Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước ta khẳng định giáo dục và đào tạo (GDĐT) là “Quốc sách hàng đầu” trong sự nghiệp đổi mới; là “khâu đột phá” phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là “nền tảng và động lực” cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI [14, tr.96].

Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về GDĐT, thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2020- 2020, ngành giáo dục đang tích cực từng bước đổi mới nội dung chương trình đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục (QLGD), công tác kiểm tra nội bộ trường học (KTNBTH) nhằm nâng cao chất lượng GDĐT. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” đã xác định: “Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch” [3].

Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay đã hình thành sân chơi giáo dục (GD) bình đẳng cho tất cả mọi người, nơi mọi người có thể học tập, học tiếp, học lên cao vào bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với bất kỳ trình độ nào. Trong hoàn cảnh đó, người Hiệu trưởng (HT) phải tích cực đổi mới tư duy trong xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường; đổi mới trong đầu tư việc tổ chức thực hiện kế hoạch; tập trung đầu tư về công tác kiểm tra (KT) việc thực hiện kế hoạch hoạt động, nhằm đảm bảo các kế hoạch hoạt động của nhà trường đạt được hiệu quả cao nhất. Bác Hồ đã dạy: “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [37, tr.240]. Tại hội nghị cán bộ thanh tra (TTr) toàn miền Bắc lần thứ nhất ngày 19/4/1955, khi nói về tầm quan trọng của chức năng KT, Hồ Chủ Tịch đã chỉ rõ: “Khi đã có đường lối chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chúc công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra, nếu 3 điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” và “Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là thiếu sự kiểm tra. Nếu tổ chúc sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười, gấp trăm” [25, tr.154-156].

Trong giáo dục, kiểm tra nội bộ (KTNB) có vai trò quan trọng đối với hoạt động của trường học nói chung và trường trung học cơ sở (THCS) nói riêng. Nhiệm vụ “dạy chữ”, “dạy người”, phạm vi công việc rộng, đa dạng của người giáo viên (GV) và CBQL trường THCS đặt ra yêu cầu phải chú trọng công tác KTNBTH. KTNB giúp HT trường THCS đánh giá đúng thực trạng nhà trường để đưa ra quyết định quản lý (QL) phù hợp, hình thành cơ chế tự điều chỉnh hoạt động của các đơn vị, cá nhân. Mặc dù vậy, KTNB trường THCS ít được quan tâm ở phương diện nghiên cứu lí luận và thực tiễn QL. Nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác KTNBTH là cấp thiết, góp phần đảm bảo thành công của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GD. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

TTr-KT là chức năng thiết yếu của cơ quan QL Nhà nước. Trong đó, KTNBTH là hoạt động mang tính chất pháp chế được quy định trong các văn bản pháp quy của Nhà nước và Bộ GDĐT. Hiện nay, tinh thần này được khẳng định trong Luật giáo dục 2014, Luật thanh tra 2019 và các văn bản dưới luật, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong lĩnh vực GD.

Thủ Dầu Một là thành phố trực thuộc tỉnh Bình Dương. Đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh. Trong những năm qua, ngành GDĐT thành phố luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Sở GDĐT Bình Dương, chính quyền địa phương trong các hoạt động GDĐT góp phần phát triển hệ thống GD tại địa phương về mọi mặt. Mạng lưới trường, lớp từ mầm non (MN), tiểu học (TH), đến THCS phát triển đều khắp trên 14 phường theo hướng đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng nhu cầu học tập cho con em nhân dân. Cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị phục vụ giảng dạy đều đạt đúng, đủ theo yêu cầu, từng bước đã đáp ứng tốt hơn các yêu cầu dạy và học theo hướng hiện đại.

Tuy nhiên, trong QL công tác KTNB nhiều năm qua tại thành phố Thủ Dầu Một còn nhiều thiếu sót. Sở GDĐT tỉnh Bình Dương chưa tổ chức hướng dẫn, tập huấn về công tác KTNB và Phòng GDĐT thành phố Thủ Dầu Một chưa có văn bản ban hành chính thức để chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện công tác KTNB cho các CSGD theo quy định tại Thông tư số 39/2022/TT-BGDĐT ngày 04/12/2022 của Bộ GDĐT hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục. Vì vậy, công tác tự KT ở các nhà trường còn nhiều bất cập. Không ít đơn vị xây dựng kế hoạch không đầy đủ, thiếu chặt chẽ, chưa nắm rõ về thẩm quyền, đối tượng, hình thức, quy trình và cả nội dung KT…Nhìn chung, công tác KTNB tại các trường THCS trong những năm qua được thực hiện theo nhận thức và kinh nghiệm của HT, chưa mang tính khoa học, đôi khi còn hình thức, thể hiện chưa thường xuyên, chưa thành nề nếp.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, đổi mới QL là khâu đột phá gắn liền với đổi mới hoạt động TTr-KT GD là một trong những biện pháp quan trọng và cấp thiết. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về công tác KTNB trường THCS, đề tài phân tích thực trạng công tác KTNB trong trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác KTNB ở trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý trong trường
  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác KTNB trong trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài

Nội dung: Công tác KTNB bao gồm nhiều nội dung phong phú. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác KTNB dưới sự điều hành, lãnh đạo của HT nhà trường về các vấn đề như: nhận thức về vai trò và thẩm quyền của công tác KTNB, những vấn đề liên quan việc xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng, nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra, quy trình tổ chức thực hiện KTNB.

  • Địa bàn nghiên cứu: chúng tôi thực hiện khảo sát thực trạng công tác KTNB của 12 trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Thời gian:
  • Đề tài thực hiện nghiên cứu công tác KTNB ở các trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong 02 năm học 2024-2025 và 2025-2026.
  • Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 3/2026 đến tháng 9/2026.

5. Giả thuyết khoa hqc

Công tác KTNB tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một được thực hiện thường xuyên, tuy nhiên còn nhiều bất cập trong nhận thức về vai trò, về thẩm quyền, về xây dựng kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo thực hiện của hiệu trưởng. Nếu nghiên cứu, đề xuất và áp dụng các biện pháp có tính khoa học và khả thi thì có thể nâng cao chất lượng công tác KTNB, nhằm mục đích nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý của hiệu trưởng trường THCS, từ đó góp phần duy trì kỷ cương nề nếp, nâng cao chất lượng GD các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.

6. Nhiệm vụ đề tài

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác KTNB ở trường trung học cơ sở.
  • Đánh giá thực trạng công tác KTNB trong các trường trung học cơ sở, tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác KTNB trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một trong thời gian tới. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

7. Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và phân loại hệ thống các tài liệu nhằm thu thập thông tin phục vụ xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: đề tài sử dụng các phương pháp này nhằm thu thập thông tin làm cơ sở tổng hợp và đánh giá đúng thực trạng, làm sáng tỏ những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của thực trạng KTNB trong các trường THCS, thành phố Thủ Dầu Một. Trong đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn sau:

Phương pháp điều tra An-Két (phiếu hỏi): mục đích sử dụng khảo sát và đánh giá đúng thực trạng công tác KTNB trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một về thực trạng nhận thức về vai trò và thẩm quyền của công tác KTNB, những vấn đề liên quan việc xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng, nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra, quy trình tổ chức thực hiện KTNB. Qua đó, làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của HT trong việc quản lý nhà trường và trách nhiệm của từng cá nhân CBQL, GV, NV trong việc thực thi nhiệm vụ GDĐT tại đơn vị. Đề tài còn sử dụng phiếu hỏi để khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng công tác KTNB trường học ở các trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Phương pháp phỏng vấn: mục đích sử dụng làm rõ hơn kết quả khảo sát từ phiếu hỏi.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: mục đích sử dụng tìm hiểu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý KTNB trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một. Các sản phẩm nghiên cứu, gồm: hồ sơ thủ tục tổ chức KTNB, các hồ sơ lưu trữ (kế hoạch, biên bản, báo cáo, kết luận…) trước, trong và sau khi tiến hành KT. Nhằm phân tích và làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.

Nhóm phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng các công thức toán học trong phần mềm Excel để tổng hợp các số liệu từ tài liệu thu thập được; sử dụng phần mềm SPSS 20 for Ưindoưs (Statistical Package for Social Sciences) nhằm thống kê, xử lý số liệu các bảng hỏi trong quá trình nghiên cứu.

8. Những đóng góp của đề tài

Về mặt lý luận: Hệ thống hoá và nghiên cứu sâu hơn những lý luận về công tác KTNB tại các trường THCS.

Về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu thực trạng để nhận rõ những ưu điểm và những khuyết điểm trong công tác KTNB trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một. Từ đó nghiên cứu vận dụng những lý thuyết cơ sở về quản lý giáo dục để xây dựng các biện pháp nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục những khuyết điểm tồn tại trong thực trạng trên.

Xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác KTNB trường THCS, đáp ứng yêu cầu vận dụng chủ trương, cơ chế đổi mới giáo dục vào thực tế công tác quản lý nhà trường, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, hiệu lực quản lý nhà trường, nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển đội ngũ, phát triển nhà trường theo hướng hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo về công tác KTNB cho đội ngũ quản lý các trường THCS.

9. Cấu trúc của đề tài Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được bố trí trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác KT nội bộ trường trung học cơ sở.
  • Chương 2: Thực trạng công tác KT nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một.
  • Chương 3: Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác KT nội bộ trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI Bộ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

  • Ở nước ngoài:

Việc nghiên cứu về QL công tác KTNB quản trị doanh nghiệp đã phát triển mạnh tại các nước phát triển công nghiệp, với mục đích phát triển mạnh mẽ việc sản xuất, phát triển doanh nghiệp và sau đó đã được áp dụng vào nhà trường. Qua các nghiên cứu, nhiệm vụ công việc của một HT trường học ở nước ngoài cũng bao gồm nhiệm vụ QL, GS và KT. Đối với một số trường, đã áp dụng những kinh nghiệm trong QL doanh nghiệp vào QLNT đó là áp dụng kiểm soát nội bộ, KT, QL chất lượng nhà trường theo ISO, hay còn gọi là quản trị trường học, nhất là đối với các trường đại học.

TTr-KT trong GD là loại hình TTr chuyên ngành, được hình thành ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Pháp, Đức, Nhật, Bỉ, Hà Lan, Ai cập…và tồn tại song song với nhiều loại hình TTr khác. Trong đó, thanh tra giáo dục (TTGD) thực hiện quyền TTr nhà nước về GDĐT trong phạm vi cả nước, nhằm tăng cường hiệu lực QL, bảo đảm và nâng cao chất lượng GDĐT.

Nguyên cứu về những vấn đề cốt yếu trong quản lý của tác giả Harold Koontz và các cộng sự cho rằng “KT là một quá trình”. Quá trình này bao gồm 3 bước: (1) xây dựng các tiêu chuẩn; (2) Đo đạc việc thực hiện; (3) Điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định…[20, tr.639]

Trong công trình nghiên cứu về những vấn đề QL của HT trường phổ thông V.A.Xukhomlinxki, V.P. Xtrezicondin, Jaxapob (1984), nghiên cứu bàn luận các vấn đề phân công HT, phó HT và trách nhiệm KT trong QL, đặc biệt coi trọng sự trao đổi giữa HT và phó HT để tìm ra cách QL tốt nhất. Tác giả đã khẳng định “HT là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm cao nhất trong công tác QLNT” [54, tr.16-17]. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, người HT phải biết bồi dưỡng đội ngũ trở thành những người tốt theo tiêu chuẩn nhất định. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Giáo sư Stanislaư Koưalski, Xã hội học giáo dục và giáo dục học, khi nghiên cứu về xã hội học GD và GD học đã khẳng định: “Thầy giáo như là khâu kết hợp nhà trường với môi trường và đề cập đến các loại QL, các phong cách QL, những vai trò xã hội và trình độ nghề nghiệp của thầy giáo” [44, tr.421-458]. Trong “Quản trị hiệu quả trường học”, các tác giả K.B.Everard, Geofrey Morris, Ian Eilson (Vũ Văn Hùng, Bùi Thị Thanh Hiền, Đoàn Vân Anh sưu tầm và biên dịch) đã nghiên cứu sâu về QL con người như sử dụng, quản lý việc đánh giá và kết quả công tác không thể thiếu quá trình kiểm tra [27].

  • Ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng tháng 8/1945 thành công, ngày 23/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Ban TTr học chính để TTr việc dạy và học chữ Quốc ngữ thực hiện nhiệm vụ “xóa mù chữ”, “diệt giặc dốt” là trọng tâm của nền giáo dục quốc dân lúc đó. Trong thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”. Đặc biệt ở cấp tiểu học và trung học TTr có tác động lớn trong việc thực hiện chương trình, mục tiêu và trực tiếp giám sát chất lượng dạy học ở các nhà trường.

Kể từ Hiến pháp năm 1946 với khái niệm “Ban kiểm soát” của Ban Thường vụ Nghị viện để kiểm soát, phê bình Chính phủ đến Sắc lệnh số 64/SL thành lập “Ban TTr đặc biệt” của Chính phủ; việc ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959 (Điều 76), Hiến pháp 1980 (Điều 107, 110), Hiến pháp năm 1992 (Điều 112, 115, 116. 124) và Pháp lệnh TTr năm 1990 là quá trình đúc kết kinh nghiệm và hoàn chỉnh khái niệm TTr làm cơ sở để ban hành hệ thống các văn bản dưới luật và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về vấn đề TTr-KT.

Tuy nhiên, vấn đề KTNB trong cơ sở giáo dục chỉ được đề cập lần đầu tiên trong Quyết định 478/QĐ, ngày 11/3/1993 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống TTr GDĐT, trong nội dung khẳng định: “Các hoạt động kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên công khai, dân chủ, kết quả kiểm tra phải được ghi nhận bằng văn bản và được lưu trũ, hiệu trưởng hay thủ trưởng phải chịu trách nhiệm về các kết luận kiểm tra này”.

Trong nghiên cứu về lý luận QL nói chung và trong QLGD nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã quan tâm về công tác kiểm tra, KTNB trong QL. Có rất nhiều đầu sách, bài giảng của các tác giả, giảng viên nghiên cứu về quản lý, quản trị học, quản trị doanh nghiệp, quản lý hành chính như: Giáo trình Luật hành chính và tài phán hành chính Việt Nam do GS.TS Phạm Hồng Thái và GS.TS Đinh Văn Mậu biên soạn; tác giả Trần Kiểm với cuốn: “Khoa học quản lý giáo dục-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; tác giả Thái Văn Thành với cuốn “Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường”. Qua nghiên cứu, các tác giả đều đề cập đến 4 chức năng chủ yếu trong quản lý đó là kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển (chỉ đạo thực hiện), kiểm tra, khẳng định vai trò quan trọng của chức năng kiểm tra trong quản lý nói chung và trong quản lý nhà trường nói riêng.

Bàn về công tác TTr-KT trong GD, các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy – học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường. Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch đó là các biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Tác giả Hà Sỹ Hồ trong cuốn: “Những bài giảng về quản lý trường học”, đã cho rằng: “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…”. Ông khẳng định: “Quản lý mà không kiểm tra thì quản lý sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu” [23, tr.126].

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong “Nhũng khái niệm cơ bản về lí luận quản lí giáo dục” cho rằng: Quá trình quản lý diễn ra qua năm giai đoạn: chuẩn bị kế hoạch; kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra. Trong đó, giai đoạn 5 – kiểm tra, là giai đoạn cuối cùng, kết thúc một chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ kế hoạch tiếp theo. Kiểm tra tốt, đánh giá được sâu sắc và chuẩn bị trạng thái cuối cùng của hệ (nhà trường) thì đến kỳ kế hoạch (năm học) tiếp theo việc soạn thảo kế hoạch năm học mới sẽ thuận lợi, kế thừa được các mặt mạnh để tiếp tục phát huy, phát hiện được lệch lạc để uốn nắn, loại trừ. Tác giả kết luận: “như vậy, theo lý thuyết xibecnêtic, kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra, không có quản lý” [41, tr.35].

Tác giả Đặng Quốc Bảo xác định: kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều khiển mục tiêu. [4, tr.125]. Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Cuối cùng, người quản lý phải thực hiện chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức” [31, tr.45]

Ngoài ra, từ những quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của người cán bộ thanh tra, đồng thời cũng xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đối tượng TTr theo Luật giáo dục đã cho ra đời Dự án cấp quốc gia về “Đào tạo cán bộ TTr và quản lý giáo dục Việt Nam” (FICEV), do Quỹ đoàn kết ưu tiên của Cộng hòa Pháp tài trợ. Dự án được ký kết thỏa thuận tài chính giữa hai chính phủ Cộng hòa Pháp với Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào tháng 10/2011. Mục đích của dự án là nhằm góp phần nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục Việt Nam thông qua việc đào tạo đội ngũ CBQL, cán bộ TTr. Dự án đã xây dựng một số công cụ đào tạo như khung chuẩn của nghề TTr-KT trong GD, bộ công cụ bằng CDRom và bộ sách nghiệp vụ TTr-KT.

Thời kỳ 2013-2019, khởi nguồn là dự án hỗ trợ đổi mới QLGD (SREM) được bắt đầu thực hiện vào tháng 4/2015, theo kết quả của Hiệp định tài chính AIDCO/VNM/2013/016-841 giữa Cộng đồng Châu Âu và Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được ký kết tại Brussel ngày 18/07/2014 và ký kết tại Hà Nội ngày 01/09/2014. Đây là Dự án thứ 2 của Ủy ban châu âu hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục.

Mục tiêu chiến lược của Dự án là hỗ trợ chính phủ Việt Nam thúc đẩy hoàn thành các mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển GD của Việt Nam giai đoạn 2010-2019. Dự án đã xây dựng hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo hiệu trưởng về “Quản trị hiệu quả trường học”, cung cấp bộ cẩm nang quản lý của HT, tăng cường năng lực và kỹ năng cho cán bộ QLGD, kết nối và tích hợp dữ liệu cấp trường và hệ thống, sử dụng các chỉ số để đánh giá hiệu quả GD…Thứ trưởng Bộ GDĐT Bùi Văn Ga đánh giá thành công quan trọng nhất là mang lại kinh nghiệm bước đầu, có tư duy đổi mới về QLGD ở các cấp, hệ thống thông tin được thông suốt 2 chiều từ Bộ tới địa phương giúp tạo nên nền tảng kiểm soát thông tin. Tại Bình Dương, năm 2014 Sở GDĐT đã tổ chức tập huấn trong nước và ở Singapore cho đội ngũ Hiệu trưởng các trường THCS, THPT về công tác QLNT, trong đó có chức năng KT của người Hiệu trưởng trong QL sự thay đổi và quản trị nhà trường gồm những bài giảng của các giảng viên của Học viện giáo dục Singapore. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Trong những năm gần đây, hoạt động GDĐT có những thay đổi và phát triển theo đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước và theo xu hướng thời đại. Đây là thời kỳ công tác GDĐT đang thực hiện bước chuyển sang mô hình GD mới với những đặc trưng cơ bản là mở, thực học, thực nghiệp, tập trung ưu tiên vào việc góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của người dân và nhu cầu nguồn nhân lực xã hội.

Như vậy về phía ngành GDĐT từ Quyết định số 329/QĐ và Quyết định số 478/QĐ của Bộ GDĐT có quy định một số yêu cầu, nghiệp vụ, trách nhiệm của Hiệu trưởng trong KTNB. Sau đó, Thông tư 07/2013/TT-BGDĐT và Thông tư số 43/2015/ TT-BGDĐT không còn hướng dẫn cụ thể công tác KTNB trường học nữa. Đến khi Luật thanh tra 2019 ra đời dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra, thì vấn đề KTNBTH đã được đề cập và hướng dẫn tại Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 09/5/2022 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục và Thông tư số 39/2022/TT-BGDĐT ngày 04/12/2022 của Bộ GDĐT hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục.

Trong các đề tài Luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về công tác KTNB gần đây có Luận văn “Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác KTNB trường THPT thành phố Hồ Chí Minh” của Hồ Hữu Lễ năm 2021 trường đại học Vinh; Luận văn “Biện pháp quản lý công tác KTNB tại các trường THCS trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nắng” của Phạm Quốc Tuấn năm 2024 trường đại học Đà Nắng; Luận văn “Biện pháp quản lý công tác KTNB tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nắng” của Phạm Viết Hùng năm 2025 trường đại học Đà Nắng; Luận văn “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác KTNB ở các trường THCS huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” của Trần Hiếu Nghĩa năm 2024 trường đại học Vinh…

Do vậy, vấn đề công tác KTNB trường học nói chung và công tác KTNB trường THCS của hiệu trưởng nói riêng rất cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ và ứng dụng ngay trong thực tiễn phong phú của các nhà trường. Đặc biệt trên tinh thần đổi mới QLGD gắn liền việc đổi mới hoạt động TTr-KT. Mục tiêu hoạt động TTr-KT phải được chuyển trọng tâm từ TTr-KT chuyên môn sang TTr-KT trách nhiệm quản lý là chính. Theo đó, việc KTNBTH trở nên đặc biệt quan trọng và là nhiệm vụ của hiệu trưởng nhà trường.

Trên cơ sở nhận thức về tầm quan trọng của công tác KTNB, xuất phát từ thực tiễn của công tác KTNB các trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm khảo sát một cách kỹ lưỡng thực trạng công tác KTNB các trường THCS để có cơ sở đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác KTNB trường THCS, góp phần nâng cao chất lượng công tác QLGD của cấp THCS tại địa phương. Những tài liệu đã dẫn viết về công tác TTr-KT trong GD của các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục là những tư liệu quý, thiết thực giúp tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài.

1.2. Hệ thống các khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

1.2.1. Một số khái niệm về quản lý

Khái niệm quản lý: Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra định nghĩa không giống nhau về thuật ngữ “quản lý”. Trên thực tế QL không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3 phương diện:

  • Thú nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân.
  • Thú hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn hai bên.
  • Thú ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm quản lý được hiểu là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên các đối tượng của quản lý nhằm đảm bảo các quá trình hoạt động của đối tượng theo định hướng để đạt được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. Quá trình QL gồm có 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo và kiểm tra. Ngoài 4 chức năng QL trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng trong QL, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả [1].

Khái niệm quản lý giáo dục: Cũng như khái niệm QL, khái niệm QLGD tuy vẫn còn nhiều quan điểm chưa hoàn toàn thống nhất, song đã có nhiều quan điểm cơ bản đồng nhất được nhiều người chấp nhận: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống GD (từ cấp cao nhất đến các CSGD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GDĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD. [29, tr.36-37].

  • QLGD có thể hiểu ở hai cấp độ vĩ mô hay vi mô (cấp độ rộng, hẹp) như sau:

Theo nghĩa rằng, QLGD là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng GD nhằm đẩy mạnh công tác GDĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Theo nghĩa hẹp, QLGD thực chất là nhũng tác động của chủ thể QL vào quá trình GD (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Trên thực tế, QLGD thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp cao ( trung ương và cấp chính quyền địa phương tỉnh, thành phố); cấp trung (Cấp ngành ở tỉnh, thành phố và cấp chính quyền quận, huyện); cấp cơ sở (trường học).

Quản lý nhà trường (QLNT): Có thể hiểu QLNT là sự tác động có mục đích, kế hoạch của các cấp QL, là sự tác động mang tính hành chính-sư phạm của chủ thể QL đến tập thể đội ngũ nhà trường, học sinh, đến các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm đảm bảo hiệu quả quá trình GD nói chung và các hoạt động GD, giảng dạy, học tập được đảm bảo tiến hành thực hiện tốt các mục tiêu GD của từng cấp học và các mục tiêu phát triển nhà trường [29, tr.38]. QLGD thực chất chỉ có giá trị khi đến được trường học, diễn ra tại trường học, cho dù nói về cấp QL nào. Cho nên nội dung QLGD nói chung và nội dung QLNT nói riêng đều như nhau, chỉ khác nhau về qui mô mà thôi [5]. Khái niệm này khẳng định không chỉ hiệu trưởng và bộ máy ở trường chịu trách nhiệm QLNT, mà trên trường còn có những cấp QL khác, bất kể đó là trường học ở cấp học nào, ngành học nào. Nội dung QLNT được quy định tại Điều 58 Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục 2018 gồm 09 nhiệm vụ và quyền hạn. [43].

1.2.2. Khái niệm thanh tra, kiểm tra

Khái niệm thanh tra (TTr): Theo tác giả Trần Kiểm: “TTr là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan hay của công chức bằng các hoạt động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở những quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ của cá nhân hoặc tổ chức được TTr”[31, tr.81]

Như vậy, TTr mang tính quyền lực, là hoạt động xem xét, KT của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc theo sự uỷ quyền của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan nhà nước cấp dưới, là góc độ xem xét sự việc từ bên ngoài vào bên trong của đối tượng được TTr.

Khái niệm thanh tra giáo dục (TTrGD): Theo Điều 111, Mục 4, chương VII Luật giáo dục 2014 quy định: TTrGD thực hiện quyền TTr trong phạm vi QL nhà nước về GD nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực GD [42].

Khái niệm kiểm tra (KT): Theo Từ điển tiếng Việt thì KT là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [40]. KT vốn là một chức năng của người QL, là một khâu trong chu trình QL, KT được định nghĩa như là một quá trình đo lường việc thực hiện và hành động để đảm bảo những kết quả mong muốn, không phân biệt họ làm việc ở cấp bậc nào trong bộ máy QL nhà nước nói chung hay bộ máy QL tổ chức nói riêng. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Có thể khái quát KT: là việc kiểm chứng xem mọi việc có thực hiện theo kế hoạch đã được vạch ra, theo những chỉ thị, những nguyên tắc đã được ấn định; là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của đơn vị, tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế, nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp đơn vị, tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu. Nền tảng của KT là thông tin.

  • Phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra:

Có thể nói giữa hoạt động TTr và KT có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thoa nhau. Bởi vì KT và TTr đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của QL nhà nước, là hoạt động mang tính chất phản hồi của “chu trình QL”. Qua KT, TTr, các cơ quan QL nhà nước có thể phân tích đánh theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ QL đề ra. Đây là mối quan hệ đan chéo nhau. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì TTr là một loại hình đặc biệt của KT, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, TTr lại bao hàm cả KT. Vì vậy KT và TTr sẽ có những khác biệt cơ bản về: chủ thể tiến hành; về mục đích thực hiện; về phương pháp tiến hành; về trình độ nghiệp vụ của chủ thể thực hiện; về phạm vi hoạt động; về thời gian tiến hành.

Tóm lại, về cơ bản, TTr, KT bao hàm tương đối ý nghĩa, tính chất như nhau, nhưng khác nhau về chủ thể thực hiện và phạm vi đối tượng TTr, KT. Tuy nhiên, sự phân biệt chỉ là tương đối.

1.2.3. Kiểm tra nội bộ trường hqc (KTNBTH)

Kiểm tra nội bộ: là một trong những chức năng cơ bản của QL. KTNB được xem như là KT trong tổ chức, là tiến trình đảm bảo hành vi và thành tích tuân theo các tiêu chuẩn của tổ chức bao gồm quy tắc, thủ tục và mục tiêu; đảm bảo cho mọi hoạt động của tổ chức được thực hiện theo đúng kế hoạch. Đó là tiến trình GS việc thực hiện và thu thập những thông tin phản hồi để kịp thời sửa chữa, điều chỉnh đảm bảo kế hoạch được hoàn thành như dự định. Khái niệm KTNB còn được hiểu là việc tự KT của thủ trưởng nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của đơn vị mình phụ trách.

Kiểm tra nội bộ trường học: KTNBTH là hoạt động nghiệp vụ QL của người hiệu trưởng nhằm điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm sự diễn biến và kết quả các hoạt động GD trong phạm vi nội bộ nhà trường và đánh giá kết quả các hoạt động GD đó có phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, chuẩn mực, quy chế đã đề ra hay không. Qua đó, kịp thời động viên mặt tốt, điều chỉnh, uốn nắn những mặt chưa đạt chuẩn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GDĐT trong nhà trường. KTNBTH, về thực chất gồm hai hoạt động:

Hiệu trưởng tiến hành tổ chức KT công việc, hoạt động, mối quan hệ của các thành viên, bộ phận và những điều kiện, phương tiện phục vụ trong nhà trường.

Việc tự KT của các bộ phận, cá nhân trong trường và tự KT công tác QL của hiệu trưởng.

  • Bảng 1: So sánh quan hệ giữa thanh tra GD và KTNB trường học

Các hoạt động trên có những điểm khác nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: KTNB cung cấp thông tin tin cậy cho TTr, TTr sử dụng số liệu, kết luận, đánh giá của KTNB đồng thời lại giúp cho công tác KTNB được chính xác hơn, hiệu quả hơn. KTNBTH do vậy cũng đồng thời là một khâu quan trọng của hoạt động TTr-KT giáo dục nói chung.

1.3. Lý luận về công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

1.3.1 Vị trí, vai trò của kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

  • Vị trí trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo quy định tại điều 2, Điều lệ trường trung học thì: “Trường trung học là cơ sở giáo dục của cấp trung học, cấp học nối tiếp ngành học tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Trường trung học có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng” [10, tr.5].

Mục tiêu cấp học THCS được quy định tại khoản 3, điều 27, Luật giáo dục quy định: Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

Như vậy, THCS là cấp học giữa của ngành học phổ thông, là cầu nối giữa cấp tiểu học và cấp THPT. Cấp THCS có vai trò hết sức quan trọng giúp học sinh củng cố được kiến thức tiểu học và tiếp thu những tri thức ban đầu để tiếp tục học lên THPT hoặc phân luồng tiếp tục học trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho địa phương và cho đất nước.

  • Vai trò của công tác kiểm tra nội bộ trường học:

Hoạt động quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch – Tổ chức – Lãnh đạo – Kiểm tra. Như vậy, KT là chức năng của hoạt động QL, nó có một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động QL vì đó là một phương cách duy nhất để các nhà QL biết được mục tiêu của tổ chức, của đơn vị hoạt động như thế nào, đạt hiệu quả ra sao [1].

KTNBTH là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình QL đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp hiệu trưởng hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình QL nhà trường. Thực hiện tốt công tác KTNBTH là thực hiện chức năng QLGD của hiệu trưởng, chức năng thiết yếu của các cơ quan QLGD, là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực QLNT nhằm nâng cao chất lượng GDĐT trong nhà trường nói riêng và góp phần tăng cường hiệu lực và hiệu quả GD địa phương nói chung. Lê Nin đã khẳng định: “Quản lý mà không có kiểm tra là không quản lý”.

Thực tế cho thấy, nếu KT đánh giá chính xác, chân thực sẽ giúp hiệu trưởng có thông tin chính xác về thực trạng của đơn vị mình cũng như xác định các mức độ, giá trị, các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn có hiệu quả. Như vậy, KT vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để đảm bảo thực hiện các mục tiêu.

KT còn có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ và giúp đỡ các đối tượng được KT làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn. KT chẳng những giúp hiệu trưởng thu thập thông tin về hoạt động của đối tượng QL mà còn giúp nhận rõ kế hoạch, việc chỉ đạo, điều hành…của mình có khoa học, khả thi không, từ đó có các biện pháp điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả QL.

KTNBTH thực hiện việc xem xét và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên, bộ phận trong nhà trường, phân tích nguyên nhân của các ưu, nhược điểm đồng thời đề xuất các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót. Do đó giúp cho việc động viên, khen thưởng chính xác các cá nhân, đơn vị; khuyến khích cái tốt, truyền bá kinh nghiệm tiên tiến đồng thời phát hiện ra những lệch lạc, sai sót để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời.

Với việc đánh giá các hoạt động, KT khẳng định những giá trị sẽ quyết định sự thành công của nhà trường. Những giá trị đó sẽ dần được củng cố, khẳng định và được tiêu chuẩn hoá để trở thành mục đích, mục tiêu, quy tắc, chuẩn mực cho hành vi của tập thể sư phạm. KTNB là công cụ sắc bén giúp hiệu trưởng không ngừng hoàn thiện quá trình QL và nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường, đồng thời cung cấp thông tin tin cậy cho thanh tra. TTr sử dụng số liệu, kết luận, đánh giá của KTNB, đồng thời lại giúp cho công tác KTNB được chính xác và hiệu quả hơn. Do đó, KTNBTH tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới nhà trường.

Như vậy, KTNB có một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động QL. Nhờ có KT mà chủ thể QL có cơ sở để tự đánh giá các quyết định QL của mình đưa ra có sát với tình hình thực tiễn của đơn vị hay không, từ đó điều chỉnh, rút kinh nghiệm trong việc QL nâng cao chất lượng GD và đổi mới nhà trường.

1.3.2. Mục đích, yêu cầu công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Mục dích: KTNBTH nhằm góp phần xây dựng và duy trì trật tự kỷ cương trong QLGD nói chung và hoạt động QLNT nói riêng, nhằm xác định rõ nguyên nhân của những sai lệch để uốn nắn sửa chữa và phòng ngừa những sai phạm có thể xảy ra, giúp cho các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, KT nhằm mục đích giúp cho nhà trường nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lí, nâng cao chất lượng GDĐT trong nhà trường và góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn. Mục đích cuối cùng của KTNB là để phát triển nhà trường, nhà giáo và nhân viên của đơn vị. Kiểm tra không chỉ là điều chỉnh, phòng ngùa sai phạm mà kiểm tra còn là phát triển.

Yêu cầu: Công tác KTNBTH phải đảm bảo tính đại trà, toàn diện, trực tiếp các nội dung và đối tượng, nhằm đánh giá được thực trạng năng lực của mỗi cá nhân từ đó tư vấn, thúc đẩy, giúp đỡ đội ngũ từng bước hoàn thiện năng lực sư phạm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Yêu cầu KT phải đảm bảo theo mục tiêu và chuẩn. Tương ứng với từng nội dung KT phải có những tiêu chuẩn KT riêng. Đồng thời, để cho việc KT có hiệu quả cao, tùy theo tình hình thực tế, mối liên kết của các bộ phận, cá nhân, truyền thống của tập thể nhà trường yêu cầu người Hiệu trưởng tổ chức hệ thống KT, qui trình và các nguyên tắc KT phù hợp với môi trường văn hoá của đơn vị. Kết quả KT phải tạo được niềm tin lẫn nhau, tạo sự trao đổi thông tin tốt và sự tham gia rộng rãi của mọi người trong đơn vị.

Yêu cầu đối với người làm nhiệm vụ kiểm tra phải thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ và phải có phẩm chất trung thực, khách quan, tôn trọng công việc, đối với hoạt động KT không chỉ dựa vào các số liệu và báo cáo thống kê mà phải được tiến hành ngay tại nơi diễn ra các hoạt động (yêu cầu thực tế) và phải được thực hiện theo một kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Hoạt động KT nhằm cung cấp thông tin về thực trạng tình hình của đối tượng KT, cho nên nhiệm vụ của người KT phải đưa ra được các minh chứng về tính chính xác, khách quan của thông tin về kết quả kiểm tra, phải đưa ra được các căn cứ cho các nhận xét; từ đó tìm ra kiến nghị phù hợp, khả thi để đề xuất cho hiệu trưởng chọn lựa, quyết định.

1.3.3. Chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Chức năng: KTNBTH tuy là một hoạt động mang tính chất nội bộ nhà trường, song KT có các chức năng cơ bản giống như TTr, nhằm tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc, cung cấp những thông tin đã được xử lý chính xác để hiệu trưởng nhà trường tiến hành các hoạt động QL có hiệu quả [50]. Cụ thể: Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Chức năng kiểm soát, phát hiện và phòng ngừa: là sự xác định cái tốt để khuyến khích và cái chưa tốt để điều chỉnh. Phát hiện bao gồm: Khẳng định ưu điểm và phát hiện khuyết điểm so mục tiêu; xác định mức độ của khuyết điểm, yếu kém hoặc sai phạm một cách chính xác, khách quan; tìm nguyên nhân của những khuyết điểm và sai phạm đó

Chức năng động viên, phê phán, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ: là đưa ra quyết định, biện pháp để khuyến khích, phát huy nhân tố tích cực, xử lý, uốn nắn sữa chữa những khuyết điểm, sai phạm. Điều chỉnh bao gồm: Phát huy, khuyến khích, thúc đẩy những việc làm, kinh nghiệm tốt; uốn nắn, sữa chữa những khuyết điểm, yếu kém của người thừa hành; xử lý bằng các hình thức kỷ luật đối với cá nhân sai phạm nghiêm trọng

Chức năng đánh giá và xử lý khi cần thiết: là sự xác định giá trị về chất lượng công việc đã làm được của cá nhân hay tổ chức. Đánh giá bao gồm: Đánh giá định tính (ưu nhược điểm); đánh giá định lượng (xếp loại).

  • Nhiệm vụ: Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ KT trong QL, thì KTNBTH là việc tổ chức thực hiện 04 nhiệm vụ cơ bản sau:

Kiểm tra: là xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng KT so với quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ GDĐT. Yêu cầu của KT là phải tỉ mỉ, rõ ràng, chỉ rõ những điều làm được, chưa làm được của đối tượng KT. Còn đối với người được KT thì cảm thông, hợp tác, chấp nhận việc làm của người KT. KT nhằm Tạo lập kênh thông tin phản hồi, cung cấp thông tin đã được xử lý cho hoạt động QL. Thực tế cho thấy, nếu KT đưa ra được thông tin chính xác, chân thực sẽ giúp HT xác định được các mức độ, giá trị, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của nhà trường, từ đó tìm ra nguyên nhân thành công và yếu kém trong QL để đề ra các giải pháp điều chỉnh, uốn nắn có hiệu quả. Có thể nói, xử lý thông tin có tầm quan trọng hàng đầu trong KTNB, là điều kiện tiên quyết để KTNB đạt được các mục tiêu đặt ra.

Đánh giá: là xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo qui định, phù hợp với bối cảnh và đối tượng để xếp loại đối tượng KT. Yêu cầu của đánh giá phải khách quan, chính xác, công bằng; đồng thời định hướng, khuyến khích tạo điều kiện phát triển đối tượng KT. KT không đơn thuần chỉ để nhận biết hiện trạng, mà quan trọng hơn là phải đánh giá được thực trạng và phân tích thực trạng đó. Người làm KTNB không cho phép mình đưa ra những nhận xét cảm tính, thiếu căn cứ. Muốn vậy, KTNB phải dựa vào mục tiêu, kế hoạch hoặc chuẩn mực đã được xác định để đánh giá, phân tích thực trạng.

Tư vấn: là nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho đối tượng KT thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình. Yêu cầu của tư vấn là các ý kiến tư vấn phải sát thực, khả thi giúp cho đối tượng KT nâng cao chất lượng công việc của mình. KTNB trường học thực hiện việc xem xét và đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của nhà trường, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên, bộ phận trong nhà trường, phân tích nguyên nhân của các ưu, nhược điểm, giúp đề xuất các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót. Không chỉ dừng lại ở đó, KTNB phải giúp HT nắm được những khâu yếu trong hoạt động của nhà trường, những yếu tố khách quan và chủ quan cản trở sự phát triển của nhà trường, những sự việc phát sinh chưa tính đến, cần phải can thiệp. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Thúc dẩy: là hoạt động kích thích, phát hiện, phổ biến các kinh nghiệm tốt, những định hướng mới và kiến nghị với các cấp QL nhằm hoàn thiện dần hoạt động của đối tượng KT. Yêu cầu của thúc đẩy là người KT phải phát hiện, lựa chọn được kinh nghiệm tốt, những định hướng mới cho đối tượng KT và có những kiến nghị xác đáng đối với cấp QL nhằm phát triển tổ chức, phát triển cá nhân trong đơn vị.

Kết quả KT phải có tác dụng giúp đỡ, động viên đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tuyên truyền những kinh nghiệm giáo dục tiên tiến. Cần lưu ý: Tìm ra khuyết điểm, phê phán, chê trách, thi hành kỷ luật người sai phạm không phải là mục đích của KTNB nhà trường. Nhận thức điều này rất quan trọng đối với HT và những người tham gia công tác KTNB. Người làm công tác KTNB không chỉ cần có tinh thần trách nhiệm, khách quan, vô tư, mà còn cần có kỹ năng tư vấn, kỹ năng thúc đẩy các đối tượng QL trong và sau quá trình KTNB. Phải biết tuyên truyền, nhân rộng những kinh nghiệm tốt để mọi người cùng thực hiện.

Tóm lại, Hiệu trưởng có trách nhiệm sử dụng bộ máy QL để KT công việc, hoạt động, mối quan hệ của mọi thành viên trong trường và những điều kiện phương tiện phục vụ cho dạy học và giáo dục; xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo về các vấn đề thuộc trách nhiệm QL của mình. Phối hợp với tổ chức Đảng, đoàn thể trong trường tiến hành việc KTNBTH, hiệu trưởng tự KT công tác QL của mình, phát huy và thực hiện dân chủ hoá trong QLNT, thực hiện tốt quy chế chuyên môn, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo trong trường. Khi kiểm tra phải có kết luận, làm biên bản và lưu trữ hồ sơ KT.

1.3.4. Nguyên tắc của kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

  • Kiểm tra cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng, tính pháp chế: Quán triệt đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước về GDĐT, thống nhất trên cơ sở QL nhà nước về GD. Vì vậy, KTNB là biện pháp QL bằng pháp chế, hoạt động trên cơ sở pháp luật quy định, không tùy tiện. Khi tiến hành KTNB cần “vận dụng” một cách hợp lý các văn bản chỉ đạo về nghiệp vụ TTr-KT trong GD. Đây là nguyên tắc cơ bản, bao trùm toàn bộ công tác KTNBTH. Chỉ khi được thực hiện theo đúng luật định, mới có cơ sở pháp lý rõ ràng để khẳng định hoạt động KT là chính xác, khách quan và trung thực.

Nguyên tắc đảm bảo tính kế hoạch: KT là một chức năng QL, là công việc của nhà QL nên phải thực hiện thường xuyên, kịp thời có kế hoạch, không phải “khi có vấn đề” mới kiểm tra. Tính kế hoạch trong hoạt động KT đòi hỏi hiệu trưởng khi tiến hành các đợt KT phải theo đúng kế hoạch đã đề ra. Nội dung của kế hoạch phải chi tiết, cụ thể, tập trung vào những nội dung chính cần kiểm tra. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan: Đây là nguyên tắc hàng đầu của Kết quả KT phải phản ánh đúng thực trạng về đối tượng KT. Tránh định kiến, suy diễn cũng như tránh làm hình thức, giả tạo.

Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả: KT không phải là “bới lông tìm vết”. KT phải có tác dụng đôn đốc thúc đẩy việc thực hiện được tốt hơn. Đặc biệt, trong GD còn phải tính đến hiệu quả GD trong KT phải giúp cho nhà QL nâng cao hiệu quả QL nhờ những thông tin xác thực về hoạt động của đối tượng QL và hoạt động của các cấp QL trong nhà trường. Ngoài ra, còn phải tính đến tính đến hiệu quả kinh tế trong KT, nghĩa là các lợi ích mà KT mang lại phải lớn hơn các chi phí cùng hậu quả do KT gây ra.

Nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ, công khai: Đó là sự thể hiện dân chủ trong Cần phải động viên, thu hút cá nhân, đơn vị tham gia vào quá trình KT, biến quá trình KT bên ngoài thành quá trình tự KT của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường.

Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục: KTNBTH là nhằm giúp cho cán bộ giáo viên, nhân viên nhận rõ được những ưu điểm, những kết quả công việc đã đạt được cũng như những thiếu sót, hạn chế còn mắc phải. Mục đích của kiểm tra giúp cho các hoạt động nhà trường đi vào nề nếp, kỷ cương và giúp các cá nhân khắc phục những sai sót, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Các nguyên tắc trên có liên quan, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Tuy từng mục đích, đối tượng, nội dung và tình huống KT cụ thể mà hiệu trưởng sử dụng các nguyên tắc hoặc sự phối hợp tối ưu giữa chúng một cách linh hoạt và sáng tạo. Đồng thời, KTNBTH được xem là hoạt động chủ động từ phía các chủ thể thực hiện hơn là theo yêu cầu của cơ quan QL cấp trên, nên cần phải được thực hiện trên nguyên tắc “tự vận động, tự phát hiện, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, phát triển”.

1.3.5. Thẩm quyền, đối tượng kiểm tra nội bộ trường trung hqc cơ sở

1.3.5.1. Thẩm quyền kiểm tra

HT là người ban hành quyết định KTNBTH và lựa chọn những thành viên của trường thành lập Ban KTNB (Đoàn KTNB) của đơn vị theo kế hoạch trong từng năm học.

HT phê duyệt kế hoạch KT và phân cấp thẩm quyền KT trong đội ngũ CBQL nhà trường bao gồm HT và các phó HT nhà trường, các tổ trưởng. Ngoài ra những người có thẩm quyền KT là các viên chức trong Ban KTNB nhà trường hoặc các viên chức khác được cử tham gia đoàn kiểm tra theo quyết định của HT. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

HT muốn QL và điều hành tốt hoạt động của nhà trường thì cần thực hiện việc phân cấp thẩm quyền trong QLNT. Nghĩa là, HT ủy quyền cho các Phó HT, tổ trưởng để thực hiện nhiệm vụ QL một số quá trình hoạt động trong trường và thường xuyên KT việc thực hiện thẩm quyền của cấp dưới. Mục đích của việc KT trong QL là nhằm đảm bảo việc quyền hạn được giao đang được sử dụng đúng hướng, đúng mục đích và có hiệu quả. Cho nên khi thiết lập hệ thống kiểm tra theo phân cấp QL, theo phân công QL trong nhà trường cần phải xem xét đảm bảo phù hợp, đây cũng chính là nghệ thuật QL của người HT.

Dưới sự điều hành trực tiếp của HT, đoàn (tổ) KT tổ chức có hiệu quả công tác KTNB theo kế hoạch. Đảm bảo đủ và đúng mục tiêu, nội dung, phạm vi KT, không lạm dụng thực hiện quá quyền hạn, nội dung và phạm vi KT được thể hiện trong quyết định và kế hoạch KT. Ngoài ra, thẩm quyền KTNB trường THCS còn thuộc quyền những người tham gia đoàn KT theo quyết định của cấp QLGD có liên quan tại địa phương (Phòng GDĐT, Sở GDĐT) nhằm thực hiện chức năng KT trong QL theo phân cấp.

1.3.5.2. Đối tượng kiểm tra

Tiếp cận theo giáo dục học, đối tượng KTNBTH là tất cả các thành tố cấu thành hệ thống sư phạm nhà trường, sự tương tác giữa chúng tạo ra một phương thức hoạt động đồng bộ và thống nhất nhằm thực hiện tốt mục tiêu GDĐT trong nhà trường, gồm 9 thành tố:

  • Mục tiêu giáo dục – Nội dung dạy học
  • Phương pháp, hình thức dạy học – Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ
  • CBQL, Giáo viên, nhân viên – Học sinh
  • Chương trình, kế hoạch dạy học – Kết quả dạy học
  • Môi trường hoạt động

Tuy nhiên, KTNB là một chức năng của QLNT, nên đối tượng QLNT chính là đối tượng của KTNB. Mà tất cả nội dung QLNT đều được thực hiện bởi những con người cụ thể trong nhà trường. Vì vậy, thực chất đối tượng KTNB trường THCS là bao gồm HT, phó HT, giáo viên, người lao động (nhân viên kế toán, văn thư, cán bộ thư viện-thiết bị-phòng bộ môn, giám thị, y tế, bảo vệ, phục vụ) và học sinh trong nhà trường đang làm việc trong các lĩnh vực thuộc nội dung QL của nhà trường (bao gồm con người cụ thể với những công việc mà họ đang đảm nhiệm và các mối quan hệ của họ với môi trường xung quanh).

1.3.6. Nội dung kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường rất phong phú, phức tạp và nhiều mặt. HT là người được giao nhiệm vụ QLNT có trách nhiệm KT toàn bộ công việc, hoạt động, mối quan hệ, kết quả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện phương tiện của nó, không loại trừ mặt nào. Để xác định nội dung của KTNB cần căn cứ vào đối tượng của KTNB trường học và các cơ sở pháp lý về TTr, KT theo quy định của Ngành.

KTNBTH là nhằm phản ánh thực trạng tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường và công tác QL của Hiệu trưởng, đối chiếu thực trạng đó với quy định của Điều lệ nhà trường và các văn bản liên quan; kết quả KT là cơ sở để thực hiện tiếp các nhiệm vụ đánh giá, tư vấn và thúc đẩy. Có thể phân chia nội dung KT theo các tiêu chí sau:

Nội dung KTNBTH được xác định gồm nội dung cơ bản sau:

  • a)  Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ dược giao của lãnh dạo, viên chức, người lao dộng.

Kiểm tra hoạt động sư phạm của nhà giáo: KT hoạt động sư phạm của nhà giáo nhằm xem xét cụ thể tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ, đối chiếu với những yêu cầu, chuẩn nghề nghiệp về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm mà nhà giáo cần phải đạt nhằm đáp ứng mục tiêu GD. Kết quả KT là cơ sở quan trọng để đánh giá, tư vấn, thúc đẩy và quyết định hiệu quả hoạt động KTNBTH.

Nội dung KT gồm: Kế hoạch, nội dung, phương pháp, biện pháp thực hiện; phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống; kết quả công tác được giao; trình độ nghiệp vụ (tay nghề); thực hiện qui chế chuyên môn; kết quả giảng dạy, giáo dục; tham gia công tác khác. Ngoài ra, đánh giá hoạt động sư phạm của nhà giáo còn được xác định trên cơ sở quy định chuẩn nghê nghiệp của nhà giáo.

Kiểm tra hoạt động phục vụ và dạy học, giáo dục của viên chức và người lao động trong nhà trường. Công tác KT tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

KT việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu năm học; số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ (CBQL, GV, NV), tình hình bố trí, sử dụng đội ngũ và hình thành, tổ chức bộ máy nhà trường theo quy định; thực hiện kế hoạch tuyển sinh (chỉ tiêu tuyển sinh, thực hiện qui chế tuyển sinh, biên chế học sinh/lớp, duy trì sĩ số, chống lưu ban bỏ học..). Hiệu quả đào tạo.

KT các điều kiện về cơ sở vật chất (CSVC) kỹ thuật; số lượng, chất lượng, việc bố trí, sắp xếp, khai thác, sử dụng, bảo quản CSVC- kỹ thuật trang thiết bị, khuôn viên, các khu vực vệ sinh…

Về hoạt động và chất lượng giảng dạy, học tập các bộ môn văn hóa và các mặt giáo dục khác: KT việc thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch giảng dạy các bộ môn văn hóa; KT và đánh giá xếp loại, xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ. Thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch các hoạt động GD chính khóa và GD ngoài giờ lên lớp. Thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy và học, sử dụng trang thiết bị, đồ dùng dạy học, chất lượng giảng dạy của giáo viên; kết quả học tập của học sinh.

Về thực hiện nội dung, chương trình giáo dục toàn diện: KT việc thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch GD đạo đức, thẩm mỹ, thể chất.., chăm sóc, nuôi dưỡng trong và ngoài nhà trường. Hoạt động của công tác chủ nhiệm; hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức khác trong nhà trường trong việc GD học sinh. Việc kết hợp GD giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Kết quả xếp loại hạnh kiểm, đánh giá học sinh.

KT việc thực hiện quy định về dạy thêm học thêm; quy định về đồng phục; quy định chi tiêu nội bộ trong nhà trường; việc thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật khiếu nại, Luật tố cáo theo quy định.

  • b)  Kiểm tra hoạt dộng của các tổ, khối chuyên môn, các bộ phận; thư viện, thiết bị, tài chính, văn thư, bán trú, nội trú (nếu có) Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

KT hoạt động của tổ/khối chuyên môn: Việc KT hoạt động tổ/khối chuyên môn giúp cho hiệu trưởng thấy được toàn bộ bức tranh hoạt động sư phạm của tập thể GV, trong đó bộc lộ tất cả các khâu của quá trình dạy học, GD học sinh, thấy rõ tác động của tập thể đến cá nhân và mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong tập thể. Nội dung kiểm tra gồm: KT công tác QL của tổ trưởng, nhóm trưởng; KT hồ sơ chuyên môn; hồ sơ QL; KT chất lượng dạy – học bộ môn của tổ, nhóm; KT nề nếp sinh hoạt chuyên môn; KT kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; KT việc chỉ đạo phong trào học tập của học sinh.

KT thiết bị dạy học và thư viện: KT thiết bị dạy học, thư viện trong nhà trường nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả. Đồng thời duy tu, bảo dưỡng kịp thời. Nội dung trọng tâm cần KT gồm:

Nội dung KT thiết bị dạy học: KT kế hoạch mua sắm thiết bị theo nhu cầu dạy và học; KT việc xây dựng và bổ sung thiết bị dạy học; KT việc khai thác sử dụng, duy trì, bảo quản thiết bị dạy học.

Nội dung KT thư viện: KT việc sắp xếp, bố trí, trang trí, vệ sinh; KT số lượng và chất lượng sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh GD, băng đĩa giáo khoa…; KT hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ thư viện (việc thực hiện nội qui, việc cho mượn, thu hồi; hồ sơ sổ sách, bảo quản, giới thiệu, thống kê, phân loại, bổ sung sách báo; thực hiện giờ giấc, tinh thần, thái độ làm việc…).

  • c) Kiểm tra tài chính

KT tài chính, tài sản và công tác kế toán nhằm phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp xử lý các sai phạm theo đúng thẩm quyền được phân cấp. Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục kịp thời.

Nội dung KT bao gồm các việc sau: KT kế hoạch xây dựng, tạo nguồn ngân sách của trường; KT các khoản thu ngân sách, thu hoạt động của đơn vị; KT các khoản chi ngân sách, chi khác của đơn vị; KT việc xác định các khoản chênh lệch thu chi hoạt động và trích lập các quỹ; KT các quan hệ thanh toán; KT việc QL và sử dụng các khoản quỹ vốn bằng tiền; KT việc thực hiện quyết toán thu chi tài chính; KT công tác đầu tư xây dựng cơ bản (nếu có); KT kế toán về việc chấp hành các chế độ, nguyên tắc kế toán tài chính.

  • d) Kiểm tra hoạt dộng của bộ phận văn thư hành chính (văn phòng)

Việc KT nhằm đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ (công việc, tinh thần, thái độ…của cán bộ văn thư, thông tin dữ liệu) của bộ phận văn thư hành chính, từ đó đôn đốc, tư vấn, thúc đẩy, động viên, khuyến khích điều chỉnh, uốn nắn bộ phận văn thư hành chính thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đảm bảo thông tin thông suốt, kịp thời, đầy đủ đúng qui định, đặc biệt là QL tốt con dấu. Giúp hiệu trưởng làm tốt công tác QL hành chính trong nhà trường, đưa công tác này đi vào nề nếp, khoa học, đúng qui định, góp phần thực hiện cải cách hành chính của đơn vị. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Nội dung KT, gồm: KT việc soạn thảo, luân chuyển, lưu trữ công văn đi, công văn đến; KT việc QL và sử dụng con dấu; KT việc QL các hồ sơ, sổ sách hành chính, giáo vụ (sổ đăng bộ GV-HS, sổ gọi tên ghi điểm, sổ ghi đầu bài, học bạ, sổ QL cấp phát văn bằng, chứng chỉ, sổ theo dõi phổ cập giáo dục, sổ nghị quyết của nhà trường, sổ KT-đánh giá GV về công tác chuyên môn, sổ khen thưởng, kỷ luật HS, sổ lưu trữ các văn bản, công văn và các loại hồ sơ sổ sách khác…); KT việc QL thiết bị, văn phòng phẩm (nếu có); KT tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên văn thư, nhân viên thông tin dữ liệu; việc công khai hóa thủ tục hành chính…

  • e) Kiểm tra công tác bán trú (nếu có)

KT công tác bán trú nhằm thực hiện các nhiệm vụ: KT, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy công tác này sẽ ngày càng tốt hơn đáp ứng nhu cầu của phụ huynh, học sinh. Nội dung KT, gồm: KT CSVC phục vụ bán trú; KT công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; KT việc thực hiện các chứng từ kiểm định an toàn vệ sinh thực phẩm (nguồn thực phẩm, nguồn nước, chứng nhận sức khỏe, tập huấn của cấp dưỡng…); KT hoạt động của bộ phận nuôi dưỡng, chăm sóc; KT kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh.

  • f)  Kiểm tra công tác quản lý của hiệu trưởng

KT công tác QL của hiệu trưởng (người đứng đầu đơn vị) nhằm giúp hiệu trưởng tìm ra những sai sót, từ đó, đề ra những biện pháp đôn đốc, giúp đỡ và điều chỉnh đối tượng KT, góp phần hoàn thiện quyết định QL, cũng cố và phát triển nhà trường. Nội dung KT công tác QL của hiệu trưởng bao gồm:

Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch (kế hoạch năm học, học kỳ, kế hoạch tháng của trường và các bộ phận); kế hoạch công tác KTNBTH.

Quản lý (lựa chọn, bố trí sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, tạo động cơ làm việc…) đội ngũ nhà giáo, nhân viên, nhằm phát triển đội ngũ. Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước với cơ sở giáo dục, nhà giáo, nhân viên và học sinh.

Chỉ đạo công tác hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường, xây dựng CSVC, thiết bị dạy và học.

QL và tổ chức giáo dục học sinh; quan hệ phối hợp công tác giữa nhà trường và các đoàn thể.

Thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; Công tác xã hội hóa; công tác thi đua-khen thưởng, thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua trong ngành; Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện “3 công khai”; Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh (thuộc thẩm quyền); công tác chính trị tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

KT việc thực hiện chuẩn kiểm định chất lượng GD: là KT tích hợp nội dung QL của Hiệu trưởng và nội dung việc thực hiện chuẩn kiểm định chất lượng GD trường THCS theo quy định của Bộ GDĐT. Tổ chức KT định kỳ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm, cung cấp thông tin minh chứng kịp thời cho việc tự đánh giá kiểm định chất lượng GD của nhà trường.

1.3.7. Hình thức, phương pháp kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

1.3.7.1. Hình thức kiểm tra nội bộ

Các hình thức KTNB rất phong phú, tùy theo tính chất và yêu cầu của các hoạt động trong nhà trường mà hiệu trưởng có thể sử dụng các hình thức kiểm tra phù hợp. Phân loại hình thức KT dựa theo các dấu hiệu, gồm: KT theo kế hoạch (KT định kỳ, đột xuất); KT theo nội dung (KT toàn diện, hoặc chuyên đề); KT theo phương pháp (KT trực tiếp, hoặc gián tiếp)…

  • Ngoài ra, có thể phân loại KTNB dựa trên thời điểm thực hiện KT, gồm:

Kiểm tra lường trước: Được tiến hành trước khi hoạt động diễn ra. Mục đích của nó là tiên liệu các vấn đề có thể phát sinh để tìm cách ngăn ngừa trước.

Kiểm tra đồng thời: Được thực hiện trong khi hoạt động của đối tượng KT đang được tiến hành. Với hình thức KT này nhà QL có thể điều chỉnh các sai sót một cách kịp thời.

Kiểm tra phản hồi: Được thực hiện sau khi hoạt động đã xảy ra. Nó giúp cho nhà QL tự đánh giá về quyết định của mình để rút kinh nghiệm. Nó cung cấp cho mọi người trong tổ chức những thông tin cần thiết để nâng cao chất lượng công tác trong tương lai.

Trên thực tế, hoạt động KTNB trường THCS thường được tiến hành KT theo kế hoạch kết hợp trong từng thời điểm diễn ra của chu trình QL. gồm 2 hình thức:

Kiểm tra định kỳ: là KT theo kế hoạch hàng năm của hiệu trưởng và được thông báo trước cho đối tượng kiểm tra, các bộ phận, cá nhân có liên quan. Hình thức KT này giúp nhà QL đánh giá được mức độ tiến bộ của cá nhân hay bộ phận. KT theo kế hoạch, giúp cho đối tượng bộc lộ hết khả năng trong công việc.

Kiểm tra đột xuất: là KT không có trong kế hoạch được phê duyệt hàng năm. Hình thức KT này được tiến hành khi phát hiện tập thể, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng hoặc do hiệu trưởng giao. Nhằm giúp cho người QL biết được tình hình công việc diễn ra trong điều kiện bình thường hàng ngày, đồng thời có tác dụng duy trì kỷ luật lao động, nâng cao tinh thần tự giác, tự KT của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường.

1.3.7.2. Phương pháp kiểm tra nội bộ trường học Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Phương pháp KT là toàn bộ cách thức đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở lựa chọn những công cụ, phương tiện và cách thức phù hợp nhằm đạt tới kết quả KT chính xác và khách quan. Chỉ có sử dụng và biết phối hợp tối ưu nhiều phương pháp KT khác nhau mới cho phép rút ra được những kết luận có căn cứ, chuẩn xác để đánh giá đúng đắn, khách quan. Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp nào là tùy thuộc đặc điểm đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, thời gian và tình huống cụ thể trong KT. Những phương pháp KT phổ biến là:

  • a. Phương pháp quan sát

Quan sát là quá trình tri giác (mắt thấy tai nghe) và ghi chép lại mọi yếu tố liên quan đến đối tượng KT, phù hợp với mục tiêu KT… nhằm mô tả, phân tích, nhận định và đánh giá. Đây là phương pháp quan trọng của KT. Quan sát là một hoạt động khác so với việc trông thấy. Có hai loại quan sát: quan sát tĩnh và quan sát động. Trong KT, quan sát nhằm thu thập thông tin về đối tượng KT, trong đó có việc phát hiện các điểm không phù hợp, các điểm bất thường. Trong KTNB trường học, các đối tượng quan sát thường là:

CSVC-kỹ thuật (tường rào, cổng, sân chơi, bãi tập, bồn hoa, lớp học, phòng làm việc, thư viện, thiết bị, đồ dùng dạy học…): Quan sát độ bền, vệ sinh, tính thẩm mỹ, sự hợp lý trong bố trí, sắp xếp ngăn nắp, việc sử dụng, bảo quản.

Hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, hoạt động phục vụ dạy – học của cán bộ, NV trong trường cũng như mối quan hệ của họ: Quan sát tinh thần, thái độ trong thực hiện nhiệm vụ, năng lực trong giải quyết công việc.

Hồ sơ, tài liệu theo thời gian, phân loại, lưu trữ văn bản.

Điều lưu ý khi sử dụng phương pháp này là quan sát phải có mục đích, kế hoạch và hệ thống, lựa chọn đúng đắn đối tượng quan sát. Trong phương pháp này có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghe nhìn nên người KT phải có kỹ năng sử dụng phương tiện kỹ thuật và phải có sự tinh tế sư phạm cần thiết.

  • b. Phương pháp phân tích tài liệu sản phẩm

Phương pháp này cho phép người KT hình dung lại quá trình hoạt động của đối tượng KT. Người KT có thể phân tích nhiều loại tài liệu sản phẩm khác nhau trong quá trình KT. Chẳng hạn như: Các loại kế hoạch, giáo án, sổ chủ nhiệm, các loại biên bản, các bản sơ kết, tổng kết, vở ghi của HS, sổ điểm, bài KT của HS, đồ dùng dạy học tự làm của GV…

  • c. Phương pháp tác dộng trực tiếp dối tượng Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Các phương pháp này bao gồm: Điều tra bằng phiếu, phỏng vấn, trao đổi, nghe báo cáo, KT (miệng, viết). Sử dụng phương pháp này, người KT cần có kỹ năng phỏng vấn (hỏi, giao tiếp). Mục đích của cuộc phỏng vấn là người kiểm tra mong muốn nhận được càng nhiều càng tốt từ chính bản thân người được phỏng vấn về vấn đề quan tâm. Những câu hỏi phỏng vấn nên là những câu hỏi tạo nhiều cơ hội cho người được phỏng vấn trả lời đầy đủ bằng chính suy nghĩ của họ.

  • d. Phương pháp tham dự các hoạt dộng giáo dục cụ thể

Người KT tham dự trực tiếp các sinh hoạt, hoạt động của đối tượng được KT trong và ngoài lớp, ngoài trường, nhằm xem xét đánh giá việc thực hiện các qui định, quy chế của ngành và năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ của đối tượng theo nhiệm vụ được phân công đảm nhiệm.

1.3.8. Quy trình kiểm tra nội bộ trường hqc

1.3.8.1. Quy trình tổ chức kiểm tra cơ bản

Quy trình kiểm tra cơ bản bao gồm 4 bước (giai đoạn) sau:

  • Xác định chuẩn kiểm tra và phương pháp đo lường thành tích.
  • Đo lường việc thực thi các nhiệm vụ (thành tích đạt được) theo chuẩn kiểm tra đã được xác định.
  • So sánh sự phù hợp của thành tích với chuẩn.
  • Đưa ra các quyết định điều chỉnh, tiến hành hành động điều chỉnh khi có sự khác biệt của thành tích đạt được và chuẩn xác định.

Sơ đồ 1: Các bước của quá trình kiểm tra [5]

Để QL tốt quá trình thực hiện KTNB, người hiệu trưởng cần QL và tổ chức thực hiện qua 4 khâu: Chuẩn bị; lập kế hoạch kiểm tra; tiến hành kiểm tra; kết thúc kiểm tra, hoạt động sau kiểm tra.

1.3.8.2. Quy trình kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Do yêu cầu thực tiễn GDĐT, hoạt động GD, dạy học trong trường học phức tạp, đa dạng. GDĐT con người không được phép phế phẩm, do đó hiệu trưởng nhà trường phải xây dựng kế hoạch KT thường xuyên (hay định kỳ) để KT toàn bộ hoạt động, công việc và mối quan hệ trong trường để phát hiện, theo dõi, kiểm soát, phòng ngừa và đánh giá chính xác nhằm động viên, giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với mục tiêu, kế hoạch, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy trình KT một cách khoa học. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

  • a) Công tác chuẩn bị của hiệu trưởng

Việc chuẩn bị cho KTNB có thể gồm những công việc là chuẩn bị nhận thức cho đội ngũ nhà trường về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của việc KTNB; phân cấp QL trong nội bộ nhà trường, tìm hiểu thực trạng trường làm căn cứ xây dựng kế hoạch KTNB, xây dựng tiêu chuẩn, quy định KT và lực lượng KT, xây dựng môi trường văn hóa trong nhà trường để tạo điều kiện cho hoạt động KT.

Chuẩn bị nhận thức cho đội ngũ nhà trường về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu của việc KTNB: Cung cấp cho thành viên nhà trường một số khái niệm cơ bản về KTNB, nhiệm vụ của Ban KTNB, trách nhiệm của các thành viên nhà trường trong việc thực hiện các yêu cầu của việc KT của nhà trường và tự KT của mình. Trong từng năm học, theo từng nhiệm vụ, từng mục tiêu cần quán triệt đầy đủ về yêu cầu, biện pháp thực hiện đến từng thành viên, cũng sẽ giúp cho tất cả các thành viên hiểu rõ trách nhiệm trong từng hoạt động, nhiệm vụ cụ thể của mình để có sự tham gia tích cực, tự KT tốt hơn, nhận thức tốt hơn về KT.

Xây dựng lực lượng, tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ: Trường học có nhiều đối tượng phải KT. Do tính đa dạng và phức tạp, thường HT không đủ thông thạo về nhiều lĩnh vực, không nhiều thời gian để trực tiếp KT trong trường. HT phải lựa chọn lực lượng KT nhiều thành phần có kiến thức, uy tín tham gia vào việc KT. Đây là lực lượng để đảm bảo thực thi hiệu quả các nội dung thiết kế của kế hoạch

Lực lượng KT chuyên nghiệp, có trình độ cao sẽ giúp hoàn thành công việc theo dự định, đảm bảo được tiến độ và chất lượng KT (thông tin quản lý).

Từ yêu cầu của nội dung KT, HT chọn lựa người có phẩm chất đạo đức, năng lực phù hợp để phân công phụ trách. Đồng thời, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ lực lượng KT sử dụng và phối hợp các phương pháp, hình thức KT đối với mỗi nội dung KT cụ thể; điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện KT; tập huấn thực hiện việc KT và tự KT để hoàn thành các nhiệm vụ.

Phân cấp trong kiểm tra: Nhằm đảm bảo tính hệ thống trong QLNT, việc phân cấp QL trong KT là một yêu cầu QL khoa học, nhằm đảm bảo việc tự KT của các cá nhân, đến bộ phận, các tổ nhóm và việc tiến hành KT của nhà trường để đảm bảo QL mục tiêu, công việc theo định hướng. Do đó, khi KT theo phân cấp QL như KT công việc phụ trách của Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng, giáo viên, nhân viên thì nội dung KT phải được xây dựng phù hợp với trách nhiệm được phân công QL.

Xây dựng chuẩn kiểm tra: Việc xây dựng chuẩn KT là yêu cầu tất yếu trước khi tiến hành KT, người KT phải căn cứ chuẩn kiểm tra phù hợp với từng nhiệm vụ, từng hoạt động để có thể đo lường, đánh giá hoạt động của các thành viên và các điều kiện cho các hoạt động của nhà trường. Chuẩn bao gồm hai yếu tố: định tính và định lượng. Những cơ sở để xây dựng chuẩn KTNB trường học là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản pháp quy của Bộ GDĐT, các Bộ ngành có liên quan; văn bản của địa phương, kế hoạch của nhà trường…Khi có hệ thống các văn bản quy định trong nhà trường, HT và tất cả các thành viên có thể xem xét các bước thực hiện, tổ chức tự KT quá trình thực hiện, tránh được việc các bộ phận đùn đẩy trách nhiệm cho nhau khi sai sót xảy ra [33, tr.24]. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Theo các nghiên cứu gần đây về quá trình đổi mới KT, đánh giá trong dạy học, một trong những nội dung quan trọng là người học cần phải được biết trước họ sẽ được KT, đánh giá như thế nào. Vấn đề này cũng có thể được áp dụng cho công tác KTNB. Ngay từ đầu năm học, HT cần công khai các chuẩn KT, những yêu cầu cần đạt được là gì, từ đó đội ngũ GV, NV sẽ có sự phản hồi cần thiết góp ý hoàn thiện thống nhất chuẩn KT, từ đó họ sẽ xác định mục tiêu rõ ràng, cụ thể trong công việc. Tổ chức xây dựng chuẩn KT phải đảm bảo tính khoa học, tính dân chủ cũng là một yêu cầu để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Xây dựng và ban hành quy chế kiểm tra: Xây dựng quy chế hoạt động KT là một công việc rất quan trọng trong KTNB trường học. Việc xác lập quy chế hoạt động kiểm tra nhằm đề ra những quy tắc mà tất cả các thành viên nhà trường phải tôn trọng, nghiêm túc chấp hành để tạo điều kiện cho hoạt động KT; xác lập quyền hạn, nhiệm vụ của lực lượng KTNB, trách nhiệm của các thành viên nhà trường trong công tác KT, xác lập mối quan hệ của đoàn, tổ KTNB và các thành viên, các Hội đồng khác trong nhà trường. Việc xây dựng quy chế hoạt động hợp lý sẽ có tác dụng tích cực, phát huy năng lực của thành viên tham gia KT và cũng tạo điều kiện các thành viên nhà trường sẽ giám sát hoạt động của đoàn, tổ KTNB.

  • b) Xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ trong năm học

Hằng năm, hiệu trưởng xây dựng kế hoạch KTNBTH cần dựa trên thực tế phát triển từng mặt trong công tác QL, công tác chuyên môn của trường và trọng tâm công tác cần KT do cơ quan QL cấp trên yêu cầu. Kế hoạch KTNB cần đảm bảo đủ các nội dung sau:

Cơ sở pháp lý: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học; hướng dẫn nhiệm vụ TTr-KT của Sở GDĐT, Phòng GDĐT và chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng trường THCS theo quy định điều lệ trường THCS.

Cơ sở thực tiễn: Đặc điểm tình hình nhà trường, địa phương. Xác định rõ về đội ngũ, cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính, chất lượng giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng…) của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học nói chung và KTNB nói riêng.

Mục tiêu, nhiệm vụ: xác định rõ mục tiêu KTNB; những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm cần tập trung KT nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học đề ra.

Nội dung KT: Kiểm tra xuất phát từ cơ sở của yêu cầu khách quan trong công tác QL. Người hiệu trưởng cần sắp xếp, hệ thống hóa toàn bộ các nội dung KT của từng thành viên, từng bộ phận; sắp đặt thời gian, phân công người để có thể KT nhằm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, bộ phận, đây chính là cơ sở của việc xây dựng kế hoạch KTNB nhà trường. Hệ thống những đầu việc cụ thể theo từng đối tượng cần KT trong năm học (kèm mục đích, yêu cầu, tiêu chuẩn, biện pháp KT cụ thể); dự kiến thời gian KT, lực lượng KT, đối tượng được KT theo từng nội dung KT.

Kế hoạch KTNB có thể trình bày dạng văn bản hoặc dạng sơ đồ, bảng biểu. Kế hoạch KTNB có thể chia thành nhiều loại kế hoạch KT chi tiết tùy theo tính chất công việc mà thực hiện KT. Như kế hoạch KT theo học kỳ, tháng; kế hoạch KT cá nhân, bộ phận, chuyên đề… Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Dựa trên kế hoạch KTNB của trường, các thành viên trong nhà trường cũng cần có kế hoạch tự KT công việc của chính mình, do đó nghệ thuật của người QL là giúp các thành viên trong nhà trường có thể tiến hành tự KT để chuẩn bị cho cuộc KT của nhà trường. Khi kết quả giao thoa của việc tự KT của các cá nhân, bộ phận và việc KT của nhà trường đạt đến điểm cực đại thì ta có một hiệu quả tối ưu trong KTNB nhà trường.

  • c) Tiến hành kiểm tra

Ra quyết định, ban hành kế hoạch kiểm tra: Sau khi thông qua Hội nghị cán bộ công chức đầu năm học, HT cần ban hành các quyết định thành lập Ban KTNB, kế hoạch KTNB của năm học, giao trách nhiệm thực hiện kế hoạch KT cho Ban KTNB. HT tổ chức quán triệt kế hoạch KT và quy chế hoạt động KT đến từng cá nhân, bộ phận trong trường .

Triển khai kiểm tra: Khi kế hoạch KT được ban hành, hiệu trưởng ra quyết định hoặc ban hành văn bản phân công nhiệm vụ KT cụ thể cho từng thành viên của Ban KTNB (văn bản phải thể hiện đầy đủ các nội dung: căn cứ pháp lý để KT; phạm vi, đối tượng KT; nội dung, nhiệm vụ KT; thời hạn KT, lực lượng tham gia KT), đồng thời tổ chức tập huấn những nội dung cần thiết, thống nhất phương pháp tiến hành. Cung cấp đầy đủ văn bản về chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức liên quan đến nội dung KT. Chuẩn bị phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ cho hoạt động KTNB

Căn cứ nhiệm vụ được giao, từng thành viên trong Ban KTNB xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết của mình, trình HT trước khi triển khai KT. Kế hoạch phải nêu rõ nội dung công việc, phương pháp tiến hành, thời gian thực hiện. Thông báo quyết định, kế hoạch và yêu cầu KT cho đối tượng được KT chuẩn bị những công việc liên quan tới nội dung KT. Tổ chức nghiên cứu thông tin về đối tượng KT, tiến hành làm việc với đối tượng KT.

HT cần có biện pháp thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho CB, GV, NV dưới quyền thực hiện KT và tự KT. Khuyến khích tự KT, đánh giá của các cá nhân, bộ phận trong trường. HT nhà trường là người tổ chức và chỉ đạo công tác KTNB, đưa hoạt động KT tiến tới hiệu quả cao nhất. HT tổ chức KTNB trường học cũng chính là tự KT hoạt động QL của mình.

  • d) Kết thúc kiểm tra

Kết thúc KT, đoàn KT có trách nhiệm xây dựng báo cáo kết quả KT cho cấp quản lý có thẩm quyền (người ra quyết định KT). Báo cáo phải nêu được các nội dung: đặc điểm, tình hình đối tượng KT; kết quả KT, xác minh; nhận xét, đánh giá từng nội dung KT kèm kiến nghị biện pháp xử lý).

Hiệu trưởng (người ra quyết định KT) xem xét báo cáo, đưa ra kết luận cuối cùng và thông báo kết quả tại phiên họp hội đồng nhà trường. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

  • e) Tiến trình hoạt dộng sau kiểm tra

Sử dụng kết quả KT là khâu kết thúc của chu trình QL. Việc sử dụng kết quả KTNB nhằm mục đích tạo ra sự chuyển biến trong nhà trường. Căn cứ trên kết quả KTNB, căn cứ những đánh giá của HT nhà trường qua thực tế KT và những thông tin có được trong công tác QL, HT nhà trường phải phân tích đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, những nội dung tồn tại có tính hệ thống… để có kế hoạch giúp đỡ, tư vấn, điều chỉnh kịp thời những tồn tại, đồng thời phát huy, nhân rộng những điểm mạnh, những cá nhân tiên tiến với mục đích chính là tạo ra và thúc đẩy sự chuyển biến tích cực cho từng cá nhân, bộ phận và cả tập thể nhà trường. Việc sử dụng thông tin sau KT cần tạo ra các kênh thông tin để người được KT phản hồi, kiến nghị, đề xuất với ban KTNB về kết quả KT, điều kiện phản hồi thông tin hai chiều rõ ràng, cụ thể từ phía người KT và người được KT về kết quả KT. Đây có thể được coi là công việc ưu tiên hàng đầu nhằm sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả kết quả của công tác KTNB.

Sau KT, HT cần chú ý tổ chức tổng kết, điều chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình KTNB. Việc tổ chức tổng kết để điều chỉnh, đánh giá và rút kinh nghiệm công tác KTNB được thực hiện dưới sự chủ trì của HT cùng các thành viên trong ban KTNB và các thành viên có liên quan khác trong Hội đồng trường. Theo đó, các thành viên có liên quan nghiêm túc tổng kết lại toàn bộ các hoạt động, so sánh với mục tiêu đề ra để đánh giá hiệu quả của công tác KTNB, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác KT trong thời gian tiếp theo.

  • f) Tiến hành lưu trữ hồ sơ kiểm tra theo quy dịnh

Hồ sơ KTNB trường học là cơ sở để tổ chức QL các hoạt động của nhà trường, là một trong những nguồn minh chứng để đánh giá tập thể sư phạm, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, xử lý các vụ việc liên quan đến CB, GV, NV, HS. Hồ sơ KTNB còn là dữ liệu quan trọng phục vụ cho công tác đánh giá, thi đua khen thưởng, quy hoạch, luân chuyển, đề bạt cán bộ. Do đó, người QL cần đầu tư xem xét tính hợp pháp, chất lượng nội dung của biên bản, tài liệu đính kèm, số lượng từng loại trong việc thiết lập các loại hồ sơ KT theo quy định; QL chặt chẽ, khai thác hiệu quả hồ sơ KTNB. Trong quá trình QL lưu trữ hồ sơ, cần quán triệt về việc đảm bảo các yêu cầu của hồ sơ KT về:

Tính chính xác, khách quan: Hồ sơ KT phải phản ánh trung thực hoạt động của đối tượng KT. Tránh những nhận xét định kiến hay thiên vị đối với đối tượng KT. Đảm bảo các thủ tục pháp lý của hồ sơ KT.

Tính toàn diện: Hồ sơ KT phải phản ánh đầy đủ các nội dung đã kiểm tra.

Rõ ràng, cụ thể: Trong hồ sơ KT phải sử dụng văn phong hành chính. Văn viết phải ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, rõ ràng, đơn nghĩa để mọi người đọc đều hiểu đúng, không hiểu khác nhau, đồng thời các ý trong một hồ sơ không mâu thuẫn nhau. Ngôn ngữ viết trong hồ sơ KT phải dùng ngôn ngữ chính thức của cả nước, không dùng tiếng địa phương, không viết tắt, phải viết đúng chính tả.

Tính nhân văn: KT là để giúp đỡ đối tượng KT làm việc tốt hơn. Đó là tính nhân đạo cao cả của hoạt động KT. Vì vậy hồ sơ KT không chỉ nêu lên những ưu điểm cần phát huy, nhược điểm, thiếu sót cần khắc phục, điều chỉnh mà điều quan trọng là trong hồ sơ KT phải đưa ra các lời khuyên, các kiến nghị hết sức cụ thể, rõ ràng, xác đáng để giúp đỡ đối tượng KT cải thiện hoạt động của mình theo hướng ngày càng tốt hơn.

1.4. Định hướng đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ trường trung hqc cơ sở hiện nay Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Trong bối cảnh hiện nay, trước tác động của yếu tố toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, công nghệ thông tin và truyền thông, cùng với chủ trương hoàn thiện thể chế trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải “lấy đổi mới QLGD làm khâu đột phá, đổi mới công tác TTr-KT GD là giải pháp quan trọng, tất yếu và cấp thiết” trong chiến lược phát triển GDĐT với ý tưởng “Bảo đảm chuẩn mực của QL công và tận dụng thế mạnh của cơ chế thị trường”. Trên cơ sở đó, quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước, của ngành và địa phương về hoạt động QLGD nói chung và QLNT nói riêng đã có nhiều quan điểm, chính sách được luật hóa và triển khai thực hiện.

Với quan điểm giáo dục cho tất cả – Tất cả cho giáo dục, thực chất nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đó là việc thực hiện đổi mới về tư duy, phương thức và cơ chế QLGD và quản lý nhà trường. Cụ thể:

  • Đổi mới về tư duy QL: chuyển từ tư tưởng quản lý mệnh lệnh hành chính sang quản lý chủ yếu bằng pháp luật.
  • Đổi mới về phương thúc QL: chuyển từ một chiều từ trên xuống, sang tương tác, lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm.
  • Đổi mới về cơ chế QL: chuyển từ tập trung, quan liêu, bao cấp, sang phân cấp, dân chủ, tự chủ và tự chịu trách nhiệm.

Qua đó cho thấy, bản chất của sự đổi mới QLNT là ở chổ QL lấy nhà trường làm cơ sở. Đây là xu thế tất yếu của sự đổi mới QLGD. Trong đó, khâu đổi mới QL đội ngũ CBQL nhà trường là khâu then chốt và QL công tác KTNBTH là khâu đột phá. Như vậy, định hướng đổi mới QLNT theo hướng tăng cường tính tự chủ và trách nhiệm xã hội, gắn liền với việc đổi mới hoạt động TTr-KT. Mục tiêu TTr-KT phải được chuyển trọng tâm từ TTr-KT hoạt động chuyên môn sang TTr-KT công tác QL và được giám sát bằng quy định pháp luật và các tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng. Vì vậy, cần đẩy mạnh hoạt động TTr-KT hành chính, TTr-KT chuyên ngành theo hướng tăng cường phân cấp KT trong QL, đẩy mạnh công tác tự KT và phối hợp TTr các CSGD. Cụ thể:

Về TTr hành chính: Tăng cường KTNBTH về trách nhiệm của hiệu trưởng trong việc QL nhà nước về GD làm cơ sở phối hợp giữa ngành và địa phương thực hiện TTr-KT hành chính đối với CSGD trực thuộc.

Về TTr Chuyên ngành: KTNBTH nhằm đảm bảo nguyên tắc tăng cường tính tự chủ phải đi đôi với tính tự chịu trách nhiệm, tự KT đơn vị của mình. Tạo điều kiện cho việc tiến hành TTr chuyên ngành của cấp có thẩm quyền.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện phương châm tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách gắn với vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu. Theo đó vai trò của KTNB càng đặc biệt quan trọng và cần thiết trong hoạt động QL của hiệu trưởng.

Kế hoạch KTNBTH đều thực hiện thống nhất theo định hướng. Từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ CBQL và lực lượng tham gia TTr-KT, nhằm đem lại chất lượng các cuộc TTr-KT, nhất là công tác KTNB, góp phần nâng cao hiệu lực QLGD của địa phương. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

Quá trình QLGD được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường. Hệ thống đó bao gồm: chủ thể QL, đối tượng QL, nội dung, phương pháp QL, mục tiêu QL. Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội chung quanh. Như vậy, trong QLNT cần nhận rõ tác động của chủ thể QL đến nhà trường, có hai loại: tác động từ bên ngoài (khách quan) và tác động bên trong nhà trường (chủ quan).

1.5.1. Các yếu tố khách quan (bên ngoài)

Là các tác động từ bên ngoài nhà trường, gồm tác động của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường. Cụ thể:

  • Các văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lý cho công tác KTNB: Trong từng hoạt động của nhà trường các văn bản quy định rõ ràng, đầy đủ, giúp hiệu trưởng có thể vận dụng ban hành văn bản áp dụng pháp luật để tổ chức điều hành, QL nhà trường, QL công tác KTNB.
  • Sự tác động của các cấp QL về hoạt động KTNB: Việc TTr của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, TTr của chính quyền địa phương trong những hoạt động TTr-KT nhà trường; việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ TTr-KT cho CBQL, cho thành viên Ban KTNB có tác động, ảnh hưởng nhất định đến công tác KTNB nhà trường.
  • Việc vận dụng đưa công nghệ thông tin vào nhà trường nếu được tổ chức tốt sẽ đem lại việc cung cấp thông tin về hoạt động KT nhanh chóng, giúp việc QL điều hành nhà trường kịp thời, hiệu quả hơn; việc lưu trữ, xử lý và sử dụng cung cấp thông tin kết quả KT cũng sẽ nhanh chóng, hiệu quả.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan (bên trong) Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Là tác động từ bên trong nhà trường, gồm hoạt động của các chủ thể QL của chính nhà trường nhằm huy động, điều phối, giám sát các lực lượng GD của nhà trường thực hiện có chiến lược, có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học và giáo dục đặt ra. Đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch và phải tuân theo các nguyên tắc quản lý. Cụ thể:

Là những yếu tố về nhận thức của toàn bộ thành viên của nhà trường về tầm quan trọng của việc QL và KTNBTH. Ví dụ, nhận thức của các người QL về nghiệp vụ QL, nghiệp vụ sư phạm; về việc cần thiết phải tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phân công, ủy nhiệm rõ ràng, về việc ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế, quy trình hoạt động. Việc tác động của các bộ phận, Hội đồng khác và các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường để đảm bảo tác động đến tập thể sư phạm phấn đấu thực hiện, hoàn thành tốt nhiệm vụ có sự đồng thuận, cùng hợp tác để mang lại giá trị thực tế cho hoạt động KT.

Văn hóa nhà trường có ảnh hưởng rất lớn hoạt động của lực lượng KTNB, đảm bảo việc KT được tiến hành trong điều kiện thuận lợi nhất. Một môi trường văn hoá trong nhà trường lành mạnh, hợp tác, chia sẻ là cơ sở cho hoạt động hiệu quả của hoạt động KTNB trường học.

  • Các yếu tố bên trong khác:

Hiệu trưởng: đó là phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong, năng lực quản lý, điều hành nhà trường, nghiệp vụ quản lý KTNB của Hiệu trưởng.

Ban KTNB: là những người có đủ uy tín về phẩm chất đạo đức, có năng lực về nghiệp vụ chuyên môn, năng lực giao tiếp, ứng xử, nắm vững và có nghiệp vụ KTNB, nhận thức tốt vai trò, nhiệm vụ của người KT.

Thành viên khác trong nhà trường: Có ý thức trách nhiệm trong công việc, tự giác, biết học hỏi, phấn đấu, khẳng định giá trị bản thân.

Các Hội đồng khác, các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình, đảm bảo việc phối hợp tốt theo quy chế hoạt động.

Kết luận chương 1 Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

Các vấn đề lý luận được trình bày trong Chương 1 về QL, QLGD, QLNT là cơ sở khoa học để nhận thức rõ vai trò, nhiệm vụ của công tác KTNB trong QL trường học. Các lý luận TTr-KT-GS, đặc biệt là các lý luận về KTNB trường THCS cho thấy những cơ sở khoa học cần thiết để thực hiện tốt công tác KTNBTH.

Trên cơ sở đó, cho thấy để nâng cao chất lượng GD toàn diện của trường THCS thì việc nâng cao hiệu quả QLNT là yếu tố đóng vai trò quyết định. Trong đó, KTNBTH là khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình QL nhằm giúp hình thành cơ chế tự điều chỉnh trong QL nhà trường. “Mục đích cuối cùng của KT là điều chỉnh quyết định QL nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu QL đã đề ra” [29], do đó nhà QL cần hiểu rõ và nắm vững về thẩm quyền, mục đích, yêu yều, nhiệm vụ cũng như các phương pháp, hình thức tổ chức KTNB để tiến hành các hoạt động KT theo quy trình như đã trình bày trong cơ sở lý luận Chương 1 nhằm đưa ra những biện pháp thực hiện công tác KTNB đạt hiệu quả, có chất lượng.

Tuy nhiên, để xác định và đề ra được các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác KTNB ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay thì cần phải đánh giá đúng thực trạng công tác này trong những năm gần đây, chỉ ra những việc đã làm được và chưa làm được, phân tích được nguyên nhân những hạn chế và tồn tại của thực trạng. Các vấn đề này được làm rõ trong Chương 2 của luận văn sẽ trình bày tiếp theo đây. Luận văn: Công tác kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng kiểm tra nội bộ trường trung học cơ sở

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993