Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Trong Chương này, tác giả đã mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn. Tác giả đã trình bày phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp cùng với phương pháp chọn mẫu của dữ liệu sơ cấp được sử dụng. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày phương pháp phân tích dữ liệu, trong đó nêu rõ các kỹ thuật phân tích định lượng được sử dụng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank – CN Cần Thơ.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.1.1. Dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp về thông tin khái quát của Vietcombank cũng như quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng được lấy từ trang thông tin điện tử của Vietcombank. Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng dữ liệu thu thập từ kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank từ Báo cáo thường niên của ngân hàng từ năm 2021 đến năm 2025.

3.1.2. Dữ liệu sơ cấp

3.1.2.1 Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 10 chuyên gia am hiểu về dịch vụ ngân hàng số của Vietcombank đang làm việc tại Chi nhánh và các Phòng giao dịch thuộc Chi nhánh Cần Thơ bao gồm: 01 người là Giám đốc Chi nhánh, 3 người là Trưởng Phòng giao dịch, 2 người là chuyên viên cao cấp và 5 người là chuyên viên ngân hàng có kinh nghiệm làm việc trên 5 năm để đánh giá lại bảng câu hỏi và các thang đo nghiên cứu.

Qua quá trình phỏng vấn, từ những câu trả lời và ý kiến đến từ chuyên gia, tác giả điều chỉnh những sai sót và những yếu tố gây khó hiểu, nhầm lẫn cho đối tượng phỏng vấn qua quá trình trả lời. Sau khi hoàn thiện bảng câu hỏi, tác giả tiến hành khảo sát chính thức bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp.

3.1.2.2. Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tiếp khách hàng đang sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank – CN Cần Thơ thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn.

  • Cỡ mẫu:

Hair et al. (1999) đề xuất quy mô mẫu tối thiểu để sử dụng EFA là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1, kích thước mẫu tối thiểu gấp 5 lần tổng biến quan sát. Mô hình nghiên cứu của đề tài có 22 biến quan sát độc lập và 03 biến quan sát phụ thuộc, tổng cộng là 25 biến quan sát nên kích thước mẫu cần thiết là 5 x 25 = 125 quan sát.

Hatcher (1994) cho rằng cỡ mẫu nên bằng 5 lần số lượng biến hoặc cỡ mẫu là 100. Do số biến trong nghiên cứu này là 25 biến quan sát nên cỡ mẫu tối thiểu nên là 5 x 25 = 125 quan sát.

Tabachnick & Fidell (1996) cho rằng cỡ mẫu trong phân tích hồi quy phải đảm bảo như sau: N ≥ 8 x m + 50. Trong đó: N là cỡ mẫu; m là số biến độc lập của mô hình. Đối với nghiên cứu này gồm có 5 biến độc lập, như vậy cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là: N ≥ 8 x 5 + 50 = 90 quan sát. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

Dựa vào các phương pháp xác định cỡ mẫu trên, tác giả chọn cỡ mẫu cho nghiên cứu này là 150 quan sát để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể.

  • Phương pháp chọn mẫu:

Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với bảng câu hỏi được thiết kế sẵn và phỏng vấn trực tiếp khách hàng cá nhân đang sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank qua ứng dụng VCB Digibank tại CN Cần Thơ. Việc phỏng vấn sẽ dừng lại cho đến khi đạt được số lượng quan sát đủ điều kiện để phân tích. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện là một trong những phương pháp chọn mẫu phi xác suất (Nguyễn Đình Thọ, 2012). Trong đó, người khảo sát tiếp cận với phần tử mẫu bằng phương pháp thuận tiện, tức là chọn những phần tử mà họ có thể tiếp cận được với ưu điểm phương pháp là dễ tiến hành, tiết kiệm thời gian và chi phí.

Vietcombank – CN Cần Thơ có 01 Trụ sở Chi nhánh và 06 Phòng giao dịch nên tác giả sẽ phỏng vấn khách hàng của Vietcombank tại cả 07 nơi này là Trụ sở Chi nhánh Cần Thơ, phòng giao dịch Ninh Kiều, phòng giao dịch Hưng Lợi, phòng giao dịch Cái Răng, phòng giao dịch Nam Cần Thơ, phòng giao dịch An Hòa và phòng giao dịch Phong Điền.

  • Thang đo:

Thang đo nghiên cứu sử dụng là thang đo Likert 5 mức độ cho tất cả các biến độc lập, với mức 1 – Rất không đồng ý đến mức 5 – Rất đồng ý. Theo Võ Thị Thanh Lộc & Huỳnh Hữu Thọ (2016), để hạn chế việc hiểu không chính xác về mặt định lượng khoảng cách giữa các thang đo, nhà nghiên cứu có thể sử dụng cách tính điểm trung bình để nhận xét kết quả như sau:

Giá trị khoảng cách – (Maximum – Minimum)/n = (5 – 1)/5=0,8

  • Bảng 3.1: Ý nghĩa giá trị trung bình của thang đo

3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

3.2.1. Các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng

Mục tiêu 1: Nghiên cứu tổng quan tài liệu, lý thuyết kinh tế liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank – CN Cần Thơ và xây dựng mô hình nghiên cứu. Tiếp theo, phỏng vấn chuyên gia, người am hiểu về dịch vụ ngân hàng số của Vietcombank để xây dựng bảng câu hỏi.

Mục tiêu 2: Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo. Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để rút gọn nhiều biến quan sát phụ thuộc nhau thành một tập biến ít hơn nhưng có ý nghĩa hơn. Cuối cùng, với các biến thu được thông qua hai phương pháp trên, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank – CN Cần Thơ.

Mục tiêu 3: Dựa vào những phân tích và đánh giá từ mục tiêu 2, sử dụng phương pháp lập luận và phân tích để đề ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank – CN Cần Thơ.

3.2.2. Tóm tắt các phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

3.2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp này được dùng để mô tả và trình bày số liệu bằng các chỉ số thống kê thông thường như số trung bình, số nhỏ nhất, số lớn nhất, phương sai, độ lệch chuẩn và tỷ số. Thống kê mô tả tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo bên cạnh phân tích đồ thị đơn giản tạo thành nền tảng của mọi phân tích dữ liệu định lượng. Để hiểu được đối tượng nghiên cứu, cần phải nắm vững các phương pháp mô tả dữ liệu cơ bản (Martin, 2018). Trong đề tài này, tác giả sử dụng các chỉ số thống kê gồm có số trung bình, tần số và tỷ trọng.

3.2.2.2. Kiểm tra độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Khi đánh giá thang đo các yếu tố, cần sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm tra sự chặt chẽ và tương quan giữa các biến quan sát, loại các biến không đảm bảo độ tin cậy trước khi thực hiện phân tích nhân tố (Nguyễn Đình Thọ, 2012).

Theo Nunnally (1978), hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,7 trở lên thì thang đo được đánh giá là tốt. Hair et al. (2007) cho rằng thang đo đảm bảo độ tin cậy cần có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,7 trở lên nhưng nếu là một nghiên cứu khám phá sơ bộ thì chỉ cần 0,6 là có thể chấp nhận được. Nghiên cứu này sử dụng mốc hệ số Cronbach’s Alpha là 0,7 để đánh giá độ tin cậy của thang đo.

Ngoài ra, nếu các biến có hệ số tương quan biến tổng từ 0,3 trở lên thì đạt yêu cầu (Nunnally & Burnstein, 1994) nên những biến có hệ số tương quan biến tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0,3 thì biến đó không phù hợp nên cần loại khỏi mô hình nghiên cứu này.

3.2.2.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) là phương pháp dùng để rút gọn một tập hợp gồm nhiều biến đo lường phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến ít hơn (nhân tố) nhưng vẫn chứa đầy đủ thông tin của tập biến ban đầu (Hair et al., 2007). Phương pháp trích Pricipal Components Analysis và phép xoay Varimax là cách phổ biến nhất trong phân tích nhân tố. Một số chỉ tiêu trong phân tích EFA như sau:

Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) dùng để đánh giá độ lớn của hệ số tương quan giữa hai biến với độ lớn của hệ số tương quan từng phần của chúng. Kaiser (1974) cho rằng, trị số của KMO phải đạt giá trị từ 0,5 đến 1 thì phân tích nhân tố mới thích hợp. Hutcheson & Sofroniou (2000) đề xuất KMO từ 0,5 trở lên là mức chấp nhận tối thiểu, lớn hơn 0,5 đến 0,7 là mức bình thường, lớn hơn 0,7 đến 0,8 là mức tốt, lớn hơn 0,8 đến 0,9 là mức rất tốt, lớn hơn 0,9 là mức xuất sắc.

Kiểm định Barlett xem xét sự tương quan giữa các biến quan sát trong tổng thể với giả thuyết H0: Các biến không có tương quan với Nếu kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. nhỏ hơn 5%) thì bác bỏ giả thuyết H0, tức là các biến quan sát có tương quan với nhau nên phân tích nhân tố là thích hợp (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2009).

Tổng phương sai trích (TVE) thể hiện phần trăm biến thiên của các biến quan sát, nếu TVE từ 50% trở lên là đạt yêu cầu và từ 60% trở lên là tốt (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2009).

Hệ số Eigenvalue dùng để xác định số lượng nhân tố trong phân tích EFA và chỉ những nhân tố có Eigenvalue trên 1 mới có ý nghĩa (Hair et al., 2007).

Hệ số tải nhân tố (Factor loading) là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa của các biến trong nhân tố trong phân tích EFA. Hệ số tải nhân tố từ 0,3 trở lên là mức tối thiểu; từ 0,4 trở lên là quan trọng và từ 0,5 trở lên là có ý nghĩa thực tiễn (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2009). Do đó, nghiên cứu sẽ chọn mức 0,5 trở lên vì đây là ngưỡng tốt và phù hợp khi đánh giá chất lượng biến quan sát.

3.2.2.4. Phân tích hồi quy tuyến tính

Hồi quy tuyến tính là một phương pháp định lượng xem xét mối quan hệ tuyến tính dạng quan hệ đường thẳng giữa biến độc lập với biến phụ thuộc (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2009).

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bằng phương pháp tổng bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares – OLS). OLS giúp xác định mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc bằng cách tìm các hệ số sao cho tổng bình phương các sai số giữa giá trị dự đoán và giá trị thực tế là nhỏ nhất (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2009).

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank – CN Cần Thơ, tác giả thiết lập mô hình hồi quy như sau: CL = β0 + β1HH + β2TC + β3DU + β4PV + β5DC + ei

Trong đó: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

  • CL là chất lượng dịch vụ ngân hàng số.
  • β0 là hệ số chặn; β1, β2,…., β5 là các tham số hồi quy;
  • HH là Phương tiện hữu hình;
  • TC là Sự tin cậy;
  • DU là Sự đáp ứng;
  • PV là Năng lực phục vụ:
  • DC là Sự đồng cảm;
  • ei là sai số.

a) Kiểm định giả thuyết hồi quy

  • Giả thuyết độ phù hợp mô hình

Theo Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2009) thì thước đo sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính là hệ số xác định R2 với giá trị dao động từ 0 đến 1. Nếu hệ số này càng gần 1 thì các biến độc lập giải thích càng nhiều cho biến phụ thuộc và ngược lại. Trong nghiên cứu lặp lại thường, nếu R2 từ 0,5 đến 1 thì mô hình là tốt, ngược lại là là mô hình chưa tốt. Tuy nhiên, R2 còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác.

Khi thêm biến độc lập vào mô hình thì R2 có xu hướng tăng lên dẫn đến độ phù hợp của mô hình hồi quy chưa phù hợp. Do đó, cần sử dụng chỉ số R2 hiệu chỉnh vì nó phản ánh độ phù hợp của mô hình chính xác hơn vì chỉ số này không nhất thiết tăng lên khi nhiều biến độc lập được đưa vào mô hình. Chỉ số R2 hiệu chỉnh có đặc điểm tương tự như chỉ số R2.

Ngoài ra, để kiểm định độ phù hợp mô hình cần sử dụng kiểm định F để kiểm định giả thuyết H0: R2 = 0. Nếu trị số Sig. nhỏ hơn 5% thì bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là R2 ≠ 0, mô hình hồi quy phù hợp và ngược lại.

  • Giả thuyết ý nghĩa hệ số hồi quy

Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2009) cho rằng để kiểm định ý nghĩa hệ số tác động của biến độc lập trong mô hình cần dựa vào kiểm định t (student) với giả thuyết H0: ‘‘Hệ số hồi quy của biến độc lập Xi bằng 0”. Nếu giá trị Sig. nhỏ hơn 5% thì bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là hệ số hồi quy của biến Xi khác 0 có ý nghĩa thống kê, tức là biến độc lập Xi có tác động lên biến phụ thuộc và ngược lại. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

  • b) Các giả định hồi quy tuyến tính bội

Sau khi phân tích hồi quy, cần kiểm tra xem kết quả có bị vi phạm các giả định hay không vì các giả định bị vi phạm sẽ làm suy giảm độ tin cậy kết quả tính toán được (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2009).

  • Phân phối chuẩn của phần dư

Hai cách phổ biến nhất để kiểm tra là căn cứ vào biểu đồ Histogram và Normal P-P Plot phần dư:

Biểu đồ Histogram: Giá trị trung bình gần bằng 0, độ lệch chuẩn gần bằng 1, các cột giá trị phần dư phân bố theo dạng hình chuông thì phân phối xấp xỉ chuẩn.

Biểu đồ Normal P-P Plot: Nếu các điểm dữ liệu trong phân phối của phần dư bám sát vào đường chéo, phần dư càng có phân phối chuẩn.

  • Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với biến độc lập

Có thể sử dụng biểu đồ phân tán Scatter Plot giữa các phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa để xác định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với biến độc lập. Nếu các điểm dữ liệu phân bố tập trung xung quanh đường tung độ 0 và có xu hướng tạo thành một đường thẳng thì biến các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc.

  • Đa cộng tuyến

Hai biến độc lập tương quan mạnh với nhau gọi là cộng tuyến (collinearity), nếu hiện tượng này xảy ra giữa ba biến trở lên được gọi là đa cộng tuyến (multicollinearity). Theo Hair et al. (2007) nếu xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến thì các kết quả ước lượng sẽ bị sai lệch. Để xác định hiện tượng đa cộng tuyến thường sử dụng các công cụ chuẩn đoán phổ biến sau:

Độ chấp nhận của biến (Tolerance): Đại lượng này được tính dựa vào giá trị R2 trong phép hồi quy của biến độc lập đó với các biến độc lập còn lại. Hair et al. (2007) đề xuất ngưỡng Tolerance thấp nhất là 0,1. Nếu xuất hiện Tolerance từ 0,1 trở xuống, đang xảy ra đa cộng tuyến rất nặng giữa các biến độc lập. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

Hệ số phóng đại phương sai (VIF): VIF là giá trị nghịch đảo của độ chấp nhận biến (Tolerance). Do đó, nếu hệ số VIF càng nhỏ thì càng ít khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Hair et (2007) đề xuất ngưỡng VIF từ 10 trở lên sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến mạnh, còn theo Nguyễn Đình Thọ (2012) khi VIF lớn hơn 2 thì có thể xảy ra sự đa cộng tuyến làm sai lệch các ước lượng tham số hồi quy.

Tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập (Bivariate Correlation): Nếu hệ số tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập cao sẽ là dấu hiệu chỉ ra vấn đề đa cộng tuyến. Hair et al. (2007) cho rằng nếu hệ số tương quan giữa hai biến độc lập từ 0,7 trở lên là biểu hiện của sự cộng tuyến. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn thì nên kết hợp xem xét cả hệ số tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập và giá trị VIF của từng biến.

  • Phương sai sai số thay đổi

Theo Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2009) thì có 2 cách để kiểm định giả định phương sai sai số không đổi trong mô hình hồi quy, cụ thể:

Nếu các điểm dữ liệu của biểu đồ Scatter Plot giữa các phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa tạo thành dạng đám mây có độ lớn trải đều nhau dọc theo đường tung độ 0 thì phương sai sai số không đổi. Theo Pituch & Stevens (2017), các điểm dữ liệu phần dư trong đồ thị Scatter dao động chủ yếu trong đoạn -3 đến 3 được xem không xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

Sử dụng hệ số tương quan hạng Spearman đánh giá mối quan hệ giữa phần dư và các biến độc lập. Trường hợp hệ số tương quan hạng Spearman của phần dư và biến độc lập có trị số Sig. lớn hơn 5% thì mối quan hệ giữa phần dư và biến độc lập không có ý nghĩa thống kê hay nói cách khác là không có phương sai sai số thay đổi xảy ra trong mô hình và ngược lại.

  • Đánh giá chung:

Trong nghiên cứu này, việc lựa chọn phương pháp phân tích được thực hiện dựa trên mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm của mô hình đề xuất. Cụ thể, phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp các kỹ thuật kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng nhằm đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc mô hình SERVQUAL và chất lượng dịch vụ ngân hàng số. Cách tiếp cận này phù hợp với các nghiên cứu trước trong lĩnh vực chất lượng dịch vụ ngân hàng, cho phép xác định mức độ tác động của từng yếu tố và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu một cách rõ ràng và dễ diễn giải.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phương pháp chọn mẫu. Việc sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (convenience sampling) giúp thu thập dữ liệu nhanh chóng và phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhưng có thể làm giảm tính đại diện của mẫu nghiên cứu và ảnh hưởng đến khả năng khái quát hóa kết quả cho toàn bộ tập khách hàng. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu được thu thập tại một chi nhánh cụ thể nên kết quả có thể phản ánh đặc thù của địa phương và chưa đại diện cho toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính truyền thống để kiểm định mối quan hệ giữa các biến, trong khi các phương pháp nâng cao như mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling – SEM) có khả năng kiểm định đồng thời mô hình đo lường và mô hình cấu trúc, cũng như đánh giá các mối quan hệ tiềm ẩn giữa các biến một cách toàn diện hơn. Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu và yêu cầu phân tích, phương pháp SEM chưa được áp dụng trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét sử dụng SEM hoặc PLS-SEM nhằm nâng cao độ tin cậy và giá trị suy luận của mô hình, đặc biệt trong bối cảnh nghiên cứu các cấu trúc tiềm ẩn như chất lượng dịch vụ và trải nghiệm khách hàng. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng số

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x