Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Những cơ sở đề xuất các biện pháp

3.1.1. Căn cứ vào cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện trung học cơ sở

Cơ sở lý luận về HĐTV trường THCS, về công tác quản lý hoạt động thư viện THCS đã được hệ thống hóa ở chương 1. Đây là những căn cứ khoa học đã được khẳng định, là căn cứ đầu tiên làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động thư viện THCS. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động thư viện THCS phải đặc biệt chú ý thực hiện đồng bộ các chức năng quản lý từ khâu kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, đến kiểm tra – đánh giá và điều chỉnh.

3.1.2. Căn cứ vào cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động thư viện trung học cơ sở

Các văn bản pháp quy làm căn cứ cho việc đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động thư viện trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên:

  • Thông tư số 30/TT-LB ngày 26/7/1990 của Bộ Tài chính & Bộ Giáo dục và Đào tạo, hướng dẫn quản lý vốn sự nghiệp đầu tư cho giáo dục phổ thông;
  • Quyết định số 61/1998/QĐ-BGDĐT ngày 06/11/1998 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động thư viện trường phổ thông;
  • Pháp lệnh Thư viện số 31/2007/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 12 năm 2007;
  • Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 06/8/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thư viện; cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia thành lập và quản lý thư viện.
  • Quyết định số 01/2010/QĐ-BGDĐT ngày 02/01/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ban hành Quy định tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông;
  • Công văn số 11185/GDTH ngày 17/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, về việc hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông; Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.
  • Thông tư số 27/2012/TT-BNV ngày 05/01/2012 hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức;
  • Thông tư số 26/2013/TT-BVHTT ngày 21/02/2013 hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa – thông tin.
  • Quyết định số 10/2014/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2014 của Bộ Văn hóa Thông tin, phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2017 và định hướng đến năm 2030;
  • Nghị định số 76/2020/NĐ-CP ngày 16/7/2020 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
  • Thông tư số 18/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/12/2021 Quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của thư viện;
  • Thông tư số 12/2018/TT-BGDĐT ngày 28/3/2018 Ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học;
  • Quyết định số: 329/QĐ-TTg ngày 15/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2040.
  • Thông tư số 16/2024/TT-BGDĐT ngày 12/7/2024 về Hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập;
  • Công văn số 1564/SGDĐT-GDTrHTX ngày 07/9/2024 của Sở GDĐT Bình Dương về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm 2024 – 2025.

3.1.3. Căn cứ vào thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Qua khảo sát thực trạng về quản lý HĐTV ở trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ở chương 2 cho thấy: Thư viện đã có nhiều cố gắng trong việc sử dụng các biện pháp quản lý, kết quả có những ưu điểm nhất định, song vẫn còn nhiều mặt yếu kém, tồn tại. Vì thế hiệu quả HĐTV chưa được nâng cao. Đây là những căn cứ thực tế làm cơ sở đề xuất các biện pháp.

Hệ thống các biện pháp phải đồng thời thỏa mãn các yêu cầu về phương pháp luận của một công trình khoa học, đó là: đảm bảo tính thực tiễn, thiết thực và có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của nhà trường; đảm bảo tính lịch sử, kế thừa và phát triển những thành quả đã có; đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ, cân đối, đồng thời phải xác định được biện pháp trọng tâm.

3.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Ngoài các cơ sở trên, hệ thống các biện pháp được đề xuất cần phải thỏa mãn các yêu cầu về phương pháp luận của một công trình khoa học, nguyên tắc cần phải đảm bảo các đặc tính sau:

3.2.1. Đảm bảo tính kế thừa

Hệ thống các biện pháp đề xuất khi triển khai trong công tác quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS phải có sự kế thừa và phát triển từ những thành quả đã có. Như thế, mới tạo ra kết quả cao trên nhiều phương diện. Quản lý hoạt động thư viện được cải tiến nhưng không gây ra sự thay đổi đột ngột, vẫn đảm bảo môi trường học tập và làm việc cởi mở, hợp tác, tin cậy giữa CBTV và HS, giữa CBTV và GV, giữa CBTV và CBQL các cấp trong nhà trường. Ngoài ra, cần huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia vào xây dựng thư viện và quản lý HĐTV, xây dựng một môi trường giáo dục thống nhất và lành mạnh.

Các biện pháp phải khơi dậy sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm cao trong công tác quản lý của cán bộ quản lý các cấp, của cán bộ thư viện trong HĐTV.

Qua đó HĐTV được thực hiện tốt, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường. Để đáp ứng tất cả những yêu cầu trên, các biện pháp đề xuất cần phát huy các ưu điểm có sẵn của công tác quản lý HĐTV, khắc phục những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý HĐTV trong trường THCS.

3.2.2. Đảm bảo tính hệ thống – cấu trúc

Hoạt động thư viện không nằm ngoài hệ thống các hoạt động của nhà trường. Đây là một chỉnh thể thống nhất với tất cả các hoạt động khác của quá trình QL các hoạt động trong nhà trường, chúng tác động và chi phối lẫn nhau. Do đó, khi đề xuất các biện pháp quản lý HĐTV cũng cần quan tâm tới sự tác động từ các yếu tố khác trong hệ thống các hoạt động của nhà trường.

Bên cạnh đó, tính hệ thống, cấu trúc được đảm bảo, cũng có nghĩa là các biện pháp đề xuất phải bao quát các nội dung, các khía cạnh của công tác quản lý HĐTV, bao quát mọi mặt của vấn đề, thông qua các yếu tố, các chủ thể liên quan đến hoạt động thư viện. Hay nói cách khác, những thành tố nào tham gia vào HĐTV thì khi đề ra biện pháp phải xét đến vai trò, sự ảnh hưởng của các thành tố đó. Khi đó, các biện pháp được đề xuất có quan hệ mật thiết, bổ trợ cho nhau và cùng thúc đẩy HĐTV của nhà trường trở nên hoàn thiện hơn.

3.2.3. Đảm bảo tính thực tiễn Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Hệ thống các biện pháp được đề xuất phải có khả năng thực thi trong thực tiễn quản lý hoạt động thư viện trong trường THCS. Tính thực tiễn của các biện pháp đòi hỏi phải tìm ra các biện pháp quản lý phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, tận dụng các nguồn lực sẵn có trong nhà trường THCS trên cơ sở của khoa học quản lý giáo dục; tuân thủ các quy chế của Bộ GDĐT. Các biện pháp này phải phù hợp với khả năng quản lý trường học của cán bộ quản lý và điều kiện hoạt động thực tế của nhà trường, phù hợp với khả năng và trình độ của cán bộ thư viện, phù hợp với các điều kiện thực tiễn của nhà trường và địa phương.

3.2.4. Đảm bảo tính khả thi

Yêu cầu này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng trường THCS một cách thuận lợi, trở thành hiện thực và mang lại hiệu quả cao trong việc thực hiện các chức năng quản lý của người Hiệu trưởng, thúc đẩy hoạt động của thư viện ngày càng đạt hiệu quả cao. Để đạt được điều này, các biện pháp phải được xây dựng một cách chi tiết, rõ ràng, khoa học và khách quan. Cụ thể, khi xây dựng mỗi biện pháp, cần chỉ ra ý nghĩa của biện pháp, nội dung và cách tiến hành các công việc một cách cụ thể sao cho cán bộ quản lý, cán bộ thư viện có thể hiểu và thực hiện được; biện pháp phải phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất và các nguồn lực khác của nhà trường.

Các biện pháp quản lý hoạt động thư viện tại các trường THCS mặc dù đã được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn song chỉ trong phạm vi hẹp ở địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tuy vậy, vấn đề này phải được coi là vấn đề thiết thực có thể vận dụng vào công tác quản lý hoạt động thư viện tại các trường THCS trên địa bàn khác có các điều kiện tương tự.

3.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thư viện ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh

  • Mục tiêu Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Làm cho các lực lượng giáo dục như CBQL, CBTV, GV, HS, CMHS, các tổ chức xã hội trên địa bàn nhận thức rõ được ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của thư viện trong nhà trường. Đặc biệt là Hiệu trưởng phải thực sự coi trọng công tác thư viện trong trường học, phải nhận thức đầy đủ, chính xác về vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc QL thư viện trường học. CBTV phải hiểu được sâu sắc những giá trị thiết thực mà thư viện mang lại cho đời sống tinh thần của con người cũng như hoạt động dạy và học của GV và HS.

  • Nội dung biện pháp

Nâng cao nhận thức về hoạt động thư viện, về công tác quản lý thư viện và mục tiêu hoạt động thư viện ở trường THCS, cụ thể:

  • Quán triệt, bồi dưỡng về Chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành giáo dục địa phương về công tác thư viện trong trường phổ thông.
  • Tuyên truyền cho CBQL, GV, CBTV về tầm quan trọng của thư viện, của quản lý HĐTV và quản lý mục tiêu HĐTV.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm của CBQL, GV, CBTV, nhân viên trong công tác xây dựng và phát triển thư viện từ việc quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn tài liệu, đến việc quản lý CBTV, QL hoạt động phục vụ bạn đọc đồng thời nhận thức rõ được việc ứng dụng CNTT trong HĐTV và kiểm tra HĐTV cũng là những yếu tố rất quan trọng trong quá trình quản lý HĐTV.

Làm cho hiệu trưởng, CBQL nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc quản lý nhà trường nói chung, quản lý thư viện nói riêng trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, giáo dục của nhà trường. Cụ thể:

  • Hiệu trưởng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc quản lý HĐTV.
  • Khuyến khích tinh thần chủ động, sáng tạo của hiệu trưởng trong quá trình quản lý hoạt động thư viện.

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS, nhiệm vụ đặt ra đối với các thư viện trường học là phải đầu tư xây dựng nhằm đáp ứng với yêu cầu học tập và nghiên cứu ngày càng cao của GV và HS, đáp ứng với xu thế phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Vì vậy mà hoạt động thư viện trở thành hoạt động “đồng hành” không thể thiếu trong hoạt động giáo dục của nhà trường.

  • Cách thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Khi xây dựng kế hoạch năm học, cần chú trọng xây dựng kế hoạch quản lý HĐTV với đầy đủ nội dung, nhiệm vụ đã được xác định. Đồng thời tổ chức triển khai quán triệt một cách kịp thời, chu đáo để nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm về công tác quản lý thư viện cho tất cả cán bộ GV, nhân viên, HS trong toàn trường. Chỉ đạo, hướng dẫn cán bộ, GV xây dựng kế hoạch cá nhân, trong đó yêu cầu phải lồng ghép kế hoạch sử dụng thư viện.

Tổ chức cho đội ngũ cán bộ, GV, nhân viên trong nhà trường học tập một cách nghiêm túc, đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các quyết định, quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác thư viện; tầm quan trọng, vai trò của thư viện đối với các trường phổ thông, nội dung hoạt động của thư viện; trách nhiệm của CBQL, CBTV, GV, nhân viên trong việc tổ chức, thực hiện các hoạt động thư viện trong nhà trường. Trong quá trình tuyên truyền, hiệu trưởng cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức, thời gian, không gian tổ chức, kết hợp lồng ghép các chương trình nội và ngoại khóa, họp hội đồng sư phạm, sinh hoạt các đoàn thể, sinh hoạt chuyên môn… để khơi dậy trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với công tác này; tạo ra sự đồng thuận nhất trí cao trong tổ chức thực hiện nghị quyết hội đồng, chuyên môn, đoàn thể trong nhà trường về thư viện và quản lý thư viện.

Tổ chức các buổi trao đổi, các buổi sinh hoạt chuyên đề về thư viện trường học, các tiêu chí đánh giá thư viện và quản lý HĐTV cho CBQL, CBTV, GV và nhân viên nhà trường.

Tổ chức giao lưu với các trường THCS khác trong và ngoài địa bàn thị xã Tân Uyên để trao đổi kinh nghiệm nâng cao hiệu quả quản lý HĐTV.

Giới thiệu tài liệu về nghiệp vụ thư viện, về HĐTV và về quản lý HĐTV để CBQL, CBTV, GV, nhân viên nhà trường tự nghiên cứu.

Tổ chức phong trào thi đua nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình của cán bộ, GV trong việc quản lý thư viện và hướng dẫn HS đọc sách, xây dựng văn hóa đọc cho HS.

Chỉ đạo CBTV kịp thời giới thiệu cho GV, HS các tạp chí, sách báo, danh mục tài liệu có trong thư viện, các băng đĩa dạy minh họa do Bộ GDĐT cung cấp. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Định kì hàng tháng, học kỳ nhà trường cần tổ chức các buổi hội thảo khoa học, các chuyên đề đổi mới sách giáo khoa, dự giờ, thăm lớp, nên đi sâu vào công tác sử dụng tham khảo tìm tòi tài liệu để nâng cao kiến thức.

Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá trên cơ sở pháp lý, hành chính trong công tác sử dụng thư viện.

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

Hiệu trưởng phải có kế hoạch tuyên truyền, vận động GV, cha mẹ học sinh, HS và các tổ chức xã hội hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa và yêu cầu tổ chức các HĐTV một cách thiết thực, hiệu quả.

Hiệu trưởng phải dành thời gian cho hoạt động này một cách thỏa đáng. Các giáo viên chủ nhiệm (GVCN), Hội CMHS phải thực hiện tốt các chủ trương, các quy định của nhà trường về công tác thư viện.

Bản thân giáo viên bộ môn (GVBM), GVCN và CMHS phải ủng hộ các chủ trương, yêu cầu của nhà trường về việc tổ chức, thực hiện HĐTV, tham gia đầy đủ các buổi họp phổ biến về công tác thư viện. GVBM, GVCN phải là những tấm gương về cách sống và làm việc cho HS noi theo, phải thường xuyên đọc sách và khuyến khích HS đọc sách, đồng thời hỗ trợ tối đa cho CBTV nhà trường trong việc hướng dẫn HS đọc sách.

3.3.2. Biện pháp 2: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

  • Mục tiêu

Đối với CBQL: Giúp cho CBQL có những hiểu biết căn bản về thư viện trường THCS, về nghiệp vụ thư viện, về cách tổ chức, quản lý hoạt động của thư viện trường học. CBQL hiểu rõ về nghiệp vụ thư viện thì: quản lý thư viện mới có hiệu quả; việc lập kế hoạch HĐTV mới cụ thể; tổ chức thực hiện các công việc về thư viện mới thành công; kiểm tra giám sát công tác TV mới thực sự có tác dụng; đầu tư cở vật chất để xây dựng phát triển thư viện mới đúng hướng.

Đối với CBTV: Thông qua việc tổ chức bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ CBTV chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn và tổ chức bộ máy quản lý hoạt động hiệu lực, hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển của trường, hướng đến xây dựng văn hóa đọc, xây dựng thư viện thân thiện trong nhà trường.

  • Nội dung biện pháp
  • Đối với CBQL:

Tổ chức cho CBQL bồi dưỡng về khoa học quản lý, về các kỹ năng quản lý (đối với một số CBQL chưa được bồi dưỡng về QL), bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ công tác thư viện, về cách quản lý HĐTV. CBQL hiểu rõ về khoa học quản lý, về nghiệp vụ thư viện thì mới thực hiện các biện pháp quản lý HĐTV hiệu quả.

Ngoài ra, bản thân người CBQL phải tự học hỏi những kiến thức cần thiết về QL cũng như về nghiệp vụ thư viện, để quản lý chuyên môn của CBTV có chất lượng. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Đối với CBTV:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Hiện nay các CBTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên đa phần là các GV không đứng lớp giảng dạy nên được điều sang phụ trách thư viện, do đó họ khó có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của CBTV trong trường học. Vì thế, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất cần thiết. Nguồn nhân lực thư viện là nguồn lực con người có trình độ, kiến thức, năng lực hoặc tiềm năng tham gia HĐTV để duy trì và phát triển lĩnh vực này. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thư viện là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn lực con người với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành, đồng thời đảm bảo sự phát triển, thăng tiến của mỗi cá nhân. Mặt khác, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động thông tin thư viện và đã làm cho vai trò của CBTV thay đổi, CBTV ngày nay không chỉ đơn thuần là người tìm tài liệu theo yêu cầu của bạn đọc mà còn là cầu nối giữa bạn đọc với các nguồn tin khác. Do đó, đòi hỏi CBTV không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn giỏi về ngoại ngữ và sử dụng thành thạo các phương tiện thông tin hiện đại … để nâng cao năng lực phục vụ bạn đọc, năng lực tác nghiệp, năng lực ứng dụng CNTT vào hoạt động của thư viện. Chính vì lẽ đó, việc nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ chuyên môn cho CBTV là một đòi hỏi tất yếu để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

  • Cử CBTV của nhà trường tham gia các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ thư viện.
  • Tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với CBTV trong địa bàn thị xã, thư viện thị xã, thư viện các trường trong địa bàn tỉnh Bình Dương.
  • Tham dự các buổi tập huấn về chuyên đề thư viện trường học để nâng cao nghiệp vụ thư viện và làm tốt công tác phục vụ bạn đọc.
  • Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để CBTV không ngừng phát huy sáng tạo.

Cách thực hiện biện pháp

  • Đối với CBQL: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Cán bộ quản lý khi nhận nhiệm vụ quản lý HĐTV thì cần nắm chắc về khoa học quản lý; cần được tập huấn nghiệp vụ công tác thư viện.

Cán bộ quản lý phải tự học về nghiệp vụ thư viện qua các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ thư viện của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, thông qua sách và các ấn phẩm về nghiệp vụ thư viện của các nhà xuất bản đồng thời học hỏi qua thực tế quản lý.

Để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, cán bộ quản lý phải thường xuyên trao đổi với CBTV về nội dung các HĐTV, về nghiệp vụ thư viện, hiểu được công việc của CBTV để từ đó có những biện pháp quản lý thư viện đạt hiệu quả.

Tổ chức các buổi giao lưu học tập kinh nghiệm quản lý thư viện của các trường bạn về cách sắp xếp, tổ chức, quản lý thư viện.

  • Đối với CBTV:

Khuyến khích CBTV tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. CBTV vừa là người quản lý trực tiếp thư viện, là người đồng hành với CBQL, GV, HS trong việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu trong thư viện một cách có hiệu quả. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu dạy và học hiện nay, điều hết sức cần thiết là phải đào tạo, bồi dưỡng kĩ năng, nghiệp vụ cho CBTV. Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để CBTV tham gia đầy đủ các khóa học về kỹ năng nghiệp vụ công tác thư viện cũng như tham gia cuộc thi CBTV giỏi. Mặt khác, nhà trường có thể tổ chức tham quan một số trường có thư viện hoạt động hiệu quả cao để học tập, tham khảo về cách quản lý thư viện cũng như các mô hình hoạt động tích cực khác. Trên cơ sở đó vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo vào tình hình thực tế của đơn vị mình.

Phân công CBTV sinh hoạt chuyên môn cùng GV trong các tổ chuyên môn, lần lượt mỗi năm sinh hoạt chuyên môn cùng một tổ, sau 5 năm, CBTV sẽ nắm được cơ bản nội dung chương trình học của HS, từ đó có những hiểu biết cần thiết để hỗ trợ cho GV trong giảng dạy và giúp HS đọc sách hiệu quả.

Tuyên truyền, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho CBTV thông qua các buổi tọa đàm, học nhiệm vụ năm học, các buổi họp tổng kết hoạt động giáo dục… Tuyên truyền để CBTV hiểu cần phải thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu về mọi mặt để đạt được những yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể:

Là người có tư tưởng tiên tiến, hết lòng vì HS thân yêu, luôn luôn suy nghĩ và hành động phục vụ HS theo mục đích, phương châm và đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước. Phải thường xuyên học tập chính trị, đường lối chính sách của Đảng, nhất là những quan điểm giáo dục, mục tiêu đào tạo của nhà trường; trên cơ sở đó có phương hướng xây dựng, tổ chức HĐTV đạt kết quả tốt. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Có lòng nhiệt tình, yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, phẩm chất đạo đức trong sạch, toàn tâm, toàn ý với công việc của mình; có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác thư viện. Bên cạnh đó thái độ phục vụ của CBTV phải hòa nhã, phục vụ nhanh gọn, văn minh, lành mạnh trên tinh thần hợp tác tạo điều kiện tốt nhất cho bạn đọc khi đến thư viện.

Có trình độ văn hóa và học thức rộng để giúp cho GV trong công tác soạn giảng và chủ động hướng dẫn HS đọc sách, báo. Để đáp ứng yêu cầu này, CBTV phải thường xuyên tự học để mở rộng kiến thức, chịu khó học hỏi và tham gia các hoạt động nghiên cứu, sinh hoạt chuyên đề cùng các tổ bộ môn.

Có trình độ nhất định về tin học để từng bước quản lý thư viện bằng máy tính, có thể truy cập Internet để khai thác tư liệu cần thiết phục vụ bạn đọc, có khả năng thích ứng trong môi trường làm việc từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại.

Tập trung nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến biện pháp quản lý HĐTV trường học. Các buổi sinh hoạt chuyên đề về thư viện phải đưa ra những nội dung thiết thực, phục vụ cho việc nâng cao chất lượng HĐTV.

Trong từng học kỳ, yêu cầu CBTV, tổ chuyên môn chọn đánh giá HĐTV, bổ sung danh mục sách nghiệp vụ, sách tham khảo, các thành viên phải tự đề xuất danh mục sách cần bổ sung. Sau đó CBTV căn cứ vào văn bản hướng dẫn chi ngân sách cho thư viện và đề xuất nhà trường mua bổ sung sách báo các loại.

Tích cực học tập các sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, tích cực vận dụng các sáng kiến về tổ chức HĐTV của các đồng nghiệp đã được đánh giá cao vào công tác tổ chức HĐTV tại đơn vị.

Sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng CBTV đạt chuẩn quy định, thực hiện tốt chế độ chính sách cho CBTV trường phổ thông. Cụ thể: Hiệu trưởng bồi dưỡng CBTV đáp ứng cả hai yêu cầu: có nghiệp vụ thư viện và hiểu biết về chương trình giáo dục, có kiến thức tâm lý giáo dục. Thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách ưu đãi cho CBTV nhằm động viên, khuyến khích tinh thần làm việc, tạo tâm lý an tâm công tác lâu dài với nghề thư viện. Khuyến khích, tạo điều kiện cho CBTV thi nhân viên thư viện giỏi các cấp.

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

Để thực hiện được việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ thư viện cho CBQL, bản thân người CBQL phải tự nhận thức được sự cần thiết của việc bồi dưỡng này và tích cực cũng như chủ động tham gia tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho bản thân. Ngoài ra, các nhà trường cần tạo điều kiện về thời gian để CBQL tham gia các lớp tập huấn. Đồng thời Phòng GDĐT, Sở GDĐT cũng cần có kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ thư viện cho CBQL thư viện các trường THCS.

Tùy theo đặc điểm tình hình của mỗi trường, nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho CBTV. Kế hoạch bồi dưỡng CBTV cần được thực hiện đồng bộ với các kế hoạch tổng thể của nhà trường.

3.3.3. Biện pháp 3: Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Mục tiêu

Thư viện trường học là một trung tâm văn hóa, khoa học của nhà trường, nó đòi hỏi phải có những cảnh quan và không gian văn hóa để phục vụ bạn đọc.

Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang bị hạ tầng CNTT nhằm chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin là một trong những yếu tố cần thiết thúc đẩy hoạt động thông tin phát triển.

  • Nội dung biện pháp

Để đáp ứng nhu cầu đổi mới phướng pháp dạy – học như hiện nay, đáp ứng nhu cầu về học tập, giải trí của HS và nghiên cứu của GV, là nơi cung cấp nguồn tri thức cho GV và HS thì ngoài vốn tài liệu phong phú, đa dạng, thư viện cần phải mở rộng diện tích và hiện đại hóa các trang thiết bị để có không gian phù hợp, phòng đọc rộng rãi, thoáng mát, hệ thống máy tính trang bị đầy đủ đảm bảo cho GV, HS truy cập thông tin phục vụ việc tự học, tự nghiên cứu…

Hiện trạng cơ sở vật chất của các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên cho thấy trang thiết bị, máy tính chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của HS và nghiên cứu của GV. Vì vậy, các trường cần tăng cường CSVC và trang thiết bị phù hợp cho TV, từng bước hiện đại hóa, có khả năng đáp ứng các yêu cầu đa dạng và ngày càng cao của bạn đọc. Song song với việc đầu tư CSVC là tạo nguồn kinh phí cho TV, đồng thời nhà trường cần nâng cao hiệu quả QL CSVC thư viện.

Bên cạnh đó việc huy động các nguồn XHH để đầu tư phát triển thư viện, tăng nguồn tài liệu sách báo, tạp chí cho thư viện, đồng thời trang bị CSVC cho thư viện như mua sắm bàn ghế, tạo chỗ ngồi thoải mái cho bạn đọc, trang bị máy tính có kết nối Internet để GV và HS có thể dễ dàng truy cập thông tin và tìm đọc tài liệu tham khảo. Huy động kinh phí để CBTV thực hiện các hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách, thi kể chuyện theo sách, triển lãm sách nhằm thu hút bạn đọc đến đọc sách tại thư viện.

  • Cách thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Hàng năm, song song với việc sửa chữa phòng học, căn cứ vào kế hoạch mua sắm CSVC, trang thiết bị cho nhà trường, hiệu trưởng cần dành kinh phí thích hợp để đầu tư cho TV như mua sắm trang thiết bị, vốn tài liệu, sách, báo, tạp chí …

Hiệu trưởng cần đưa vấn đề đầu tư CSVC cho thư viện vào kế hoạch huy động nguồn XHH giáo dục. Trong các buổi họp CMHS, vấn đề này được đưa ra thảo luận và lấy ý kiến đóng góp của CMHS.

Hiệu trưởng kêu gọi sự ủng hộ của các tổ chức đoàn thể trong việc đầu tư cho thư viện. Cụ thể như: Ngoài số lượng sách báo hiện có, thư viện cần phải được “làm mới” theo hàng năm bằng cách trang bị thêm một số đầu sách mới để tránh sự “nhàm chán” cho bạn đọc; trên cơ sở tham mưu của CBTV nhà trường xây dựng kế hoạch mua sách báo từ nguồn kinh phí của đơn vị. Bên cạnh đó tranh thủ sự hỗ trợ của các lực lượng trong nhà trường như tổ chức cho Đội thiếu niên tiền phong xây dựng phong trào “góp 01 cuốn sách để được đọc 100 cuốn sách” sau đó có sơ tổng kết khen thưởng kịp thời đối với những lớp tặng nhiều sách, đồng thời mở rộng phong trào này đến CBQL, GV, nhân viên. Sách càng nhiều, càng mới chính là yếu tố “kích thích” bạn đọc đến với thư viện ngày càng tăng.

Hiệu trưởng cần tăng cường CSVC và trang thiết bị phù hợp để đáp ứng các yêu cầu đa dạng và ngày càng cao của bạn đọc. Cụ thể: Mở rộng diện tích phòng thư viện, trang bị máy tính có kết nối mạng, nâng cấp đường truyền Internet, xây dựng kho mở. Mua sắm các trang thiết bị và kỹ thuật đi kèm như các phần mềm thư viện cài đặt trên máy tính hỗ trợ việc tra cứu, lưu trữ tài liệu, trang bị các thiết bị phục vụ việc học ngoại ngữ cho GV và HS.

Thư viện phải trang bị các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc bảo quản tài liệu và sữa chữa nhỏ như máy hút bụi, máy đóng gáy sách.

Các trang thiết bị được trang bị cho TV phải đáp ứng đủ số lượng và chất lượng. Khi đầu tư thiết bị phải tính toán kỹ trên số lượng công việc, số người và cấu hình kỹ thuật để trang bị không thiếu, không thừa và phải mang tính đồng bộ.

  • Điều kiện để thực hiện biện pháp

Cán bộ quản lý nhận thức đúng vai trò và tầm quan trọng của thư viện để đầu tư kinh phí thích đáng cho việc trang bị CSVC trong thư viện.

Cha mẹ HS ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư CSVC cho thư viện.

Tập thể GV, nhân viên nhà trường đồng thuận và ủng hộ nhà trường xây dựng thư viện thân thiện cho xứng tầm là trung tâm văn hóa của nhà trường, cùng với nhà trường tham gia đóng góp, đầu tư CSVC cho thư viện, kêu gọi sự ủng hộ giúp đỡ của các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

3.3.4. Biện pháp 4: Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở

  • Mục tiêu

Xây dựng thư viện thân thiện hướng tới việc bồi dưỡng kĩ năng đọc sách cho HS, khơi dậy hứng thú đọc sách, nâng dần văn hóa đọc từ đó nâng cao khả năng tự học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường THCS.

Nội dung biện pháp

  • Nâng cao nhận thức, đầu tư cơ sở vật chất, trang trí thư viện đẹp mắt, thân thiện phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS.
  • Tổ chức, sắp xếp thư viện thân thiện.
  • Tăng cường phối hợp giữa CBTV với tổ trưởng chuyên môn (TTCM) và
  • Chỉ đạo đổi mới các HĐTV thân thiện nhằm phát triển “văn hóa đọc” trong nhà trường THCS.
  • Đa dạng hóa các hình thức của thư viện trường học.
  • Thường xuyên bổ sung các loại sách mới cho tủ sách thư viện.
  • Xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo thực hiện TV thân thiện.

Cách thực hiện biện pháp

  • Nâng cao nhận thức đầu tư CSVC, trang trí thư viện đẹp mắt, thân thiện, phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS:

Nâng cao nhận thức của CBQL các nhà trường về vai trò của thư viện trường học thân thiện và văn hóa đọc trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở đó cần có sự đầu tư thích đáng về CSVC – kỹ thuật cho thư viện trường học để duy trì hoạt động thường xuyên, liên tục. Bên cạnh đó, CBTV trường học cần được đảm bảo các chế độ đãi ngộ và được tham gia các lớp bồi dưỡng, nâng cao trình độ, tham quan, học hỏi kinh nghiệm từ các thư viện trường học tiên tiến ở trong và ngoài nước. CBTV trường học cũng cần được trau dồi các kỹ năng nắm bắt tâm sinh lý lứa tuổi, thuyết phục và định hướng đọc, kể chuyện… giúp cho quá trình hình thành và phát triển hứng thú đọc, kỹ năng đọc và nhu cầu đọc của HS.

  • Tổ chức, sắp xếp thư viện thân thiện, tổ chức tốt các hoạt động thư viện thân thiện

Ngoài việc đầu tư CSVC tối thiểu theo quy định cho thư viện, hiệu trưởng cần tận dụng CSVC của nhà trường để mở rộng diện tích thư viện. Sắp xếp thư viện mở thành một không gian học tập chung trong nhà trường, nhằm mang lại tiện ích tốt nhất cho bạn đọc. Tích cực tổ chức các HĐTV, tăng cường giao lưu, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa CBTV với bạn đọc, bạn đọc với bạn đọc. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Tăng cường phối hợp giữa CBTV với TTCM và GVCN

Hiệu trưởng ban hành quy chế phối hợp giữa CBTV với TTCM, GVCN nhằm thúc đẩy, nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động với thư viện, cũng như nâng cao vai trò của thư viện trong đổi mới dạy và học.

Tổ chức các HĐTV hỗ trợ cho hoạt động dạy học và giáo dục HS theo quy luật của chất lượng giáo dục là: Người học ra sức phát huy nội lực để học và biết cách học.

Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chức các HĐTV gắn với chương trình dạy học và giáo dục trong nhà trường, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học. Tạo điều kiện cho GV tham khảo sách báo, tài liệu phục vụ giảng dạy trên lớp. Hướng dẫn HS cách đọc sách hiệu quả, hình thành văn hóa đọc cho các em. Tạo điều kiện cho HS phát huy năng lực tự học, thói quen học nhóm với tinh thần chủ động, tư duy tích cực và hỗ trợ lẫn nhau.

Xây dựng văn hóa học tập trong nhà trường: Xây dựng văn hóa học tập là một biểu hiện của văn hóa nhà trường – văn hóa chất lượng. Văn hóa chất lượng trong nhà trường biểu hiện ở hành vi và nhu cầu nâng cao chất lượng của tất cả thành viên trong nhà trường. Xây dựng nhà trường trở thành môi trường có văn hóa chất lượng là xây dựng môi trường học tập, môi trường mọi người cùng học tập, môi trường mà mọi hành vi của con người trong tập thể đều hướng đến thực hiện khát vọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện nhân cách của mình, góp sức nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. (Nguyễn Thị Quỳnh, 2025)

  • Chỉ đạo đổi mới HĐTV thân thiện nhằm phát triển “văn hóa đọc” trong nhà trường THCS

Chỉ đạo đổi mới hoạt động đọc sách thông qua các biện pháp quản lí hành chính. Đổi mới và đa dạng hóa các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS như: Lồng ghép văn hóa đọc vào bài giảng; bồi dưỡng kĩ năng đọc sách cho HS; xây dựng “Tủ sách mini” tại các lớp học, xây dựng “Thư viện xanh”, nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách; phát động các cuộc thi về kĩ năng đọc sách đối với HS, thành lập các câu lạc bộ đọc sách, yêu sách…

Chỉ đạo hoạt động đọc sách thông qua các biện pháp quản lí hành chính: Đây là những quy định bắt buộc về việc đọc sách, mượn sách tại thư viện nhà trường đối với cả GV và HS. Chẳng hạn như: quy định thời gian đọc sách, số lượt mượn sách đối với GV và HS tại thư viện trong một tuần, tháng…; đưa tiêu chí số lượt đọc sách tại thư viện vào tiêu chí thi đua hàng tuần của các lớp, thi đua học kì, cuối năm của GV; kiểm tra giáo án tuyên truyền, giới thiệu sách của nhân viên thư viện, tập thể lớp hàng tháng … Từ các biện pháp quản lí hành chính sẽ tạo nên hiệu ứng thi đua sâu rộng về đọc sách trong GV và HS của nhà trường, giáo dục thói quen đọc sách và nhu cầu đọc sách cho HS THCS. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Đổi mới và “đa dạng hóa” các hoạt động để phát triển văn hóa đọc cho HS THCS bao gồm các hoạt động sau:

Lồng ghép văn hóa đọc trong bài giảng của GV bộ môn, GV chủ nhiệm rất quan trọng: ví dụ GV có thể yêu cầu HS viết những cảm nhận về cuốn sách mình đọc trong các giờ sinh hoạt chung, yêu cầu HS tự tìm tư liệu phục vụ các chủ đề của bài học,… điều này yêu cầu mỗi GV phải là một tấm gương đọc sách, là những người truyền cảm hứng đọc cho các em HS.

Bồi dưỡng kĩ năng đọc sách cho HS: Biện pháp này nhằm giúp các em có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc đọc sách thường xuyên, cũng như cung cấp cho các em phương pháp, kĩ năng đọc sách hiệu quả. Hiệu trưởng nhà trường cần chỉ đạo việc bồi dưỡng phương pháp, kĩ năng đọc sách hiệu quả cho HS thông qua các tiết học. Tích hợp trong các môn học và yêu cầu GV định hướng việc tìm tài liệu để đọc cho HS theo các môn học và chủ đề cụ thể.

Xây dựng “Thư viện xanh”: nhằm đổi mới hình thức đọc sách, tạo hứng thú đọc sách cho HS và tận dụng không gian sân chơi trong những ngày thời tiết đẹp thông qua mô hình “giỏ sách di động”,… HS có thể tự do lấy sách và ngồi học ngay tại ghế đá dưới gốc cây sau đó tự giác trả lại đúng nơi quy định. Để xây dựng thư viện xanh, dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng, CBTV cần phát động tới từng lớp, từng HS về phong trào này.

Thường xuyên tuyên truyền và giới thiệu sách: Đây là biện pháp hữu hiệu nhất nhằm giúp CBQL, GV, HS dễ dàng tiếp cận với sách báo mới, những vấn đề mang tính thời sự. Việc tổ chức tuyên truyền được thực hiện theo từng tháng, để làm tốt điều này CBTV phải có sự “sàn lọc” kỹ lưỡng trong từng tháng sao cho phù hợp với nội dung tuyên truyền và giới thiệu sách. Đối với HS có thể tuyên truyền trong buổi sinh hoạt dưới cờ, đối với CBQL, GV, nhân viên có thể thực hiện vào ngày họp Hội đồng sư phạm, … Bên cạnh đó CBTV phát hiện sách báo mới, tư liệu mới tổ chức giới thiệu bằng nhiều hình thức khác để kịp thời với nhu cầu dạy – học của GV và HS. Chẳng hạn, trong đợt thi giải Toán trên mạng, tài liệu hướng dẫn không có tại thư viện, CBTV biết được thông tin nơi bán có thể thông báo rộng rãi cho HS để phục vụ kịp thời cho kỳ thi …

Tổ chức các cuộc thi kể chuyện theo sách: Đây là hoạt động giúp cho HS có thói quen đọc sách và làm theo sách, rèn luyện trí nhớ, phát triển tư duy, mở rộng nhận thức cho HS về thế giới xung quanh, bồi dưỡng cho các em tình cảm lành mạnh, có kỹ năng giao tiếp ứng xử linh hoạt trong quá trình thi. Đặc biệt, qua những mẫu chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã góp phần giáo dục rất lớn về phẩm chất đạo đức và ý chí phấn đấu vượt qua mọi khó khăn trong học tập của HS.

  • Đa dạng hóa các hình thức của thư viện trường học: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Các hình thức của thư viện trường học cần được thay đổi thường xuyên, tránh cho HS bị nhàm chán; ví dụ: thư viện góc lớp, thư viện xanh, tổ chức thi kể chuyện, thi đọc sách…biện pháp này đòi hỏi CBTV trường học phải có kỹ năng hướng dẫn, tuyên truyền, khơi dậy trí tò mò và sự sáng tạo của HS đồng thời phải không ngừng đổi mới phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của thư viện của nhà trường và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của HS.

  • Xây dựng không gian đọc và học tập thân thiện tại thư viện

Thường xuyên trang bị thêm sách tham khảo, sách nghiệp vụ, tạp chí, … để thu hút bạn đọc đến thư viện. Ngoài ra, thư viện cần bố trí theo hướng mở để việc đọc sách ở thư viện luôn được gần gũi và thân thuộc như đọc sách ở nhà. Điều này đòi hỏi thư viện phải có không gian xanh, thoáng mát, trong lành, không nhất thiết phải quá nghiêm trang nhưng phải tạo được môi trường đọc – học thân thiện. Bên cạnh không gian đọc hạn hẹp trong phòng đọc, các thư viện có thể mở rộng không gian đọc tại các khu vực lân cận như: phòng truyền thống, hành lang, sân trường … Đặc biệt, các không gian học tập được thiết kế riêng đảm bảo sự yên tĩnh và đầy đủ ánh sáng, bàn ghế,… còn không gian đọc mở có thể thiết kế đảm bảo tính thẩm mĩ, thân thiện, phù hợp với hứng thú, sở thích của HS THCS, thuận lợi về nguồn tài liệu đọc và bàn ghế ngồi đọc, đảm bảo an toàn sức khỏe cho HS. Mặt khác, thư viện có thể trang trí theo các chủ đề khác nhau theo từng thời điểm trong năm (ví dụ như chủ điểm trung thu, noel…) điều này tạo cho các em HS niềm hứng khởi mỗi khi bước vào thư viện là bước vào khu vườn tri thức đầy màu sắc.

Về phương thức hoạt động của thư viện cũng cần có sự thay đổi theo hướng tích cực và thân thiện như: kho tài liệu là kho mở, mạng lưới thư viện là các HS có tính năng động, sáng tạo, có khả năng hướng dẫn bạn bè tra tìm tài liệu, tăng cường các hoạt động tuyên truyền hướng dẫn đọc thông qua các cuộc thi tìm hiểu về sách, câu lạc bộ đọc sách… việc làm này nâng cao tinh thần tự giác của các em, đồng thời kích thích nhu cầu và hứng thú đọc của HS.

Thư viện cần có sự phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, hội như hội CMHS, liên chi đội, các GV trong nhà trường trong công tác XHH thư viện. Công tác XHH thư viện trường học cần được thực hiện và triển khai dưới nhiều góc độ. Hiện nay XHH thư viện trường học phổ biến nhất là hình thức vận động CMHS đóng góp xây dựng thư viện.

  • Xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo thực hiện thư viện thân thiện

Xây dựng môi trường học tập thân thiện, môi trường văn hóa lành mạnh luôn là nền tảng quan trọng thúc đẩy các hoạt động học tập, đọc sách, nghiên cứu, tìm hiểu diễn ra sâu rộng trong tập thể GV và HS.

Trang bị nguồn sách báo, tài liệu đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS THCS là điều kiện đầu tiên cho việc xây dựng môi trường đọc sách thân thiện, tạo hứng thú đọc sách của HS trong nhà trường từ đó nâng dần khả năng tự học, tự nghiên cứu. Hệ thống sách báo, tài liệu càng phong phú thì HS tiếp cận được nguồn đọc nhiều hơn. Do vậy, hiệu trưởng các nhà trường cần chủ động trong việc tăng số lượng sách trong thư viện bằng nhiều nguồn khác nhau.

Xây dựng hệ thống lưu trữ về các dạng đề thi, đáp án, nội dung ôn tập các môn học của các khối lớp, kì thi tuyển sinh vào lớp 10, kỳ thi vào các trường trung học phổ thông chuyên,… để làm tư liệu học tập cho HS, đặc biệt là HS lớp 9.

  • Thủ tục mượn, trả thân thiện Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Để HS đến với thư viện đọc sách thường xuyên, Hiệu trưởng nhà trường cần chỉ đạo việc đơn giản hóa các thủ tục mượn trả đối với nghiệp vụ thư viện để tạo sự thoải mái cho người đọc; đồng thời, ban hành các quy định, nội quy nhất định để đảm bảo việc mượn, trả, đọc sách, tra cứu thông tin tại thư viện được diễn ra một cách nghiêm túc. Đồng thời, Hiệu trưởng ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thời gian đọc sách, không gian đọc sách, những hành vi nghiêm cấm tại thư viện nhà trường. Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm học, các nhà trường cũng cần tổ chức cho HS học tập và tìm hiểu về HĐTV để các em HS không bỡ ngỡ, không vi phạm và nâng cao ý thức tự giác khi đến thư viện, đồng thời khơi dậy niềm đam mê đọc sách, yêu sách của mỗi HS.

  • Điều kiện để thực hiện biện pháp

Ngay từ đầu năm học, nhà trường cần quán triệt chủ trương xây dựng thư viện thân thiện cho GV, CBTV, nhân viên và HS trong nhà trường đồng thời thông báo với CMHS để tranh thủ sự tham gia đóng góp xây dựng ý kiến của các lực lượng GD trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động của nhà trường nhằm tạo sự đồng thuận trong mọi hoạt động, trong đó có HĐTV, từ đó mọi lực lượng GD đều hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và phát triển nhà trường.

Tăng cường XHH GD trên tất cả mọi lĩnh vực để lôi kéo sự tham gia của các lực lượng GD vào các hoạt động của nhà trường, trong đó có việc xây dựng và phát triển thư viện thân thiện.

3.3.5. Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện

  • Mục tiêu

Kiểm tra, đánh giá là hoạt động nghiệp vụ nhằm phát huy các yếu tố tích cực, ngăn chặn và khắc phục tồn tại, giúp người QL nắm bắt kịp thời, đầy đủ các thông tin để tìm phương hướng và biện pháp điều khiển hoạt động của đơn vị. Vì vậy, Hiệu trưởng tổ chức kiểm tra, đánh giá thư viện nhằm nâng cao chất lượng HĐTV.

  • Nội dung biện pháp

Kiểm tra thường xuyên, hàng tuần, kiểm tra chuyên môn của CBTV, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thư viện của CBTV, kiểm tra việc khai thác và sử dụng CSVC, trang thiết bị của thư viện cũng như việc bảo quản và giữ gìn các trang thiết bị và CSVC, các tài liệu có trong thư viện. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Đánh giá hiệu quả hoạt động của thư viện dựa vào tiêu chí đánh giá thư viện.
  • Kiểm tra nội bộ và tự đánh giá thư viện.

Động viên, khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác thư viện hoặc điều chỉnh công tác thư viện theo mục tiêu của nhà trường.

  • Cách thực hiện biện pháp

Tổ chức kiểm tra nội bộ và tự đánh giá thư viện trường hàng năm trước khi Phòng GDĐT đánh giá xếp loại thư viện. Cụ thể:

Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo các bộ phận có liên quan xác định mục tiêu, nội dung chuẩn cần đánh giá, lựa chọn phương pháp, kĩ thuật đánh giá và sau cùng là hướng dẫn, tổ chức các lực lượng trong nhà trường cùng kiểm tra, đánh giá.

Chỉ đạo các bộ phận kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động của thư viện không chỉ dựa vào hình thức bố trí, sắp xếp phòng đọc của thư viện, hệ thống hồ sơ sổ sách quản lý thư viện mà còn dựa vào kết quả nhìn nhận đánh giá của GV và HS về hiệu quả hoạt động của thư viện, sự yêu thích của GV, HS dành cho thư viện nhà trường.

Tổ chức cho CBQL, CBTV thảo luận, góp ý về nội dung và tiêu chí kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của thư viện, sau đó hoàn thiện, xây dựng thành bản “quy định” được coi là công cụ đánh giá. Cuối cùng là phổ biến, hướng dẫn cho cán bộ, GV biết để thực hiện.

Trong quá trình kiểm tra, đánh giá nếu phát hiện sai sót phải chỉ ra được khuyết điểm và nguyên nhân gây ra những khuyết điểm đó, trong đó có cả nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, đồng thời nêu ra những biện pháp khắc phục; phải đi sâu vào thực chất công việc của Thư viện để tìm ra những nét mới trong công tác, phổ biến và áp dụng những hình thức công tác mới, tiên tiến…

Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả của hoạt động thư viện các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên là hết sức khó khăn vì đây là một lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu về tinh thần của bạn đọc. Vì vậy, một số hoạt động của thư viện có thể được đánh giá bằng những con số, tiêu chí, một số khác không thể đánh giá được như là tác dụng của sách, báo thư viện trong việc giáo dục đạo đức cho HS, góp phần xây dựng “Văn hóa đọc” trong nhà trường, …

Sau mỗi đợt kiểm tra, đánh giá đó hiệu trưởng có sự nhận xét, đánh giá những mặt làm được và chưa làm được để so sánh với năm học trước, từ đó có sự uốn nắn rút kinh nghiệm kịp thời trong công tác quản lý HĐTV đồng thời ra những quyết định điều chỉnh hoặc thúc đẩy thư viện nhà trường hoạt động tốt hơn, phấn đấu đạt chuẩn cao hơn vào những năm tiếp theo. Cứ như thế, những biện pháp được bổ sung hoàn thiện dần theo từng năm. Đồng thời qua tổng kết công tác thư viện trong từng năm nhằm tìm ra những sáng kiến mới, những mô hình hoạt động tích cực để duy trì và nhân rộng trong toàn địa bàn thị xã Tân Uyên.

Hiệu trưởng động viên, khen thưởng kịp thời bằng vật chất và tinh thần đối với tập thể, cá nhân GV và HS tham gia các HĐTV trường học với chất lượng tốt hoặc hoàn thành xuất sắc trong công tác thư viện.

Hiệu trưởng chỉ đạo, tổ chức công tác thi đua khen thưởng toàn trường, trong đó có thư viện với tinh thần công bằng, trân trọng, khuyến khích, động viên CBTV hoàn thành tốt công việc. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Điều kiện thực hiện biện pháp

Phải xác định rõ nhiệm vụ của CBTV, nhiệm vụ của thư viện trong hoạt động giáo dục chung của nhà trường, từ đó xác định được các tiêu chuẩn đánh giá để có cơ sở kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của thư viện.

Việc kiểm tra, đánh giá cần có sự thống nhất trong Hội đồng trường. Việc đánh giá cần xác định rõ mục tiêu: không chỉ đánh giá kết quả mà chủ yếu là tìm cơ sở điều chỉnh các hoạt động của thư viện, CBTV sao cho phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất.

3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp

Các biện pháp được tác giả đề xuất có vị trí, vai trò nhất định và có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, tạo điều kiện và bổ sung cho nhau trong hệ thống biện pháp quản lý hoạt động thư viện. Thực hiện tốt biện pháp này thì sẽ tác động và gây hiệu ứng tốt đến các biện pháp còn lại.

Đối với biện pháp “Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh” có vai trò quyết định trong việc định hướng cho hành động, do đó chất lượng và hiệu quả quản lý hoạt động thư viện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên phụ thuộc phần lớn vào nhận thức của CBQL, GV và HS ở các nhà trường.

Đối với các biện pháp “Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực”; “Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin”, “Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện”, đây là những hoạt động trọng tâm của công tác QL hoạt động thư viện. Đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ CBQL, CBTV đủ về số lượng và có năng lực QL giỏi, chuyên môn nghiệp vụ thư viện giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc là cơ sở quan trọng cho các hoạt động thư viện đạt hiệu quả. Đầu tư, trang bị CSVC, cơ sở hạ tầng CNTT đầy đủ tạo điều kiện cho thư viện hoạt động hiệu quả hơn, giúp độc giả hứng thú hơn khi đến với thư viện, thường xuyên kiểm tra hoạt động thư viện giúp việc tổ chức các hoạt động của thư viện chu đáo hơn, chặt chẽ, khoa học hơn và có chất lượng hơn.

Đối với biện pháp “Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở” đóng vai trò rất quan trọng, làm cho độc giả đến thư viện đọc sách thường xuyên hơn giúp nâng cao được văn hóa đọc, văn hóa học tập trong nhà trường. Do đó, chất lượng học tập sẽ được nâng cao, vị thế nhà trường sẽ được khẳng định.

Sử dụng đồng bộ các biện pháp trên, kết hợp với việc huy động các nguồn lực cần thiết cho phép chúng ta giải quyết được những vấn đề đã đặt ra là quản lý HĐTV, xây dựng được thư viện thân thiện hướng tới việc bồi dưỡng kĩ năng đọc sách cho HS, khơi dậy hứng thú đọc sách, nâng dần văn hóa đọc từ đó nâng cao khả năng tự học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường THCS đảm bảo yêu cầu về mọi mặt, phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3.5. Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

3.5.1. Mục đích khảo nghiệm

Nhằm đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đã được đề xuất.

3.5.2. Công cụ và khách thể khảo sát

  • Công cụ khảo sát

Công cụ khảo sát là phiếu hỏi dành cho CBQL, CBTV và GV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Các biện pháp được khảo sát bao gồm:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh.
  • Biện pháp 2: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
  • Biện pháp 3: Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
  • Biện pháp 4: Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở
  • Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện.

Tác giả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất ở 5 mức độ, người trả lời chỉ được chọn một mức độ duy nhất.

  • Khách thể khảo sát

Khách thể khảo sát là 70 GV, CBTV, CBQL (gồm Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, TT/TPCM) của các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3.5.3. Quy định các mức độ đánh giá Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

  • Mức 1: Hoàn toàn không khả thi /Hoàn toàn không cần thiết
  • Mức 2: Không khả thi / Không cần thiết
  • Mức 3: Ít khả thi / Ít cần thiết
  • Mức 4: Khả thi/Cần thiết
  • Mức 5: Rất khả thi / Rất cần thiết

Quy ước thang đo

Sau khi thu về phiếu thăm dò ý kiến, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để tiến hành thống kê: tính điểm trung bình cho tất cả các biện pháp khảo sát. Mặt khác còn tiến hành tính tỉ lệ phần trăm cho mỗi mức độ của từng biện pháp đã đề xuất. Dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) /n = (5-1)/5 = 0.8, quy ước thang đo thể hiện ở bảng 3.1 như sau:

  • Bảng 3.1. Cách tính điểm của phiếu hỏi

3.5.4. Kết quả khảo sát

Để có cơ sở đánh giá mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của 70 GV, CBTV, CBQL các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên. Kết quả khảo sát được ghi nhận dưới đây:

  • Biện pháp nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh về quản lý hoạt động thư viện

Vì con người suy nghĩ, hành động đều được định hướng bởi nhận thức nên việc nâng cao nhận thức theo tác giả là rất cần thiết. Qua việc xử lý số liệu được khảo nghiệm, chúng tôi ghi nhận được ý kiến về mức độ cần thiết và mức độ khả thi đối với biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, CBTV, GV về quản lý HĐTV ở bảng 3.2 như sau:

  • Bảng 3.2. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, CBTV, GV, HS về QL HĐTV Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.2 cho thấy TTB chung về mức độ cần thiết (4.39) và mức độ khả thi (4.45) đều được đánh giá là “rất cần thiết” và “rất khả thi”. Điều này cho thấy biện pháp “Nâng cao nhận thức của CBQL, CBTV, GV, nhân viên về QL HĐTV” được CBQL, CBTV và GV đồng thuận cao. Xét các nội dung cụ thể trong từng biện pháp, kết quả cho thấy TTB của các nội dung trong biện pháp trải dài từ 4.06 đến 4.56 chứng tỏ biện pháp đề xuất được đánh giá ở mức độ “cần thiết”, “rất cần thiết” và “rất khả thi”. Mỗi nội dung trong biện pháp lại được xếp ở các thứ hạng khác nhau, cụ thể như sau:

Xếp ở thứ hạng đầu tiên là nội dung “Nâng cao nhận thức của hiệu trưởng về việc quản lý thư viện trường học. Xây dựng kế hoạch năm học có chú trọng đến kế hoạch quản lý HĐTV với đầy đủ nội dung và nhiệm vụ” với TTB = 4.53 ở mức cần thiết và TTB=4.56 ở mức khả thi. Có thể nói, nâng cao nhận thức của hiệu trưởng về QL HĐTV sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của thư viện, trong đó việc tổ chức các hoạt động về văn hóa, khoa học của thư viện nhà trường sẽ thường xuyên hơn, giúp cho HS có được sân chơi bổ ích sau những giờ học tập căng thẳng. Đồng thời sân chơi bổ ích này sẽ nâng cao hơn nhận thức của các em về vai trò, vị trí của thư viện trong nhà trường. Thực tế hiện nay, nhiều trường học không quan tâm nhiều đến công tác thư viện, nhân viên phụ trách thư viện chỉ làm kiêm nhiệm, có mặt ở trường 3 tiết/tuần để làm công tác thư viện, vì thế việc nâng cao nhận thức cho CBQL, cho hiệu trưởng về quản lý thư viện trường học là điều rất cần thiết và rất khả thi.

Nội dung được xếp ở vị trí thứ 2 với TTB = 4.51 ở mức cần thiết và TTB=4.53 ở mức khả thi khá gần với nội dung đầu tiên là “Tuyên truyền cho CBQL, GV, CBTV về tầm quan trọng của thư viện, của quản lý HĐTV và quản lý mục tiêu HĐTV”. Khi tất cả các thành viên của nhà trường đều thông hiểu và nhận thức đúng về tầm quan trọng, mục tiêu của HĐTV thì họ sẽ là người thực hiện hiệu quả nhất từ việc tuyên truyền đến hiệu quả hoạt động. Ví dụ: trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS. Hiệu trưởng, CBQL là người phát động phong trào, dưới sự hỗ trợ tích cực của nhân viên thư viện, GV là những người nghiên cứu tài liệu, suy nghĩ phương pháp phát huy tính tích cực cho HS, hướng dẫn HS tìm các nguồn tài liệu bổ ích từ thư viện để hỗ trợ cho bài học đạt hiệu quả, … Điều này cho thấy việc tuyên truyền để tất cả các thành viên trong nhà trường đều hiểu rõ về tầm quan trọng của thư viện, của quản lý HĐTV và quản lý mục tiêu HĐTV trường học là điều rất cần thiết và rất khả thi.

Xếp ở vị trí thứ 3, thứ 4 lần lượt là các nội dung về tự học, tự rèn và tổ chức các buổi trao đổi, các buổi sinh hoạt chuyên đề, giao lưu về thư viện. Những nội dung này cũng nhận được sự đồng thuận khá cao có TTB từ 4.06 đến 4.44. Có thể nhận thấy, nội dung của biện pháp này thực tế chưa được thực hiện hiệu quả như mong đợi trong quá trình thực hiện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Thêm vào đó kết quả so sánh tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các nội dung trong biện pháp này lên đến 0.619, ở mức cao. Nó thể hiện mối liên hệ giữa tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, CBTV, GV, nhân viên về QL HĐTV có quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ. Đây là mối tương quan thuận cùng chiều, nghĩa là nếu tính khả thi tăng thì tính cần thiết cũng tăng và ngược lại.

  • Biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

Trong QL HĐTV, CBQL và CBTV là người quyết định sự thành công hay thất bại trong quá trình quản lý, tổ chức các hoạt động cho thư viện. Qua việc xử lý số liệu đã khảo nghiệm, chúng tôi ghi nhận được ý kiến về mức độ cần thiết và mức độ khả thi đối với biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở bảng 3.3 như sau:

  • Bảng 3.3. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về tính cần thiết và tính khả thi của Biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.3 cho thấy biện pháp “đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực” có tính cần thiết (TTB chung = 4.48) và tính khả thi cao (TTB chung = 4.47), tức là việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có đủ năng lực quản lý, tổ chức các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ cho CBQL, cho CBTV trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện GD có thể thực hiện ở mức thành công rất cao. Việc tổ chức tốt hoạt động thư viện góp phần bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho GV về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS, theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện đóng góp rất lớn vào quá trình nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay.

Ngày nay để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công việc, đòi hỏi các nhà QLGD, CBTV càng phải tự học, tự rèn nhiều hơn nữa không chỉ về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn về kỹ năng, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học để có thể ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện khi thư viện được trang bị hệ thống máy móc tra cứu hiện đại hoặc các phần mềm quản lý thư viện hiện đại, tiên tiến hơn, đáp ứng nhu cầu về nghiên cứu ngày càng cao của độc giả.

Ngoài ra, mối liên hệ giữa tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ, ở mức cao, có giá trị tương quan là 0.707, đây là mối tương quan thuận cùng chiều, nghĩa là nếu tính khả thi tăng thì tính cần thiết cũng tăng và ngược lại.

  • Biện pháp tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin được đề xuất, kết quả thể hiện trong bảng 3.4 như sau:

  • Bảng 3.4. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo CSVC, trang bị cơ sở hạ tầng CNTT Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4 cho thấy biện pháp “đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin” có tính cần thiết (TTB chung = 4.50) và tính khả thi cao (TTB chung = 4.40), tức là việc đầu tư cải tạo CSVC là rất cần thiết và rất khả thi. Đây không phải là nội dung khá mới, nhưng lại là nội dung chưa từng được áp dụng trong quá trình quản lý hoạt động thư viện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, hơn thế nữa để thực hiện những nội dung này đòi phải có sự chung tay, góp sức của GVCN, của CMHS và sự phối hợp chặt chẽ của tất cả các bộ phận trong nhà trường. Do đó, các nhà QLGD cần mạnh dạn đưa biện pháp này vào thực hiện trong thực tiễn nhằm tạo ra bước đột phá nâng cao hiệu quả HĐTV trong nhà trường cũng như thay đổi nhận thức của CBQL, CBTV, GV, HS, CMHS về vai trò, vị trí của TV để cùng nhà trường xây dựng TV thân thiện hướng tới xây dựng văn hóa đọc cho HS, dần hình thành niềm yêu thích, hứng thú trong quá trình tự học, tìm hiểu trong mỗi cá nhân HS.

Mặt khác, việc rất cần thiết được xếp thứ hạng đầu tiên là: “Trang bị cơ sở vật chất, máy tính kết nối mạng phục vụ nghiên cứu của GV và học tập của HS tại thư viện”. Đây cũng là một trong những nội dung mà Đảng và Nhà nước rất quan tâm và có sự chỉ đạo thực hiện: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thư viện công lập, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin: Xây dựng và phát triển hệ thống thư viện hiện đại, có vốn tài liệu phong phú, thân thiện với người sử dụng, trở thành trung tâm thông tin, văn hóa, giáo dục của cộng đồng, nơi giao lưu giữa tác giả – tác phẩm và người đọc, phục vụ hiệu quả nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân; chú trọng phát triển thư viện trường học, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.” (Thủ tướng Chính phủ, 2024)

Ngoài ra, mối liên hệ giữa tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đầu tư, xây dựng cải tạo CSVC, trang bị cơ sở hạ tầng CNTT có mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ, có giá trị tương quan là 0.808, ở mức cao. Đây là mối tương quan thuận cùng chiều, nghĩa là nếu tính khả thi tăng thì tính cần thiết cũng tăng và ngược lại.

  • Biện pháp đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở

Song song với việc khảo sát các biện pháp đã đề xuất, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện, kết quả thể hiện trong bảng 3.5 như sau:

  • Bảng 3.5. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng TV thân thiện ở các trường THCS Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.5 cho thấy TTB chung về mức độ cần thiết là 4.56 và mức độ khả thi là 4.47 đều được đánh giá là “rất cần thiết” và “rất khả thi”. Điều này cho thấy biện pháp “Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường THCS” được CBQL, CBTV và GV đồng thuận cao. Xét các nội dung cụ thể trong từng biện pháp, kết quả cho thấy TTB của các nội dung trong biện pháp trải dài từ 4.36 đến 4.71 chứng tỏ biện pháp đề xuất được đánh giá ở mức độ “rất cần thiết” và “rất khả thi”. Mỗi nội dung trong biện pháp lại được xếp ở các thứ hạng khác nhau, cụ thể như sau:

Đối với mức độ cần thiết: Xếp ở thứ hạng đầu tiên là nội dung “Xây dựng thư viện thân thiện, bồi dưỡng kỹ năng đọc sách hướng đến mục tiêu hỗ trợ dạy học và giáo dục trong nhà trường” với TTB = 4.71 ở mức rất cần thiết, kế đến là “Tổ chức, sắp xếp thư viện thân thiện, tổ chức tốt các HĐTV thân thiện” có TTB=4.61. Xếp ở thứ hạng 3 là “Chỉ đạo đổi mới HĐTV, phát triển “văn hóa đọc” trong nhà trường”. Đây là nội dung hiện đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm thể hiện tại Quyết định số 329/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2024 về Phê duyệt đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2030, định hướng đến năm 2040, cụ thể:

  1. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền
  2. Tăng cường thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, gia đình, nhà trường, cộng đồng và toàn xã hội về tầm quan trọng của việc phát triển văn hóa đọc.
  3. Huy động sự tham gia có hiệu quả của các phương tiện thông tin, truyền thông trong cả nước với nhiều hình thức thực hiện đa dạng, phù hợp. Khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng có chuyên mục thường kỳ về văn hóa đọc và phát triển văn hóa đọc.
  4. Biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với các tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong phát triển văn hóa đọc; có hình thức tôn vinh người đọc có hiệu quả.” (Thủ tướng Chính phủ, 2024)

Xếp ở thứ hạng 4 là“tăng cường phối hợp giữa CBTV với tổ trưởng chuyên môn, GV chủ nhiệm, nâng cao vai trò của thư viện thân thiện trong đổi mới dạy và học”. Nội dung xếp thứ hạng cuối cùng của tính cần thiết là “Xây dựng không gian đọc và học tập thân thiện”.

Đối với mức khả thi: Những người được khảo nghiệm cho rằng “Xây dựng không gian đọc và học tập thân thiện” là rất khả thi và xếp ở vị trí đầu tiên với TTB =4.59. Mức rất khả thi ở vị trí thứ 2 là “xây dựng thư viện thân thiện”, mức rất khả thi ở vị trí cuối cùng trong 5 nội dung của biện pháp này là: “Tăng cường phối hợp giữa CBTV với tổ trưởng chuyên môn, GV chủ nhiệm, nâng cao vai trò của thư viện thân thiện trong đổi mới dạy và học”. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Thêm vào đó kết quả so sánh tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các nội dung trong biện pháp này lên đến 0.621, ở mức cao. Nó thể hiện mối liên hệ giữa tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện có quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ. Đây là mối tương quan thuận cùng chiều, nghĩa là nếu tính khả thi tăng thì tính cần thiết cũng tăng và ngược lại.

  • Biện pháp tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện

Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp tăng cường kiểm tra hiệu quả hoạt động của thư viện, kết quả thể hiện trong bảng 3.6 như sau:

  • Bảng 3.6. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp tăng cường kiểm tra hiệu quả hoạt động của thư viện

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.6 cho thấy biện pháp “tăng cường kiểm tra hiệu quả hoạt động của thư viện” có tính cần thiết (TTB chung = 4.41) và tính khả thi cao (TTB chung = 4.40), tức là việc tăng cường kiểm tra hiệu quả hoạt động của TV có thể thực hiện ở mức thành công rất cao. Đối với mức độ cần thiết, người được khảo nghiệm cho rằng: “Sơ – tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm sau mỗi đợt kiểm tra” là cần thiết nhất với TTB = 4.54 và độ lệch chuẩn là 0.61, tuy nhiên đối mới mức khả thi kết quả khảo nghiệm lại cho rằng “Tổ chức kiểm tra nội bộ và tự đánh giá TV trường hàng năm” với TTB=4.53 và độ lệch chuẩn là 0.58 là khả thi nhất.

Ngoài ra, mối liên hệ giữa tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp tăng cường kiểm tra hiệu quả hoạt động của thư viện có mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ, ở mức cao, có giá trị tương quan là 0.659, đây là mối tương quan thuận cùng chiều, nghĩa là nếu tính khả thi tăng thì tính cần thiết cũng tăng và ngược lại.

Kết hợp số liệu trị trung bình chung ở các bảng từ bảng 3.2 đến 3.6 cho thấy, CBQL, CBTV và GV đánh giá các biện pháp được đề xuất có tính cần thiết và khả thi cao. Tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp được thể hiện bằng bảng 3.7 như sau:

  • Bảng 3.7. Ý kiến của CBQL, CBTV, GV về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động thư viện

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.7 cho thấy biện pháp “Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường THCS” là biện pháp được đánh giá mức cần thiết và khả thi cao nhất trong 5 biện pháp mà tác giả đã đề xuất. Tiếp theo là biện pháp “Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo CSVC, trang bị cơ sở hạ tầng CNTT” được cho là cần thiết ở vị trí thứ hai, tuy nhiên mức độ khả thi lại xếp ở vị trí thứ 4. Xếp ở mức độ cần thiết thứ 3 là biện pháp “Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực”, với biện pháp này cũng được CBQL, CBTV và GV sâu sắc quan tâm và đánh giá mức khả thi ở vị trí thứ 2. Vị trí cần thiết thứ 4 là biện pháp “Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện”, tuy nhiên mức độ khả thi của biện pháp này lại xếp thứ 5. Mức độ cần thiết xếp ở vị trí cuối cùng trong 5 biện pháp mà chúng tôi đề xuất là biện pháp “Nâng cao nhận thức của CBQL, CBTV, GV, HS về quản lý HĐTV” có mức độ khả thi xếp ở vị trí thứ 3. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Như vậy, qua phân tích kết quả khảo nghiệm, chúng tôi cho rằng, những biện pháp quản lý hoạt động thư viện được đề xuất trong luận văn là rất cần thiết, phù hợp và rất khả thi với công tác quản lý hoạt động thư viện tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Tiểu kết chương 3

Trên cơ sở lý luận của công tác quản lý HĐTV và thực trạng công tác quản lý hoạt động thư viện ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đã đề xuất 05 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý HĐTV các trường THCS trong giai đoạn hiện nay. Đó là:

  1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh.
  2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
  3. Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.
  4. Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở.
  5. Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện.

Các biện pháp chúng tôi đề xuất ở trên đều có tính cần thiết và tính khả thi cao, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, hỗ trợ nhau. Vì vậy, khi áp dụng không nên xem nhẹ một biện pháp nào. Tuy nhiên các biện pháp này được sử dụng có hiệu quả nhất khi được khai thác triệt để thế mạnh riêng phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường. Dựa vào đặc điểm, điều kiện từng địa phương, từng trường mà hiệu trưởng có thể tham khảo và lựa chọn những biện pháp phù hợp cho công tác quản lý của mình.

KẾT LUẬN Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

1. Kết luận

Từ nghiên cứu lí luận về quản lý hoạt động thư viện và thực trạng quản lý hoạt động thư viện tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Hoạt động thư viện là hoạt động quan trọng trong tất cả các hoạt động của nhà trường, trong đó người quản lý tổ chức và điều khiển quá trình hoạt động, CBTV đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hoạt động thư viện. Hiệu trưởng QL hoạt động thư viện các trường THCS là QL để thực hiện các nội dung: QL mục tiêu hoạt động thư viện; QL cơ sở vật chất – thiết bị kỹ thuật của thư viện; QL cán bộ thư viện; QL vốn tài liệu; QL hoạt động phục vụ bạn đọc; QL việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thư viện và kiểm tra hoạt động của thư viện. Để nâng cao được hiệu quả quản lý hoạt động thư viện góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường THCS, hoạt động của thư viện nhà trường phải đem lại niềm yêu thích cho GV, HS để họ tự tìm đến thư viện để tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi. QL hoạt động thư viện đòi hỏi người hiệu trưởng không chỉ sử dụng những công cụ QL mang nặng tính pháp lý mà phải vận dụng nhuần nhuyễn sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học QL và khoa học QLGD. Đồng thời, phải tổ chức chỉ đạo, điều khiển sao cho hoạt động này đạt được mục tiêu đề ra.

Luận văn đã đánh giá một cách tổng quát về tình hình quản lý hoạt động thư viện THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Về hoạt động thư viện và về QL hoạt động thư viện. Qua kết quả nghiên cứu, có thể khẳng định rằng: công tác quản lý HĐTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã có những ưu điểm như: công tác này được đánh giá ở mức khá tốt, đồng thời công tác quản lý CBTV cũng được đánh giá ở mức khá. Các hiệu trưởng đã quản lý, sử dụng CBTV, bước đầu có chú ý đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho CBTV, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo của nhà trường. Ngoài ra, lãnh đạo nhà trường cũng quan tâm tổ chức tốt môi trường, điều kiện làm việc giúp CBTV nhiệt tình hơn trong công tác. Mỗi CBTV đều có cơ hội phát huy tiềm năng và thể hiện bản thân mình trong quá trình công tác.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn chỉ rõ những hạn chế trong công tác quản lý HĐTV ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như: Vẫn còn một phần nhỏ CBQL còn xem nhẹ tầm quan trọng của quản lý HĐTV trong trường học, một số CBQL chưa được đào tạo có hệ thống về khoa học quản lý, làm việc chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm cá nhân, do đó tính chuyên nghiệp chưa cao. Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều bất cập, năng lực tổ chức, chỉ đạo thực thi nhiệm vụ chưa mang lại hiệu quả cao. Kiến thức về xây dựng tổ chức HĐTV và quản lý CBTV còn nhiều hạn chế, chưa định hướng đúng đắn mục tiêu, biện pháp lâu dài có tính chiến lược về công tác xây dựng và phát triển thư viện thân thiện đáp ứng nhu cầu phục vụ đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, mặc dù nhà trường không chủ động trong công tác tuyển dụng, nhưng vẫn còn tình trạng thiếu nhân sự làm công tác thư viện, một số CBQL, CBTV chưa có ý thức trong việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, công tác lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ về công tác thư viện chưa được lãnh đạo nhà trường quan tâm đúng mực, đúng tầm. Đa phần các hiệu trưởng chỉ quan tâm đến việc đầu tư cho nhân sự về chuyên môn, ít quan tâm đến nghiệp vụ thư viện. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

Để đáp ứng HĐTV hiện nay các nhà trường cần phải có một đội ngũ CBTV có khả năng làm việc với thư viện kiểu mới, thích nghi được với tốc độ thay đổi nhanh của xã hội, của nền giáo dục như hiện nay, việc triển khai các biện pháp theo dõi quản lý tổng kết – đánh giá – rút kinh nghiệm công tác QL HĐTV chưa được CBQL quan tâm nhiều. Ngoài ra, tuy nhà trường đã thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với đội ngũ nhưng kinh phí các nguồn còn thấp nên chưa kích thích được CBTV trong các hoạt động, một số trường chưa chú ý trong việc tạo điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi cho CBTV để họ có thể phát huy hết được năng lực và sở trường của mình.

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của công tác QL HĐTV các trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, luận văn đã đề xuất các biện pháp QL nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác QL HĐTV từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường THCS. Các biện pháp đó là:

  1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, cán bộ thư viện, giáo viên và học sinh.
  2. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực.
  3. Tăng cường đầu tư, xây dựng cải tạo cơ sở vật chất, trang bị cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.
  4. Đẩy mạnh chỉ đạo xây dựng thư viện thân thiện ở các trường trung học cơ sở.
  5. Tăng cường kiểm tra hoạt động của thư viện.

Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp được đánh giá rất cao, qua đó, tác giả nhận thấy rằng các biện pháp đã đề ra là có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phù hợp với thực trạng nghiên cứu, rất thiết thực và có tính khả thi cao.

Như vậy, với kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn trình bày ở trên, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và giả thuyết khoa học đã được chứng minh, kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết khoa học.

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

  • Đầu tư xây dựng thư viện các trường học đạt chuẩn về diện tích, có đủ phòng đọc cho GV và HS.
  • Đầu tư các nguồn lực trang bị các thiết bị, vốn tài liệu, các phương tiện nghe nhìn đủ về số lượng, chủng loại. Kiểm tra nội dung các loại tài liệu, sách báo đưa vào thị trường.
  • Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho CBTV đáp ứng với yêu cầu đổi mới.
  • Xây dựng tiêu chí đánh giá thư viện phù hợp với định hướng đổi mới trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo

  • Đề nghị Sở GDĐT khi tuyển dụng viên chức làm công tác thư viện trong trường THCS phải tuyển dụng những người đạt được những yêu cầu cần có của một nhân viên thư viện trong trường THCS, đó là:
  • Phải tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ thư viện.
  • Hoặc nếu được đào tạo từ các trường nghiệp vụ thư viện – thông tin văn hóa thì phải được bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ sư phạm theo cấp được tuyển dụng.
  • Tăng cường tổ chức cho CBQL được thăm quan học tập, giao lưu trao đổi kinh nghiệm với những trường có thư viện đạt thư viện xuất sắc, có nhiều kinh nghiệm, sáng tạo trong quản lý hoạt động thư viện.

2.3. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo

Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng cho CBQL, CBTV nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý nhà trường.

Bồi dưỡng công tác kiểm tra các hoạt động trong nhà trường trong đó có kiểm tra hoạt động thư viện cho CBQL nhà trường.

Tham mưu với Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên tăng cường đầu tư đồng bộ CSVC (xây dựng thư viện đúng quy cách, phòng đọc cho GV, HS; trang thiết bị, phương tiện nghe, nhìn; máy tính có kết nối mạng internet…) hỗ trợ nhà trường trong việc thực hiện đổi mới hoạt động thư viện.

Tăng cường tổ chức các chuyên đề, các hoạt động trong lĩnh vực thư viện để CBQL, CBTV được trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và học tập.

Tổ chức cho CBQL, CBTV thăm quan, học tập thực tế tại các trường học có thư viện đạt xuất sắc trong và ngoài tỉnh.

2.4. Đối với các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên

  • Đối với hiệu trưởng

Hiệu trưởng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng chịu trách nhiệm và thực thi quản lý toàn diện mọi hoạt động của nhà trường, trong đó có quản lý thư viện. Nâng cao chất lượng hoạt động thư viện là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường THCS. Để thực hiện tốt điều này, một số khuyến nghị với hiệu trưởng như sau:

Hiệu trưởng nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của thư viện trong nhà trường THCS. Từ đó có kế hoạch quản lý thư viện phù hợp nhằm xây dựng và phát triển thư viện cùng với phát triển nhà trường.

Hiệu trưởng thường xuyên tự học, tự rèn luyện nâng cao hiểu biết về khoa học quản lý và các kỹ năng làm việc của người quản lý nhà trường; chủ động, tích cực trong việc suy nghĩ, tìm tòi những giải pháp mới, hiệu quả để giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền (trong đó có vấn đề quản lý thư viện) mà không bị lệ thuộc vào lối suy nghĩ cũ, cách làm cũ, từ đó nâng cao năng lực quản lý nhà trường nói chung, quản lý thư viện nói riêng.

Hiệu trưởng có biện pháp xây dựng tập thể sư phạm nhà trường đoàn kết, gắn bó, tin cậy lẫn nhau; chú trọng xây dựng môi trường làm việc dân chủ, phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân; thực hiện công bằng về chế độ ưu đãi và hợp tác, cùng nhau làm việc vì sự phát triển của nhà trường.

  • Đối với cán bộ thư viện

Nghiêm túc thực hiện nội dung và chương trình bồi dưỡng theo quy định của Bộ GDĐT, tích cực tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, phát huy tinh thần tự học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vận dụng có hiệu quả những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm vào công tác tổ chức các hoạt động thư viện từ việc đề xuất, trang bị vốn tài liệu phục vụ cho bạn đọc đến việc tổ chức tốt công tác phục vụ bạn đọc. Chủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức các hoạt động thư viện góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục của nhà trường.

Quản lý hoạt động thư viện trong trường THCS là tác động có chủ đích của hiệu trưởng lên toàn bộ các nguồn lực để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình quản lý nhà trường của hiệu trưởng nhằm đạt được theo mục tiêu đề ra. Quản lý hoạt động thư viện trong trường THCS bao gồm nhiều nội dung phong phú. Trên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thư viện trong trường THCS, đề tài đã phân tích thực trạng quản lý hoạt động thư viện trong trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động thư viện trong trường THCS. Đề tài cần được nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn và tổ chức thực hiện các biện pháp đề xuất để nghiên cứu đi vào thực tiễn. Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động thư viện ở trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993