặc các thành viên góp vốn, chính thức cam kết và đưa vào hoạt động của doanh nghiệp tại thời điểm thiết lập pháp lý. Vốn này đóng vai trò là cơ sở tài chính cơ bản, định hình quy mô và năng lực hoạt động của tổ chức. Quyết định về quy mô của khoản vốn góp này không chỉ mang tính tùy ý mà phải tuân theo sự chi phối của nhiều nhân tố ngoại vi và nội tại. Trong đó, đặc điểm chuyên môn của ngành nghề kinh doanh (ví dụ: yêu cầu về vốn cố định lớn hay vốn lưu động) đóng vai trò định hình nhu cầu tài chính tối thiểu, và khuôn khổ pháp lý (các quy định về vốn điều lệ tối thiểu) tại từng thời điểm là yếu tố ràng buộc bắt buộc. Đối với khối Doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn góp khởi điểm này có bản chất là vốn đầu tư trực tiếp của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, thể hiện sự định hướng và sự can thiệp của Nhà nước vào cơ cấu tài chính ban đầu của doanh nghiệp.
Lợi nhuận không chia: Sau khi kết thúc năm tài chính, cổ tức có thể được chia cho cổ đông từ lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, để tăng Vốn chủ sở hữu, cổ đông có thể đồng ý cho doanh nghiệp giữ lại toàn bộ hoặc một phần lợi nhuận để tái đầu tư thay vì nhận cổ tức. Đây là một nguồn vốn mang tính chủ động cao, giúp doanh nghiệp không bị ràng buộc từ bên ngoài, tăng cường khả năng tự chủ tài chính, và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quan hệ tín dụng, từ đó mở ra cơ hội đạt được lợi nhuận cao hơn trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Phát hành cổ phiếu: Bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường. Phát hành cổ phiếu là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng, cho phép doanh nghiệp huy động vốn nhanh chóng với quy mô lớn.
2.1.3. Vai trò của cấu trúc vốn tại doanh nghiệp Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
2.1.3.1. Đối với doanh nghiệp
Việc xác định được Cấu trúc vốn phù hợp là một quyết định chiến lược và then chốt đối với mọi doanh nghiệp. Cấu trúc vốn không chỉ hỗ trợ tối đa hóa lợi ích thu được từ các bên liên quan và các hoạt động kinh doanh mà còn phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh. Goyal (2014) cho rằng quyết định về Cấu trúc vốn có tầm quan trọng đặc biệt đối với giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn. Một Cấu trúc vốn kém hiệu quả sẽ dẫn đến sự gia tăng chi phí vốn, hệ quả là hiện giá thuần (NPV) của doanh nghiệp bị suy giảm. Điều này khiến các dự án đầu tư tiềm năng trở nên kém hấp dẫn và có thể bị loại bỏ.
2.1.3.2. Đối với nhà đầu tư và người cho vay
Goyal (2014) cho rằng, tỷ lệ giữa các nguồn hình thành trong một Cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi nhận thức rủi ro của giới đầu tư.
Đối với các nhà đầu tư: Khi một doanh nghiệp sử dụng quá ít Vốn chủ sở hữu, điều đó ngụ ý rằng họ phải phụ thuộc nhiều hơn vào vốn vay, kéo theo rủi ro thanh toán được đánh giá cao hơn. Nhà đầu tư tin rằng doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với áp lực thanh toán các khoản nợ và trách nhiệm tài chính lớn hơn, điều này có thể tác động tiêu cực đến các quyết định quản lý tài chính của lãnh đạo. Việc tỷ lệ nợ tăng nhanh chóng và không mang lại hiệu quả dễ dẫn đến nguy cơ phá sản. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt khi nợ vay tăng cao nhưng đi kèm với lãi suất ưu đãi, doanh nghiệp vẫn có thể đạt được sự tiết kiệm chi phí lãi (lá chắn thuế).
Đối với người cho vay: Khi họ nhận thấy tỷ lệ vay nợ của doanh nghiệp quá cao và áp lực trả nợ lớn, nguy cơ phá sản cũng tăng theo. Tình trạng này là cơ sở để người cho vay ra quyết định có tiếp tục cấp tín dụng hay không. Nếu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, có thể dẫn đến tình huống giá trị thị trường của tổng nợ vượt quá giá trị tổng tài sản thực, tức là doanh nghiệp không thể trả hết nợ kể cả khi thanh lý toàn bộ tài sản. Điều này đặt người cho vay vào một rủi ro thua lỗ rất lớn.
2.1.4. Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn tại doanh nghiệp
Stephen và cộng sự (2004) cho rằng, việc đánh giá Cấu trúc vốn cần phải dựa vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, thể hiện qua các hệ số như hệ số nợ, hệ số nợ trên Vốn chủ sở hữu và hệ số tự tài trợ.
2.1.4.1. Hệ số nợ tổng thể Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Hệ số nợ phản ánh mức độ sử dụng nguồn vốn vay của doanh nghiệp, tức là mức độ tài trợ của nợ vay cho tổng tài sản. Firer và cộng sự (2005) cho rằng hệ số này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ, và rủi ro tiềm ẩn mà doanh nghiệp gặp phải, đồng thời phải tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh.
Firer và cộng sự (2005) ch0 rằng nếu tỷ số nợ lớn hơn 50%, điều đó có nghĩa là tổng tài sản đang được tài trợ bởi nợ vay nhiều hơn Vốn chủ sở hữu. Ngược lại, nếu tỷ số này thấp hơn 50%, Vốn chủ sở hữu đang là nguồn tài trợ chính cho tài sản. Về mặt tài chính, hệ số này càng lớn càng cho thấy doanh nghiệp đối diện với rủi ro cao về áp lực thanh toán gốc và lãi nợ. Do đó, doanh nghiệp cần có quyết định hợp lý về kỳ hạn và số tiền vay tùy thuộc vào loại hình hoạt động.
2.1.4.2. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên Vốn chủ sở hữu thể hiện cơ cấu giữa hai nguồn hình thành vốn cốt lõi (nợ và Vốn chủ sở hữu) dùng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh. Macguigan và cộng sự (2007) cho rằng hai nguồn vốn này có đặc điểm riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được dùng để đánh giá Cấu trúc vốn. Công thức tính hệ số này là:
Macguigan và cộng sự (2007) cho rắng nếu hệ số này lớn hơn 1, nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao hơn Vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang phải chịu sức ép lớn về việc thanh toán các khoản nợ kèm theo lãi.
2.1.4.3. Hệ số tự tài trợ Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Hệ số tự tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Stephen và cộng sự (2004) cho rằng hệ số này có giá trị càng lớn thì mức độ tự chủ tài chính bằng Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao, từ đó rủi ro của doanh nghiệp càng thấp. Công thức tính hệ số này là:
Khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn vượt ngưỡng $50\%$, điều này hàm ý rằng phần lớn tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bền vững từ nguồn vốn thực góp và tích lũy của cổ đông. Mức độ tự chủ tài chính của tổ chức được củng cố rõ rệt khi hệ số này gia tăng, đồng thời nâng cao khả năng hấp thụ tổn thất mà không bị đe dọa bởi rủi ro kiệt quệ tài chính. Sự tự chủ cao này đồng thời làm giảm đáng kể rủi ro tài chính và gián tiếp tạo điều kiện giảm rủi ro kinh doanh tổng thể.Tuy nhiên, giá trị của các chỉ tiêu tài chính này lại phụ thuộc vào cơ sở định giá được lựa chọn: giá trị sổ sách (giá trị kế toán) hay giá trị thị trường. Titman và Wessels (1988) đã chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa hai phương pháp định giá này, nhấn mạnh rằng việc lựa chọn cơ sở định giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đo lường và phân tích các quyết định tài chính. Mặc dù vậy, do những khó khăn thực tế và tính biến động cao trong việc xác định giá trị thị trường của nợ phải trả (đặc biệt là nợ không giao dịch công khai), phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn thường áp dụng phương pháp kết hợp. Cụ thể, họ thường đo lường Vốn chủ sở hữu theo giá trị thị trường (phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư) trong khi vẫn sử dụng giá trị sổ sách kế toán để xác định nguồn vốn nợ.
Tóm lại, tại luận văn này thì hệ số nợ tổng thể được lựa chọn là chỉ tiêu đại diện cho Cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được Firer và cộng sự (2005) khẳng định là thước đo đòn bẩy tài chính trực tiếp và cơ bản nhất, cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào nguồn vốn vay để tài trợ cho tài sản, qua đó đánh giá trực tiếp khả năng trả nợ và rủi ro tiềm ẩn, đây là thiết yếu và phải tính đến tính đặc thù của lĩnh vực kinh doanh để thiết lập chuẩn mực so sánh hợp lý. Hơn nữa, sự lựa chọn này còn phản ánh chiến lược tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn, bởi vì chi phí sử dụng nợ thường thấp hơn chi phí sử dụng Vốn chủ sở hữu nhờ vào lợi ích lá chắn thuế (lãi vay được khấu trừ thuế), một miếng đi tài chính giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC), từ đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
2.2. Các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn tại doanh nghiệp Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
2.2.1 Cấu trúc vốn theo quan điểm truyền thống
Durand (1952) cho rằng Cấu trúc vốn của doanh nghiệp dựa trên các giả định cốt lõi sau: doanh nghiệp phải chịu thuế thu nhập; thị trường tài chính tồn tại thông tin không hoàn hảo; và việc sử dụng nợ sẽ khiến doanh nghiệp đối mặt với kiệt quệ tài chính. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp duy trì mức nợ thấp, tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chủ sở hữu và chủ nợ sẽ không thay đổi hoặc chỉ điều chỉnh không đáng kể.
Theo quan điểm Cấu trúc vốn truyền thống, chi phí sử dụng vốn vay thường thấp hơn đáng kể so với chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu (VCSH). Sự kết hợp giữa chi phí thấp này và lợi ích từ lá chắn thuế phát sinh từ lãi vay khiến Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng. Vì vậy, ban đầu, lợi ích mà doanh nghiệp thu được lớn hơn bất lợi. Tuy nhiên, khi tỷ lệ vốn vay so với Vốn chủ sở hữu tiếp tục tăng, rủi ro tài chính cũng tăng theo, buộc các chủ sở hữu phải yêu cầu một tỷ suất sinh lời cao hơn, làm giảm giá trị định giá của doanh nghiệp. Hơn nữa, nợ càng nhiều, doanh nghiệp càng phải đối mặt với rủi ro thanh toán lớn hơn, có thể dẫn đến phá sản nếu khả năng chi trả suy giảm.
- Hình 2.1: Cơ cấu vốn theo quan điểm truyền thống
Do đó, lý thuyết này cho rằng luôn tồn tại một Cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp và đồng thời tối thiểu hóa WACC. Hạn chế chính của lý thuyết này là không đưa ra ràng buộc cụ thể về mức tăng của chi phí Vốn chủ sở hữu hay chi phí nợ dẫn đến kiệt quệ tài chính hoặc phá sản. Để khắc phục, lý thuyết M&M ra đời để bổ sung (Brigam và Houston, 2010).
2.2.2. Cấu trúc vốn theo quan điểm hiện đại Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Modigliani và Miller (1958) lập luận trái ngược với quan điểm của Durand (1952). Lý thuyết M&M tập trung vào mối quan hệ giữa nguồn vốn và giá trị của doanh nghiệp, làm rõ việc tăng hay giảm nợ sẽ tác động như thế nào đến giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết này được xây dựng trên những giả định đơn giản hóa ban đầu, chẳng hạn như chi phí giao dịch hoặc vay vốn được xem là miễn phí. Theo mệnh đề đầu tiên của M&M, bất kể sự lựa chọn tài chính nào bao gồm cả việc sử dụng Vốn chủ sở hữu, nợ ngắn hạn hay dài hạn thì giá trị của đơn vị kinh doanh cũng không đổi. Điều này ngụ ý rằng giá trị của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào tài sản và các cơ hội đầu tư của nó, không phải vào cơ cấu nguồn tài trợ.
Các giả định nền tảng của Modigliani và Miller (1958) bao gồm: doanh nghiệp hoạt động không tồn tại thuế (kể cả thuế thu nhập doanh nghiệp hay cá nhân); không xuất hiện các chi phí giao dịch, kiệt quệ tài chính hay phá sản; lãi suất là như nhau đối với nhà đầu tư cá nhân và tổ chức; và thị trường vốn là hoàn hảo. Lý thuyết M&M hiện đại được trình bày qua hai mệnh đề chính, tập trung vào giá trị doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn, đều được xem xét trong cả hai trường hợp có và không có thuế.
2.2.2.1. Mệnh đề cơ cấu vốn hiện đại về giá trị doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp có nợ (VL) và không nợ (VU)được xem là như nhau (VL = VU). Điều này cho thấy việc không sử dụng đòn bẩy tài chính không tác động đến giá trị, và Cấu trúc vốn không được đánh giá là tối ưu (Brigam và Houston, 2013). Giá trị doanh nghiệp sẽ tăng lên khi sử dụng nợ do được hưởng lợi từ lá chắn thuế tạo ra. Nói cách khác, giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ lớn hơn giá trị doanh nghiệp không sử dụng nợ, bằng đúng khoản hiện giá của lợi ích tiết kiệm từ lãi vay. Công thức được biểu diễn là: VL = VU + D*T, với D là giá trị khoản vay và T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp.
- Hình 2.2: Giá trị doanh nghiệp khi có thuế thu nhập doanh nghiệp
Modigliani và Miller (1963) kết luận rằng Cấu trúc vốn liên quan trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp. Đặc biệt, doanh nghiệp càng sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị càng tăng và đạt đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% bằng nợ.
2.2.2.2. Mệnh đề cơ cấu vốn hiện đại về chi phí sử dụng vốn Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Mệnh đề II của M&M cho rằng chi phí sử dụng Vốn chủ sở hữu (rE) có tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính D/E). Trong điều kiện không có thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận yêu cầu tính trên một cổ phần có quan hệ thuận chiều với tỷ lệ nợ trên Vốn chủ sở hữu. Công thức được biểu diễn là rE = rU + (rU – rD)*D/E, trong đó rU là chi phí sử dụng vốn khi doanh nghiệp dùng 100% Vốn chủ sở hữu và rD là chi phí sử dụng nợ.
Trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp thì chi phí sử dụng Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được tiết kiệm một phần từ lá chắn thuế hay công thức đó là rE = rU + (rU – rD) *D/E*(1-T), với T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp.
Tuy lý thuyết M&M có những đóng góp quan trọng, nhưng các giả định về thị trường hoàn hảo và không có chi phí kiệt quệ tài chính là khó xảy ra trong thực tế, tạo ra những hạn chế cơ bản. Điều này là cơ sở cho sự ra đời của các lý thuyết hiện đại tiếp theo.
2.2.3. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Lý thuyết đánh đổi được xây dựng trên nền tảng của M&M, nhưng bổ sung sự tác động của thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết này được đặt nền móng bởi Kraus và Litzenberger (1973) và hoàn thiện bởi Myers (1977). Ngược lại với M&M, lý thuyết Đánh đổi cho rằng doanh nghiệp nên sử dụng một giới hạn nợ nhất định để tối đa hóa giá trị. Myers (1977) lập luận rằng Cấu trúc vốn mục tiêu là điểm mà tại đó lợi ích từ lá chắn thuế có thể bù đắp được các chi phí kiệt quệ tài chính mà doanh nghiệp phải đối mặt. Khi hệ số sử dụng nợ tăng đến một giá trị nào đó, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ vượt quá lợi ích do lá chắn thuế tạo ra, khiến giá trị doanh nghiệp giảm và khả năng phá sản tăng cao. Công thức mô tả giá trị doanh nghiệp theo lý thuyết này là:
- Giá trị doanh nghiệp = Giá trị doanh nghiệp không sử dụng vây nợ + Hiện giá lá chắn thuế – Hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Theo quan điểm này, nhà quản trị cần xác định điểm mà tại đó lợi ích tăng thêm từ lá chắn thuế do nợ tạo ra cân bằng với sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính. Các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn theo lý thuyết này bao gồm:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế suất càng cao tạo ra động cơ vay nợ nhiều hơn để tận dụng lợi ích lá chắn thuế.
- Chi phí kiệt quệ tài chính: Có mối quan hệ nghịch chiều với Cấu trúc vốn. Doanh nghiệp có rủi ro phá sản cao hơn thường sử dụng nợ ít hơn.
- TSCĐ hữu hình: Tỷ lệ nắm giữ TSCĐ càng nhiều, khả năng vay nợ càng cao do có thể sử dụng làm tài sản thế chấp.
- Quy mô doanh nghiệp: Quy mô lớn làm tăng uy tín, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vay, hạn chế rủi ro tài chính.
- Lợi nhuận: Có mối quan hệ đồng chiều với Cấu trúc vốn. Doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận sẽ có khả năng vay nợ cao hơn và muốn tăng tỷ trọng vay nợ để tối đa hóa lợi ích từ lá chắn thuế.
Tóm lại, lý thuyết đánh đổi đã khắc phục hạn chế của M&M bằng cách phân tích chi phí kiệt quệ tài chính, nhưng vẫn chưa giải thích được việc một số doanh nghiệp thành công vẫn duy trì tỷ lệ nợ rất thấp hoặc ưu tiên huy động vốn từ thị trường cổ phiếu khi giá cổ phiếu đang cao.
2.2.4. Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết trật tự phân hạng, được phát triển bởi Myers và Majluf (1984), đi theo một hướng khác, đó là không tồn tại Cấu trúc vốn tối ưu, mà chỉ có trật tự ưu tiên khi sử dụng các hạng mục đầu tư. Lý thuyết này được xây dựng trên giả định về thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý (nắm giữ thông tin nội bộ) và nhà đầu tư bên ngoài. Do thông tin bất cân xứng, chi phí huy động vốn bên ngoài sẽ cao hơn. Từ đó hình thành một trật tự ưu tiên huy động nguồn tài trợ: Nguồn vốn bên trong (nội bộ), sau đó đến các khoản nợ vay và cuối cùng là đến cổ phiếu mới phát hành (bên ngoài).
2.2.4.1. Đối với nguồn vốn bên trong Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Theo Myers và Majluf (1984), nguồn vốn nội bộ, bao gồm vốn góp ban đầu và lợi nhuận giữ lại, là sự ưu tiên đầu tiên khi doanh nghiệp phát sinh nhu cầu về vốn vì đây là phương án mang ít rủi ro nhất và đảm bảo quyền kiểm soát, tăng khả năng tự chủ tài chính. Tuy nhiên, nếu lợi nhuận giữ lại được duy trì quá lớn để tái đầu tư, có thể làm giảm tính hấp dẫn của doanh nghiệp trong mắt các nhà đầu tư và dẫn đến việc giá cổ phiếu trên thị trường bị giảm. Do đó, nguồn vốn nội bộ chỉ nên được duy trì ở mức cần thiết, đảm bảo hoạt động nhất định.
2.2.4.2. Đối với lựa chọn các khoản nợ vay
Các nhà quản lý sẽ ưu tiên huy động nguồn vốn bên ngoài từ các khoản vay (ngắn hạn và dài hạn) hơn là phát hành cổ phiếu. Lý do là các khoản vay phát sinh chi phí lãi vay và tạo ra lá chắn thuế cho doanh nghiệp. Hơn nữa, các nghĩa vụ trả gốc và lãi là cố định và xác định được, dễ dàng thuyết phục cổ đông hơn. Tuy nhiên, các khoản nợ vay phát sinh chi phí tài chính cố định và nghĩa vụ hoàn trả bắt buộc, làm gia tăng rủi ro tài chính nếu hoạt động kinh doanh không hiệu quả.
2.2.4.3. Đối với phát hành cổ phiếu mới
Theo Myers và Majluf (1984), huy động vốn từ phát hành cổ phiếu mới được xem là lựa chọn cuối cùng do chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
- Tín hiệu thị trường: Việc công bố phát hành thêm cổ phiếu thường được thị trường giải thích là doanh nghiệp đang hụt nguồn vốn, làm cho giá cổ phiếu giảm.
- Chi phí phát hành: Phát sinh chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường,…
- Pha loãng quyền sở hữu: Quyền sở hữu của các cổ đông hiện tại sẽ bị chia nhỏ cho các cổ đông mới.
Lý thuyết trật tự phân hạng có điểm mạnh trong việc giải thích quyết định chọn nguồn vốn theo thứ tự ưu tiên trong điều kiện thông tin bất cân xứng, nhưng điểm hạn chế là chưa giải thích được các tác động liên quan đến thuế, chi phí vỡ nợ hay chi phí phát hành chứng khoán đến các khoản nợ vay.
2.3. Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Dựa trên việc tổng hợp các lý thuyết M&M, đánh đổi cấu trúc vốn và trật tự phân hạng thì cấu trúc vốn bị tác động bởi các yếu tố lý thuyết được tổng hợp tại bảng 2.1. Do đó, để trả lời được vấn đề liên quan đến cơ cấu vốn hợp lý, việc vay nợ và mức độ rủi ro như thế nào? Thì các doanh nghiệp cần tập trung vào các yếu tố tác động như sau:
- Bảng 2.1: Tóm tắt các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn theo các lý thuyết
2.3.1. Quy mô doanh nghiệp
Quy mô là một yếu tố đa chiều có tác động trái ngược lên quyết định sử dụng nợ, phản ánh sự đối lập giữa lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng. Huang và Song (2002), Bhaduri (2003) lập luận rằng doanh nghiệp có quy mô lớn thường có khả năng vay nợ cao hơn (tác động đồng chiều). Lập luận này được củng cố bởi sự giảm thiểu thông tin bất cân xứng và sự gia tăng uy tín tín dụng; các định chế tài chính, như ngân hàng, tin tưởng hơn vào khả năng hoàn trả của các tổ chức lớn do tính ổn định và minh bạch thông tin cao hơn (Wanrapee Banchuenvijit, 2010). Đây là một lợi thế chiến lược cho phép doanh nghiệp lớn dễ dàng tiếp cận các khoản nợ lớn với chi phí thấp hơn (giá thành nợ rẻ hơn).
Tuy nhiên, theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984), quy mô lớn lại hàm ý tiềm năng nguồn vốn nội bộ dồi dào. Các doanh nghiệp lớn, hoạt động ổn định và có thu nhập cao thường ưu tiên sử dụng lợi nhuận giữ lại (nguồn vốn nội bộ rẻ nhất) hơn là tìm kiếm nguồn vốn bên ngoài (Chen, 2004; Mutalib, 2012). Điều này tạo ra mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô và việc sử dụng nợ, bởi lẽ việc sử dụng nguồn vốn nội bộ bảo toàn được quyền kiểm soát và tránh được chi phí phát hành cũng như các rủi ro tín hiệu từ thị trường. Hay nói cách khác là sự lựa chọn giữa việc tận dụng lợi thế quy mô để vay rẻ (đánh đổi) hay tận dụng lợi thế nội tại để giữ quyền tự chủ tài chính (trật tự phân hạng).
2.3.2. Tỷ suất sinh lời
Tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp là một trong những yếu tố có sự đối lập rõ rệt nhất giữa các lý thuyết Cấu trúc vốn. Quan điểm trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) cho rằng tỷ suất sinh lời cao có tác động nghịch chiều với việc sử dụng nợ. Doanh nghiệp có lợi nhuận cao sẽ có dòng tiền nội bộ mạnh mẽ và lợi nhuận ròng lớn, làm giảm nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài. Họ ưu tiên sử dụng lợi nhuận giữ lại để tài trợ cho các dự án đầu tư nhằm tiết kiệm chi phí phát sinh từ hoạt động vay nợ hoặc phát hành cổ phiếu mới (Huang và Song, 2002; Chen, 2004; Banchuenvijit, 2010; Mutalib, 2012). Đây là một chiến lược bảo thủ, nhằm duy trì tự chủ tài chính và tránh rủi ro tín hiệu thị trường.
Nhưng quan điểm đánh đổi của Myers (1977) theo lại cho rằng các doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao thường có khả năng phá sản thấp. Điều này giúp họ tận dụng được uy tín tín dụng để huy động các khoản vay nhằm tạo ra lợi ích lá chắn thuế mà không phải đối mặt với chi phí kiệt quệ tài chính quá lớn. Do đó, khả năng sinh lời có tác động đồng chiều đến Cấu trúc vốn (Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Hải Yến, 2015). Hay chiến lược ở đây là việc doanh nghiệp có sinh lời cao nên chọn hạn chế nợ để tự chủ hay chọn tăng nợ để tối ưu hóa thuế.
2.3.3. Tài sản cố định hữu hình Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
TSCĐ hữu hình đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định Cấu trúc vốn vì chúng trực tiếp hình thành cơ sở thế chấp cho các khoản vay. Myers (1977) khẳng định rằng sự hiện diện của nhiều TSCĐ hữu hình tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chứng minh sự cam kết và tạo niềm tin đối với bên cho vay. Tài sản có tính vật chất cao (như nhà xưởng, máy móc) làm giảm rủi ro cho chủ nợ, từ đó tạo ra lợi thế đàm phán về chi phí vay.
Myers và Majluf (1984) cho rằng việc đầu tư vào TSCĐ hữu hình và sử dụng chính chúng để thế chấp sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc vay vốn ban đầu. Điều này không chỉ kích thích hoạt động kinh doanh tăng trưởng và sinh ra lợi nhuận tốt hơn mà còn giúp duy trì được quan hệ vay nợ chất lượng tốt và lâu dài. Về mặt chiến lược, TSCĐ hữu hình hoạt động như một công cụ giảm thiểu xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và chủ nợ, bởi vì chúng khó bị thay đổi hay chuyển nhượng (ít bị “ăn cắp tài sản” – asset substitution), từ đó củng cố khả năng tiếp cận vốn vay dài hạn.
2.3.4. Tốc độ tăng trưởng bán hàng
Tốc độ tăng trưởng là yếu tố phản ánh nhu cầu vốn tương lai của doanh nghiệp, có sự phân hóa rõ rệt trong các lý thuyết. Quan điểm trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) cho rằng tốc độ tăng trưởng (thường được xác định bằng tăng trưởng bán hàng) có tác động đồng chiều đến Cấu trúc vốn. Các doanh nghiệp tăng trưởng cao có nhu cầu vốn lưu động và vốn đầu tư rất lớn, thường vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn vốn nội bộ. Do đó, họ buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn bên ngoài, ưu tiên nợ vay hơn phát hành cổ phiếu mới (Chen, 2004; Mutalib, 2012).
Quan điểm đánh đổi và xung đột của Myers (1977) lại cho rằng doanh nghiệp có sự tăng trưởng tốt (nhiều cơ hội đầu tư) nên ưu tiên huy động Vốn chủ sở hữu (cổ phiếu) hơn. Điều này giúp chủ sở hữu hiện tại bảo toàn được lợi ích và tránh được xung đột giữa chủ sở hữu và chủ nợ (như vấn đề đầu tư dưới mức tối ưu – underinvestment problem) khi nợ vay quá cao. Huang và Song (2002) bổ sung rằng vốn vay sẽ tạo ra áp lực thanh toán và hạn chế sự linh hoạt trong các dự án tăng trưởng dài hạn, khiến họ muốn tận dụng sự dài hạn của Vốn chủ sở hữu. Chiến lược ở đây là đánh đổi giữa việc chấp nhận nợ để tài trợ tăng trưởng tức thời (trật tự phân hạng) và việc sử dụng Vốn chủ sở hữu để duy trì sự linh hoạt chiến lược dài hạn (Đánh đổi/Xung đột).
2.3.5. Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản phản ánh năng lực chi trả các nghĩa vụ nợ ngắn hạn khi đến hạn, và tác động của nó lên Cấu trúc vốn được lý giải theo hai hướng đối lập: Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2021) cho rằng tính thanh khoản cao sẽ làm tăng khả năng vay nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tính lỏng cao có thể chủ động hơn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, tạo niềm tin cho chủ nợ và dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các khoản vay mới.
Nhưng theo trật tự phân hạng thì Lê Thị Minh Nguyên (2017); Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2019), lập luận rằng doanh nghiệp có tính thanh khoản cao (nhiều tài sản có tính lỏng cao) thường có đủ nguồn lực nội bộ để tự tài trợ cho các nhu cầu vốn, thay vì đi vay nợ. Hay nói cách khác, khi lợi nhuận và tài sản lỏng được ưu tiên sử dụng trước khi nghĩ đến nợ vay, dẫn đến mối quan hệ nghịch chiều giữa thanh khoản và Cấu trúc vốn.
2.3.6. Thuế suất thu nhập doanh nghiệp
Thuế suất thu nhập doanh nghiệp là một trong những thành tố quan trọng được xem xét trong quyết định Cấu trúc vốn vì nó tạo ra lá chắn thuế từ lãi vay. Theo Lý thuyết M&M, khi doanh nghiệp vay nợ nhiều, lãi vay phát sinh càng lớn, và chi phí lãi này được sử dụng để giảm thu nhập chịu thuế. Điều này giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa lợi ích từ lá chắn thuế. Các doanh nghiệp chịu thuế suất thu nhập doanh nghiệp cao hơn sẽ có động lực vay nợ lớn hơn để tối ưu hóa lợi ích từ lá chắn thuế, tạo ra mối quan hệ đồng chiều giữa thuế suất và mức độ sử dụng nợ. Myers và Majluf (1984) cũng nhấn mạnh rằng doanh nghiệp sẽ cân nhắc lựa chọn mức vay dựa trên lợi ích thực sự mà lá chắn thuế tạo ra tương ứng với mức thuế suất họ phải chịu. Các doanh nghiệp có thu nhập thấp và hưởng mức thuế suất thấp (hoặc có các khoản miễn/giảm thuế khác) có thể không nhận được lợi ích đáng kể từ lá chắn thuế, do đó họ sẽ không có động lực tăng nợ. Sự cân nhắc này là một miếng đi phức tạp, liên quan đến việc tối đa hóa giá trị hiện tại của khoản tiết kiệm thuế so với các chi phí tiềm ẩn khác.
2.4. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Tại Indonesia, Chandra (2016) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn thông qua việc sử dụng dữ liệu thứ cấp của 77 doanh nghiệp niêm yết trên thị Thị trường chứng khoán trong giai đoạn 2004–2014, đồng thời áp dụng phương pháp hồi quy đa biến OLS. Tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay Cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, tổng nợ ngắn hạn trên tài sản, và rủi ro kinh doanh có tác động đồng chiều đến Cấu trúc vốn. Ngược lại, lợi nhuận và tăng trưởng doanh nghiệp lại tác động ngược chiều đến Cấu trúc vốn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng kết luận rằng TSCĐ hữu hình không có tác động đáng kể đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Tại Croatia, Harc (2016) trong nghiên cứu về Cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 500 doanh nghiệp từ năm 2006–2011, cùng với mô hình hồi quy đa biến GMM hệ thống. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng hệ số nợ trên tài sản của doanh nghiệp để phản ánh Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng TSCĐ hữu hình tác động cùng chiều với tỷ lệ nợ dài hạn nhưng lại tác động nghịch chiều (âm) đến tỷ lệ nợ ngắn hạn. Phát hiện này làm nổi bật sự khác biệt giữa tác động của TSCĐ của doanh nghiệp đến việc sử dụng nợ theo kỳ hạn (ngắn hay dài hạn).
Hassan và Samour (2017) tập trung phân tích hành vi Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Mỹ trong giai đoạn chịu ảnh hưởng của khủng hoảng (2004–2012). Nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp và áp dụng phương pháp hồi quy đa biến với các mô hình dữ liệu bảng phổ biến: Pooled OLS, FEM, và REM. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong môi trường kinh tế đầy biến động, các nhân tố như quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định hữu hình và tăng trưởng doanh thu đều có tác động cùng chiều đối với cả hệ số nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp. Điều này cho thấy các công ty lớn hơn, có nhiều tài sản thế chấp và cơ hội tăng trưởng vẫn tiếp tục có khả năng tiếp cận và sử dụng đòn bẩy tài chính. Ngược lại, tỷ lệ thanh khoản lại thể hiện mối quan hệ nghịch chiều, cho thấy các công ty nắm giữ lượng tiền mặt lớn hơn có xu hướng giảm phụ thuộc vào nguồn vốn vay.
Helmut Wasserbacher & Martin Spindler (2025) đã nghiên cứu ứng dụng double machine learning để đo tác động nhãn tín nhiệm đối với với tỉ lệ đòn bẩy. Các tác giả đã chỉ ra rằng có xếp hạng tín dụng làm tăng mức đòn bẩy trung bình, ảnh hưởng này không đồng nhất theo mức tín nhiệm – AAA /AA có thể giảm đòn bẩy, BB trở lên tăng mạnh. Và chỉ ra rằng yếu tố định tính như tín nhiệm tác động khác nhau đến chính sách vốn. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Masoud Taherinia cùng cộng sự (2025) đã nghiên cứu xem xét tốc độ điều chỉnh cấu trúc vốn và ảnh hưởng của bất đối xứng thông tin tới kỳ vọng lợi tức cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng DN có tốc độ điều chỉnh vốn nhanh hơn gắn với kỳ vọng lợi suất cao hơn. Tuy nhiên bất cân xưng thông tin làm tăng mối quan hệ này – nghĩa là thông tin kém minh bạch khiến thay đổi vốn tác động mạnh hơn đến kỳ vọng lợi nhuận.
Khaki và Akin (2021) đã khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến Cấu trúc vốn của 329 doanh nghiệp phi tài chính tại một số quốc gia Vùng Vịnh (Quatar, Oman, Ả Rập Xê Út, UAE) trong giai đoạn 2010–2018. Các tác giả đã sử dụng giá trị sổ sách của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản làm đại diện cho Cấu trúc vốn và cũng áp dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM). Kết quả nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ đồng chiều giữa đòn bẩy tài chính với ba biến số quan trọng: quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng của doanh nghiệp và tài sản cố định hữu hình. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra nhiều yếu tố có tác động ngược chiều đến hệ số nợ, bao gồm: tỷ lệ thanh khoản, tuổi doanh nghiệp (công ty càng lâu đời càng ít nợ), hạn chế tài chính, rủi ro kinh doanh và đặc biệt là sở hữu Nhà nước (cho thấy sự ưu tiên sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc vốn nội bộ trong các doanh nghiệp nhà nước).
Tại Indonesia, Saif-Alyousfi và cộng sự (2021) đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán nước này, sử dụng dữ liệu của 827 doanh nghiệp trong giai đoạn 2009–2018. Đồng thời, nghiên cứu này áp dụng phương pháp hồi quy đa biến GMM. Nhóm tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời, tăng trưởng doanh nghiệp, lá chắn thuế, tính thanh khoản, và biến động dòng tiền có tác động ngược chiều đến Cấu trúc vốn. Ngược lại, tài sản thế chấp, quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, và sự biến động về thuế thu nhập doanh nghiệp tác động cùng chiều đến Cấu trúc vốn. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Tại Mỹ, Lim và cộng sự (2021) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa TSCĐ hữu hình và Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp phi tài chính, sử dụng dữ liệu của 409 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2003–2015, đồng thời áp dụng phương pháp hồi quy đa biến GMM. Nhóm tác giả đã sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp để đại diện cho đòn bẩy tài chính hay Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc đầu tư TSCĐ hữu hình làm gia tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp (tác động đồng chiều).
Nghiên cứu của Setiawan và Yumeng (2022) đã kiểm định các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn trong bối cảnh cụ thể của ngành xây dựng tại Trung Quốc, sử dụng dữ liệu thứ cấp của 10 doanh nghiệp hàng đầu trong giai đoạn 2013–2020. Các tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản làm đại diện cho đòn bẩy tài chính và áp dụng mô hình hồi quy đa biến OLS (Bình phương nhỏ nhất thông thường). Kết quả chính chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp có mối quan hệ đồng chiều với Cấu trúc vốn, ngụ ý các công ty lớn hơn dễ dàng hơn trong việc huy động vốn vay. Ngược lại, các yếu tố như lợi nhuận, tài sản cố định hữu hình, tăng trưởng doanh nghiệp và lãi suất vay đều có tác động nghịch chiều đến Cấu trúc vốn. Điều đáng chú ý là nghiên cứu cũng kết luận rằng lá chắn thuế thu nhập doanh nghiệp và tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích sự biến động của Cấu trúc vốn trong mẫu nghiên cứu này.
Sadiq và cộng sự (2023) tập trung nghiên cứu mối liên hệ giữa hoạt động quản trị rủi ro và quyết định Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại Pakistan, sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp kéo dài 15 năm (2001–2015) với mô hình hồi quy đa biến GMM (Generalized Method of Moments). Kết quả phân tích cho thấy quy mô doanh nghiệp, sự tăng trưởng doanh nghiệp và tỷ lệ chi trả cổ tức có tác động cùng chiều đến Cấu trúc vốn. Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng các công ty lớn và đang phát triển có khả năng tiếp cận nợ tốt hơn. Ngược lại, các biến đại diện cho rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro hệ thống lại có tác động ngược chiều đến Cấu trúc vốn. Hơn nữa, nghiên cứu kết luận rằng vai trò của quản trị rủi ro là tối quan trọng: khi các rủi ro nêu trên gia tăng, các nhà quản trị có xu hướng hạn chế vay nợ và ưu tiên huy động từ nguồn vốn nội bộ hoặc vốn chủ sở hữu để giảm thiểu áp lực trả nợ và rủi ro kiệt quệ tài chính.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2016) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu thứ cấp của 100 doanh nghiệp trong giai đoạn 2004–2014 với các mô hình Pooled OLS và FEM. Nhóm tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản để phản ánh đòn bẩy tài chính hay Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro kinh doanh, TSCĐ hữu hình và sự tăng trưởng của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến đòn bẩy tài chính. Ngược lại, quy mô doanh nghiệp và thuế suất thu nhập doanh nghiệp lại được kết luận là không tác động đến Cấu trúc vốn. Mặt khác, nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp ngành Xây dựng tại Việt Nam có xu hướng ưu tiên các khoản nợ ngắn hạn hơn là dài hạn, phản ánh đặc thù chu kỳ vốn và thanh toán trong ngành.
Nguyễn Thái Học (2017) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, sử dụng dữ liệu thứ cấp của 20 doanh nghiệp niêm yếu tại HOSE, HNX từ năm 2010 – 2014. Đồng thời, tại nghiên cứu này tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy OLS, REM, FEM để kết luận. Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản để phản ánh Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ thanh khoản và cấu trúc TSCĐ hữu hình có tác động cùng chiều đến Cấu trúc vốn.
Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2021) cũng tiến hành nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng, sử dụng dữ liệu thứ cấp của 54 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX trong giai đoạn 2013–2020, với các mô hình Pooled OLS và FEM. Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản để phản ánh Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp và sự tăng trưởng có tác động cùng chiều đến Cấu trúc vốn. Ngược lại, lợi nhuận kinh doanh lại tác động ngược chiều. Ngoài ra, nghiên cứu kết luận rằng tỷ lệ nợ ngắn hạn, dài hạn và lãi suất vay không tác động đến Cấu trúc vốn.
Thi Ngoc Bui và cộng sự (2024) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Cấu trúc vốn của các DN niêm yết trên Thị trường chứng khoán VN, sử dụng dữ liệu 769 DN niêm yết tại VN giai đoạn 2013-2023. Kết quả chỉ ra Tỉ lệ nợ/tài sản có tác động tích cực mạnh nhất tới Tobin’s Q, nợ dài hạn không có tác động rõ rệt, nợ ngắn hạn và dài hạn tổng có ảnh hưởng ngược tới ROA, ROE và Tobin’s Q. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2023) đã nghiên cứu về sự tác động của sở hữu nước ngoài đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sử dụng dữ liệu thứ cấp của 288 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trong giai đoạn 2016–2020, với các mô hình định lượng Pooled OLS, FEM, và REM. Nhóm tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản để phản ánh Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, và tăng trưởng doanh nghiệp tác động cùng chiều đến Cấu trúc vốn. Tuy nhiên, lợi nhuận, TSCĐ hữu hình và tính thanh khoản lại có tác động ngược chiều đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Nguyễn Kim Quốc Trung (2024) nghiên cứu tác động của Đại dịch Covid-19 đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu của 75 doanh nghiệp từ năm 2011–2021 với mô hình hồi quy GMM hệ thống. Tác giả sử dụng tỷ lệ nợ trên tổng giá trị tài sản để phản ánh Cấu trúc vốn. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ năm trước, TSCĐ hữu hình, thuế thu nhập doanh nghiệp, tuổi doanh nghiệp, và tăng trưởng kinh tế GDP có tác động cùng chiều đến Cấu trúc vốn. Ngược lại, Đại dịch Covid-19, tỷ suất lợi nhuận ROA, tăng trưởng doanh thu và lạm phát có tác động ngược chiều đến Cấu trúc vốn.
- Bảng 2.2: Tóm tắt kết quả từ các công trình nghiên cứu liên quan
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu
Khi tổng hợp các nghiên cứu liên quan thì luận văn nhận thấy rằng các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như quy mô, TSCĐ hữu hình, tăng trưởng, tỷ lệ thanh khoản, suất sinh lời và rủi ro là những yếu tố tác động phổ biến và được các lý thuyết về Cấu trúc vốn ủng hộ. Tuy nhiên, các nghiên cứu được lược khảo cũng tồn tại các khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, đa phần các nghiên cứu trong nước chưa chú trọng đầy đủ đến các nhân tố vĩ mô như tăng trưởng GDP và lạm phát là một khoảng trống quan trọng, đặc biệt trong một nền kinh tế đang phát triển và có độ mở cao như Việt Nam. Mặt khác, các nghiên cứu nước ngoài khi xem xét về hai khía cạnh này thì lại có những kết quả tác động khác nhau đối với GDP, lạm phát đối với Cấu trúc vốn, điều này tạo ra tính chưa đồng nhất. Đây cũng cho thấy tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế hay đặc thù ngành nghề kinh doanh, vì vậy đây cũng được xem là một khoảng trống cần luận văn này xem xét và phân tích cho bối cảnh các doanh nghiệp kinh doanh ngành thép niêm yết. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
Thứ hai, Khaki và Akin (2021) cho rằng sự sở hữu của Nhà nước có thể làm giảm nhu cầu vay nợ, do các doanh nghiệp này có xu hướng theo đuổi các chiến lược an toàn và có thể tiếp cận nguồn ngân sách chính phủ thay vì các khoản vay thương mại. Đây là một quan điểm có giá trị cần được kiểm chứng trong bối cảnh Việt Nam, nơi khu vực doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò quan trọng. Hay nói cách khác, các nghiên cứu tại Việt Nam chưa tập trung sâu vào cơ chế cụ thể mà sở hữu Nhà nước tác động đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp. Cần phân tích xem liệu sự “bảo đảm ngầm” từ Nhà nước có làm giảm chi phí nợ và tăng tỷ lệ nợ (theo lý thuyết trao đổi) hay ngược lại, làm giảm nợ do có thể thay thế bằng nguồn vốn Nhà nước.
Thứ ba, ngoài hai khía cạnh GDP và lạm phát thì vĩ mô nền kinh tế còn có những vấn đề khác như chính trị, pháp luật, thiên tai, địch họa,… cũng tác động rất lớn nền kinh tế và Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Do đó, Nguyễn Kim Quốc Trung (2024) đã nghiên cứu về tác động của đại dịch Covid – 19 đến Cấu trúc vốn là phù hợp, nhưng giới hạn dữ liệu đến năm 2021 là một hạn chế lớn, bởi lẽ đại dịch và các chính sách ứng phó kinh tế kéo dài và có những tác động đáng kể đến tận năm 2023. Do đó, tại luận văn này sẽ xem xét việc xuất hiện đại dịch này đến năm 2023 và sự khác nhau của Cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp ngành thép khi xuất hiện địa dịch và khi không có sẽ như thế nào.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 xây dựng nền tảng lý luận bằng cách tổng hợp các lý thuyết cấu trúc vốn cốt lõi và các tiêu chí đo lường Cấu trúc vốn. Nghiên cứu tiến hành lược khảo các công trình thực nghiệm liên quan để xác định các xu hướng tác động đã được chứng minh. Hoạt động này nhằm mục đích cốt lõi là chỉ ra khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh ngành thép Việt Nam, từ đó tạo tiền đề lý thuyết cho việc thiết lập mô hình. Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép […]