Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thực trạng về hệ số nợ tổng thể của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2015 – 2025
Dữ liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam và tính toán thống kê theo giá trị trung bình của hệ số nợ tổng thể, tình hình thay đổi về hệ số đó như sau:
- Hình 4.1: Tình hình thay đổi hệ số nợ tổng thể của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam từ năm 2015 – 2025
Dựa trên kết quả hình 4.1 ta có thể thấy các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam có dữ liệu hệ số nợ tổng thể trung bình, cụ thể là 24 doanh nghiệp từ 2015 đến 2025 cho thấy một xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ và kéo dài (xấp xỉ 19%), từ 39,21% lên 58,32%. Đường xu hướng thể hiện rõ ràng việc các doanh nghiệp trong ngành ngày càng gia tăng sự phụ thuộc vào vốn vay để tài trợ tài sản và mở rộng kinh doanh. Sự gia tăng đáng kể này là đặc trưng của một ngành thâm dụng vốn đang trong giai đoạn phát triển và mở rộng công suất lớn. Điều này đồng thời phản ánh việc các doanh nghiệp đang tận dụng tối đa hóa lá chắn thuế từ chi phí lãi vay trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế vĩ mô ổn định trong giai đoạn trước đại dịch. Hệ số nợ có những biến động quan trọng gắn liền với chu kỳ kinh doanh và sự kiện kinh tế lớn:
Giai đoạn tái cấu trúc (2016 – 2018): Sau khi đạt đỉnh 50,78% vào năm 2016, hệ số nợ giảm mạnh xuống 36,93% (2017). Sự sụt giảm sâu này thường là kết quả của các nỗ lực tái cấu trúc nợ sau giai đoạn đầu tư mạnh mẽ trước đó, hoặc do doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận tích lũy để trả bớt nợ nhằm cải thiện tình hình tài chính, phù hợp với nguyên tắc của lý thuyết trật tự phân hạng.
Giai đoạn bùng nổ đầu tư (2019 – 2022): Đây là giai đoạn tăng trưởng liên tục và mạnh mẽ nhất, đạt đỉnh 58,46% vào năm 2022. Sự gia tăng nợ này là minh chứng rõ ràng cho việc các doanh nghiệp thép đẩy mạnh đầu tư vào các dự án mở rộng công suất (như các lò cao, dây chuyền sản xuất mới) để nắm bắt cơ hội từ thị trường bất động sản và đầu tư công trong nước và khu vực. Việc tăng đòn bẩy cho thấy sự sẵn lòng chấp nhận rủi ro tài chính để tối đa hóa tăng trưởng và lợi nhuận kỳ vọng.
Giai đoạn ổn định ở mức cao và tác động của Covid 19 (2022 – 2025): Mặc dù đại dịch Covid 19 và biến động giá nguyên vật liệu sau đó đã gây ra những cú sốc lớn, hệ số nợ vẫn duy trì ở mức cao (xấp xỉ 58%). Điều này cho thấy nhu cầu vay vốn để duy trì hoạt động kinh doanh và tài trợ vốn lưu động trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng (2022 – 2023) đã gia tăng, khiến đòn bẩy tài chính không giảm mà còn giữ ở mức cao để đối phó với áp lực dòng tiền.
4.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích tương quan Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
4.2.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn trong bảng sau:
- Bảng 4.1: Thống kê mô tả
Bảng 4.1 cho thấy với tỷ lệ LEV qua các năm có GTTB là 50,31% và có độ lệch chuẩn 26,50%, do đó cho thấy các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết có sự khác biệt quá lớn với tỷ lệ này về mặt GTTB. Trong đó, tại TNS năm 2018 có mức tỷ lệ nợ tổng thể là 0,66% là GTNN và tại năm 2017 thì SMC có tỷ lệ nợ tổng thể là 98,86% là GTLN.
Đối với quy mô của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết theo Log (Tổng tài sản) thì trung bình qua các năm từ 2015 – 2025 là 33,02 và không có sự khác biệt quá lớn với độ lệch 1,26. Quy mô này nhỏ nhất thuộc về HPG năm 2015 với giá trị là 30,32 và lớn nhất là 35,88 thuộc về VCA năm 2025.
Đối với TSCĐ hữu hình thì giai đoạn 2015 – 2025 tỷ lệ trung bình của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết là 16,67% và độ lệch chuẩn thấp 4,63%. Tỷ lệ TSCĐ hữu hình trên tổng tài sản thấp nhất là 6,75% của VGS năm 2018 và lớn nhất của SMC với tỷ lệ 32,89% trong năm 2020.
Đối với tỷ suất sinh lời thì giai đoạn 2015 – 2025 thì trung bình là 9,11% với độ lệch chuẩn là 6,46%, từ đó có thể thấy các doanh nghiệp ngành thép niêm yết có sự khác biệt lớn về tỷ suất sinh lời. Trong đó, tỷ lệ nhỏ nhất là 0,08% của TNS năm 2018 và lớn nhất là 26,39% của DNS năm 2023. Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Đối với tăng trưởng doanh nghiệp thì trong giai đoạn 2015 – 2025 duy trì với mức trung bình là 23,40% và độ lệch chuẩn cao 12,46%, chứng tỏ trong giai đoạn này các doanh nghiệp ngành thép niêm yết vẫn cạnh tranh nhau và muốn duy trì sự tăng trưởng về doanh thu bán hàng. Trong đó, tốc độ thấp nhất là 4,08% của VGS năm 2017 và lớn nhất là 82,94% của POM năm 2018.
Tỷ lệ thanh khoản mức trung bình từ 2015 – 2025 là 36,12% cho thấy các doanh nghiệp niêm yết vẫn cố gắng duy trì mức thanh khoản ổn định, nhưng độ lệch lại lên đến 18,14% nên khả năng các doanh nghiệp luôn tạo ra sự khác biệt trong việc điều chỉnh khẩu vị rủi ro và chiến lược thanh khoản của mình. Tỷ lệ này thấp nhất với giá trị là 0,86% của TDS năm 2024 và lớn nhất là 124,17% của TDS vào năm 2018.
Tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp thép niêm yết từ năm 2015 – 2025 duy trì với mức trung bình là 24,85% với độ lệch chuẩn là 4,53%. Trong đó, GTNN là 10,14% của VIS năm 2016 và GTLN là 40,95% của SMC năm 2025. Với tỷ lệ cấu trúc sở hữu Nhà nước thì tỷ lệ trung bình là 11,96% và độ lệch lên đến 26,86% do đó có sự khác biệt trong sự sở hữu của Nhà nước với các doanh nghiệp thép niêm yết tại Việt Nam. Trong đó, tỷ lệ sở hữu Nhà nước thấp nhất là 0% và cao nhất là 93,85% thuộc về TVN qua các năm.
Đối với vĩ mô nền kinh tế thì đại diện bởi GDP và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2015 – 2025 thì dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm là 5,99% với độ lệch thấp, trong đó thấp nhất là 2,56% trong năm 2022 và cao nhất là 8,02% năm 2023. Đối với tỷ lệ lạm phát thì trung bình mỗi năm là 2,94%, trong đó năm 2016 thấp nhất với tỷ lệ 0,63% và cao nhất là 4,08% năm 2015. Đối với đại dịch Covid 19 thì đây là biến giả được luận văn thiết kế theo hai nhóm giá trị 1 và 0. Trong đó, giá trị 1 biểu diễn cho các năm xuất hiện đại dịch từ 2021 – 2022; giá trị 0 cho các năm còn lại cho giai đoạn nghiên cứu. Hay nói cách khác, luận văn này chỉ tập trung đánh giá việc khác biệt giữa cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong giai đoạn xuất hiện Covid 19 so với các năm khác.
4.2.2. Phân tích sự tương quan của các biến độc lập Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967). Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập tại bảng sau:
- Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập
Dựa trên bảng 4.2 và xét độ lớn giữa hệ số tương quan giữa các biến số độc lập thì lớn nhất là 0,310 thấp hơn 0,8. Điều này chứng mình mô hình có các biến độc lập không tương quá lớn với nhau, hay khả năng xảy ra đa cộng tuyến nghiệm trọng không có trong mô hình.
4.3. Kết quả hồi quy đa biến
4.3.1. Kết quả các mô hình hồi quy đa biến
Như đã đề cập tại chương 3 thì ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn này đó là Pooled OLS, FEM và REM nhằm xem xét sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM
Dựa trên kết quả bảng 4.3 thì các mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM đều có hệ số R2 đều lớn hơn 60%, điều này có nghĩa có biến số có ý nghĩa thống kê tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, sẽ giải thích được hơn 60% sự thay đổi của hệ số nợ tổng thể.
Đồng thời, các biến số tác động thuận chiều của đến giá cổ phiếu bao gồm SIZE, ROE, TAX, INF với các mức ý nghĩa 5%, 10%. Các biến số tác động ngược chiều bao gồm GROWTH với mức ý nghĩa 1%. Mặt khác, LIQ, GDP và COVID không có ý nghĩa thống kê tác động đến LEV, do các giá trị P – value của các biến số này lớn hơn 5%. Ngoài ra, biến TANG, STA thì có ý nghĩa với Pooled OLS và REM nhưng lại không có ý nghĩa với FEM. Nhưng nhìn chung về kết quả của ba mô hình hồi quy trên thì về chiều hướng tác động của các biến số độc lập đến LEV đều có sự tương đồng, điều này có nghĩa là dữ liệu thu thập có sự phù hợp, tạo điều kiện tin cậy để thực hiện các kiểm định tiếp theo. Tuy nhiên, nhằm tạo ra tính thống nhất thì cần phải lựa chọn mô hình phù hợp nhất trong ba mô hình nói trên. Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
4.3.2. Kiểm định lựa chọn mô hình
Luận văn này sẽ tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình thông qua các kiểm định tương ứng dưới bảng 4.4 như sau:
- Bảng 4.4: Kiểm đinh lựa chọn mô hình
Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp.
Khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM.
Kết quả tại Bảng 4.4 cho thấy giá trị P – value của kiểm định này thấp hơn 5% nên chấp nhận H0, hay nói cách khác thì mô hình FEM phù hợp hơn. Mặt khác trong ba mô hình thì tính vững của mô hình FEM vững nhất. Do đó mô hình FEM phù hợp với việc thực hiện các kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả.
4.3.3. Kiểm định khuyết tật của mô hình tác động cố định Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
4.3.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến
Kiểm định đa cộng tuyến sẽ dựa trên tổng hợp về hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến số. Trong đó, cặp giả thuyết như sau H0 là mô hình không có đa cộng tuyến và H1 là mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.
- Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Dựa vào kết quả 4.5 ta thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF đều thấp hơn 5 và giá trị trung bình VIF thấp hơn 5. Điều này cho thấy giả thuyết H0 được ủng hộ, hay nói cách khác mô hình không có đa cộng tuyến. Do đó, dữ liệu độc lập và có sự tin cậy để tiếp tục kiểm định.
4.3.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi
Hiện tượng này xuất hiện sẽ làm cho phương sai các phần dư không phải là dạng hằng số, điều này dẫn đến chúng sẽ thay đổi với các quan sát khác nhau và không tuân theo phân phối chuẩn ngẫu nhiên. Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình.
- Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi của mô hình FEM
Kết quả kiểm định tại bảng 4.6 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
4.3.3.3. Kiểm định tự tương quan
Hiện tượng này xuất hiện khi các biến quan sát trong bảng dữ liệu có tương quan với nhau. Nguyên nhân tạo ra hiện tượng này là sai lệch khi lập mô hình và thu thập dữ liệu. Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
- Bảng 4.7: Kết quả kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình FEM
Kết quả kiểm định tại bảng 4.7 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng tự tương quan.
4.3.3.4. Khắc phục hiện tượng khuyết tật mô hình tác động cố định
Như vậy khi xác định được mô hình FEM đã có tồn tại hai hiện tượng phương sai số thay đổi và tự tương quan thì cần phải tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS, nhằm xác định kết quả cuối cùng để thảo luận và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.
- Bảng 4.8: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS
Với biến phụ thuộc là LEV thì sau khi kiểm định các hiện tượng khuyết tật và khắc phục tương ứng thì nhận được kết quả P – value của mô hình theo phương pháp FGLS là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng minh được mô hình cuối cùng này phù hợp với tổng thể và có ý nghĩa thống kê phân tích tiếp theo. Mặt khác, bảng 4.8 cũng thể hiện sự tương đồng cao về dấu tác động của các biến độc lập trong mô hình đến LEV. Do đó có sự phù hợp để thảo luận kết quả này. Dựa trên kết quả bảng 4.8 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau: LEVi,t = 0,063∗SIZEi,t + 0,724∗TANGi,t + 1,878∗ROEi,t – 0,146∗GROWTHi,t + 1,539*TAXi,t – 0,272*STAt – 1,283*GDPt – 3,050∗INFt Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
4.3.4. Kiểm định và kết luận giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên kết quả bảng 4.8 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận.
- Bảng 4.9: Kết quả tổng hợp
Tóm lại, dựa trên kết quả bảng 4.8 thì các biến số quy mô doanh nghiệp (SIZE), TSCĐ hữu hình (TANG), tỷ suất sinh lời (ROE), tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX), sở hữu Nhà nước (STA) tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF) có ý nghĩa thống kê với P – value thấp hơn 5%, đồng thời kết quả hồi quy FGLS có dấu và chiều tác động tương đồng với giả thuyết nghiên cứu nên chấp nhận. Ngược lại, tỷ lệ thanh khoản (LIQ) và đại dịch Covid 19 có P – value lớn hơn 5%, do đó hai biến số này không có ý nghĩa thống kê tác động đến hệ số nợ tổng thể (LEV).
Mặt khác, với R2 là 60,25% thuộc [0; 1] và lớn hơn 50% có thể thấy mô hình này phù hợp với tổng thể hồi quy. Hay nói cách khác, quy mô doanh nghiệp (SIZE), TSCĐ hữu hình (TANG), tỷ suất sinh lời (ROE), tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX), sở hữu Nhà nước (STA) tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF) giải thích được 50,48% sự thay đổi của hệ số nợ tổng thể (LEV) của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.
4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Dựa vào bảng 4.8 và bảng 4.9 thì kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp (SIZE), TSCĐ hữu hình (TANG), tỷ suất sinh lời (ROE), tăng trưởng doanh nghiệp (GROWTH), tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX), cấu trúc sở hữu Nhà nước (STA), tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF) tác động đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên mức độ tác động của các biến số được xếp từ cao xuống thấp theo độ lớn của hệ số hồi quy đó là tỷ lệ lạm phát (β = -3,05); tỷ suất sinh lời (β = 1,878); tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp (β = 1,539); tăng trưởng kinh tế (β = -1,283); cấu trúc TSCĐ hữu hình (β = 0,724); quy mô doanh nghiệp (β = 0,063); cấu trúc sở hữu Nhà nước (β = -0,272); tăng trưởng doanh nghiệp (β = -0,146) . Kết quả này được luận giải như sau:
Đối với tỷ lệ lạm phát thì hệ số hồi quy β là −3.05, đây là tác động nghịch chiều mạnh mẽ đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ lạm phát tăng 1%, hệ số nợ tổng thể giảm 3.05%. Kết quả này luận giải cho việc khi nền kinh tế có lạm phát tăng cao, NHNN thường phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, dẫn đến lãi suất cho vay tăng vọt. Đối với các doanh nghiệp ngành thép, vốn là ngành thâm dụng vốn và có mức đòn bẩy cao, sự gia tăng chi phí vốn vay do lãi suất sẽ làm giảm đáng kể lợi ích ròng từ nợ, đồng thời làm tăng rủi ro khốn khó tài chính. Do đó, doanh nghiệp thép sẽ chủ động hạn chế vay nợ mới để tránh gánh nặng chi phí lãi vay lớn, dẫn đến hệ số nợ giảm tương ứng. Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2024).
Đối với tỷ suất sinh lời thì hệ số hồi quy β là 1,878, điều này có nghĩa là tỷ suất sinh lời tác động thuận chiều mạnh đến hệ số nợ tổng thể. Khi khả năng sinh lời tăng 1%, hệ số nợ tổng thể tăng 1.878%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành thép đạt được tỷ suất sinh lời cao, họ đồng thời tạo ra uy tín tín dụng vững chắc và năng lực trả nợ vượt trội. Điều này khiến các định chế tài chính và tổ chức tín dụng sẵn lòng cho vay với quy mô lớn hơn và chi phí thấp hơn (do rủi ro tín dụng thấp). Mặt khác, việc lợi nhuận cao tạo ra khoản thu nhập chịu thuế lớn, thúc đẩy doanh nghiệp tận dụng nguồn nợ vay để tối đa hóa lá chắn thuế từ lãi vay. Vì thế, khi suất sinh lời càng cao thì các doanh nghiệp càng muốn tận dụng nguồn nợ vay với chi phí thấp hơn để đáp ứng cho các hoạt động đầu tư và mở rộng liên tục của doanh nghiệp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Myers (1977); Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Hải Yến (2015).
Đối với tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên lợi nhuận thì hệ số hồi quy β là 1,539, điều này có nghĩa là tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên lợi nhuận tác động thuận chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp trên lợi nhuận tăng 1%, hệ số nợ tổng thể tăng 1,539%. Kết quả này luận giải cho việc khi tỷ lệ thuế thu nhập tăng cao, giá trị của lá chắn thuế được tạo ra từ chi phí lãi vay càng trở nên đáng kể và hấp dẫn. Do đó, các doanh nghiệp ngành thép, với nhu cầu vốn lớn và có khả năng phát sinh lợi nhuận cao, sẽ có động lực mạnh mẽ để tái cơ cấu nguồn vốn của mình, ưu tiên nguồn tài trợ từ nợ vay để tận dụng tối đa lợi ích giảm thuế này, từ đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2024). Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Đối với tăng trưởng kinh tế thì hệ số hồi quy β là −1.283, điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế tác động nghịch chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi GDP tăng 1%, hệ số nợ tổng thể giảm 1.283%. Kết quả này luận giải cho việc khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng, ngành thép hưởng lợi từ sự gia tăng nhu cầu và lợi nhuận, dẫn đến dòng tiền nội bộ (lợi nhuận giữ lại) dồi dào. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, khi việc kinh doanh trở nên thuận lợi hơn, các doanh nghiệp thép có thể tự tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động và đầu tư mới mà không cần huy động thêm nợ vay, vì chi phí sử dụng vốn nội bộ là thấp nhất. Do đó, nguồn vốn nội bộ dồi dào sẽ được ưu tiên, làm giảm tỷ lệ nợ tổng thể. Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2024).
Đối với cấu trúc TSCĐ hữu hình thì hệ số hồi quy β là 0,724, điều này có nghĩa là tỷ lệ TSCĐ hữu hình tác động thuận chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ TSCĐ hữu hình trong doanh nghiệp tăng 1%, hệ số nợ tổng thể tăng 0,724%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành thép muốn đầu tư vào TSCĐ hữu hình (nhà máy, thiết bị), nợ vay sẽ được ưu tiên vì TSCĐ hữu hình là tài sản thế chấp lý tưởng, giảm thiểu rủi ro cho bên cho vay. Việc sử dụng tài sản có giá trị để thế chấp giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn lớn, an toàn hơn và chi phí vay thấp hơn. Mặt khác, khi các doanh nghiệp thép có TSCĐ hữu hình càng nhiều thì niềm tin và thương hiệu càng lớn đối với các đối tượng cho vay nợ, từ đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tốt hơn với các nguồn nợ vay để mở rộng sản xuất. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Khaki và Akin (2021); Saif-Alyousfi và cộng sự (2021); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2016); Nguyễn Kim Quốc Trung (2024).
Đối với cấu trúc sở hữu Nhà nước thì hệ số hồi quy β là −0,272, điều này có nghĩa là cấu trúc sở hữu Nhà nước tác động nghịch chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tỷ lệ sở hữu Nhà nước tăng 1%, hệ số nợ tổng thể giảm 0,272%. Kết quả này luận giải cho việc doanh nghiệp ngành thép có sở hữu Nhà nước có xu hướng được hưởng sự bảo lãnh ngầm và khả năng huy động nguồn tài trợ ưu đãi hoặc trực tiếp từ các kênh chính sách. Sự tồn tại của nguồn vốn thay thế này làm giảm nhu cầu phải tìm kiếm và sử dụng nợ thương mại từ thị trường vốn. Do đó, các doanh nghiệp này có xu hướng quản lý rủi ro thận trọng hơn và duy trì tỷ lệ nợ thị trường thấp hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Khaki và Akin (2021).
Đối với tăng trưởng doanh nghiệp thì hệ số hồi quy β là −0,146, điều này có nghĩa là tăng trưởng doanh nghiệp tác động nghịch chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi tăng trưởng doanh thu trong doanh nghiệp tăng 1%, hệ số nợ tổng thể giảm 0,146%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành thép tiêu thụ được các mặt hàng, doanh thu và lợi nhuận tăng lên, từ đó nguồn vốn giữ lại và dòng tiền nội bộ cũng tăng lên tương xứng, tạo ra sự dồi dào về vốn để tái đầu tư. Chính vì vậy, theo lý thuyết trật tự phân hạng, nguồn vốn nội bộ được ưu tiên sử dụng để tài trợ cho các cơ hội tăng trưởng tiếp theo, nhằm giảm bớt các khoản nợ phải vay và giảm thiểu chi phí phát hành vốn ngoại lai cho doanh nghiệp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chandra (2016); Saif-Alyousfi và cộng sự (2021); Setiawan và Yumeng (2022); Nguyễn Thúy Anh và Lê Thị Thanh Huyền (2016); Nguyễn Kim Quốc Trung (2024). Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Đối với quy mô doanh nghiệp thì hệ số hồi quy β là 0,063, điều này có nghĩa là quy mô doanh nghiệp tác động thuận chiều đến hệ số nợ tổng thể. Khi quy mô doanh nghiệp tăng 1%, hệ số nợ tổng thể tăng 0,063%. Kết quả này luận giải cho việc khi các doanh nghiệp ngành thép có quy mô càng lớn thì việc tiếp cận khoản vay nợ sẽ dễ dàng hơn vì có năng lực tài chính mạnh hơn, khả năng đa dạng hóa rủi ro tốt hơn và niềm tin với các đối tượng cho vay sẽ dễ dàng hơn. Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn vẫn muốn tận dụng nguồn nợ vay nhiều để được hưởng mức chi phí thấp hơn so với việc huy động từ các kênh chứng khoán của mình. Tuy nhiên, mức độ tác động nhỏ cho thấy lợi thế quy mô không phải là yếu tố then chốt quyết định thay đổi cấu trúc vốn trong ngành này. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chandra (2016); Khaki và Akin (2021); Saif-Alyousfi và cộng sự (2021); Setiawan và Yumeng (2022); Sadiq và cộng sự (2023); Nguyễn Minh Nguyệt và Trần Trung Kiên (2021); Nguyễn Văn Diệp và Dương Quỳnh Nga (2023).
Cuối cùng hai biến số tỷ lệ thanh khoản (LIQ) và đại dịch Covid 19 (COVID) không tác động ý nghĩa thống kê đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết. Đối với tỷ lệ thanh khoản, biến này được xem là khả năng quy đổi của các loại tài sản ngắn hạn để giúp doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, do đó tỷ lệ này chỉ mang ý nghĩa cảnh báo về khả năng thanh toán ngắn hạn chứ không hẳn tạo điều kiện cho doanh nghiệp dựa vào đó để tính toán việc gia tăng hay giảm đi các khoản nợ tổng thể (bao gồm nợ dài hạn) từ các tổ chức tài chính. Mặt khác, đối với đại dịch Covid 19, tác động của cú sốc này có thể đã bị triệt tiêu lẫn nhau do nhu cầu vay vốn để cầm cự tăng cao (tác động thuận chiều) nhưng đồng thời khả năng tiếp cận vốn vay bị hạn chế do rủi ro tín dụng tăng lên (tác động nghịch chiều), khiến ảnh hưởng tổng thể trở nên không rõ ràng trên mẫu nghiên cứu. Do đó, hai biến số này tại luận văn phản ánh kết quả không tác động đến cấu trúc vốn là có cơ sở.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 4 Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Chương này tiến hành phân tích thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và xem xét tính tương quan của các biến số độc lập thì không vi phạm đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tiếp theo kiểm định các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM và nhận thấy FEM phù hợp nhất, tuy nhiên mô hình này gặp phải khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan nên khắc phục theo phương pháp FGLS để khắc phục. Kết quả mô hình FGLS có Prob thấp hơn 5% nên có ý nghĩa thống kê. Đồng thời, các biến số quy mô doanh nghiệp, tỷ suất sinh lời, TSCĐ hữu hình, thuế suất thu nhập doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến hệ số nợ tổng thể. Biến số tăng trưởng doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu Nhà nước, tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát thì tác động ngược chiều đến hệ số nợ tổng thể. Tỷ lệ thanh khoản và đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê tác động đến hệ số nợ tổng thể.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1. Kết luận
Luận văn đã tiến hành thực hiện tổng hợp khung lý thuyết nền tảng liên quan đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, các chỉ tiêu đo lường và các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, tổng hợp các yếu tố lý thuyết ảnh hưởng đến Cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Đồng thời, thông qua các lược khảo liên quan trong nước và nước ngoài thì luận văn này xác định được các khoảng trống của nghiên cứu này, từ đó tạo cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu phù hợp cho bối cảnh của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam. Từ đó, mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được hoàn thành đó là biến phụ thuộc đại diện cho Cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam được xác định là hệ số nợ tổng thể. Đồng thời, hệ số này bị tác động bới các biến độc lập là quy mô doanh nghiệp; TSCĐ hữu hình; tỷ suất sinh lời; tăng trưởng doanh nghiệp; tỷ lệ thanh khoản; tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp; sở hữu Nhà nước; tăng trưởng kinh tế; lạm phát; đại dịch covid 19.
Thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 doanh nghiệp thép niêm yết tại HOSE từ năm 2015 – 2025 và tiến hành thống kê, kiểm định, khắc phục các hiện tượng phương sai sai số thay đổi, tự tương quan thì mô hình FGLS được sử dụng để kết luận. Từ đó, mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành với kết quả về mức độ tác động từ cao xuống thấp của các biến số đến hệ số nợ tổng thể đó là đó là tỷ lệ lạm phát (β = -3,05); tỷ suất sinh lời (β = 1,878); tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp (β = 1,539); tăng trưởng kinh tế (β = – 1,283); cấu trúc TSCĐ hữu hình (β = 0,724); quy mô doanh nghiệp (β = 0,063); cấu trúc sở hữu Nhà nước (β = -0,272); tăng trưởng doanh nghiệp (β = -0,146). Ngoài ra, tỷ lệ thanh khoản và đại dịch Covid 19 có ý nghĩa thống kê với P – value lớn hơn 5%, do đó hai biến số này không tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép.
Mặt khác, các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến các biến số quy mô doanh nghiệp, TSCĐ hữu hình, tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc sở hữu Nhà nước được chấp nhận vì dấu của hệ số hồi quy tương đồng với phát biểu của giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, các biến số tỷ suất sinh lời, tăng trưởng kinh tế có dấu của hệ số hồi quy trái với phát biểu của giả thuyết nghiên cứu ban đầu nên bác bỏ. Mặt khác, hai biến số tỷ lệ thanh khoản và đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê tác động đến cấu trúc vốn, nên giả thuyết này cũng sẽ bị bác bỏ. Kết quả này cho thấy quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp thép mang tính nhạy cảm cao với biến động vĩ mô, đồng thời chịu chi phối bởi khả năng sinh lời, đặc điểm tài sản và cấu trúc sở hữu. Từ đó, hàm ý quản trị đặt ra là doanh nghiệp cần xây dựng cấu trúc vốn mục tiêu linh hoạt theo chu kỳ kinh tế, kiểm soát đòn bẩy trong bối cảnh lạm phát và lãi suất tăng, tận dụng hợp lý lợi ích lá chắn thuế khi sinh lời cao nhưng vẫn duy trì mức nợ an toàn, ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ trong giai đoạn tăng trưởng thuận lợi và gắn quyết định vay nợ với hiệu quả đầu tư thực tế nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp một cách bền vững.
5.2. Hàm ý quản trị Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số hàm ý quản trị quan trọng đối với các DN ngành thép niêm yết trong giai đoạn 2015–2025. Trước hết, do lạm phát có tác động nghịch chiều mạnh đến cấu trúc vốn, doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro lãi suất và điều chỉnh tỷ lệ nợ phù hợp trong bối cảnh chính sách tiền tệ thắt chặt. Đối với các yếu tố nội tại như tỷ suất sinh lời và thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động thuận chiều, doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế uy tín tín dụng và lá chắn thuế để tối ưu hóa cấu trúc vốn, song cần kiểm soát mức đòn bẩy trong giới hạn an toàn nhằm tránh rủi ro kiệt quệ tài chính. Khi kinh tế tăng trưởng thuận lợi và doanh thu gia tăng, kết quả cho thấy xu hướng giảm phụ thuộc vào nợ, do đó doanh nghiệp nên ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ để củng cố nền tảng tài chính dài hạn. Bên cạnh đó, tỷ trọng tài sản cố định hữu hình giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay, nhưng việc mở rộng vay nợ cần gắn với hiệu quả đầu tư thực tế. Đối với doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước, việc duy trì chính sách tài chính thận trọng và minh bạch là cần thiết để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn. Nhìn chung, các doanh nghiệp thép cần xây dựng cấu trúc vốn mục tiêu linh hoạt theo chu kỳ kinh tế, cân bằng giữa lợi ích thuế và chi phí rủi ro tài chính nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trong dài hạn.
Các kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn và bối cảnh hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Thị trường chứng khoán. Vì vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở cho luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị khả thi đến các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam để có cấu trúc vốn ổn định tương xứng với hoạt động kinh doanh của mình.
5.2.1. Gia tăng quy mô tương xứng với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ngành thép có lộ trình phù hợp để mở rộng quy mô doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động tương ứng, đảm bảo việc mở rộng quy mô trong tầm kiểm soát, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác mở rộng quy mô doanh nghiệp cũng xét đến khía cạnh độ phủ sóng hoạt động của doanh nghiệp, bản thân doanh nghiệp cũng cần phải có chiến lược mở rộng thị trường của mình một cách bền vững, an toàn, tập trung mở rộng nâng cao cạnh tranh của mình tại những địa bàn hay địa điểm thật sự tiềm năng và an toàn. Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Các doanh nghiệp nên mở rộng quy mô khi có nhiều dự án đầu tư và cần một lượng vốn vay để phát triển. Tuy nhiên mức độ mở rộng quy mô cần căn cứ vào ảnh hưởng thực tế của nó đến cơ cấu vốn mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu mở rộng quy mô quá mức, tỷ lệ nợ của doanh nghiệp sẽ tăng cao và khả năng doanh nghiệp sẽ gặp những rủi ro phá sản là rất lớn. Việc mở rộng quy mô doanh nghiệp có thể được thực hiện đồng bộ hoặc từng phần, tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có cơ cấu vốn mục tiêu cao và sắp đặt ngưỡng là nên mở rộng quy mô doanh nghiệp từng phần và phải luôn luôn xem xét giới hạn tỷ lệ nợ của mình. Ngược lại, các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp có thể mở rộng quy mô đồng bộ để tiếp cận càng nhiều các nguồn vốn vay hơn.
5.2.2. Gia tăng tài sản cố định hữu hình phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ngành thép để có cấu trúc vốn hay hệ số nợ tổng thể tăng thì doanh nghiệp cần tiến hành việc đầu tư vào các TSCĐ hữu hình một cách hợp lý. Đặc biệt, tập trung vào các loại TSCĐ hữu hình sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng được việc tiêu thụ và tăng trưởng bán hàng. Tránh việc đầu tư tài sản chỉ để vay nợ bằng thế chấp nhưng không phục vụ sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, các doanh nghiệp xây dựng cần đầu tư vào các TSCĐ hữu hình có khả năng thế chấp, nhằm tạo ra tính đảm bảo an toàn khi vay hoặc có các rủi ro xảy ra để chống đỡ. Mặt khác, tập trung vào các khoản thế chấp trung và dài hạn hơn là ngắn hạn để tránh được các áp lực thanh toán.
5.2.3. Tăng trưởng doanh thu và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ngành thép phải gia tăng doanh thu bán hàng, cần đẩy mạnh hoạt động bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm, thông qua tiếp cận các thị trường mới, khách hàng mới hay mở rộng các đối tượng đầu ra của mình. Chuyển đổi mô hình kinh doanh mới mẻ và cập nhật xu hướng các loại sản phẩm mà mình có thể bán ra theo xu hướng mới của khách hàng hay thị trường. Ngoài tập trung vào các kênh bán hàng truyền thống thì các doanh nghiệp nên mở rộng thêm các kênh bán hàng trên thương mại điện tử hay ứng dụng công nghệ để tiếp cận hay thăm dò mua hàng của khách hàng tốt hơn. Mặt khác, các hoạt động đa dạng hóa thu nhập cũng cần các doanh nghiệp xây dựng lưu tâm, nhằm gia tăng doanh thu khác. Từ đó, giúp cho các doanh nghiệp chứng minh với các đối tượng cho vay mình đủ khả năng và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay để hoạt động kinh doanh. Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
Đối với hoạt động tài chính thì các doanh nghiệp cần có những chiến lược phát triển trong những giai đoạn khác nhau, trong đó cần xây dựng những kế hoạch tài chính cụ thể, bám sát đường hướng phát triển và đặc điểm của doanh nghiệp trong khoảng thời gian đó. Các kế hoạch tài chính cần có những báo cáo tài chính dự kiến, cùng với đó là các tỷ số tài chính dự kiến được tính toán từ những báo cáo này. Trong đó, các doanh nghiệp phải xác định những nhu cầu về vốn, giới hạn tỷ lệ vay nợ, đặt ra cơ cấu vốn mục tiêu cụ thể của mình dựa trên các tỷ số tài chính đã tính toán. Kế hoạch tài chính sẽ giúp các doanh nghiệp thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để dự kiến những giải pháp phù hợp.
Các doanh nghiệp nên đẩy mạnh các biện pháp quản lý, kiểm soát chặt các khoản chi phí, rà soát lại các chi phí sản xuất một cách thường xuyên. Các doanh nghiệp nên đánh giá lợi ích của các công nghệ mới trong sản xuất để có những giải pháp đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó, các nhà quản lý cần có những chế độ khen thưởng và xử phạt hợp lý cho nhân viên.
Cuối cùng, các doanh nghiệp ngành thép nên có những biện pháp để khơi thông thị trường đầu ra cho sản phẩm của mình để gia tăng khả năng hấp thụ vốn. Các doanh nghiệp nhỏ lẻ cần tìm những đối tác để hợp tác lâu dài trong những dự án và công trình lớn, điều này vừa đảm bảo tăng khả năng cạnh tranh vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là những giải pháp căn cơ và bền vững cho các doanh nghiệp.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
5.3.1. Hạn chế nghiên cứu
Việc sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ Báo cáo tài chính (BCTC) của 24 doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015–2025 đặt ra những thách thức cố hữu. Cụ thể, nghiên cứu phải chấp nhận những thiếu sót tiềm tàng về tính đầy đủ, nhất quán hoặc độ tin cậy của dữ liệu công bố. Những sai sót này trong quá trình thu thập và xử lý dữ liệu hoàn toàn có thể gây ra sai lệch trong ước lượng và ảnh hưởng đến tính chính xác của các hệ số hồi quy, mặc dù các biện pháp hiệu chỉnh (như FGLS) đã được áp dụng.
Luận văn đã tập trung vào các biến số chính được đề xuất từ các lý thuyết Cấu trúc vốn kinh điển. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số biến độc lập khác có vai trò quan trọng trong việc quyết định hệ số nợ tổng thể (LEV) của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam mà chưa được đưa vào mô hình để kiểm định. Việc thiếu vắng các biến đặc thù ngành hoặc các chỉ số quản trị doanh nghiệp (ví dụ: chất lượng quản trị, cấu trúc sở hữu cụ thể) có thể dẫn đến hiện tượng biến số bỏ sót (omitted variable bias), làm giảm khả năng giải thích tổng thể của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Cần tiếp tục thu thập và kiểm tra tính đầy đủ của dữ liệu thứ cấp để có được cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng hệ số nợ tổng thể (LEV) cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam. Vượt ra khỏi phạm vi ngành thép, nghiên cứu có thể mở rộng đối tượng sang toàn bộ các công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam hoặc tiến hành so sánh xuyên quốc gia với các doanh nghiệp trong khu vực Đông Nam Á.
Để giảm thiểu hiện tượng sai lệch do biến số bỏ sót, các nghiên cứu tiếp theo nên bổ sung thêm các biến độc lập đại diện cho các nhân tố đặc thù ngành, các chỉ số quản trị doanh nghiệp (như cơ cấu sở hữu, chất lượng quản trị) hoặc các rủi ro (như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản) có tác động tiềm tàng đến Cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết. Song song đó, việc thực hiện thêm các hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình là bắt buộc. Điều này bao gồm việc sử dụng các kỹ thuật ước lượng thay thế (như GMM), thay đổi chỉ tiêu đo lường biến phụ thuộc hoặc loại bỏ các giá trị ngoại lai để khẳng định sự ổn định và độ tin cậy của các hệ số hồi quy đã được tìm thấy.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Chương 5 đã trình bày kết luận tổng quát về kết quả đạt được của luận văn, đồng thời chỉ ra các mối quan hệ tác động giữa các biến số độc lập đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam. Từ đó đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại Việt Nam để có hệ số nợ tổng thể phù hợp xoay quanh các nội dung chính đó là gia tăng quy mô, TSCĐ hữu hình và doanh thu cũng như khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động đến cấu trúc vốn của các DN ngành thép

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: KQNC Tác động đến cấu trúc vốn của DN ngành thép […]