Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Những yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Gia Lai ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 

Gia Lai nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên. Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum; Phía Nam giáp tỉnh Đăk Lắk; Phía Đông giáp tỉnh Bình Định, Phú Yên; Phía Tây giáp tỉnh Ratanakiri (Campuchia) với 90 km đường biên giới quốc gia.

Toàn tỉnh có 17 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 14 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố), 222 xã, phường, thị trấn trong đó có 184 xã, 2.161 thôn, làng, tổ dân phố trong đó thành phố Plieku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và là trung tâm thương mại của tỉnh.

Tổng dân số toàn tỉnh năm 2014 là 1.377.819 người, trong đó dân số sinh sống ở thành thị là 419.367 người (chiếm 30,44%), ở nông thôn là 958.452 người (chiếm 69,56%). Có 34 dân tộc cùng sinh sống, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 44,5% (chủ yếu là Jrai và BahNar). Tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1,38%. Lao động trong độ tuổi là 833.305 người, trong đó chủ yếu là lao động nông thôn (594. 776 người, chiếm 71,38% tổng số lao động).

Gia Lai là tỉnh cao nguyên miền núi, tổng diện tích đất tự nhiên là 1.553.693,33 ha, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp (1.342.018,02 ha, chiếm 86,38%). Địa hình chủ yếu là đồi núi (chiếm trên 2/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh), chủ yếu là đất đỏ Bazan rộng lớn (chiếm diện tích lớn nhất với 756.433 ha, chiếm 48,69 % tổng diện tích tự nhiên), bên cạnh đó còn có địa hình thung lũng được phân bố dọc theo các sông suối khá bằng phẳng, được bao phủ bởi lớp phù sa giàu chất dinh dưỡng [41].

Khí hậu của Gia Lai vừa mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên, trong năm chia làm 2 mùa, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220C – 260C; lượng mưa trung bình hàng năm là 2.223 mm, độ ẩm trung bình 83% .

Như vậy với lực lượng lao động trong độ tuổi cao, điều kiện đất đai có diện tích đất đỏ bazan rộng lớn, luợng nhiệt nhiều Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả, lúa, chăn nuôi, và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao. Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Tổng trữ lượng nước mặt của Gia Lai khoảng 23 tỷ m3 phân bố trên các hệ thống sông Ba, sông Sê San và phụ lưu hệ thống sông Sêrêpok, Gia Lai còn có tiềm năng phát triển thủy điện vừa và nhỏ. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có các công trình thủy điện như: Ia Ly, Sê San 3, Sê San 4, Sê San 4A và nhiều công trình thủy điện nhỏ được quy hoạch với tổng công suất gần 2.000 MW.

Ngoài ra còn có khoáng sản với nhiều loại khác nhau với trữ lượng khá lớn như quặng bôxít, vàng, kẽm, đá granít, đá vôi, đất sét, cát… thuận lợi cho phát triển một số ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.

Gia Lai còn là địa bàn có chiến lược về an ninh, quốc phòng của cả nước, có vị trí quan trọng trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Camphuchia, có cửa ngõ đi ra biển của phần lớn các tỉnh trong khu vực, tạo thuận lợi trong việc liên kết, trao đổi, giao lưu hàng hoá trong và ngoài nước, phát huy lợi thế của tỉnh. Có các quốc lộ chiến lược 19 nối Gia Lai với Kon Tum, Quảng Nam, Đà Nẵng, về phía Bắc và Đăk Lăk, Đăk Nông, các tỉnh Đông Nam Bộ về phía Nam; quốc lộ 19 nối với cảng biển Quy Nhơn – Bình Định về phía Đông và các tỉnh Đông Bắc Campuchia về phía Tây; quốc lộ 25 nối Gia Lai với Phú Yên; có đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn tỉnh, cảng hàng không Pleiku thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa đến các trung tâm lớn của đất nước, các cảng biển để xuất khẩu và du lịch [41].

Xuất phát từ điều kiện địa lý, là vùng núi cao có nhiều cảnh quan tự nhiên cũng như nhân tạo, có nền văn hóa lâu đời đậm đà bản sắc núi rừng của đồng bào các dân tộc Jrai và Bahnar… trong đó không gian văn hóa cồng chiêng đã được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại nên Gia Lai có tiềm năng lớn để phát triển du lịch.

Trong những năm qua, nền kinh tế Gia Lai đã có những bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, tăng ngành công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước, thu nhập bình quân đầu người đến năm 2018, GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng  42,5 triệu đồng/người/năm [52]. Đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, những vấn đề xã hội bức xúc đang từng bước được giải quyết, hộ đói kinh niên không còn.

Đây chính là những nền tảng hết sức cơ bản để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa thực hiện Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, phát huy những ưu thế của vùng, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa.

Tuy nhiên bên cạnh đó có thể thấy ngoài những thuận lợi, nhìn chung Gia Lai vẫn là một tỉnh còn khó khăn về nhiều mặt.

Gia Lai có 84/184 xã đặc biệt khó khăn được công bố theo Quyết định số 204/QĐ-TTg ngày 01/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ; có 4/17 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao theo Quyết định 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ (Huyện Kbang, Kông Chro, Krông Pa, IaPa). Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Tổng số hộ dân là 325.176, trong đó dân tộc thiểu số là 133.325 hộ (chiếm 41% tổng số hộ). Theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020,tổng số hộ nghèo: 64.087 hộ, chiếm tỷ lệ: 19,71% tổng số hộ dân trên địa bàn tỉnh. Trong đó, số hộ nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số: 53.573 hộ, chiếm tỷ lệ 83,59% tổng số hộ nghèo. Tổng số hộ cận nghèo: 23.729 hộ (chiếm tỷ lệ: 7,3% tổng số hộ dân trên địa bàn tỉnh). Trong đó, số hộ cận nghèo người đồng bào dân tộc thiểu số: 16.017 hộ (chiếm tỷ lệ 67,5% tổng số hộ cận nghèo) [39].

Nhìn chung, là một tỉnh còn nhiều khó khăn, là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, lao động chủ yếu là phổ thông, năng suất lao động thấp. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; khoảng cách chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số ngày càng có xu hướng gia tăng. Quan hệ sản xuất vùng nông thôn, nhất là vùng có đông người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhìn chung còn lạc hậu, phương thức sản xuất còn mang nặng tính truyền thống.

Năng suất do thời tiết thất thường nên bấp bênh, giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh lại không ổn định như giá cao su, cà phê, tiêu, điều…. ảnh hưởng đến thu nhập và giải quyết việc làm cho người dân, từ đó phần nào tác động đến hoạt động XDNTM.

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn của tỉnh cần nguồn lực rất lớn, trong khi nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế, việc huy động nguồn lực từ xã hội gặp nhiều khó khăn, tác động đến kết quả thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Những hạn chế nêu trên ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động Xây dựng Nông thôn mới của địa phương, nhiều nội dung của chương trình khó triển khai thực hiện, do đó, trong thực hiện Xây dựng Nông thôn mới các cơ quan quản lý nhà nước phải tiến hành các giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế nêu trên (chú trọng phát triển sản xuất, xây dựng hạ tầng, kinh tế – xã hội, thu nhập bình quân đầu người, huy động nguồn lực…) để có thể hoàn thành các mục tiêu đã đề ra của chương trình Xây dựng Nông thôn mới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Gia Lai

2.2.1. Thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai 

Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân tỉnh và sự điều hành tích cực của Ủy ban Nhân dân tỉnh. Các sở, ban, ngành, đoàn thể có sự quan tâm, phối hợp trong thực hiện Chương trình. Ngoài ra Chương trình đã nhận được sự quan tâm hỗ trợ của các đơn vị quân đội, doanh nghiệp và sự vào cuộc của người dân với quyết tâm cao để phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Đến nay, việc Xây dựng Nông thôn mới đã đạt được một số kết quả quan trọng.

2.2.1.1. Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới 

  • Về quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Qua kết quả rà soát, đánh giá của Ủy ban Nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, đến nay có 184/184 xã đạt tiêu chí quy hoạch ( bằng so với cuối năm 2015).

  • Phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Về giao thông: Đến nay, toàn tỉnh có 85/184 xã đạt tiêu chí, tăng 14 xã so với cuối năm 2015.

Về thủy lợi: Đến nay, toàn tỉnh đã có 156/184 xã đạt tiêu chí, tăng 13 xã so với cuối năm 2015. Đã cải tạo và làm mới được 78 công trình thủy lợi, 210 km kênh mương nội đồng.

Về điện: Toàn tỉnh hiện có 176/184 xã đạt tiêu chí, so với cuối năm 2015 không tăng tiêu chí nào, vì theo quy định mới của Bộ Công thương yêu cầu cao hơn so với trước đây, qua rà soát nhiều xã chưa đạt tiêu chí. Ngoài ra, có sự tách hộ và di dân tự do dẫn đến Chỉ tiêu số 4.1 về tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn từ các nguồn điện đạt chưa ổn định.

Về trường học: Đến nay, toàn tỉnh có 85/184 xã đạt tiêu chí, tăng 06 xã so với cuối năm 2015. Đã cải tạo, nâng cấp và làm mới được 101 công trình trường học mầm non, mẫu giáo; 113 công trình trường tiểu học; 57 công trình trường trung học cơ sở.

Về cơ sở vật chất văn hóa: Đến nay, toàn tỉnh có 74/184 xã đạt tiêu chí, tăng 11 xã so với cuối năm 2015. Đã cải tạo nâng cấp và làm mới đạt chuẩn 62 công trình nhà văn hóa xã; 44 khu thể thao xã; 260 nhà văn hóa thôn, làng và 89 khu thể thao thôn, làng.

Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: Đến nay, toàn tỉnh có 172/184 xã đạt tiêu chí, tăng 56 xã so với cuối năm 2015. Đã cải tạo nâng cấp được 7 chợ và làm mới được 6 chợ nông thôn.

Về thông tin và truyền thông: Đến nay, đã có 131 xã đạt tiêu chí, giảm 52 xã so với cuối năm 2015. Nguyên nhân giảm tiêu chí do yêu cầu nội dung xã phải có trang thông tin điện tử riêng hoặc trang thông tin điện tử thành phần và duy trì hoạt động thường xuyên.

Về nhà ở dân cư: Đến nay, toàn tỉnh có 83/184 xã đạt tiêu chí, tăng 18 xã so với cuối năm 2015. Người dân đã nâng cấp, cải tạo được 13.330 căn nhà đạt chuẩn; xóa được 3.150 nhà tạm; hỗ trợ nhà ở cho người nghèo 786 nhà.

  • Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân

Qua 03 năm thực hiện chương trình Xây dựng Nông thôn mới, bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước và nguồn vốn của nhân dân, doanh nghiệp, tín dụng đã huy động được 1.121.072 triệu đồng hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi liên kết nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.

Với tổng nguồn kinh phí nêu trên, các địa phương tập trung hỗ trợ người dân xây dựng mô hình phát triển sản xuất như: mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng VietGap; quản lý dịch hại và dinh dưỡng trên cây hồ tiêu; sản xuất cà phê bền vững; tái canh vườn cà phê; trồng cỏ phục vụ chăn nuôi; tưới nước tiết kiệm bằng công nghệ tiên tiến.

Riêng trong năm 2018, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện các dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm, qua đó các địa phương đã đăng ký 104 dự án (trong đó 02 dự án cấp tỉnh, 49 dự án cấp huyện, 53 dự án cấp xã) có cam kết với các doanh nghiệp, HTX cùng tham gia thực hiện dự án.

Ngoài ra, tỉnh tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành và địa phương thực hiện Kế hoạch hành động “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu, giai đoạn 20162020” nhằm thúc đẩy kinh tế khu vực nông thôn và phục vụ Xây dựng Nông thôn mới.

Kết quả thực hiện tiêu chí số 10 về thu nhập: Đến nay, có 67/184 xã đạt tiêu chí. Giảm 02 xã so với năm 2015.  Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2014 đạt 18,7 triệu đồng/người/năm; năm 2016 thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng và đạt được 20,08 triệu đồng/người/năm; cuối năm 2017 đạt 26,7 triệu đồng/năm.

  • Giảm nghèo và an sinh xã hội Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Đến nay, toàn tỉnh có 61/184 xã đạt tiêu chí hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều, tăng 16 xã so với cuối năm 2015 (cuối năm 2015 có 45 xã đạt tiêu chí). Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn năm 2017 giảm còn 17,06%, giảm 4,1% so với cuối năm 2016 (cuối năm 2016 là 21,16%). Trong đó, hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số: 36.533 hộ, chiếm tỷ lệ 88,85% so với số hộ nghèo khu vực nông thôn và tỷ lệ tăng 0,6% so với cuối năm 2016 (cuối năm 2016 là 88,25%).

Về lao động có việc làm: Đến nay, toàn tỉnh có 180/184 xã đạt tiêu chí, tăng 7 xã so với cuối năm 2015. Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn: qua 03 năm thực hiện công tác đào tạo nghề nông nghiệp, với tổng kinh phí là 10.605 triệu đồng để tổ chức đào tạo nghề cho 5.180 lao động nông thôn góp phần thực hiện tiêu chí số 12 trong chương trình MTQG Xây dựng Nông thôn mới.

Về tổ chức sản xuất: Đến nay, toàn tỉnh có 104/184 xã đạt tiêu chí, giảm 04 xã so với cuối năm 2015. Toàn tỉnh đã hình thành được 114 HTX theo Luật Hợp tác xã năm 2012 (trong đó: có 104 HTX nông nghiệp, 10 HTX phi nông nghiệp) góp phần thực hiện hoàn thành tiêu chí số 13 về tổ chức sản xuất trong chương trình Xây dựng Nông thôn mới.

  • Phát triển giáo dục và đào tạo

Cơ sở vật chất trang thiết bị trường học các cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn nông thôn được quan tâm đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trên địa bàn các xã. Đến nay, toàn tỉnh có 146/184 xã đạt chuẩn về tiêu chí giáo dục và đào tạo, tăng 33 xã so với năm 2015.

  • Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân

Đến nay, toàn tỉnh có 129/184 xã đạt chuẩn về tiêu chí y tế, tăng 31 xã so với cuối năm 2015. Hệ thống mạng lưới y tế cơ sở ở địa bàn tỉnh được củng cố và hoàn thiện, từng bước đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nông thôn. Hiện nay, tỷ lệ bác sỹ/vạn dân đạt 7,73 bác sỹ, tăng 0,55 bác sỹ so với cuối năm 2015 (cuối năm 2015 là 7,18 bác sỹ/vạn dân); tỷ lệ xã có bác sỹ đạt 88%, tăng 8% so với cuối năm 2015; tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 77,5%, tăng 33,36% so với cuối năm 2015. Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

  • Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân

Đến nay, toàn tỉnh có 123/184 xã đạt chuẩn về tiêu chí văn hóa, tăng 04 xã so với cuối năm 2015. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở các xã tiếp tục được triển khai thực hiện sâu rộng, việc công nhận danh hiệu gia đình văn hóa, thôn, làng đạt danh hiệu văn hóa, cụ thể như sau:

Gia đình văn hóa: năm 2016 có 248.511/331.795 gia đình văn hóa, đạt 75%; năm 2017 có 256.334/ 339.819 gia đình văn hóa, đạt 75,43%.

Thôn, làng đạt danh hiệu văn hóa: năm 2016 có 1.513/2.161 thôn, làng đạt danh hiệu thôn, làng văn hóa, đạt 70,01%; năm 2017 có 1.614/2.161 thôn, làng đạt danh hiệu thôn, làng văn hóa, đạt 74,68% .

  • Môi trường và an toàn thực phẩm

Tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 92%, tăng 3% so với cuối năm 2015.

Các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã đã quan tâm đến môi trường, thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý về môi trường, có 133/184 xã đạt chỉ tiêu 17.2 về tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đảm bảo môi trường.

Hàng năm, hầu hết các xã đều xây dưng các kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên… tổ chức các hoạt động hưởng ứng các ngày lễ lớn về môi trường như ra quân quét dọn đường làng ngõ xóm, khơi thông cống rãnh, xây dựng các đoạn đường Phụ nữ tự quản, con đường hoa… Đến nay, toàn tỉnh có 149/184 xã đạt chỉ tiêu 17.3 về xây dựng cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp, an toàn.

Các xã đã xây dựng phương án thu gom chất thải sinh hoạt, hầu hết các xã gần khu vực thị trấn đều đã có dịch vụ thu gom. Chất thải rắn sinh hoạt cơ bản được thu gom, xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường. Toàn tỉnh có 67/184 xã đạt chỉ tiêu 17.5 về chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư được thu gom, xử lý.

Các hộ dân khu vực nông thôn đã quan tâm đầu tư các công trình vệ sinh thiết yếu phụ vụ cho cuộc sống như nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước hợp vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh theo nội dung Xây dựng Nông thôn mới, tuy nhiên, đối với những thôn làng người đồng bào dân tộc thiểu số, có số hộ nghèo cao, do khó khăn về kinh tế phần nhiều chưa đảm bảo… Do đó, mới chỉ có 67/184 xã đạt chỉ tiêu 17.6 và có 71/184 xã đạt chỉ tiêu 17.7.

Các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm trên địa bàn nông thôn đã chấp hành nghiêm túc các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đến nay, toàn tỉnh có 63/184 xã đạt chuẩn về tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm, giảm 29 xã so với cuối năm 2015.

  • Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị – xã hội trong xây dựng nông thôn mới; cải thiện và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Về chỉ tiêu 18.1 cán bộ, công chức xã đạt chuẩn có 59/184 xã đạt chỉ tiêu; về chỉ tiêu 18.2 có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định có 184/184 xã đạt chỉ tiêu; về chỉ tiêu 18.3 Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” có 78/184 xã đạt chỉ tiêu; về chỉ tiêu 18.4 tổ chức chính trị – xã hội của xã đạt loại khá trở lên có 117/184 xã đạt chỉ tiêu; về chỉ tiêu 18.5 xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có 90/184 xã đạt chỉ tiêu; về chỉ tiêu 18.6 đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội có 75/184 xã đạt chỉ tiêu.

Đến nay, toàn tỉnh có 55/184 xã đạt tiêu chí hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, giảm 04 xã so vớ năm 2015.

  • Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn

Tình hình quốc phòng, an ninh trật tự được giữ vững. Đến nay, đã có 97/184 xã đạt tiêu chí về quốc phòng và an ninh, giảm 37 xã so với cuối năm 2015.

  • Nâng cao năng lực xây dựng nông thôn mới, công tác giám sát, tuyên truyền về nông thôn mới

Công tác tập huấn kiến thức về xây dựng nông thôn mới: Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 về việc ban hành kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2017-2020.

Công tác tuyên truyền: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền theo Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 về việc ban hành kế tuyên truyền Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2017-2020.

Qua 03 năm triển khai thực hiện, phong trào thi đua “Gia Lai chung sức xây dựng nông thôn mới” người dân, doanh nghiệp, các đơn vị quân đội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp đã tích cực tham gia chương trình Xây dựng Nông thôn mới bằng các cuộc vận động và phong trào thi đua thiết thực góp phần Xây dựng Nông thôn mới [28], [33].

2.2.1.2. Đánh giá mức độ hoàn thành nội dung xây dựng nông thôn mới

Có thể nói với những kết quả đạt được của việc thực hiện Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, đã tạo ra những thay đổi bước đầu về cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống cho người dân.

Tuy nhiên, với địa bàn rộng, cơ sở hạ tầng cần nhiều nguồn vốn đầu tư, đời sống của một bộ phận người dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.. việc thực hiện Xây dựng Nông thôn mới còn nhiều hạn chế. Về cơ bản mục tiêu của chương trình chưa hoàn toàn hoàn thành đúng thời hạn theo mục tiêu và kế hoạch đề ra trên cả phương diện số lượng xã đạt, huyện đạt và bình quân tiêu chí, tiến độ triển khai chậm. Cụ thể:

Đối với xã (Bảng 2.1, Bảng 2.2, Bảng 2.3). Số xã được công nhận đạt chuẩn NTM đến nay là 49 xã đạt 61,25% so với kế  hoạch đến năm 2020 (80 xã).  đến cuối năm 2018, việc đánh giá thực hiện mục tiêu của năm chưa hoàn thành.

Nhận xét: Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Đến thời điểm hiện nay không còn xã nào đạt dưới 5 tiêu chí.

Nhiều tiêu chí qua nhiều năm thực hiện vẫn là những tiêu chí khó hoàn thành như tiêu chí 2 – giao thông, tiêu chí 9 – nhà ở, tiêu chí 10-  thu nhập, tiêu chí 11 – hộ nghèo, tiêu chí 17 – môi trường, tiêu chí 18 – Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật…

Đồng thời nhiều tiêu chí từ đạt thành chưa đạt sau khi rà soát lại theo tiêu chí mới.

Bên cạnh đó cũng gặp phải khó khăn trong duy trì các tiêu chí đã đạt (năm trước đạt, năm sau thành chưa đạt), việc duy trì các xã đạt NTM theo chuẩn cũ chưa được chú trọng rà soát, đánh giá và quan tâm thường xuyên.

Bảng 2.3. Số lượng xã đạt chuẩn theo nhóm số lượng tiêu chí

Nhận xét: Nhìn chung, số lượng tiêu chí đạt được còn thấp. Số lượng các xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí giảm so với giai đoạn trước. Số lượng xã đạt từ 5-10 tiêu chí còn chiếm số lượng lớn, tới 92 xã.

Đối với các huyện (Bảng 2.4), nhìn chung có thế thấy:

Cơ bản hoàn thành mục tiêu Xây dựng Nông thôn mới của thành phố Pleiku. Tuy nhiên việc hoàn thiện hồ sơ, đề nghị công nhận còn chậm.

Số lượng tiêu chí cần hoàn thiện của thị xã An Khê và huyện Đăk Pơ đảm bảo để tới 2020 hoàn thành Xây dựng Nông thôn mới không còn nhiều, cơ bản đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn, tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần phải duy trì được số lượng tiêu chí đã đạt được.

Số huyện đạt bình quân tiêu chí từ 10 – 15 tiêu chí là 10 huyện. Số huyện đạt bình quân tiêu chí từ 8 – 9 tiêu chí là 05 huyện, trong đó tập trung vào những huyện nghèo của tỉnh như Iapa, Kông Chro, Krông Pa. Cần tập trung hơn nữa trong chỉ đạo, điều hành xây dựng nông thôn mới ở các huyện này gian tiếp theo cần giải quyết được các vấn đề này bằng các giải pháp mang tính đồng bộ, tổng thể. Tăng cường hoạt động chỉ đạo, điều hành, phát huy vai trò, năng lực của đội ngũ cán bộ trực tiếp triển khai chương trình ở các cấp. Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho Xây dựng Nông thôn mới, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò và sức người dân trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới. Một mặt đảm bảo lộ trình kế hoạch, thời hạn đạt được mục tiêu đã đề ra nhưng cũng hết sức tránh tình trạng nóng vội, thành tích trong Xây dựng Nông thôn mới, hướng tới xây dựng các xã nông thôn nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu.

2.2.2. Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã đạt được một số kết quả trên các nội dung sau:

2.2.2.1. Về xây dựng, ban hành các văn bản quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Gia Lai 

Trên cơ sở hệ thống văn bản chỉ đạo, điều hành của Trung ương, để thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng Nông thôn mới mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã cụ thể hóa, ban hành đầy đủ các văn bản cụ thể triển khai thực hiện có hiệu quả Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn. Cụ thể như sau:

  • Văn bản chỉ đạo, điều hành

Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 19/7/2011 của Tỉnh ủy Gia Lai tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khóa XIV) về xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia Lai đến năm 2020; Nghị quyết số 01/NQ-ĐH ngày 16/10/2015 của Đại hội Đại biểu lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Gia Lai;

Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 13/02/2018 về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh;

Quyết định số 712/QĐ-UBND ngày 29/9/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Gia Lai chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 12/02/2018 về việc phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020 (thay thế cho Quyết định 544/QĐ-UBND ngày 15/08/2016 về phê duyệt Đề án Xây dựng Nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020).

  • Về nội dung chương trình, tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Quyết định số 250/QĐ-UBND ngày 23/3/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc ban hành bộ tiêu chí về xã nông thôn mới giai đoạn 2017-2020 thực hiện trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Quyết định số 392/QĐ-UBND ngày 15/5/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí về xã nông thôn mới giai đoạn 2017-2020 thực hiện trên địa bàn tỉnh Gia Lai;

Quyết định số 301/QĐ-UBND ngày 04/7/2018 về Ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai;

Quyết định số 410/QĐ-UBND ngày 27/8/2018 về Ban hành Quy định cụ thể hóa nội dung tiêu chí huyện nông thôn mới áp dụng trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2018-2020.

  • Về tổ chức bộ máy tổ chức thực hiện chương trình và quy chế hoạt động

Quyết định số 964/QĐ-UBND ngày 21/12/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 01/QĐ-BCĐCTMTQG ngày 1/02/2017 của Trưởng ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia về việc ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo Chương trình MTQG tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016 – 2020; Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 13/01/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc tổ chức lại Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh giai đoạn 2016-2020.

  • Về sử dụng, quản lý nguồn lực thực hiện xây dựng nông thôn mới

Nghị quyết số 55/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng Nhân dân tỉnh quy định nội dung và định mức chi phí hỗ trợ chuẩn bị đầu tư và quản lý thực hiện dự án thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Nghị quyết số 56/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng Nhân dân quy định mức kinh phí hỗ trợ việc tổ chức, thực hiện lập kế hoạch đầu tư cấp xã thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Nghị quyết số 57/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về việc quy định đối tượng và mức hỗ trợ vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình MTQG Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2018-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai;

Quyết định số 350/QĐ-UBND ngày 05/4/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc ban hành danh mục loại dự án nhóm C, quy mô nhỏ được áp dụng cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020;

Quyết định số 716/QĐ-UBND ngày 02/10/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc giao kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 (nguồn vốn ngân sách của địa phương);

Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND ngày 20/01/2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai về quy định các định mức hỗ trợ các hoạt động về phát triển sản xuất và dịch vụ nông thôn trên địa bàn xã xây dựng nông thôn mới của tỉnh Gia Lai;

Quyết định số 19/2016/QĐ-UBND ngày 05/4/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai về việc ban hành Quy định mức hỗ trợ vật tư, xi măng, sắt, thép và kỹ thuật thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương trên địa bàn tỉnh.

  • Về ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương

Chỉ thị số 06/CT-UBND ngày 17/3/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2017-2020.

Nghị quyết số 29/2016/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về việc quy định mức hỗ trợ đối với doanh nghiệp, tổ chức đại diện nông dân và nông dân nhằm khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 30/5/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Quy định nội dung hỗ trợ, mức hỗ trợ bồi dưỡng nguồn nhân lực của hợp tác xã, thành lập mới và tổ chức lại hoạt động của hợp tác xã theo chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Quyết định số 43/2016/QĐ-UBND ngày 07/10/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc quy định ưu đãi đối với các cơ sở xã hội hóa hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường, giám định tư pháp sử dụng đất tại các đô thị trên địa bàn tỉnh Gia Lai;

Quyết định số 15/2017/QĐ-UBND ngày 16/3/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc ban hành giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải rắn trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 13/02/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; Văn bản số 945/SNNPTNT-VPNTM ngày 31/5/2018 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn một số nội dung về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Quyết định số 301/QĐ-UBND ngày 04/7/2018 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc ban hành bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018-2020 thực hiện trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Tờ trình số 15-CTr/TU ngày 30/06/2016 của Tỉnh ủy về tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, tăng chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu; Quyết định 369/QĐ-UBND ngày 30/05/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về ban hành Kế hoạch hành động thực hiện “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020”.

2.2.2.2.Về xây dựng tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới 

  • Thành lập, kiện toàn bộ máy Ban chỉ đạo Chương trình MTQG các cấp ở địa phương

Với những kết quả đạt được trong giai đoạn 2011-2015, đồng thời để tiếp tục triển khai thực hiện chương trình trong giai đoạn mới 2016 – 2020, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020. Ban chỉ đạo gồm 32 thành viên, trong đó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh làm Trưởng ban; Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư là Phó Trưởng ban Thường trực 02 Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới và Giảm nghèo bền vững; Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội – Phó Trưởng ban và các ủy viên là thủ trưởng các Sở, ban, ngành của tỉnh có liên quan. 

Đã có 16/17 huyện, thị xã, thành phố thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020; riêng huyện Chư Pưh kiện toàn hoạt động Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện giai đoạn 2010-2020. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các huyện, thị xã, thành phố làm Trưởng Ban Chỉ đạo; thành viên Ban chỉ đạo là Trưởng các phòng, ban, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của huyện, thị xã, thành phố.

170/184 xã đã thành lập Ban Quản lý các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020, riêng 14 xã của huyện Chư Sê chưa thành lập Ban quản lý các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó ở cấp xã vẫn có Ban Giám sát, Ban Phát triển thôn giúp thực hiện chương trình Xây dựng Nông thôn mới.

  • Bộ máy giúp việc cho Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới ở địa phương

Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh giai đoạn 2016-2020 được kiện toàn, tổ chức lại để tham mưu, giúp Ban Chỉ đạo tỉnh tổ chức triển khai thực hiện CTXDNTM trên địa bàn tỉnh (theo Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 13/01/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh). Chánh Văn phòng điều phối NTM tỉnh do Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm nhiệm, 01 Phó Chánh Văn phòng điều phối làm việc chuyên trách, 05 chuyên viên làm việc chuyên trách (03 chuyên viên của Chi cục Phát triển nông thôn; 02 chuyên viên biệt phái từ Phòng Thủy sản – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông của tỉnh).

Đã có 17/17 huyện, thị xã, thành phố kiện toàn lại Văn phòng Điều NTM cấp huyện. Trong đó có 13/17 huyện, thị xã, thành phố bố trí được cán bộ chuyên trách Văn phòng Điều phối NTM (các huyện chưa bố trí cán bộ chuyên trách gồm Chư Pưh, Krông Pa, Chư Păh, Mang Yang). Chánh văn phòng Điều phối NTM cấp huyện do Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện, thị xã, thành phố kiêm nhiệm. Phó Chánh Văn phòng điều phối do Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) kiêm nhiệm. Tổng số người làm việc tại văn phòng điều phối cấp huyện là 228 người (trong đó chuyên trách là 23: 21 người là công chức, 01 viên chức, 01 hợp đồng trong biên chế; kiêm nhiệm 205 người: Chánh Văn phòng, Phó Chánh văn phòng, thành viên đến từ các phòng, ban chuyên môn cấp huyện được phân công đảm nhận các nhiệm vụ liên quan đến Xây dựng Nông thôn mới). Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Đối với cấp xã có 184/184 xã phân công công chức xã phụ trách nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Thực tế các công chức này đều kiêm nhiệm thêm các công việc khác [4], [28].

  • Về công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức thực hiện chương trình

Việc tập huấn nâng cao năng lực được thực hiện chủ động, thường xuyên trên cơ sở nguồn lực kinh phí được cấp. Hàng năm, Văn phòng điều phối các cấp, các Sở, ngành có liên quan trên cơ sở khung Chương trình theo Quyết định số 4027/QĐ-BNN-VPĐP ngày 05/10/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Phê duyệt Chương trình khung tập huấn cán bộ Xây dựng Nông thôn mới các cấp, xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng hằng năm, ban hành Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 về việc ban hành kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng cán bộ Xây dựng Nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2017-2020.

Từ năm 2016 đến năm 2018 Văn phòng điều phối tỉnh tổ chức được 5 lớp tập huấn, bồi dưỡng cấp tỉnh, tập huấn cho 994 lượt cán bộ tham gia xây dựng nông thôn mới; 78 lớp tập huấn cấp huyện, tập huấn cho 4636 lượt cán bộ cấp cơ sở tham gia Xây dựng Nông thôn mới. Tổng kinh phí hỗ trợ công tác tập huấn Chương trình Xây dựng Nông thôn mới là hơn 1.286 triệu đồng.

Các Sở, ngành, Công an tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn Thanh niên… cũng tích cực tập huấn, phổ biến cho cán bộ, thành viên của tổ chức mình thực hiện các nội dung liên quan đến Xây dựng Nông thôn mới như: Sở Tư pháp đã triển khai 14 hội nghị tập huấn cho 1.850 lượt người tham dự về kiến thức pháp luật; Công an tỉnh đã tổ chức 02 lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức xây dựng phong trào, phát động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm và phổ biế các quy định của bộ luật tố tụng hình sự; Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã tổ chức 01 lớp tập huấn về “Công tác Mặt trận năm 2018”, lồng ghép hướng dẫn việc triển khai thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” với Chương trình MTQG Xây dựng Nông thôn mới cho 60 đại biểu là Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh…[4], [28].

  • Về kinh phí hoạt động: Hiện nay chưa có chế độ, chính sách riêng đối với cán bộ, công chức làm công tác xây dựng nông thôn mới các cấp.

2.2.2.3. Tổ chức chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới

Với tính chất toàn diện và đồng bộ của chương trình, hoạt động tổ chức chỉ đạo thực hiện Xây dựng Nông thôn mới có sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước ở địa phương, trong đó phải kể đến sự chỉ đạo thực hiện của các cơ quan sau:

  • Chính quyền địa phương Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

HĐND và Ủy ban Nhân dân từ cấp tỉnh đến xã, dựa trên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, dựa trên tình hình Xây dựng Nông thôn mớivà những điều kiện của địa phương đã tích cực chỉ đạo, triển khai hoạt động Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, tìm ra giải pháp thực hiện Xây dựng Nông thôn mới phù hợp, theo lộ trình một cách có hiệu quả nhất:

Trên cơ sở nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới của Trung ương cũng như văn bản chỉ đạo của đảng ủy, Hội đồng Nhân dân cùng cấp thể chế bằng các chương trình cụ thể cho từng giai đoạn thực hiện, phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương và giao cho Ủy ban Nhân dân cùng cấp triển khai thực hiện.

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân về xây dựng nông thôn mới đã được Ủy ban Nhân dân cùng cấp cụ thể hóa thành các văn bản chỉ đạo và hoạt động cụ thể như xây dựng kế hoạch thực hiện; lập quy hoạch; xây dựng đề án Xây dựng Nông thôn mới; ban hành quy định một số cơ chế, chính sách hỗ trợ; thành lập Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia  Xây dựng Nông thôn mới; chỉ đạo thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới và bộ máy giúp việc…

UBDND các cấp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình đã ban hành các văn bản chỉ đạo về việc đẩy nhanh tiến độ, nhằm đảm bảo kế hoạch thực hiện Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh diễn ra theo kế hoạch, đạt được mục tiêu đề ra như công văn 1737/UBND-NL ngay 17/5/2017 về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai kế hoạch năm 2017 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, công văn số 3172/UBND-NL ngày 16/08/2017 về việc tập trung triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM trên địa bàn tỉnh… trên cơ sở các văn bản này các địa phương có giải pháp cụ thể để tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn.

Thường trực Hội đồng Nhân dân đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân cùng cấp chỉ đạo sở, ban ngành cùng cấp, phối hợp với Ban Tuyên giáo tổ chức học tập quán triệt nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo Đài Phát thanh và Truyền hình, Báo chí …. tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới.

Tổ chức chỉ đạo thực hiện các nội dung xây dựng NTM, Xây dựng Nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu, xây dựng làng nông thôn mới kiểu mẫu trong vùng đồng bào dân tộc tiểu số theo chủ trương của tỉnh ủy. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tập huấn cho cán bộ xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh. Xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch, nội dung giám sát việc triển khai thực hiện chương trình, chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn.

  • Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia và Văn phòng điều phối các cấp, Bản quản lý xã và công chức chuyên trách Xây dựng Nông thôn mới ở cấp xã

Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp, Ban quản lý xã thực hiện việc chỉ đạo tốt các nội dung cơ bản sau:

Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cụ thể, đảm bảo hoạt động chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình; tiến hành họp định kỳ để đánh giá kết quả thực hiện Chương trình và đề ra các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Tham mưu đề xuất với Ủy ban Nhân dân ban hành cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn phù hợp với điều kiện ở địa phương; hướng dẫn áp dụng thực hiện các cơ chế, chính sách trong xây dựng nông thôn mới trên cơ sở hướng dẫn của các Bộ, ngành trung ương và của tỉnh; hướng dẫn thực hiện các nội dung Xây dựng Nông thôn mới trên cơ sở hướng dẫn của Trung ương, tỉnh; hướng dẫn thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các Chương trình, dự án trên địa bàn vào Xây dựng Nông thôn mới

Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp tổ chức kiểm tra, theo dõi, đánh giá, tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện Xây dựng Nông thôn mới; tham mưu Ủy ban Nhân dân thực hiện sơ kết, tổng kết định kỳ; đề xuất khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích; đồng thời kiểm điểm, phê bình các địa phương, đơn vị, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ.

Văn phòng điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các cấp, công chức chuyên trách Xây dựng Nông thôn mới đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình: Xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới hằng năm, và giai đoạn 2016 – 2020; kế hoạch tập huấn, tuyên truyền về Xây dựng Nông thôn mới; tổ chức các đoàn liên ngành phối hợp, kiểm tra Xây dựng Nông thôn mới ở cơ sở; theo dõi, báo cáo kết quả thực hiện chương trình; tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình, rút kinh nghiệm và triển khai các nhiệm vụ mới.

  • Phối hợp, điều phối thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

Trên cơ sở quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020, các Sở, ban, ngành có trách nhiệm đôn đốc và báo cáo kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới đối với huyện được phân công; thẩm định và chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định các tiêu chí nông thôn mới thuộc lĩnh vực của ngành đối với xã đạt 19 tiêu chí và các chỉ tiêu; tham mưu đề xuất với Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn của ngành phù hợp với điều kiện ở địa phương, trên cơ sở hướng dẫn của trung ương.

Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1344/KH-UBND ngày 07/4/2017 về việc phân công các đơn vị Quân đội đảm nhận địa bàn tham gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017-2020, chỉ đạo Ủy ban Nhân dân các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với các đơn vị Quân đội giúp đỡ 35 xã xây dựng nông thôn mới.

Các đơn vị quân đội đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các địa phương khảo sát xác định nội dung công việc, hình thức, cách làm phù hợp với khả năng của từng đơn vị như giúp dân di dời nhà cửa, bố trí lại khu dân cư, làm hàng rào, chuồng trại, xây dựng đường giao thông, phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ăn ở hợp vệ sinh, bài trừ các tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… góp phần xây dựng làng, xã đạt chuẩn NTM.

2.2.2.4. Huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn

Hiện nay để thực hiện Xây dựng Nông thôn mới, nguồn vốn đầu tư cho chương trình bao gồm: Vốn Ngân sách Nhà nước (nguồn vốn trực tiếp cho chương trình (ngân sách TW gồm trái phiếu Chính phủ, đầu tư phát triển, sự nghiệp; ngân sách địa phương gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã); nguồn vốn lồng ghép), vốn huy động (vốn tín dụng; vốn doanh nghiệp; vốn nhân dân đóng góp; vốn khác). Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Việc huy động, quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn vốn cũng được quy định cụ thể, rõ ràng, tạo thuận lợi cho địa phương trong việc quản lý nguồn vốn và sử dụng phục vụ cho các nội dung của chương trình, đạt được những kết quả như sau: 

  • Kết quả huy động các nguồn lực thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2018.

Nhìn chung có thể thấy, nguồn lực huy động Xây dựng Nông thôn mới không ngừng tăng lên qua các năm. Trong đó cơ bản vẫn là các nguồn vốn trực tiếp cho chương trình, vốn lồng ghép và vốn tín dụng. Nguồn lực huy động từ doanh nghiệp và nhân dân cũng tăng lên. (Bảng 2.5).

Bảng 2.5. Kết quả huy động vốn thực hiện xây dựng nông thôn mới

Kết quả thực hiện nguồn lực đầu tư thực hiện Chương trình

Ngoài nguồn vốn trực tiếp Ngân sách Nhà nước, còn có vốn lồng ghép (nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước lồng ghép từ các Chương trình, dự án triển khai trên địa bàn nông thôn tỉnh) như giảm nghèo, cấp không các mặt hàng chính sách, nước sạch và vệ sinh môi trường, hỗ trợ cho các huyện nghèo theo Quyết định 293/QĐ-TTg ngày 15/04/2016 về hộ nghèo, Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, triển khai đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp ở các xã đặc biệt khó khăn Xây dựng Nông thôn mới theo Quyết định 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 ….

Vốn huy động đa phần được tập trung tập trung cho các tiêu chí chưa đạt chuẩn, gần đạt chuẩn nông thôn mới, các tiêu chí khó thực hiện trên địa bàn, cần nhiều nguồn lực như trong năm 2016-2018 chi phát triển hạ tầng – kinh tế xã hội là 3.860.163 triệu đồng (trong đó chủ yếu dành nguồn vốn thực hiện cho các tiêu chí như giao thông là 1.815.361 triệu đồng; trường học là 800.783 triệu đồng; nhà ở dân cư là 324.694 triệu đồng; cơ sở vật chất văn hóa là 217.250 triệu đồng; trạm y tế là 179.521 triệu đồng… ); phát triển sản xuất theo chuỗi liên kết  là 1.121.072 triệu đồng; hỗ trợ phát triển HTX là 674.189 triệu đồng… còn lại phân phối đều cho các tiêu chí như phát triển ngành nghề, giáo dục nông thôn, năng lực bộ máy, truyền thông…[4].

Việc giải ngân cũng đảm bảo nguồn vốn chương trình, dự án nào sẽ được giải ngân theo chương trình, nguồn vốn đó, không để sự chồng chéo, trùng lắp và đảm bảo theo quy định và hướng dẫn của Trung ương thì các nguồn vốn này còn được thực hiện phân bổ cho các nội dung khác nhau.

  • Tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản

Tỉnh Gia Lai không có nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. (Nếu xét quy định tại Khoản 19 Điều 4 Luật Đầu tư công,, nợ đọng xây dựng cơ bản là giá trị khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu của dự án thuộc kế hoạch đầu tư công được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng chưa có vốn bố trí cho phần khối lượng thực hiện đó thì tỉnh Gia Lai không có nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới ở tỉnh Gia Lai) Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

2.2.2.5. Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện xây dựng nông thôn mới

Để tăng cường công tác đôn đốc kiểm tra, giám sát Xây dựng Nông thôn mới, đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình, trước hết phải nói tới vai trò của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các cấp trong việc kiểm tra, giám sát đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình.  Hội đồng Nhân dân các cấp hằng năm đều tổ chức 01 đợt giám sát kết quả thực hiện XDNTM các năm theo chuyên đề giám sát, đánh giá thực hiện chương trình, tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng chương trình; việc lập và giao kế hoạch thực hiện chương trình; công tác; kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ; kết quả sử dụng nguồn vốn, tình hình giải ngân các nguồn vốn, nợ đọng xây dựng cơ bản; công tác quản lý và sử dụng các nguồn vốn.

Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia và Văn phòng điều phối NTM các cấp đã ban hành kế hoạch kiểm tra, đánh giá thực hiện tiêu chí NTM các năm. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành kế hoạch và triển khai phối hợp với các Sở, ban, ngành đi kiểm tra thực tế, đôn đốc, hướng dẫn đánh giá tiêu chí xã NTM tại xã đăng kí đạt chuẩn hằng năm (01 đợt/năm).

Bên cạnh đó còn có việc kiểm tra giám sát Xây dựng Nông thôn mới của Đoàn giám sát Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương (01 đợt/2 năm (2016-2017)) [4].

Thông quan kiểm tra giám sát đã phần nào phân tích tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện một số tiêu chí khó đạt như tiêu chí về môi trường, tiêu chí hộ nghèo, tiêu chí quốc phòng và an ninh từ đó đề nghị rà soát hoàn thiện cơ chế chính sách, phải đảm bảo nhận thức của cán bộ cơ sở và xác định kế hoạch cụ thể trong từng tiêu chí thực hiện.

Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp, Văn phòng điều phối các cấp, Ủy ban Nhân dân các cấp thực hiện công tác sơ kết, tổng kết, tổng hợp báo cáo Xây dựng Nông thôn mới đầy đủ, theo quy định để nắm bắt tình hình thực hiện chương trình, có những chấn chỉnh và đưa ra những giải pháp để hoàn thành kế hoạch đề ra trong 6 tháng, trong năm và trong từng giai đoạn. Trong giai đoạn 2016 – 2018, qua 3 năm triển khai chương trình theo nội dung tiêu chí mới Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia cũng đã ban hành Báo cáo số 297/BC BCĐCTMTQG ngày 01/08/2018 về Sơ kết 03 năm (2016-2018) thực hiện Chương trình MTQG XD NTM; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện giai đoạn 2019-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch 1934/KH-UBND ngày 31/08/2018 về về việc tiến hành sơ kết phong trào thi đua “Gia Lai chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 – 2018. Đây sẽ là cơ sở để tổng kết, đúc rút kinh nghiệm trong thời gian đầu triển khai Xây dựng Nông thôn mới theo nội dung chương trình MTQG giai đoạn 2016 – 2020, là nền tảng thực hiện tốt các mục tiêu trong giai đoạn tiếp theo và xây dựng NTM nâng cao.

2.2.2.6. Công tác tuyên truyền xây dựng nông thôn mới

Công tác tuyên truyền được chú trọng và được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh ủy. Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 18/QĐ-UBND ngày 12/01/2017 về việc ban hành kế tuyên truyền Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Gia Lai giai đoạn 2017-2020. Các Sở, ban, ngành, doanh nghiệp, các đơn vị quân đội cũng như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức đoàn thể trên địa bàn đã tích cực tham gia Xây dựng Nông thôn mới bằng các cuộc vận động và phong trào thi đua thiết thực, thực hiện tuyên truyền với nhiều hình thức, nội dung cụ thể, thiết thực góp phần Xây dựng Nông thôn mới, như: Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Cung cấp tài liệu, sổ tay, tờ rơi về mục tiêu, nội dung Xây dựng Nông thôn mới: Văn phòng Điều phối NTM tỉnh ban hành 1.550 tờ rơi về 19 tiêu chí xã nông thôn mới, 500 tờ rơi về xã NTM nâng cao, 129 cuốn Sổ tay Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 – 2020, 210 cuốn Sổ tay Hướng dẫn phát triển sản xuất Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020; Sở Tư pháp biên soạn, in ấn và cấp phát miễn phí 5.200 cuốn “Sổ tay phổ biến, giáo dục pháp luật ở thôn, làng, khu dân cư”, 2.900 cuốn “Sổ tay tìm hiểu pháp luật về quyền dân sự, chính trị”, 20.400 tờ gấp “Tìm hiểu nội dung, quy trình đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật của cấp xã”; in ấn 36.770 tài liệu sổ tay chuyên đề pháp luật các loại và cấp phát miễn phí đến các sở, ban, ngành, Ủy ban Nhân dân cấp huyện, cấp xã và các thôn, làng, khu dân cư trên địa bàn tỉnh để tổ chức triển khai xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, phổ biến các quy định pháp luật đến người dân nhằm tuyên truyền về Xây dựng Nông thôn mới…

Báo chí, truyền thanh, truyền hình tuyên truyền, nêu gương, giáo dục nhận thức, kết quả Xây dựng Nông thôn mới: Văn phòng Điều phối NTM tỉnh phối hợp với Báo Gia Lai phát hành các bài báo tuyên truyền; phối hợp với Đài Truyền hình tỉnh phát sóng 02 số/ tháng chương trình “Nhịp sống nông thôn mới”; phối hợp với Ban Thi đua – Khen thưởng đề xuất các gương điển hình trong xây dựng nông thôn mới để thực hiện chuyên mục “Thi đua – yêu nước”, tham dự lễ kỷ niệm “70 năm ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua yêu nước “.

Phối hợp thực hiện các phong trào, cuộc vận động, tuyên truyền với các cơ quan khác, bằng nhiều hình thức như:

Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; trong năm 2018 đã triển khai được 2.277 buổi tuyên truyền với 240.000 lượt người tham gia.

Cùng với Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tiếp tục triển khai thực hiện sâu rộng cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, duy trì và xây dựng các cụm pano tuyên truyền, tranh cổ động phụ nữ tham gia xây dựng nông thôn mới tại các thôn, làng; từ 2016 đến nay, các cấp Hội đã tổ chức 578 buổi tuyên truyền cho 54.351 lượt hội viên, phụ nữ; tham gia xây dựng được 59,8 km “Hàng rào xanh”, 34,4 km “Con đường hoa”; vận động hội viên phụ nữ hiến 10.153m3 đất…

Chỉ đạo Đoàn Thanh niên với phương châm: “Mỗi thanh niên một việc tốt, mỗi cơ sở đoàn một hoạt động thiết thực tham gia xây dựng nông thôn mới”, tiếp tục cụ thể hóa, lồng ghép tuyên truyền vào các hoạt động: “Tháng Thanh niên”, “Ngày thứ bảy tình nguyện”, “Kỳ nghỉ hồng”... Tổ chức 207 hoạt động tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới cho hơn 97.290 lượt đoàn viên thanh niên; tham gia xây dựng và sửa chữa 200 căn nhà, 87 nhà rông, nhà sinh hoạt cộng đồng; làm mới và sửa chữa 668 km đường giao thông, 630 km kênh mương thủy lợi, phát quang 332 km đường, trồng mới 70.860 cây xanh…

Ngành Công an các cấp đã tổ chức 395 đợt tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội với 26.619 lượt người tham gia; tổ chức 313 lượt tuyên truyền bằng xe loa tại các thôn, làng, khu dân cư, những khu vực tập trung đông người, tuyên truyền 120 buổi trên loa truyền thanh…. Ngành Quân đội tham gia phát động, thực hiện các phong trào thi đua, hỗ trợ nhân dân xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng NTM …[4].

2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Các cơ quan nhà nước ở địa phương trong thời gian qua đã tích cực triển khai các nội dung thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Nhìn chung hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới có thể đánh giá qua một số ưu điểm, hạn chế sau:

2.3.1. Về những ưu điểm

Công tác quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới được chú trọng, phát huy tốt vai trò chức năng của các cơ quan nhà nước trong thực hiện Xây dựng Nông thôn mới cụ thể:

Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai đã ban hành kịp thời và đầy đủ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới; các văn bản liên quan tới các cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn.

Đối với bộ tiêu chí, đã thực hiện rà soát, đánh giá thực trạng, xây dựng lộ trình đạt chuẩn các tiêu chí theo Bộ tiêu chí mới. Đồng thời từng bước củng cố, phát triển ban hành Bộ tiêu chí nâng cao, kiểu mẫu. Cơ bản đến nay, Bộ tiêu chí Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn khá phù hợp, tạo thuận lợi lớn cho quá trình triển khai thực hiện của địa phương (Bảng 2.6).

Bảng 2.6. Đánh giá mức độ phù hợp của bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia các cấp, Văn phòng Điều phối các cấp giai đoạn 2016-2020 đã được thành lập, củng cố, kiện toàn. Đã ban hành quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể các thành viên Ban Chỉ đạo, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các thành viên.

Chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng hướng dẫn kiến thức về Xây dựng Nông thôn mới, không ngừng nâng cao năng lực của đội cán bộ, công chức, viên chức Xây dựng Nông thôn mới.

CTMTQG Xây dựng Nông thôn mới tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân tỉnh và sự điều hành tích cực của Ủy ban Nhân dân tỉnh và các cấp địa phương, các sở, ban, ngành, đoàn thể có sự phối hợp trong thực hiện Chương trình; ngoài ra Chương trình đã nhận được sự quan tâm hỗ trợ của các đơn vị quân đội, doanh nghiệp và sự vào cuộc của người dân phấn đấu hoàn thành mục tiêu Xây dựng Nông thôn mới.

Đối với nguồn lực thực hiện chương trình, đã phân bổ kịp thời các nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp của chương trình cho các địa phương để thực hiện. Nguồn vốn được tích cực giải ngân hiệu quả, thực hiện một cách tập trung đối với xã, huyện đăng ký hoàn thành Xây dựng Nông thôn mới, các tiêu chí khó.

Công tác tuyên truyền có sự tham gia phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức, hình thức đa dạng, nội dung cụ thể, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, nâng cao ý thức tham gia Xây dựng Nông thôn mới.

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong Xây dựng Nông thôn mới, thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là những thôn làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cách thức sản xuất thay đổi, kinh tế của người dân được nâng lên.

2.3.2. Về những  hạn chế Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Bên cạnh những ưu điểm, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai thời gian qua vẫn còn những hạn chế như sau:

Một số chính sách trong xây dựng nông thôn mới đã được ban hành nhưng triển khai còn chậm như: chính sách về hỗ trợ lãi suất vốn vay, áp dụng cơ chế đặc thù trong Xây dựng Nông thôn mới, nhất là những chính sách ở địa phương hiện nay.

Tổ chức bộ máy quản lý được củng cố, kiện toàn nhưng cả về số lượng và chất lượng hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Một số cán bộ, công chức là thành viên Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia cấp xã chưa hiểu biết đầy đủ về chương trình (Bảng 2.7.).

Bảng 2.7. Đánh giá mức độ hiểu biết của Cán bộ, công chức về xây dựng nông thôn mới

Công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ Xây dựng Nông thôn mới ở các địa phương chưa thực sự tạo chuyển biến sâu sắc về năng lực cũng như nhận thức về vai trò, trách nhiệm trong thực hiện xây dựng nông thôn mới đối với đội ngũ cán bộ, công chức các cấp.

Trong chỉ đạo thực hiện chương trình, còn một số địa phương có xã được quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, chưa quan tâm thực hiện việc củng cố các tiêu chí đã đạt được cũng như tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí theo Bộ tiêu chí mới.

Công tác theo dõi, tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện Chương trình của một số địa phương chưa kịp thời, cập nhật báo cáo tiến độ còn chậm trễ, các nội dung báo cáo chưa đầy đủ, sự phối hợp giữa các phòng ban chuyên môn cấp huyện với các sở, ban, ngành quản lý chưa được chặt chẽ, thiếu trách nhiệm dẫn đến số liệu thiếu chính xác, thiếu đồng bộ.

Một số thành viên Ban Chỉ đạo các cấp chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tiêu chí NTM. Ngoài ra, các sở, ngành được phụ trách đánh giá theo dõi tiêu chí, chỉ tiêu theo lĩnh vực được phân công chưa chủ động hướng dẫn báo cáo, thẩm tra kết quả của địa phương. Công tác tham mưu của Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh hiệu quả chưa cao. Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

  • Nguồn lực đầu tư cho chương trình còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu.

Công tác kiểm tra, giám sát Xây dựng Nông thôn mới của các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, chất lượng chưa cao. Thời gian kiểm tra, giám sát ngắn, số lượng các cuộc kiểm tra, giám sát ít. Việc thực hiện kế hoạch đi kiểm tra, giám sát còn chậm so với kế hoạch, chưa đôn đốc kịp thời thực hiện nhiệm vụ XDNTM ở các địa phương.

Kết quả công tác tuyên truyền đến người dân để hiểu rõ về vai trò chủ thể, cũng như lợi ích của mình trong chương trình xây dựng nông thôn mới vẫn còn hạn chế so với yêu cầu đề ra, việc tiếp cận những thông tin tuyên truyền, phổ biến về Chương trình đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn và đạt hiệu quả chưa cao (Bảng 2.8).

Bảng 2.8. Đánh giá nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới của Cán bộ, công chức xã

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế trên có thể thấy do một số nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, Việc áp dụng, triển khai còn nhiều bất cập do một số chính sách chưa đồng bộ, văn bản hướng dẫn còn chậm, dẫn tới việc triển khai thực hiện còn chậm trong những năm đầu của giai đoạn, ví dụ như:

Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, tại điều 4 quy định về hệ số phân bổ cho các xã khó khăn quá cao so với các xã thực sự có khả năng đạt chuẩn. Vì vậy địa phương không thể chủ động phân bổ thêm cho các xã thực sự có khả năng phấn đấu đạt chuẩn trong giai đoạn 2016 – 2020 (hệ số 1) mà phải tập trung cho các xã đặc biệt khó khăn (hệ số 4 và 5).

Chính sách của địa phương năm 2018 là năm đầu tiên thực hiện nội dung hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị, để triển khai đúng từng bước được quy định tại Sổ tay hướng dẫn phát triển sản xuất cần có thời gian và còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Bộ tiêu chí quốc gia xã NTM giai đoạn 2016-2020 yêu cầu cao hơn so với Bộ tiêu chí giai đoạn 2011-2015. Các chỉ tiêu mới được bổ sung vào bộ tiêu chí cần có thời gian nhất định để các xã tập trung hoàn thiện vì hầu hết các chỉ tiêu mới này ở cấp xã chưa có như: trang thông tin điện tử của xã, điểm vui chơi giải trí cho trẻ em và người cao tuổi, chưa thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao theo quy định… Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy chậm, chưa thống nhất. Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 về ban hành quy chế quản lý các Chương trình MTQG giai đoạn 2016-2020 quy định cấp xã chỉ có Ban Quản lý Chương trình mục tiêu quốc gia, trong khi tại Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 05/10/2016 và Quyết định số 2540/QĐTTg ngày 30/12/2016 đều đề cập tới Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia cấp xã, dẫn tới các địa phương đều lúng túng khi triển khai tại xã.

Thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng Nông thôn mới các cấp chủ yếu là kiêm nhiệm, là lãnh đạo nên ảnh hưởng tới thời gian, cũng như sâu sát trong công tác lãnh đạo, điều hành Xây dựng Nông thôn mới. Số lượng cán bộ của Văn phòng điều phối tỉnh, huyện, xã chưa đảm bảo số lượng, vì xây dựng bộ máy nhưng không được làm biến động biên chế tại địa phương do đó cán bộ chuyên trách ít, chủ yếu kiêm nhiệm. Ở một số địa phương, trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế, nhất là cấp xã. Chế độ, chính sách chưa đảm bảo nên ảnh huởng phần nào tới sự toàn tâm, toàn ý phục vụ cho chương trình.

Thứ ba, một số địa phương trong tỉnh vẫn còn chủ quan, thiếu quyết liệt trong tổ chức triển khai thực hiện chương trình, hệ thống chính trị cơ sở ở một số xã chưa thật sự vào cuộc, chưa có sự phân công nhiệm vụ, kế hoạch, lộ trình cụ thể. Công tác phối hợp thực hiện các nội dung về xây dựng nông thôn mới giữa các sở, ban, ngành chưa chặt chẽ; chế độ báo cáo thông tin của các ngành, các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở chưa được kịp thời, liên tục, thông suốt đã ảnh hướng đến tiến độ của chương trình.

Thứ tư, nhu cầu về nguồn lực đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn (giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, chợ, trường học, …) cho xây dựng nông thôn mới của tỉnh Gia Lai là rất lớn nhưng sự hỗ trợ của Nhà nước còn hạn hẹp. Ví dụ như kinh phí phục vụ công tác quy hoạch nông thôn mới thấp (bình quân 100 triệu đồng/xã) chỉ đủ phục vụ quy hoạch chung. Bên cạnh đó, vốn ngân sách hàng năm phân bổ có hạn, không đủ tỉ lệ theo quy định, giải ngân nguồn vốn đầu tư chậm. Khả năng huy động nguồn vốn từ dân thấp, nhiều xã không có doanh nghiệp để vận động đóng góp, người dân khu vực nông thôn của tỉnh còn nghèo.

Về việc phân bổ vốn theo quy định chưa phù hợp, vì có những xã đạt từ 15 tiêu chí nhưng cần ít kinh phí (vì những tiêu chí về cơ sở hạ tầng đã đạt) thì cũng được phân bổ kinh phí như những xã đạt trên 15 tiêu chí nhưng tiêu chí chưa đạt lại là những tiêu chí về cơ sở hạ tầng cần nhiều kinh phí hơn. Đối với các xã đã đạt chuẩn cần được tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng tiêu chí theo hướng dẫn của Trung ương, tuy nhiên đến nay Trung ương chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ khiến cho các xã, địa phương rất lúng túng.

Thứ năm, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát của các cơ quan còn chưa đảm bảo đúng kế hoạch, chưa thường xuyên. Hoạt động giám sát, nội dung giám sát rộng, thời gian giám sát ngắn.

Thứ sáu, nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân về việc thực hiện Xây dựng Nông thôn mới chưa cao, người dân phần lớn chưa nhận thức rõ được vai trò chủ thể, cũng như lợi ích của mình trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Người dân vẫn còn tư tưởng lý lại, trông chờ vào các chế độ, chính sách của nhà nước coi mình là người thụ hưởng nhất là ở các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ bảy, xuất phát từ những đặc thù về kinh tế – xã hội của tỉnh dẫn tới việc triển khai Xây dựng Nông thôn mới gặp nhiều khó khăn. Tỉnh Gia Lai có địa bàn rộng lớn, xuất phát điểm thấp, nhu cầu phát triển hạ tầng thiết yếu để phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân rất lớn. Tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn cao (44,5%), phần lớn là hộ nghèo, có trình độ dân trí thấp, còn nhiều tập tục lạc hậu, tư duy sản xuất nhỏ lẻ, năng suất cây trồng chưa cao, chuỗi liên kết sản xuất “3 nhà” chưa hiệu quả, thu nhập của người dân bấp bênh vì khó huy động được nguồn lực từ dân, công tác tuyên truyền, phổ biến cho người dân gặp nhiều khó khăn

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

Qua phân tích thực trạng về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay có thể thấy, công tác xây dựng nông thôn mới về cơ bản đã đạt được một số kết quả bước đầu như hoàn thành quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới ở các xã, cơ sở hạ tầng, điện, lao động nông thôn có việc làm… tuy nhiên còn rất nhiều các nội dung chưa hoàn thành trong đó có nhiều tiêu chí gặp nhiều khó khăn để hoàn thành như về hộ nghèo, nhà ở, cơ sở vật chất văn hóa, môi trường, hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật. Số xã hoàn thành tiêu chí mới chỉ có 49/184 xã của tỉnh, 11 xã năm 2018 đang rà soát đánh giá công nhận, mới có 01/17 huyện, thị xã, thành phố hoàn thành Xây dựng Nông thôn mới.

Trong thời gian qua, hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới đã có những chuyển biến tích cực, nhưng bên cạnh những ưu điểm còn rất nhiều những hạn chế phải khắc phục như hoạt động chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và thành viên Ban chỉ đạo chưa quyết liệt, chưa sâu sát; tổ chức bộ máy còn chưa đảm bảo về số lượng cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện triển khai chương trình; nguồn lực chưa đáp ứng đầu tư thực hiện chương trình, huy động nguồn vốn trong nhân dân khó khăn; kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, liên tục;  công tác duy trì lượng tiêu chí đã đạt chưa được chú trọng; người dân ở một số địa phương chưa nhận thức được vai trò chủ thể của xây dựng nông thôn mới; việc thực hiện Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn gặp nhiều trở ngại, khó khăn do đặc thù kinh tế – xã hội của địa phương…

Để có thể đáp ứng được khối lượng và yêu cầu thực hiện Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn tiếp theo, hoàn thành những mục tiêu đã đề ra đến năm 2020. Để công tác quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới hoàn thiện hơn nữa, cần những giải pháp thiết thực tạo ra những tiền đề cơ sở khoa học đề xuất, kiến nghị các giải pháp để hoàn thiện hơn nữa hoạt động quản lý nhà nước về Xây dựng Nông thôn mới ở Gia Lai. Những định hướng và giải pháp cụ thể được tác giả trình bày ở chương 3 sau đây. Luận văn: Thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp QLNN về xây dựng nông thôn mới tại Gia Lai

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993