Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Trong bối cảnh yêu cầu siết chặt kỷ luật tài chính – ngân sách, nâng cao hiệu quả dùng ngân sách nhà nước, hoạt động kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước ngày càng đóng vai trò then chốt. Đề án này tập trung nghiên cứu thực trạng, đánh giá các mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp mang tính có thể thực hiện để tăng cao hiệu quả hoạt động này.

Trên nền tảng lý luận về kiểm soát chi ngân sách nhà nước và cùng những nguyên tắc quản lý tài chính công, đề án thực hiện khảo sát thực tiễn tại đơn vị Kho bạc Nhà nước cấp huyện, đặc biệt chú trọng đến các khâu: tiếp nhận hồ sơ, thẩm định chứng từ, ứng dụng CNTT, và vai trò phối hợp giữa các đơn vị sử dụng ngân sách với cơ quan Kho bạc Nhà nước.

Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác kiểm soát chi đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt nhờ việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến, cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số bất cập như: thiếu đồng bộ về cơ sở dữ liệu, chất lượng hồ sơ đề nghị chi chưa đảm bảo, năng lực cán bộ không đồng đều, và công tác phối hợp còn lỏng lẻo.

Đề án hy vọng góp phần làm rõ hơn vai trò của kiểm soát chi thường xuyên trong quản lý ngân sách nhà nước, từ đây đưa ra những kiến nghị rõ ràng tới Bộ Tài chính và hệ thống Kho bạc Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, sự rõ ràng và trách nhiệm giải trình ở việc sử dụng ngân sách nhà nước.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Chi ngân sách Nhà nước là một công cụ quan trọng của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Chi ngân sách bao gồm: chi cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên và chi trả nợ Chính phủ. Chi thường xuyên là khoản chi từ ngân sách nhà nước được dùng để thực hiện hoạt động của bộ máy nhà nước, các đơn vị chính trị, chính trị – xã hội, đồng thời giúp cho hoạt động của các đơn vị khác và đáp ứng những nhiệm vụ xuyên suốt của bộ máy trong gia tăng kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh và quốc phòng.

Kiểm soát chi thường xuyên là một trong những công việc trọng tâm của Kho bạc Nhà nước nhằm bảo đảm dùng ngân sách đúng chỗ, hiệu quả và minh bạch. Với bối cảnh cải cách tài chính công, việc gia tăng hiệu năng kiểm soát chi giữ vai trò cần thiết với việc phòng ngừa thất thoát, lãng phí và sai phạm.

Nhưng, khoản chi thường xuyên đang chịu nhiều áp lực bởi hầu hết các ngành, lĩnh vực đều có tầm quan trọng riêng và đều cần được bảo đảm nguồn kinh phí kịp thời để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Trong khi việc dùng Ngân sách Nhà nước ở một số nơi còn nhiều rủi ro, chưa thật sự hiệu quả, còn lãng phí, chi sai chế độ…

Để tiếp tục tăng cao công tác chi Ngân sách Nhà nước và củng cố trách nhiệm của những bộ phận sử dụng ngân sách, cần giảm thiểu tiêu cực và rủi ro ở việc dùng ngân sách. Dựa theo các yêu cầu thực tại trên nên tác giả quyết định chọn lựa chủ đề: “Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn” nhằm nêu ra các thực trạng và hỗ trợ giải quyết các vấn đề còn hạn chế nhằm hoàn thiện việc kiểm soát hoạt động chi của Kho bạc Nhà nước một cách an toàn và hiệu quả hơn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Đề án phân tích thực trạng hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Hóc Môn; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Hóc Môn góp phần đảm bảo tính chặt chẽ, công khai, minh bạch, sử dụng ngân sách tiết kiệm và hiệu quả, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và quy định pháp lý về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
  • Phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn giai đoạn 2020–2024.
  • Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, trong đó làm rõ các khó khăn đặc thù tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn trong thời gian tới.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước được quy định theo những nội dung, nguyên tắc và quy trình nào?
  • Thực trạng hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn giai đoạn 2020–2024 như thế nào?
  • Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn là gì?
  • Những giải pháp nào phù hợp với điều kiện thực tiễn của Kho bạc Nhà nước Hóc Môn để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên trong thời gian tới?

3. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

3.1. Phạm vi không gian

  • Nghiên cứu được thực hiện tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn và các đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn huyện Hóc Môn.

Lý do lựa chọn:

  • Kho bạc Nhà nước Hóc Môn là đơn vị trực tiếp kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại địa phương, phản ánh đầy đủ quy trình nghiệp vụ thực tế.
  • Địa bàn huyện Hóc Môn có cơ cấu đơn vị sử dụng ngân sách đa dạng (hành chính, giáo dục, y tế, xã – thị trấn…), phù hợp để đánh giá hiệu quả kiểm soát
  • Tác giả đang công tác tại đơn vị nên có điều kiện tiếp cận số liệu chính xác, đầy đủ, đảm bảo tính tin cậy của nghiên cứu.

3.2. Phạm vi thời gian

  • Số liệu chi Ngân sách Nhà nước từ năm 2020 đến năm 2024 tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn.

Lý do lựa chọn:

  • Đây là giai đoạn đủ dài (5 năm) để đánh giá xu hướng biến động và hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên.
  • Giai đoạn này có nhiều thay đổi lớn trong quản lý chi Ngân sách Nhà nước:
  • Ảnh hưởng dịch COVID- 19.
  • Thực hiện cải cách tiền lương và chính sách tài chính công.
  • Đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến và chuyển đổi số trong hệ thống Kho bạc Nhà nước.
  • Số liệu quyết toán và bảng cân đối tài khoản đã được tổng hợp đầy đủ tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, đảm bảo tính chính xác và khả năng kiểm chứng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể như phương pháp phân tích, thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp, đối chiếu dựa trên các số liệu thu thập được từ những văn bản quyết toán chi Ngân sách Nhà nước; bảng cân đối tài khoản năm.

5. Kết cấu đề án Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

  • Bên cạnh mở đầu, mục lục, kết luận và bảng tổng hợp thì đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước. Giới thiệu cơ sở lý luận về kiểm soát chi ngân sách nhà nước.

Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn giai đoạn 2020 – 2024. Tổng quan tình hình công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn. Định hướng công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn trong thời gian tới. Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.1.1. Định nghĩa Ngân sách Nhà nước về phương diện kinh tế và pháp lý

1.1.1.1. Định nghĩa Ngân sách Nhà nước về phương diện kinh tế

  • NSNN trước hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là Tài chính học.
  • Xét từ góc độ này, có thể hiểu Ngân sách Nhà nước là bản ước tính toàn diện về những khoản thu tiền tệ và chi tiền tệ của một đất nước, do bên có thẩm quyền quyết định và được sử dụng để triển khai trong một khoảng thời gian cụ thể, thông thường là một năm.

1.1.1.2. Định nghĩa Ngân sách Nhà nước về phương diện pháp lý

Không những là thuật ngữ kinh tế, Ngân sách Nhà nước còn là một khái niệm pháp lý. Khái niệm đó hàm chứa nhiều nội dung chính trị, pháp lý quan trọng như mối tương quan quyền lực giữa bộ phận lập pháp và bên hành pháp trong việc thiết lập và thi hành NS. Thủ tục soạn thảo, quyết định và chấp hành ngân sách cũng như sự phân chia bởi quyền lập pháp và hành pháp ở việc kiểm soát quá trình ngân sách.

Trong pháp luật thực định Việt Nam, khái niệm Ngân sách Nhà nước được đề cập tại Điều 4 Khoản 14 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015. Theo đó “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Nhìn chung, khái niệm này khá tương tự với khái niệm về Ngân sách Nhà nước dưới góc nhìn kinh tế. Điều đó là hợp lý vì trách nhiệm của cơ quan lập pháp trong lĩnh vực Ngân sách Nhà nước chính là chuyển hoá các nội dung kinh tế của ngân sách thành quy định pháp luật, nhằm bảo đảm việc thực hiện ngân sách thuận lợi trong thực tiễn mà vẫn phản ánh đúng bản chất kinh tế của nó.

Định nghĩa về Ngân sách Nhà nước trong khoa học pháp lý và kinh tế học có sự khác biệt rõ rệt. Các nhà kinh tế coi Ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính đất nước, bao gồm thu chi trong một năm tài chính. Trong khi đó, các chuyên gia pháp lý xem Ngân sách Nhà nước là một đạo luật riêng biệt được ban hành bởi Quốc Hội, trao quyền cho Chính phủ triển khai tại một thời gian cụ thể, với hai đặc điểm nổi bật:

  • Thứ nhất, Ngân sách Nhà nước là đạo luật do bộ phận lập pháp đưa ra theo một trình tự đặc thù, khác biệt so với quy trình lập pháp thông thường.
  • Thứ hai, đạo luật ngân sách có hiệu lực trong một năm, trong khi các đạo luật khác thường có hiệu lực vô thời hạn.

1.1.2. Khái niệm chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng một phần vốn Ngân sách Nhà nước để đáp ứng cho các nhu cầu chi găn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác Nhà nước phải cung ứng.

Theo Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015: “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh”.

Về thực chất, chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối lại nguồn vốn từ quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm duy trì hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đảm nhiệm.

Chi thường xuyên là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý, điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước.

1.1.3. Đặc điểm chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước

Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng, vai trò đó thể hiện trên các mặt cụ thể như sau:

Chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước.

Chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách xã hội,… góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội.

Thông qua chỉ thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước. Nói cách khác, chi thường xuyên được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và diều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh. Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo ổn định, an toàn xã hội và an ninh, quốc phòng.

Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng. Chi thường xuyên hiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn Ngân sách Nhà nước để chi cho đầu tư phát triển, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của Nhà nước. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.1.4. Phân loại đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước

1.1.4.1. Cơ quan hành chính nhà nước

Những cơ quan Nhà nước bao gồm:

  • Bộ, những cơ quan ngang Bộ, bộ phận thuộc Chính phủ;
  • Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước;
  • Toà án nhân dân các cấp; Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;
  • Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng UBND; những cơ quan chuyên môn thuộc UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
  • Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng UBND; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các quận, huyện, TP, thị xã thuộc tỉnh, TP trực thuộc Trung ương.
  • Những cơ quan hành chính nhà nước kiểm soát chi theo NĐ số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và NĐ số 117/2013/CĐ-CP ngày 07/10/2013 chỉnh sửa bổ sung NĐ số 130/2005.

Những cơ quan hành chính Nhà nước: Là bộ phận tạo nên bộ máy Nhà nước trực thuộc gián tiếp hay trực tiếp cơ quan quyền lực Nhà nước cung cấp. Có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền được pháp luậy quy định. Cơ quan hành chính của Nhà nước có các đặc trưng sau đây:

  • Đầu tiên, Cơ quan hành chính của Nhà nước đại diện cho Nhà nước trong những quan hệ pháp lý, thực hiện quyền và nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công, sử dụng quyền lực và biện pháp cưỡng chế Nhà nước, đồng thời ban hành các văn bản pháp luật có hiệu lực bắt buộc để phục vụ lợi ích chung của xã hội.
  • Thứ hai, bộ phận quản lý hành chính Nhà nước có cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định cụ thể theo pháp luật.
  • Thứ ba, Cơ quan hành chính triển khai quyền lực nhà nước trên nguyên tắc thống nhất, phối hợp giữa quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp.

1.1.4.2. Các đơn vị sự nghiệp công lập

Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thi hành quyền tự chủ, tự chịu nghĩa vụ về Tài chính như sau:

  • Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo tất cả chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt động); Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.
  • Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, chỗ còn lại được ngân sách Nhà nước cấp (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động);
  • Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp không cao hoặc không có nguồn thu, kinh phí duy trì thường xuyên theo nhiệm vụ chức năng do Ngân sách Nhà nước đảm bảo tất cả kinh phí thực hiện (gọi tắt là ĐVSN do Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động).

Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm, sau 3 năm sẽ xem xét phân loại cho phù hợp.

Những đơn vị sự nghiệp công lập: Đã nêu rõ tại Khoản 1 Điều 9 Luật viên chức 2010. Theo đó, “Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công cho xã hội, phục vụ quản lý Nhà nước” (Luật viên chức, 2010).

  • Đơn vị sự nghiệp công lập có những đặc trưng dưới đây:

Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức phục vụ xã hội không vì lợi nhuận, có nhiệm vụ đáp ứng dịch vụ công cộng và duy trì công việc bình thường của những ngành trong xã hội. Vì vậy, các công việc của đơn vị Sự nghiệp công lập nhằm triển khai chức năng của nhà nước và lĩnh vực tài chính, không vì mục đích lợi nhuận.

Thứ hai, đơn vị sự nghiệp công lập được tạo lập và triển khai theo pháp luật, thực hiện các nhiệm vụ do pháp luật quy định và điều hành những chủ trương, hoạch định của nhà nước. Những đơn vị này trực thuộc bộ phận nhà nước, chịu sự chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra và báo cáo trước các bộ phận quyền lực của Nhà nước.

1.1.5. Các hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước

Trực thuộc Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước có vai trò tham mưu và hỗ trợ Bộ trưởng trong quản lý quỹ NS, những quỹ tài chính NN, ngân quỹ nhà nước cũng như thực hiện tổng kế toán NN. Song song, theo QĐ pháp luật, Kho bạc Nhà nước còn đảm nhiệm nhiệm vụ huy động vốn cho NS và cho đầu tư gia tăng bằng việc phát hành trái phiếu CP. Kho bạc Nhà nước có tư cách pháp nhân, được mở TK tại Ngân hàng thương mại và các Ngân hàng thương mại theo QĐ của pháp luật và có con dấu riêng.

Như vậy, Kho bạc Nhà nước có chức năng thiết yếu đối với sự tăng trưởng KT – XH của Việt Nam, đặc biệt là đối với nền tài chính công. Với nhiệm vụ quan trọng là quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước, quỹ tài chính NN (gồm có hoạt động thu và kiểm soát những khoản chi), hoạt động của Kho bạc Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến hầu hết các bộ, ngành và địa phương.

Theo QĐ số 26/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng CP ngày 08/7/2015, quyền hạn và nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước như sau:

  • “Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để: Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị, chiến lược, quy hoạch, chương trình hành động, đề án, dự án quan trọng thuộc lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước.
  • Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định: Dự thảo thông tư và các văn bản khác về lĩnh vực quản lý của Kho bạc Nhà nước; Kế hoạch hoạt động hàng năm của Kho bạc Nhà nước.
  • Ban hành, tổ chức thực hiện văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.
  • Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý của Kho bạc Nhà nước.
  • Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước được giao theo quy định của pháp luật. Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại Kho bạc Nhà nước để nộp ngân sách nhà nước
  • Tổ chức thực hiện kế toán ngân sách nhà nước, tổng kế toán nhà nước, công tác thống kê kho bạc nhà nước và chế độ báo cáo theo quy định của pháp luật.
  • Tổ chức huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ.
  • Thanh tra chuyên ngành, kiểm tra, kiểm toán nội bộ, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước của Kho bạc Nhà nước. Quản lý kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và tài sản được giao theo quy định của pháp luật
  • Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, theo Quyết định ngày 08/7/2015 số 26/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính”, Kho bạc Nhà nước có các nghiệp vụ chủ yếu như:

  • Nghiệp vụ tổ chức thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
  • Nghiệp vụ KSC thường xuyên và kiểm soát thanh toán vốn đầu tư qua Kho bạc Nhà nước.
  • Nghiệp vụ quản lý và điều hành ngân quỹ Kho bạc Nhà nước.
  • Nghiệp vụ kế toán – thanh toán.
  • Nghiệp vụ huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước và cho đầu tư phát triển.
  • Nghiệp vụ quản lý tiền mặt, giấy tờ có giá và tài sản quý.

1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.2.1. Khái niệm về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một mốc thời gian cụ thể nhằm đảm bảo triển khai các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước (Luật Ngân sách Nhà nước, 2015). Trong đó, chi Ngân sách Nhà nước là việc phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính của NN nhằm thoả mãn nhu cầu chi tiêu cho việc quản lý nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ công khác.

Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước được hiểu là quá trình các cơ quan quản lý tài chính, nhất là hệ thống Kho bạc Nhà nước, thực hiện việc giám sát, kiểm tra, so sánh, thẩm định các khoản chi trước, trong và sau khi chi nhằm bảo đảm việc sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, đồng thời gia tăng hiệu năng sử dụng ngân sách (Nguyễn Ngọc Hùng, 2020).

Theo quan điểm của Bộ Tài chính (2019), kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước là việc làm mang tính chất phòng ngừa và phát hiện sai phạm ở quá trình chấp hành chi ngân sách, thông qua đó giúp hạn chế thất thoát, lãng phí, nâng cao kỷ luật tài chính – ngân sách. Như vậy, kiểm soát chi không chỉ dừng lại ở việc “kiểm tra chứng từ” mà còn là công cụ quản lý tài chính công, đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng công khai trong sử dụng Ngân sách Nhà nước.

Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước đi cùng với việc thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm chi tiêu công triển khai đúng kế hoạch được phê duyệt, phù hợp với chính sách tài khóa và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia (Trần Thị Hạnh, 2021).

Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước là quá trình Nhà nước, thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước và các cơ quan chức năng, thực hiện giám sát, thẩm định, đối chiếu và xác nhận các khoản chi Ngân sách Nhà nước nhằm bảo đảm tính hợp pháp, hợp lệ, hợp lý và hiệu quả của việc sử dụng vốn ngân sách.

1.2.2. Đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Một là, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét, nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bố tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý, giữa các năm trong kỳ kế hoạch.

Tính ổn định, có chu kỳ của chi thường xuyên bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thế mà mỗi bộ phận cụ thể thuộc guồng máy của Nhà nước phải thực hiện. Do chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước như các khoản mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện vật tư, hệ số lương, thưởng của Cán bộ công chức thường không có xu hướng biến động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn. Theo đó, các khoản chi thường xuyên cũng không có xu hướng biến động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn.

Hai là, xét theo cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đa số các khoản chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội, không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia. Nếu chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra các cơ sở vật chất – kỷ thuật cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai, thì chi thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng nhu cầu thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách. Hầu hết các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, và các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức.

Các hoạt động này hầu như không trực tiếp tạo ra của cải vật chất. Tuy nhiên, những khoản chi thường xuyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh tế vì nó tạo ra một môi trường kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng lao động thông qua các khoản chi cho giáo dục – đào tạo.

Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển. Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị – xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, phạm vi mức độ chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước gắn liền với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng hay chính sách kinh tế, chính trị, xã hội qua từng thời kỳ.

Bởi lẽ, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì bảo đảm hoạt động bình thường, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước. Hơn nữa, những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước.

Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước luôn phải hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước đó. Nếu một khi bộ máy quản lý Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho bộ máy Nhà nước sẽ giảm bớt và ngược lại. Bên cạnh đó việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.2.3. Cách thức thực hiện kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước

Cách thức thực hiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước (NSNN) được hiểu là toàn bộ quy trình, phương pháp và biện pháp mà những đơn vị có thẩm quyền, nhất làlà hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN), áp dụng nhằm đảm bảo các khoản chi Ngân sách Nhà nước tuân theo quy định pháp luật, đạt hiệu quả cao và minh bạch. Theo Bộ Tài chính (2019), quy trình kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước hiện nay chủ yếu được thực hiện theo hai hình thức: kiểm soát chi trước thanh toán và kiểm soát chi sau thanh toán.

Thứ nhất, KSC trước khi thanh toán (kiểm soát “tiền kiểm”): Đây là hoạt động do Kho bạc Nhà nước thực hiện dựa trên hồ sơ và chứng từ chi của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước. Cán bộ kiểm soát chi có trách nhiệm đối chiếu các khoản chi với kế hoạch ngân sách được phê duyệt bởi đơn vị có thẩm quyền, cùng các chế độ, tiêu chí và định mức chi tiêu hiện hành. Hình thức này giúp kịp thời ngăn chặn các khoản chi sai quy định, hạn chế thất thoát và lãng phí ngay từ đầu (Nguyễn Ngọc Hùng, 2020).

Thứ hai, kiểm soát chi sau khi thanh toán (kiểm soát “hậu kiểm”): Đây là phương thức kiểm tra, đánh giá việc chi Ngân sách Nhà nước sau khi khoản chi đã được thực hiện. Hoạt động này thường được thực hiện thông qua công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán của các cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và Kiểm toán Nhà nước. Hậu kiểm giúp phát hiện sai phạm, chấn chỉnh kỷ luật tài chính và cũng làm cơ sở để hoàn thiện các quy định, cơ chế kiểm soát chi (Trần Thị Hạnh, 2021).

Ngoài hai hình thức cơ bản nêu trên, hiện nay quá trình kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước tại Việt Nam còn được thi hành theo cơ chế quản lý rủi ro. Theo Kho bạc Nhà nước (2020), việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát chi, đặc biệt là thông qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến và Tabmis, đã cho phép phân loại và nhận diện các khoản chi có nguy cơ sai phạm cao, từ đó tăng cường kiểm soát và giảm bớt thủ tục đối với những khoản chi có mức độ rủi ro thấp. Điều này góp phần gia tăng hiệu quả, tính minh bạch và hiện đại hóa công tác quản lý ngân sách.

1.2.4. Sự cần thiết phải tiến hành kiểm soát chi Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước là nhiệm vụ chung của tất cả ngành, cấp và địa phương, được thực hiện xuyên suốt quy trình chi Ngân sách Nhà nước:

  • Vai trò của những cơ quan liên quan:

Cơ quan nhà nước ở TW và địa phương lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước, gửi cơ quan tài chính đồng cấp để hướng dẫn, theo dõi, và kiểm tra việc sử dụng ngân sách trong ngành, lĩnh vực và những bộ phận trực thuộc.

Cơ quan TC tổng hợp, thẩm tra dự toán chi Ngân sách Nhà nước của những bộ, ngành và địa phương, đồng thời kiểm tra việc phân bổ và thực hiện chi.

Bộ, ngành, địa phương giám sát, phân bổ, và triển khai đúng dự toán chi Ngân sách Nhà nước đã được phê duyệt.

KBNN đảm nhận nhiệm vụ quan trọng: quản lý tài khoản dự toán, cấp phát và TT những khoản chi Ngân sách Nhà nước.

  • Quy trình kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước:

Kiểm soát trước khi chi: Xác minh hồ sơ thanh toán bảo đảm đúng dự toán, tiêu chuẩn chế độ và định mức chi tiêu. Quy trình cụ thể tùy thuộc vào loại khoản chi, như chi cá nhân, nghiệp vụ, mua sắm hay sửa chữa.

Kiểm soát trong khi chi: bảo đảm tính hợp pháp của HS thanh toán và những tiêu chí thực hiện chi, đồng thời xác định phương thức tạm ứng hoặc thực chi.

Kiểm soát sau khi chi: Kiểm tra việc chấp hành pháp luật Ngân sách Nhà nước và quản lý tài chính tại đơn vị thụ hưởng, chấn chỉnh sai phạm, và ngăn chặn lãng phí, tham nhũng.

  • Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước trong hạch toán và báo cáo:

KBNN thực hiện hạch toán chi Ngân sách Nhà nước thông qua các hệ thống ứng dụng để theo dõi số dư dự toán và tài khoản tiền gửi của các đơn vị sử dụng ngân sách.

  • Dự toán chưa sử dụng hết có thể được chuyển sang năm sau.

KBNN các cấp lập báo cáo định kỳ về chi Ngân sách Nhà nước, gửi lên cơ quan tài chính đồng cấp và Kho bạc Nhà nước cấp trên. Số liệu được tổng hợp gửi Bộ Tài chính và được Kiểm toán Nhà nước rà soát trước khi trình Quốc hội phê duyệt quyết toán. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.2.5. Các nguyên tắc kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước

1.2.5.1. Nguyên tắc quản lý chi theo dự toán

Lập dự toán là bước khởi đầu trong chu trình Ngân sách Nhà nước. Các khoản chi thường xuyên được ghi trong dự toán và phê duyệt bởi cơ quan quyền lực nhà nước mang tính pháp lệnh. Từ góc độ quản lý, những khoản chi này cho thấy cam kết của bộ phận quản lý tài chính với những bộ phận thụ hưởng ngân sách, đồng thời hình thành quy tắc quản lý chi thường xuyên theo dự toán. Do đó việc này cần phải bắt đầu từ những lý luận và thực trạng sau:

Đầu tiên, cơ cấu thu chi của Ngân sách Nhà nước lệ thuộc vào quyết định của bộ phận quyền lực Nhà nước. Quốc hội quyết định dự toán, phân bổ ngân sách và duyệt quyết toán Ngân sách Nhà nước, đồng thời chịu sự giám sát của những bọ phận này theo Điều 3 Luật Ngân sách Nhà nước “ Mọi khoản chi chỉ được thực hiện khi nằm trong dự toán đã được bộ phậm có thẩm quyền thông qua”.

Thứ hai, Ngân sách Nhà nước có phạm vi chi rất phong phú, liên quan đến nhiều loại bộ phận và các mảng khác nhau. Mức chi cho các việc phụ thuộc vào đối tượng, định mức và đặc thù của từng cơ quan, như trang bị CSVC, quy mô và tính chất công việc.

Thứ ba, việc quản lý theo dự toán giúp bảo đảm ngân sách cân đối, tạo điều kiện cho điều hành và giảm thiểu sự tuỳ tiện ở việc dùng ngân sách.

Trong lúc tổ chức triển khai dự toán chi thường xuyên mỗi nơi, mỗi cấp, mỗi bộ phận phải dựa vào dự toán kinh phí đã phê duyệt mà phân bổ và sử dụng cho những khoản, mục chi và phải hạch toán theo đúng danh sách Ngân sách Nhà nước đã quy định.

Định kỳ, khi quyết toán kinh phí, các ngành, cấp, và bộ phận phải dựa vào dự toán đã được phê duyệt để đối chiếu, so sánh kết quả triển khai. Dự toán chi được lập theo chỉ tiêu, khoản, mục nào thì quyết toán chi phí cũng phải tuân thủ theo cấu trúc đó.

1.2.5.2. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là quy tắc trọng yếu trong quản lý kế toán, tài chính vì tiềm lực có hạn trong khi nhu cầu vô hạn. Vì thế, việc phân bổ và dùng tài nguyên phải tối ưu hóa chi phí để đạt kết quả cao nhất. Hơn nữa, với đặc thù hoạt động của Ngân sách Nhà nước rộng lớn và rối ren, nhu cầu chi tiêu gia ngày càng cao trong khi khả năng thu ít, càng cần chú trọng quy tắc tiết kiệm, mang lại thành công trong quản lý chi Ngân sách Nhà nước. Việc này chỉ có thể thực hiện được khi công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước được triển khai tốt và đồng bộ.

  • Thứ nhất, cần tạo dựng chính sách, chế độ, định mức chi tiêu hợp lý với mỗi đối tượng và việc làm, đảm bảo tính thực tiễn, từ đó làm nền tảng pháp lý cho việc quản lý chi. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.
  • Thứ hai, tạo lập những cách thức cấp phát phong phú, chọn lựa phương thức phù hợp với tiêu chí quản lý từng nhóm mục chi.
  • Thứ ba, ưu tiên những hoạt động và nhóm mục chi, đảm bảo hiệu quả với nguồn chi có hạn, đồng thời hoàn thành công việc với chất lượng Điều này yêu cầu lựa chọn phương án phân bổ và dùng kinh phí tối ưu.

Tiết kiệm và hiệu quả là hai yếu tố không thể tách rời trong nguyên tắc quản lý chi tiêu Ngân sách Nhà nước. Việc tiết kiệm phải gắn liền với tính hiệu quả, và ngược lại. Khi đánh giá hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước, cần xem xét toàn diện tác động của những khoản chi tới các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, cũng như thời gian gia tăng tác dụng. Do đó, hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước được hiểu là những lợi ích kinh tế – xã hội mà toàn xã hội được hưởng.

1.2.5.3. Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước

Quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước là một nguyên tắc trọng yếu của Kho bạc Nhà nước. Do đó, Kho bạc Nhà nước có cả quyền và nghĩa vụ phải kiểm soát kĩ càng các khoản chi Ngân sách Nhà nước, nhất là những khoản chi thường xuyên. Nhằm gia tăng trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước với kiểm soát chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước, ở nước ta bây giờ đã và đang triển khai việc “Chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước” và coi đó là một quy tắc ở quản lý khoản chi này.

Chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước là hình thức thanh toán chi trả có sự góp mặt của ba bên: bộ phận dùng Ngân sách Nhà nước, Kho bạc NN, người được hưởng bằng cách thanh toán không dùng tiền mặt. Cách thức tiến hành cụ thể là: đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng nơi người được hưởng mở tài khoản giao dịch.

  • Nhằm triển khai được nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước cần phải làm tốt một vài nội dung cơ bản sau:

Đầu tiên, mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước luôn được theo dõi, kiểm soát theo cách cẩn thận ở quá trình cấp phát và thanh toán.

Thứ hai, tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán Ngân sách Nhà nước.

Thứ ba, Kho bạc Nhà nước có nghĩa vụ kiểm soát những hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán nhanh chóng theo đúng quy định khoản chi Ngân sách Nhà nước

Thứ tư, chọn lựa hình thức cấp phát, thanh toán đối với mỗi khoản chi thường xuyên cho thích hợp với bối cảnh kinh tế xã hội thực tế. Cụ thể: cách cấp phát, thanh toán đối với các khoản chi trả tiền lương và có tính chất như tiền lương sẽ khác với cách cấp phát, thanh toán đối với các khoản mua sắm đồ dùng trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa và xây dựng nhỏ.

1.2.6. Quy trình và nội dung kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.2.6.1. Quy trình kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước

KBNN tổ chức thực hiện theo CV 743/KBNN-THPC Về việc hướng dẫn thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trong hệ thống Kho bạc Nhà nước thực hiện cơ chế “một cửa một giao dịch viên” trong kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước (người giải quyết hồ sơ kiểm soát chi đồng thời là người tiếp nhận hồ sơ), bảo đảm các nguyên tắc: Khách hàng chỉ gặp một cán bộ Kho bạc Nhà nước trong việc giải quyết hồ kiểm soát chi; giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá nhân, tố chức; việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ. Sau khi nhận hồ sơ từ khách hành, các giao dịch viên kiểm tra tính đầy đủ hợp pháp của hồ sơ nếu đủ điều kiện thực hiện giải quyết hồ sơ, nếu hồ sơ còn thiếu thì yêu cầu khách hàng bổ sung và trả kết quả cho khách hàng.

  • Nộp hồ sơ và nhận kết quả trực tiếp tại địa chỉ Kho bạc Nhà nước.
  • Nộp hồ sơ và nhận kết quả qua Cổng/Trang TT dịch vụ công của Kho bạc Nhà nước, áp dụng đối với các đơn vị đã đăng ký tham gia giao dịch điện tử (bộ phận truy cập hệ thống và làm theo chỉ dẫn tại Trang thông tin dịch vụ công của Kho bạc Nhà nước)..

1.2.6.2. Nội dung kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước

Hình thức chi trả các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước.

  • Theo hình thức rút dự toán từ Kho bạc Nhà nước

Đối tượng chi trả, thanh toán theo dự toán Ngân sách Nhà nước từ Kho bạc Nhà nước gồm: Các khoản chi thường xuyên trong dự toán được giao của các cơ quan, đơn vị sau: các cơ quan hành chính Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí thường xuyên, các tổng công ty nhà nước được hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ thường xuyên theo quy định của pháp luật.

Quy trình chi trả, thanh toán theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước: Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ chi, thủ trường ĐVSDNS lập giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước kèm theo hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm căn cứ kiểm soát, thanh toán.

KBNN kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ thanh toán của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước theo quy định, nếu đủ điều kiện theo quy định, thì thực hiện thanh toán trực tiếp cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán qua đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước.

Khi thực hiện chi trả, thanh toán theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước, Kho bạc Nhà nước thực hiện chi cho đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước theo đúng các mục chi thực tế trong phạm vi dự toán Ngân sách Nhà nước giao.

  • Theo hình thức Lệnh chi tiền Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Đối tượng thực hiện chi trả, thanh toán bằng hình thức lệnh chi tiền bao gồm: Chi cho các đơn vị, các tổ chức kinh tế, xã hội không có quan hệ thường xuyên với ngân sách nhà nước; chi trà nợ nước ngoài; chi cho vay của ngân sách nhà nước; chi kinh phí ủy quyền (đối với các khoản ủy quyền có lượng vốn nhỏ, nội dung chi rõ) theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan tài chính; một số khoản chi khác theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan tài chính.

Trách nhiệm của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước trong việc kiểm soát, thanh toán theo hình thức lệnh chi tiền: Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoản chi, bảo đảm các điều kiện cấp phát Ngân sách Nhà nước theo chế độ quy định; Kho bạc Nhà nước thực hiện xuất quỹ Ngân sách Nhà nước và thanh toán cho đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước theo nội dung ghi trong lệnh chi tiền của cơ quan tài chính. Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ, tổ chức hạch toán theo đúng mục lục Ngân sách Nhà nước.

  • Phương thức chi trả chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước

Việc chi trả kinh phí Ngân sách Nhà nước cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương và người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Đối với các khoản chi chưa có điều kiện thực hiện việc chi trả trực tiếp, Kho bạc Nhà nước tạm ứng hoặc thanh toán cho đối tượng thụ hưởng qua đơn vị sử dụng ngân sách. Các phương thức chi trả cụ thể như sau:

  • Phương thức cấp tạm ứng

Đối tượng cấp tạm ứng: là các khoản chi hành chính như văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ, tiền điện, nước, tiền nhiên liệu,… và các khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa xây dựng nhỏ, sửa chữa lớn tài sản cố định chưa đủ điều kiện cấp phát, thanh toán trực tiếp hoặc tạm ứng theo hợp đồng.

  • Trình tự, thủ tục cấp tạm ứng:

Đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước các hồ sơ, tài liệu liên quan đến từng khoản chi kèm theo giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước (tạm ứng), trong đó ghi rõ nội dung tạm ứng để Kho bạc Nhà nước có căn cứ để giải quyết và theo dõi khi thanh toán tạm ứng.

Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát nội dung các hồ sơ, tài liệu, nếu đủ điều kiện theo quy định thì cấp tạm ứng cho đơn vị.

  • Thanh toán tạm ứng:

Khi thanh toán tạm ứng, đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước có trách nhiệm gửi đến Kho bạc Nhà nước giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, kèm theo các hồ sơ, chứng từ liên quan để Kho bạc Nhà nước kiểm soát thanh toán.

Nếu số đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán (số đã tạm ứng) và yêu cầu đơn vị lập giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước để cấp thanh toán bổ sung cho đơn vị (số đã đề nghị thanh toán lớn hơn số đã tạm ứng). Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Nếu số đề nghị thanh toán nhỏ hơn số đã cấp tạm ứng: căn cứ giấy đề nghị thanh toán tạm ứng của đơn vị. Kho bạc Nhà nước làm thủ tục chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp phát thanh toán (bằng số đề nghị thanh toán tạm ứng) và tiếp tục theo dõi số tạm ứng còn lại.

  • Phương thức cấp thanh toán

Các khoản thanh toán gồm: Các khoản chi thanh toán cá nhân; các khoản chi đủ điều kiện thanh toán trực tiếp; các khoản tạm ứng đủ điều kiện chuyển từ tạm ứng sang thanh toán tạm ứng.

Mức thanh toán: Mức thanh toán căn cứ vào hồ sơ, chứng từ chi Ngân sách Nhà nước theo để nghị của đơn vị. Mức thanh toán tối đa không được vượt quá dự toán chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước năm được cơ quan Nhà nước có thầm quyền giao (bao gồm chi cả tạm ứng chưa được thu hồi).

  • Trình tự, thủ tục thanh toán:

Khi có nhu cầu chi trả, thanh toán, các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước gửi Kho bạc Nhà nước các hồ sơ, tài liệu, chứng từ thanh toán có liên quan theo chế độ quy định.

KBNN kiểm tra, kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, chứng từ; đối chiếu với dự toán Ngân sách Nhà nước được giao. Trường hợp đủ điều kiện như quy định thì thực hiện thanh toán trực tiếp cho các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán, chi trả qua đơn vị sử dụng NS.

  • Phương thức tạm cấp

Trường hợp vào đầu năm NS, dự toán NS và phương án phân bổ dự toán Ngân sách Nhà nước chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, hoặc phải điều chỉnh dự toán Ngân sách Nhà nước theo quy định, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện tạm cấp kinh phí Ngân sách Nhà nước cho các nhiệm vụ chi sau: Chi lương và các khoản có tính chất tiền lương; Chi nghiệp vụ và công vụ phí; Một số khoản chi cần thiết khác để đàm bảo hoạt động của bộ máy, trừ các khoản chi mua sắm thiết bị, sửa chữa;

  • Chi cho dự án chuyển tiếp thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia; Chi bổ sung cân đối NS cấp dưới.

Mức tạm cấp hàng tháng tối đa không vượt quá mức chi bình quân 01. tháng của năm trước. Sau khi dự toán và phương án phân bổ dự toán Ngân sách Nhà nước được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, Kho bạc Nhà nước thực hiện thu hồi số kinh phí tạm cấp bằng cách trừ vào các mục chi tương ứng trong dự toán Ngân sách Nhà nước được phân bổ của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

  • Phương thức chi ứng trước dự toán cho năm sau

Đối tượng chi ứng trước dự toán Ngân sách Nhà nước được thực hiện theo quy định của Nhà nước.

Căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện chi ứng trước cho đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước theo quy định nhưng tổng số chi ứng trước dự toán chi NS năm sau cho các cơ quan đơn vị không vượt quá 20% dự toán chi Ngân sách Nhà nước từng lĩnh vực tương ứng năm hiện hành đã được giao hoặc số kiểm tra dự toán chi Ngân sách Nhà nước đã thông báo cho cơ quan, đơn vị đó.

KBNN thực hiện việc thu hồi vốn ứng trước theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính đối với NSTW; Chủ tịch UBND đối với NS các cấp chính quyền địa phương.

Kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán:

  • Các khoản chi phải có trong dự toán được giao

Khi nhận được dự toán chi NS được cấp có thẩm quyền giao đơn vị dự toán cấp 1 lập phương án phân bổ chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng NS trực thuộc, chi tiết Loại, Khoản. Trong đó giao cụ thể nguồn tiết kiệm 10% tăng thêm (nếu có) theo quy định để thực hiện cải cách tiền lương.

Riêng đối với cơ quan Nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính, việc phân bổ và giao dự toán chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi Ngân sách Nhà nước giao thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm; phần dự toán chi Ngân sách Nhà nước giao không thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính việc phân bố và giao dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nước căn cứ vào nhiệm vụ được giao, phân loại đơn vị sự nghiệp, dự toán kinh phí Ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên năm đầu thời kỳ ổn định được cấp có thẩm quyền phê duyệt (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp do Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động); dự toán chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi Ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên, phần dự toán chi hoạt động không thường xuyên.

  • Các khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi

KBNN thực hiện kiểm soát, thanh toán các khoản chi thuộc nội dung chi được giao tự chủ, khoản chi bảo đảm hoạt động thường xuyên theo chế độ tiêu chuẩn, định mức quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị tự xây dựng.

Nội dung chi, mức chi, chế độ chi, tiêu chuẩn định mức trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị không được vượt quá chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.

Trường hợp đơn vị thực hiện chế độ tự chủ quyết định chi vượt quá mức chỉ quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ, nhưng không vượt quá mức chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, thì Kho bạc Nhà nước chỉ chấp nhận thanh toán khi có văn bản đề nghị của thủ trưởng đơn vị. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Trường hợp đơn vị thực hiện chế độ tự chủ chưa gửi quy chế chi tiêu nội bộ và quy chế quản lý, sử dụng tài sản công đến Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch, thì Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi cho đơn vị theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.

  • Các khoản chi phải được thủ trường đơn vị hoặc người được uy quyền chuẩn chi

Chuẩn chi là đồng ý chi, cho phép chi hoặc quyết định chi trong quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước. Khi kiểm soát hồ sơ thanh toán, Kho bạc Nhà nước phải kiểm soát việc quyết định chi của chủ tải khoản đối với bất kỳ khoản chi nào hay gọi là kiểm tra lệnh chuẩn chi. Thẩm quyền chi phải là người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc người được uy quyền đã được đăng ký chữ ký bằng tay, mẫu dấu của cơ quan, đơn vị và quyết định bố nhiệm, văn bản ủy quyền với cơ quan Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch. Đối với các khoản chi theo hình thức chi theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước. lệnh chuẩn chi là “Giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước” của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước. Giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước phải ghi rõ ràng, đầy đủ các yếu tố theo mẫu quy định. Đối với các khoản chi được cơ quan tài chính cấp trực tiếp bằng lệnh chi tiền.

KBNN có trách nhiệm thanh toán, chi trả kinh phí Ngân sách Nhà nước cho đơn vị sử dụng mà không phải kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất của từng khoán chi.

  • Các khoản chi phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo quy định liên quan đến từng khoản chi.

Mỗi khoản chi đều phải lập theo mẫu chứng từ đã được quy định, Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ chứng từ thanh toán trước khi thanh toán, chi trả kinh phí Ngân sách Nhà nước cho đơn vị sử dụng.

1.2.7. Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan đơn vị có liên quan đến việc kiểm soát và sử dụng Ngân sách Nhà nước, trong đó hệ thống Kho bạc Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, trực tiếp kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm soát của mình. Luật Ngân sách Nhà nước quy định mọi khoản khi Ngân sách Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước đồng thời tất cà các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước chịu sự kiểm tra kiểm soát của Kho bạc Nhà nước và cơ quan Tài chính trong quá trình cấp phát thanh toán. Trong thực tế vai trò của Kho bạc Nhà nước rộng lớn hơn, có mặt xuyên suốt trong quá trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán Ngân sách Nhà nước. Thông qua hoạt động của mình, Kho bạc Nhà nước cung cấp các thông tin, dữ liệu phục vụ cho việc lập dự toán phân bổ ngân sách cho các cơ quan, đơn vị và địa phương; đồng thời là nơi lưu giữ các chứng từ tài liệu phục vụ kiểm tra kiểm soát và quyết toán Ngân sách Nhà nước. Như vậy, Kho bạc Nhà nước là “trạm gác và kiểm soát cuối cùng”, được Nhà nước giao nhiệm vụ kiểm soát chi trước khi đồng vốn của nhà nước ra khỏi quỹ Ngân sách Nhà nước.

Thực hiện nhiệm vụ nói trên, Kho bạc Nhà nước chủ động bố trí ngân quỹ ngân quỹ để chi trả đầy đủ kịp thời cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách theo yêu cầu trên cơ sở dự toán ngân sách đã được duyệt và tồn quỹ ngân sách các cấp. Để thực hiện việc cấp phát, thanh toán kinh phí một cách kịp thời, Kho bạc Nhà nước còn thường xuyên cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán như thực hiện hình thức thanh toán điện tử trong hệ thống, cải tiến chế độ kế toán, ứng dụng tin học vào kiểm soát chi.

Trên cơ sở đó, Kho bạc Nhà nước phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế độ, định mức chi tiêu của Nhà nước. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện thấy cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế sử dụng kinh phí được Ngân sách Nhà nước cấp không đúng mục đích, không đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, Kho bạc Nhà nước từ chối cấp phát thanh toán và chịu trách nhiệm về các khoản từ chối của mình.

Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước còn tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách và từng khoản chi chủ yếu, rút ra những nhận xét, đánh giá về những kết quả đã được, những hạn chế, tồn tại và nguyên ngân. Từ đó, cùng với các cơ quan hữu quan phối hợp nguyên cứu cải tiến và hoàn thiện cơ chế cấp phát, thanh toán và kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước nhằm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Ngân sách Nhà nước, sau đó đã có những điều chỉnh, sửa đổi rất căn bản đối với hoạt động Ngân sách Nhà nước nói chung và chi Ngân sách Nhà nước nói riêng.

Qua việc thực hiện vai trò kiểm soát cấp phát thanh toán chi Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước góp phần tăng cường vai trò quản lý Nhà nước của cơ quan Tài chính trong lĩnh vực Ngân sách Nhà nước, tăng cường kỹ luật tài chính, đổi mới và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia.

Trách nhiệm quyền hạn của Kho bạc Nhà nước:

  1. Tuân thủ đúng những “Quy định tại Khoản 3 Điều 15 của NĐ số 11/2020/NĐ-CP”, tình huống bất khả kháng do sự cố hệ thống Công nghệ thông tin hoặc lý do khách quan khác, theo khoản 3 luật này, “thời hạn giải quyết thủ tục hành chính được phép gia hạn” nhưng phải thông báo rõ mốc thời gian cuối cùng cho đơn vị.
  2. Phối hợp với cơ quan tài chính và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để kiểm tra việc sử dụng ngân sách; đồng thời xác nhận tại Kho bạc Nhà nước số thực chi, số tạm ứng và số dư kinh phí cuối năm của các đơn vị sử dụng ngân sách. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.
  3. KBNN kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, đúng đắn của hồ sơ, chứng từ; nếu không đáp ứng quy định tại “Điều 6 Thông tư này thì từ chối thanh toán, song gửi thông báo bằng văn bản cho đơn vị theo mẫu 02 kèm theo thông tư và chịu trách nhiệm về quyết định đó”. Đối với những hồ sơ, chứng từ không thuộc diện gửi Kho bạc Nhà nước để kiểm soát, Kho bạc Nhà nước không chịu trách nhiệm.
  4. Theo “Yêu cầu bằng văn bản của cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước phải tạm dừng thanh toán đối với các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 8 của Thông tư này”.
  5. Tăng cường đôn đốc bộ phận các bên sử dụng ngân sách triển khai đúng quy định về tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng.
  6. Tổ chức kiểm soát, thanh toán theo các bước nghiệp vụ, đảm bảo chi trả đúng lúc, đầy đủ, tiện lợi cho bên sử dụng ngân sách, đồng thời tối ưu thủ tục hành chính và theo dõi sát sao vốn Ngân sách Nhà nước.

Trách nhiệm quyền hạn của các đơn vị giao dịch với Kho bạc Nhà nước:

  1. Trong quá trình quản lý, sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp, phải chấp hành các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng cùng các quy định pháp luật khác và Điều 17 của NĐ 11/2020/NĐ-CP.
  2. Đơn vị chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của các chỉ tiêu trên Bảng thanh toán cho đối tượng thụ hưởng, gồm: tên đối tượng, số tài khoản ngân hàng, số tiền thực tế nhận sau khi đã khấu trừ các khoản theo quy định; song đảm bảo chi trả đúng lương, phụ cấp, các khoản khấu trừ, đảm bảo số liệu trùng khớp giữa chi tiết và tổng số, cũng như hợp lý với Giấy rút dự toán/UNC và những hồ sơ liên
  3. Đơn vị có trách nhiệm bảo đảm việc chi mua sắm tài sản công chấp hành đúng đề ra, định mức quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các văn bản do cấp trên đưa ra về tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng (gồm có máy móc, thiết bị và ô tô chuyên dùng).
  4. Đối với kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng Ngân sách Nhà nước, bộ phận sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm triển khai theo đúng quy định tại NĐ số 32/2019/NĐ-CP và quy định của những pháp luật hiện hành khác.
  5. Đối với hồ sơ kiểm soát chi gửi Kho bạc Nhà nước qua dịch vụ công trực tuyến, bộ phận phải chịu trách nhiệm đảm bảo tính pháp lý, đúng đắn, đầy đủ và trung thực của hồ sơ, chữ ký số cũng như chứng từ điện tử, phù hợp với quy định của Luật Giao dịch điện tử và các VBPL hiện hành.

1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc ngăn chặn sai phạm mà còn hướng đến mục tiêu bảo đảm tuân thủ pháp luật, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính công , nâng cao chất lượng phục vụ các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước. Do đó, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thường được xây dựng dựa trên ba nhóm cơ bản sau:

1.3.1. Chỉ tiêu về tuân thủ pháp luật – quy trình

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức độ chặt chẽ và tính kỷ luật tài chính trong hoạt động kiểm soát chi thường xuyên. Kho bạc Nhà nước không chỉ đóng vai trò là “người gác cổng” của Ngân sách Nhà nước mà còn là cơ quan bảo đảm rằng mọi khoản chi đều tuân thủ Luật Ngân sách Nhà nước, các quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu hiện hành.

Trong đó, “Tỷ lệ hồ sơ bị từ chối” được xem là chỉ tiêu đại diện, bởi nó phản ánh trực tiếp mức độ tuân thủ pháp luật và kỷ luật ngân sách của các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước cũng như hiệu quả kiểm soát của Kho bạc Nhà nước. Tỷ lệ này càng cao cho thấy còn tồn tại nhiều sai sót, vi phạm từ phía đơn vị, đồng thời cũng khẳng định vai trò kiểm soát chặt chẽ của Kho bạc Nhà nước trong việc phát hiện, ngăn ngừa rủi ro. Ngược lại, khi tỷ lệ này giảm, điều đó thể hiện công tác hướng dẫn, phối hợp giữa Kho bạc Nhà nước và đơn vị ngày càng hiệu quả, ý thức chấp hành pháp luật tài chính – ngân sách được nâng cao. Chỉ tiêu này được tính bằng số lượng hồ sơ bị từ chối thanh toán trên tổng số hồ sơ đã tiếp nhận và xử lý trong kỳ, thể hiện mức độ tuân thủ quy định pháp luật tài chính và vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc ngăn chặn các khoản chi không hợp lệ.

Chỉ tiêu “Tỷ lệ hồ sơ bị từ chối”, góp phần khẳng định vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc duy trì kỷ cương, kỷ luật tài chính, đảm bảo việc thực thi chính sách công được minh bạch và bền vững (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2019, Giáo trình Kho bạc Nhà nước và kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước, NXB Lao động).

Theo Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015: “Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi đã có trong dự toán ngân sách được giao, … và đáp ứng các điều kiện trong từng trường hợp sau đây:

Đối với chi thường xuyên phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp các cơ quan, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao tự chủ; …” (Quốc hội, 2015, Điều 12, khoản 2, điểm b).

Để nâng cao hiệu quả theo dõi và quản lý chỉ tiêu này, Kho bạc Nhà nước đã ban hành Công văn số 5598/KBNN-TTKT ngày 28/10/2021 về việc kiểm tra, rà soát số liệu tiếp nhận, xử lý hồ sơ kiểm soát chi qua dịch vụ công trực tuyến và chứng thư số. Công văn này quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị Kho bạc trong việc tổng hợp, giám sát và báo cáo tình hình tiếp nhận, xử lý hồ sơ kiểm soát chi trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến. Thông qua đó, tỷ lệ hồ sơ bị từ chối không chỉ được ghi nhận thủ công mà còn được chuẩn hóa, theo dõi một cách minh bạch, chính xác và kịp thời trên nền tảng công nghệ số.Việc áp dụng công cụ giám sát điện tử này giúp Kho bạc Nhà nước dễ dàng phát hiện những đơn vị có tỷ lệ hồ sơ bị từ chối cao, từ đó có biện pháp nhắc nhở, chấn chỉnh hoặc hỗ trợ, góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng ngân sách cũng như chất lượng kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước

1.3.2. Chỉ tiêu về hiệu quả tài chính Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Nhóm chỉ tiêu này tập trung phản ánh kết quả của công tác kiểm soát chi thường xuyên trong việc bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế thất thoát và lãng phí ngân sách nhà nước.

Trong đó, “Tỷ lệ hồ sơ quá hạn xử lý” được coi là chỉ tiêu đại diện cho nhóm này. Bởi lẽ, chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp hiệu quả trong việc quản lý, điều hành quy trình kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước. Nếu tỷ lệ hồ sơ quá hạn xử lý cao, điều đó cho thấy còn tồn tại sự chậm trễ trong khâu kiểm soát, làm giảm hiệu quả giải ngân và ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước. Ngược lại, tỷ lệ này thấp chứng tỏ Kho bạc Nhà nước đã phát huy tốt vai trò trong việc xử lý hồ sơ kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính – ngân sách.

Như vậy, chỉ tiêu “Tỷ lệ hồ sơ quá hạn xử lý”, không chỉ đo lường năng lực quản lý của Kho bạc Nhà nước mà còn thể hiện sự minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động kiểm soát chi (Học viện Tài chính, 2018, Giáo trình Quản lý tài chính công, NXB Tài chính).

Tại khoản 12 Điều 7 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước quy định thời hạn xử lý hồ sơ tại Kho bạc Nhà nước như sau:

“Đối với khoản tạm ứng: Trong vòng 01 ngày làm việc, kể từ khi Kho bạc Nhà nước nhận đủ hồ sơ hợp lệ, hợp pháp của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.

Đối với khoản thanh toán: Chậm nhất 02 ngày làm việc, kể từ ngày Kho bạc Nhà nước nhận đủ hồ sơ hợp lệ, hợp pháp của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.

Đối với các khoản chi từ tài khoản tiền gửi của đơn vị giao dịch mà Kho bạc Nhà nước không phải kiểm soát: Trong vòng 01 ngày làm việc, kể từ khi Kho bạc Nhà nước nhận được chứng từ chuyển tiền hợp lệ, hợp pháp của đơn vị giao dịch.

Đối với các khoản chi thực hiện theo hình thức thanh toán trước, kiểm soát sau: Trong vòng 01 ngày làm việc, kể từ khi Kho bạc Nhà nước nhận đủ hồ sơ hợp lệ, hợp pháp của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.”

Kho bạc Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nhằm siết chặt công tác giám sát tiến độ xử lý hồ sơ, trong đó có Công văn số 803/KBNN-TTKT ngày 28/02/2022 về phân cấp giám sát tình hình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính và Công văn số 1010/KBNN-TTKT ngày 24/02/2023 về đẩy mạnh giám sát tình hình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính trong kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước. Các văn bản này tạo cơ sở để theo dõi, thống kê và đánh giá chính xác tỷ lệ hồ sơ quá hạn, từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng ngân sách Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

Trong bối cảnh đó, chỉ tiêu “Tỷ lệ hồ sơ quá hạn xử lý” được xác định bằng số hồ sơ giải quyết chậm so với thời gian quy định trên tổng số hồ sơ đã tiếp nhận và xử lý. Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đảm bảo tính kỷ luật, kỷ cương ngân sách, mà còn phản ánh trực tiếp chất lượng phục vụ của Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị thụ hưởng Ngân sách Nhà nước

1.3.3. Chỉ tiêu về chất lượng phục vụ đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hóa ngành Tài chính, Kho bạc Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm soát chi mà còn đóng vai trò là cơ quan cung cấp dịch vụ công. Vì vậy, nhóm chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp mức độ hài lòng của các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước đối với chất lượng phục vụ của Kho bạc Nhà nước, cũng như mức độ đổi mới trong quản lý. Theo đó, “Tỷ lệ khảo sát sự hài lòng của khách hàng” là chỉ tiêu phản ánh một cách trực diện hiệu quả phục vụ của Kho bạc Nhà nước dưới góc nhìn của các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước – những “khách hàng công” trong hệ thống quản lý tài chính công. Tỷ lệ này càng cao cho thấy mức độ hài lòng càng lớn, đồng nghĩa với việc quy trình kiểm soát chi minh bạch, nhanh gọn và phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính. Ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp, đó là dấu hiệu cảnh báo về sự cần thiết phải cải thiện thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ Kho bạc Nhà nước.

“Tỷ lệ khảo sát sự hài lòng của khách hàng”, góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh một hệ thống Kho bạc Nhà nước hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính công trong giai đoạn hội nhập (Học viện Hành chính Quốc gia, 2020, Giáo trình Quản lý chi Ngân sách Nhà nước, NXB Chính trị quốc gia).

1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC

Hoạt động kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước là một quá trình nghiệp vụ có tính pháp lý cao, nhằm bảo đảm các khoản chi đúng dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ. Hiệu quả của hoạt động này chịu tác động bởi nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng là cơ sở để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát chi tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn. Các nhân tố chủ yếu được phân thành các nhóm sau:

1.4.1. Nhóm nhân tố về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật

1.4.1.1. Tính đầy đủ và đồng bộ của hệ thống pháp luật về ngân sách nhà nước

Hệ thống pháp luật về ngân sách nhà nước, bao gồm Luật Ngân sách Nhà nước, các nghị định, thông tư hướng dẫn về chế độ chi tiêu, tiêu chuẩn, định mức và quy trình kiểm soát chi là căn cứ pháp lý để Kho bạc Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi.

Nếu hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ, rõ ràng và đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống Kho bạc Nhà nước. Ngược lại, nếu văn bản còn chồng chéo, thiếu cụ thể hoặc thay đổi thường xuyên sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng, dẫn đến tình trạng xử lý hồ sơ không thống nhất hoặc kéo dài thời gian kiểm soát chi.

1.4.1.2 Cơ chế quản lý tài chính và chế độ tự chủ của đơn vị sử dụng ngân sách

Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sử dụng ngân sách ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và phương thức kiểm soát chi. Đối với đơn vị được giao quyền tự chủ cao, nội dung chi có tính linh hoạt hơn, do đó yêu cầu Kho bạc Nhà nước phải kiểm tra chặt chẽ về tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và mức độ phù hợp với dự toán. Ngược lại, đối với đơn vị không thực hiện tự chủ, việc kiểm soát chi chủ yếu dựa vào các định mức chi tiêu cụ thể.

Mức độ phân cấp quản lý tài chính giữa trung ương và địa phương cũng ảnh hưởng đến quy trình kiểm soát chi, do mỗi cấp ngân sách có đặc điểm quản lý và cơ cấu chi tiêu khác nhau.

1.4.2. Nhóm nhân tố thuộc Kho bạc Nhà nước Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.4.2.1. Năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ

Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng kiểm soát chi. Cán bộ Kho bạc cần nắm vững quy định pháp luật về Ngân sách Nhà nước, chế độ chi tiêu, mục lục ngân sách, quy trình nghiệp vụ và kỹ năng thẩm định hồ sơ.

Nếu cán bộ thiếu kinh nghiệm hoặc chưa cập nhật kịp thời các quy định mới sẽ dễ dẫn đến sai sót trong kiểm soát chi hoặc kéo dài thời gian xử lý hồ sơ. Ngược lại, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát chi, hạn chế rủi ro thất thoát ngân sách.

1.4.2.2. Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin

Việc triển khai các hệ thống như TABMIS, dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước, thanh toán điện tử và chữ ký số đã góp phần quan trọng trong việc hiện đại hóa quy trình kiểm soát chi, giảm thủ tục hành chính và tăng tính minh bạch.

Tuy nhiên, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật, trình độ sử dụng của cán bộ và mức độ phối hợp của đơn vị sử dụng ngân sách. Nếu hệ thống chưa đồng bộ hoặc người sử dụng chưa thành thạo sẽ làm giảm hiệu quả kiểm soát chi.

1.4.2.3. Quy trình nghiệp vụ và tổ chức bộ máy

Quy trình kiểm soát chi khoa học, rõ ràng và sự phân công nhiệm vụ hợp lý giữa các bộ phận (giao dịch viên, kế toán trưởng, lãnh đạo đơn vị) sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và nâng cao chất lượng kiểm soát. Ngược lại, nếu quy trình phức tạp, chồng chéo hoặc phối hợp nội bộ chưa chặt chẽ sẽ làm tăng nguy cơ sai sót và tồn đọng hồ sơ.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra nội bộ và giám sát nghiệp vụ cũng là yếu tố quan trọng nhằm phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót trong quá trình kiểm soát chi.

1.4.3 Nhóm nhân tố thuộc đơn vị sử dụng ngân sách

1.4.3.1. Chất lượng công tác lập và phân bổ dự toán

Dự toán chi thường xuyên là căn cứ để Kho bạc kiểm soát chi. Nếu dự toán được lập sát thực tế, phân bổ đúng mục lục ngân sách và đúng nguồn kinh phí sẽ giúp quá trình kiểm soát chi thuận lợi. Ngược lại, dự toán chưa chính xác, phải điều chỉnh nhiều lần hoặc phân bổ sai mã nguồn, mục, tiểu mục sẽ làm phát sinh hồ sơ bổ sung và kéo dài thời gian thanh toán.

1.4.3.2. Trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán đơn vị

Chất lượng hồ sơ thanh toán phụ thuộc vào năng lực của cán bộ kế toán đơn vị. Hồ sơ lập đúng quy định, đầy đủ chứng từ hợp pháp, hợp lệ sẽ rút ngắn thời gian kiểm soát chi. Ngược lại, hồ sơ sai sót hoặc thiếu chứng từ sẽ làm tăng số lần bổ sung hồ sơ và kéo dài thời gian thanh toán. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

1.4.3.3. Ý thức chấp hành pháp luật ngân sách của đơn vị

Việc tuân thủ chế độ chi tiêu và quy định pháp luật của đơn vị sử dụng ngân sách có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kiểm soát chi. Đơn vị chấp hành tốt sẽ giúp quá trình kiểm soát chi diễn ra thuận lợi. Ngược lại, nếu đơn vị thiếu trách nhiệm hoặc cố tình vi phạm sẽ làm tăng rủi ro thất thoát ngân sách và gây khó khăn cho Kho bạc.

1.4.4 Nhóm nhân tố thuộc môi trường kinh tế – xã hội

Tình hình kinh tế – xã hội của địa phương ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước. Địa bàn có dân số tăng nhanh, mở rộng hệ thống giáo dục, y tế hoặc phát sinh các nhiệm vụ đột xuất như phòng chống dịch bệnh sẽ làm tăng nhu cầu chi thường xuyên, từ đó tạo áp lực về khối lượng công việc đối với Kho bạc Nhà nước.

1.4.5 Nhóm nhân tố về công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan

Hiệu quả kiểm soát chi phụ thuộc vào sự phối hợp giữa Kho bạc Nhà nước, cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản và đơn vị sử dụng ngân sách. Nếu việc trao đổi thông tin và hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời, thống nhất sẽ hạn chế sai sót hồ sơ và nâng cao hiệu quả kiểm soát chi. Ngược lại, nếu phối hợp chưa chặt chẽ sẽ phát sinh vướng mắc trong xử lý hồ sơ và kéo dài thời gian thanh toán.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bên cạnh nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách của huyện, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn còn tích cực tham gia vào lộ trình hiện đại hóa ngành, hướng đến mục tiêu tạo dựng Kho bạc Nhà nước điện tử vào năm 2030. Việc hiện đại hóa này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi trong công tác giao dịch và quản lý ngân sách, mà còn giúp triển khai mục tiêu tăng trưởng bền vững của huyện Hóc Môn trong thời gian tới.

Đồng thời Chương 1 đã cung cấp những cơ sở lý luận vững chắc về ngân sách Nhà nước và hoạt động kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước. Đặc biệt, từ quan điểm kinh tế, Ngân sách Nhà nước được hiểu là kế hoạch tài chính của quốc gia, bao gồm các khoản thu và chi trong một năm tài chính. Trong khi đó, từ góc độ pháp lý, Ngân sách Nhà nước là một đạo luật được Quốc hội ban hành, trao quyền cho Chính phủ thực hiện trong phạm vi năm tài chính.

Hoạt động kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước không chỉ giúp đảm bảo tính hợp pháp và chính xác trong các khoản chi mà còn là yếu tố quan trọng để ngăn ngừa lãng phí và tham nhũng. Quy trình kiểm soát chi, từ kiểm tra trước khi chi cho đến kiểm soát trong và sau khi chi, được thực hiện qua các bước rõ ràng với sự tham gia của nhiều cơ quan, trong đó Kho bạc Nhà nước đóng vai trò chủ chốt. Các nguyên tắc như quản lý chi theo dự toán, tiết kiệm, hiệu quả, và chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước đã được xác định là những yếu tố then chốt trong việc đảm bảo hoạt động tài chính công được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm. Ngoài ra, đã chỉ rõ trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, trách nhiệm của đơn vị SDNS

Kết luận chung, kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước là một công việc quan trọng trong việc quản lý tài chính công, giúp đảm bảo sự ổn định tài chính quốc gia và tối ưu hóa nguồn lực, đồng thời góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước. Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Kho bạc […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x