Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Nâng cao chất lượng giảng viên các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, sự thành bại của các quốc gia, dân tộc và tổ chức trên toàn thế giới phụ thuộc nhiều vào khả năng sử dụng tri thức. Vì vậy, các quốc gia đang đặt sự phát triển con người làm trọng tâm, và đổi mới trong giáo dục được coi là chìa khóa cho sự thành công. Việt Nam đang tiến hành hội nhập quốc tế và dạy nghề là một lĩnh vực được đánh giá cao trong việc phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật. Việc đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong tăng cường sức cạnh tranh kinh tế của quốc gia và đóng góp vào sự phát triển bền vững. Để đạt được mục tiêu này, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề là yếu tố quan trọng nhất, đặc biệt là trong các ngành nghề chuyển giao cấp độ quốc tế và khu vực ASEAN.
Những năm gần đây, lĩnh vực dạy nghề đã phát triển mạnh mẽ, đồng thời đội ngũ giảng viên cũng đã có sự tăng lên về số lượng và nâng cao chất lượng về trình độ đào tạo, kỹ năng nghề và năng lực sư phạm. Công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đã nhận được sự quan tâm của các nhà quản lý giáo dục, điều này đã thúc đẩy việc đổi mới và mở rộng mạng lưới các cơ sở đào tạo giảng viên. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức, như: số lượng giảng viên hiện nay chưa đủ để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển trong lĩnh vực dạy nghề; cơ cấu ngành nghề đào tạo GV chưa hợp lý, một số ngành nghề chưa có giảng viên được đào tạo cơ bản; và kỹ năng nghề cũng gặp nhiều hạn chế. Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ, tin học của GV cũng còn yếu, ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng phát triển chương trình, biên soạn giáo trình và tài liệu dạy nghề. Để thích ứng với các thách thức, các cơ sở giáo dục cần quan tâm và đẩy mạnh công tác nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng 4.0. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Hiện nay, tại Hà Nội đang có 69 trường CĐN và không nằm ngoài bối cảnh, trong những năm vừa qua các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đặc biệt quan tâm, chú trọng đến nâng cao chất lượng đội ngũ GV, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV có ý nghĩa vô cùng quan trọng và rất cần thiết do vị trí, vai trò của các trường trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao cho Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, tình hình thực tế về chất lượng đội ngũ GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy còn nhiều hạn chế về số lượng cũng như chất lượng. Theo kết quả kiểm trả của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) tại một trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội, 90% GV giảng dạy tích hợp, giảng dạy thực hành cho 19 ngành, nghề trình độ cao đẳng tại trường không có GV nào có hồ sơ chứng minh đạt chuẩn về trình độ kỹ năng để giảng dạy các ngành, nghề đào tạo theo quy định. Cũng theo đánh giá của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, đây là tình hình chung của đội ngũ GV trường cao đẳng, trung cấp hiện nay – có những trường đội ngũ GV có trình độ khá cao (bao gồm trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ, …) nhưng thực tế lại không phù hợp, không đảm bảo trong giảng dạy đào tạo nghề bởi thiếu kỹ năng nghề cần thiết và thiếu kinh nghiệm trong thực hành nghề. Thực trạng đáng báo động này phản ánh chất lượng đội ngũ GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội rất cần được phân tích, đánh giá cụ thể hơn để đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện chất lượng đối với lực lượng lao động này.
Sự quan tâm của lãnh đạo các nhà trường với công tác nâng cao chất lượng GV tuy đã có nhưng chưa thực sự sâu sát, hiệu quả chưa thực sự rõ ràng, những hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ GV tại một số trường còn mang nhiều tính hình thức. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng GV các trường CĐN đã trở thành một mục tiêu chiến lược và được các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội quan tâm thực hiện.
Tuy nhiên, cho đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu về chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng GV nói riêng chủ yếu tập trung vào các bậc đại học và phổ thông. Các số liệu thống kê theo Niên giám hàng năm được thu thập và công bố có liên quan đến các trường đại học khá nhiều và chi tiết, trong khi đó thông tin về các trường cao đẳng lại rất hạn chế; các báo cáo Giáo dục nghề nghiệp cũng có sự gián đoạn qua một số năm … đã gây khó khăn cho các hoạt động nghiên cứu. Đồng thời, các đề tài về trường CĐN và GV trường CĐN chưa được khai thác sâu sắc và toàn diện để thấy được sự khác biệt trong đặc trưng công việc của GV trường CĐN; từ đó xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến lượng GV phù hợp với đối tượng GV trường CĐN.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn và lý thuyết nói trên, NCS đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng giảng viên các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho luận án của mình. NCS mong muốn luận án này sẽ góp phần đóng góp cũng như làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn mới về chất lượng GV các trường CĐN trong điều kiện hiện nay, đề xuất được những giải pháp và khuyến nghị hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, thực hiện thành công mục tiêu đổi mới Giáo dục nghề nghiệp của đất nước trong giai đoạn 2023 – 2030, tầm nhìn 2045.
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu chất lượng giảng viên và hoạt động nâng cao chất lượng giảng viên các trường CĐN tại Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng giảng viên các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ một số lý luận liên quan đến chất lượng GV trường CĐN, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng GV các trường CĐN;
- Xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV các trường CĐN;
- Phân tích thực trạng chất lượng GV và hoạt động nâng cao chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến chất lượng GV các trường CĐN;
- Đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu, luận án cần tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
- Chất lượng GV các trường CĐN là gì, được thể hiện qua các tiêu chí nào?
- Hiện trạng chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội như thế nào?
- Chất lượng GV các trường CĐN chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố nào? Và mức độ tác động của các nhân tố đó ra sao?
- Cần thực hiện những giải pháp nào để nâng cao chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất lượng GV các trường CĐN.
4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Về nội dung nghiên cứu: Luận án tiếp cận vấn đề chất lượng GV các trường CĐN theo quan điểm quản trị nhân lực (QTNL). NCS tập trung làm rõ khái niệm chất lượng GV các trường CĐN; từ đó xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng GV, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu nhóm đối tượng GV cơ hữu của các trường CĐN, không xem xét các đối tượng là GV thỉnh giảng.
- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trước ngày 01/01/2019, trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam tồn tại 2 loại hình trường cao đẳng chuyên nghiệp và trường CĐN. Hai loại hình trường cao đẳng này có những điểm khác biệt như sau: Về bằng cấp: trường cao đẳng cấp bằng cao đẳng cử nhân do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp, trường CĐN cấp bằng CĐN do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp. Về đào tạo liên thông: trường CĐN có thể liên thông lên trình độ đại học theo chương trình phê duyệt của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng chỉ có 15 trường được phép đào tạo liên thông từ hệ nghề lên hệ chính quy, và chỉ đối với một số ngành cụ thể. Về mục tiêu và nội dung đào tạo: trường CĐN chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành, ứng dụng nghề nghiệp, phục vụ cho nhu cầu lao động cụ thể của thị trường. Trường cao đẳng đào tạo kiến thức cơ bản, nền tảng, chuẩn bị cho việc học tập và nghiên cứu ở trình độ cao hơn.
Năm 2016, Quốc hội phê chuẩn Luật Giáo dục nghề nghiệp mới thay thế cho Luật Dạy nghề trước đây; trong đó thống nhất tên gọi chung cho cả trường cao đẳng chuyên nghiệp và trường cao đẳng nghề là “Trường cao đẳng” và không còn phân biệt bằng cấp giữa chúng. Mục đích của việc này là để nâng cao chất lượng đào tạo nghề nghiệp, đảm bảo tính liên thông, thống nhất và công nhận quốc tế. Tuy nhiên, thực tế, không có văn bản hướng dẫn thi hành khiến cho các cơ sở giáo dục gặp nhiều khó khăng trong áp dụng Luật mới cũng như vận hành theo tên gọi chung. Bởi, tại thời Luật Giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực, 2 loại hình trường cao đẳng nói trên vẫn thuộc sự quản lý của các bộ, ban ngành khác nhau và có mục tiêu, chương trình đào tạo theo hướng khác nhau. Các trường cao đẳng chuyên nghiệp vẫn đào tạo theo hướng đào tạo của giáo dục đại học nhưng lại bị hạn chế trong hoạt động liên thông lên bậc học cao hơn (do chịu ảnh hướng giống trường CĐN). Như vậy, việc gọi tên gọi chung là trường cao đẳng chưa thể hiện được rõ nét tính chất, đặc thù của các trường CĐN và những sự thay đổi của các trường cao đẳng chuyên nghiệp. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Kể từ ngày 01/01/2019, Bộ LĐ-TBXH thực hiện quản lý nhà nước toàn bộ lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp (trừ các trường sư phạm, các ngành đào tạo giáo viên). Theo đó, Bộ GD&ĐT bàn giao chức năng quản lý nhà nước đối với các trường cao đẳng chuyên nghiệp về Bộ LĐ-TBXH. Thực chất, việc đưa các trường cao đẳng về đầu mối quản lý của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp – Bộ LĐ-TBXH là một biện pháp nhằm tăng cường sự đồng bộ, phối hợp và hiệu quả trong việc quản lý, điều hành và phát triển Giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam. Các trường cao đẳng chuyên nghiệp trước đây đã và đang phải thay đổi mục tiêu, chương trình đào tạo và hiện nay đều thực hiện đào tạo theo hướng đào tạo nghề nghiệp, tức là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ CĐN, có khả năng ứng dụng kiến thức kỹ năng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Trường CĐN hiện nay có nhiều ưu điểm hơn so với các trường cao đẳng trước đây bởi có nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, phù hợp với sở thích và năng lực của học sinh; có nhiều hình thức đào tạo linh hoạt như đào tạo theo nhu cầu xã hội, đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, đào tạo liên thông với các trường đại học; có nhiều cơ hội hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước, như tham gia các cuộc thi kỹ năng nghề quốc gia, ASEAN và thế giới, thực hiện các dự án hợp tác đào tạo nghề, trao đổi SV và GV. Từ những vấn đề nêu trên, NCS muốn chỉ ra rằng, việc sử dụng từ “trường cao đẳng nghề” sẽ nhấn mạnh được tính chất, đặc điểm của các trường cao đẳng hiện nay. Việc lựa chọn từ “trường cao đẳng nghề” là hợp lý và có cơ sở bởi nó phản ánh được thực tế và xu hướng của Giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam, cũng như góp phần nâng cao nhận thức và định hướng của xã hội đối với Giáo dục nghề nghiệp.
Phạm vi thời gian: Luận án chủ yếu lấy số liệu liên quan đến chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2020 đến năm 2024.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Trong luận án này, NCS đã kết hợp sử dụng cả 2 phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Để đảm bảo đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đã tuân theo quy trình nghiên cứu như sau:
- Sơ đồ: Quy trình nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
- Đối tượng phỏng vấn sâu
Quy trình nghiên cứu định tính được thực hiện như sau: Trên cơ sở lý thuyết về chất lượng GV và kết quả tổng quan nghiên cứu liên quan, NCS tiến hành phỏng vấn sâu 2 nhóm đối tượng khác nhau: Nhóm chuyên gia và nhóm lãnh đạo khoa/bộ môn tại các trường CĐN tại thành phố Hà Nội. Các cuộc phỏng vấn được tiến hành riêng lẻ cho từng người tham gia, với thời gian khoảng 40 phút cho mỗi cuộc phỏng vấn. Kỹ thuật phỏng vấn là quan sát và thảo luận trực tiếp.
Đối với nhóm chuyên gia, NCS đã tiếp cận và xin ý kiến của 02 chuyên gia: cán bộ phòng Giáo dục nghề nghiệp – Sở LĐTBXH, và cán bộ quản lý tại trường cao đẳng Kinh tế công nghiệp Hà Nội. Mục tiêu của việc phỏng vấn nhóm chuyên gia này là để khám phá tính phù hợp của các tiêu chí đánh giá GV và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV các trường CĐN.
Đối với nhóm lãnh đạo Khoa/Bộ môn tại các trường CĐN (bao gồm trường công lập và trường ngoài công lập), NCS đã tiến hành phỏng vấn với 05 lãnh đạo khoa thuộc một số ngành nghề khác nhau của trường cao đẳng Kinh tế công nghiệp Hà Nội, trường CĐN Bách Khoa, trường cao đẳng FPT Polytechnic, trường cao đẳng công nghệ cao Hà Nội, trường CĐN công nghiệp Hà Nội nhằm tìm hiểu và xác nhận những kết quả và nhận định sau cuộc phỏng vấn với nhóm chuyên gia. Đồng thời, việc phỏng vấn nhóm đối tượng này giúp NCS hiểu rõ hơn về thực trạng chất lượng GV tại cơ sở làm việc và giúp nghiên cứu tiếp cận một cách khách quan hơn thực tế đối tượng nghiên cứu. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Lý do NCS lựa chọn các trường cao đẳng trên để tiến hành nghiên cứu xuất phát từ sự khác nhau về loại hình trường. Cụ thể: 02 trường cao đẳng công nghệ cao Hà Nội và trường CĐN công nghệ Hà Nội là các trường CĐN công lập, có quá trình hình thành và phát triển gắn liền với đào tạo nghề; 02 trường CĐN Bách Khoa Hà Nội và cao đẳng FPT Polytechnic cũng là các trường thuộc hệ thống Giáo dục nghề nghiệp từ thời điểm hình thành nhưng đây là 02 trường cao đẳng tư thục; còn với trường cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội, là trường công lập nhưng có sự khác biệt trong quá trình phát triển nhà trường – từ trước năm 2019, trường thuộc loại hình trường cao đẳng chuyên nghiệp, tức là đào tạo theo hướng giáo dục đại học; nhưng từ năm 2019 với sự thay đổi cơ quan quản lý các trường cao đẳng, trường cao đẳng KTCN HN trở thành trường CĐN – đào tạo theo hướng Giáo dục nghề nghiệp. Việc lựa chọn nhóm đối tượng này giúp NCS hiểu rõ hơn về các vấn đề thực tiễn ở nhiều góc độ, phù hợp với sự thay đổi trong đào tạo Giáo dục nghề nghiệp của Nhà nước; hơn nữa, 05 trường này đều là những đơn vị lớn, có bề dày lịch sử hình thành, phát triển và có uy tín giúp nghiên cứu tiếp cận được thông tin có độ tin cậy hơn cũng như thể hiện được tính đại diện. Bên cạnh đó, do đề nghị về vấn đề bảo mật thông tin của các đối tượng phỏng vấn nên NCS xin phép không mô tả chi tiết thông tin các nhóm đối tượng này.
- Quy trình xây dựng bảng hỏi
Bảng hỏi được xây dựng theo trình tự sau:
- Xác định khái niệm lý thuyết của các biến và cách đo lường các biến trong mô hình lý thuyết trên cơ sở các nghiên cứu trước.
- Xây dựng phiên bản Tiếng Việt của bảng hỏi bằng cách dịch các thang đo từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và bổ sung các thang đo theo nghiên cứu của NCS.
- Bảng hỏi Tiếng Việt được gửi tới 120 GV của 7 trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội theo hình thức trực tiếp (phiếu khảo sát được in ra, gửi phát, thu lại tại đơn vị) và trực tuyến (gửi phiếu khảo sát dạng online – google form đến GV các trường qua các kênh: email, zalo) để kiểm định độ tin cậy của các thang đo. Đồng thời, để đánh giá, nhận xét nhằm đảm bảo không có sự hiểu nhầm về từ ngữ và nội dung các câu hỏi cũng như sự phù hợp của những thang đo bổ
- Hiệu chỉnh lần cuối cùng để hoàn thiện bảng hỏi chính thức. Nội dung bảng hỏi gồm 3 phần chính:
Thông tin mở đầu: nhằm giới thiệu mục đích, ý nghĩa của phiếu khảo sát; hướng dẫn cách trả lời bảng hỏi cho người trả lời.
Thông tin thống kê: phần nội dung này thu thập các thông tin liên quan đến người trả lời bảng hỏi và trường CĐN mà họ đang công tác để thống kê và làm cơ sở để nghiên cứu sâu và luận giải kết quả nghiên cứu.
Thông tin chính: Tổng số 58 câu hỏi thuộc 3 nội dung nghiên cứu chính, trong đó nội dung chất lượng GV gồm 17 câu hỏi; nội dung các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV các trường CĐN (6 nhân tố) gồm 28 câu hỏi; nội dung hoạt động nâng cao chất lượng GV các trường CĐN gồm 13 câu hỏi. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ
- Phương pháp thực hiện
NCS tiến hành nghiên cứu định lượng sơ bộ dựa trên việc khảo sát 120 GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội về các nội dung liên quan đến mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu để đánh giá độ tin cậy của các thang đo đã được điều chỉnh, sửa chữa, bổ sung trong bước nghiên cứu định tính. Từ đó, hoàn thiện thang đo cho nghiên cứu định lượng chính thức. Để đảm bảo chất lượng thang đo cho kiểm định các giả thuyết nghiên cứu định lượng chính thức, NCS sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA). NCS tiến hành kiểm định thang đo thông qua việc kiểm tra tính đơn hướng, độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo. Độ tin cậy của thang đo được đánh giá thông qua hệ số Crobach Alpha. Cronbach’s Alpha là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ (khả năng giải thích cho một khái niệm nghiên cứu) của tập hợp các biến quan sát. Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2010) cùng nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng mức giá trị hệ số Cronbach Alpha thể hiện những ý nghĩa như sau:
- 8 ≤ Cronbach Alpha ≤ 1: Thang đo lường rất tốt.
- 7 ≤ Cronbach Alpha ≤ 0.8: Thang đo tốt, sử dụng được.
- 6 ≤ Cronbach Alpha ≤ 0.7: Thang đo đủ điều kiện, có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu.
Tuy nhiên, cũng theo nhóm tác giả, hệ số Cronbach Alpha không cho biết biến nào nên loại bỏ và biến nào nên giữ lại. Bởi vậy, bên cạnh hệ số Cronbach Alpha, người ta còn sử dụng hệ số tương quan biến tổng (iterm – total correlation) và những biến nào có tương quan biến tổng < 0.3 sẽ bị loại bỏ. Tiếp đến, trong quá trình EFA, NCS sử dụng phương pháp trích Principal components với phép xoay Varimax; loại bỏ các biến quan sát có trị số Factor loading ≤ 0.4 hoặc trích vào các nhân tố khác mà chênh lệch trọng số Factor loading giữa các nhân tố ≤ 0.3.
- Xây dựng thang đo
NCS đã thực hiện xây dựng, phát triển và hoàn thiện thang đo theo các bước sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến các biến trong mô hình nghiên cứu được đề xuất.
- Thực hiện nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu nhằm làm rõ hơn cơ sở lý thuyết và thu thập ý kiến đóng góp về sự phù hợp của các thang đo kế thừa và các thang đo mới bổ sung.
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ thông qua việc thực hiện nghiên cứu khám phá tại 7 trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Điều chỉnh và hoàn thiện thang đo phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng chính thức trên diện rộng.
Tổng hợp thang đo trong mô hình nghiên cứu
Trong mô hình nghiên cứu của NCS có các nhân tố sau: Biến độc lập:
- Chính sách của Nhà nước và cơ quan quản lý các cấp (CS)
- Thực tiễn phát triển KTXH và KHCN (TT)
- Hoạt động quản lý tổ chức (TC)
- Môi trường và điều kiện làm việc (MT)
- Uy tín, thương hiệu Nhà trường (TH)
- Nhận thức của GV về công việc tại trường CĐN (NT) Biến phụ thuộc: Chất lượng GV (CL)
Biến kiểm soát: Giới tính, Độ tuổi, Thâm niên, Trình độ, Thu nhập
Trong một số thang đo, NCS thay các cụm từ như “tổ chức” thay bằng “nhà trường” để phù hợp với đối tượng khảo sát là các GV trường CĐN. Thang đo sử dụng cho các biến trong mô hình theo thang đo Likert 5 cấp độ: từ 1 đến 5, từ Rất không đồng ý (1) đến Rất đồng ý (5). Tổng hợp thang đo được trình bày trong Phụ lục 02 – Bảng thiết kế thang đo nghiên cứu sau hiệu chỉnh.
- Nghiên cứu định lượng chính thức
- Tổng thể mẫu
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, tính đến năm 2024, cả nước có 410 trường CĐN và 38.010 GV. Trong đó có 69 trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội với 4.823 GV.
- Phương pháp chọn mẫu Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Trong nghiên cứu này mô hình nghiên cứu có 6 biến độc lập; 1 biến phụ thuộc; tương ứng với 45 biến quan sát. Vì thế, kích thước mẫu tính theo theo Tabachnick và Fidell (1991; trích bởi Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc) là n ≥ 98 (cách tính = 8*6+50), theo Harris RJ. Aprimer (1985; trích bởi Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc) n ≥ 111 (cách tính = 104+7) mẫu; theo Hair và cộng sự (1998; trích bởi Nguyễn Khánh Duy) n ≥ 225 (cách tính = 45×5).
Với mục tiêu nghiên cứu về chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn Hà Nội, phương pháp phân tích dữ liệu chính thức được sử dụng cho nghiên cứu này phân tích hồi quy tuyến tính bội trên SPSS 20. Để đạt ước lượng tin cậy cho phương pháp này, mẫu thường phải có kích thước lớn n > 300 (Nguyễn Đình Thọ, 2014).
Với đề tài nghiên cứu này, đối tượng khảo sát được chọn là các GV đang công tác tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội và tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Với tổng thể xác định là khoảng 4.800 GV, sai số +/-5%. Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu và đảm bảo tỷ lệ bảng hỏi thu về khoảng 70-80%, 500 bảng hỏi được phát ra, thực tế đã thu về 425 phiếu hợp lệ.
- Thu thập dữ liệu
NCS thực hiện thu thập dữ liệu thông qua cuộc khảo sát, bằng cách gửi phiếu hỏi trực tuyến (phiếu được in ra, gửi phát, thu lại tại đơn vị) và trực tiếp (phiếu hỏi được thiết kế trên google form và gửi link qua zalo, gmail) đến 500 GV của 15 trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội. NCS gửi xin ý kiến của từ 25-40 GV/1 trường CĐN.
Khảo sát đảm bảo được tiến hành độc lập, tập trung, riêng tư và hiệu quả. Nhờ sự phát triển của công nghệ 4.0 và sự giúp đỡ nhiệt tình của các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo Khoa/Bộ môn và các GV nên NCS đã hoàn thành được các cuộc phỏng vấn, khảo sát.
- Quy trình phân tích và xử lý số liệu nghiên cứu
Dữ liệu sau khi nhập được phân tích theo các bước sau:
- Bước 1: Thống kê mô tả dữ liệu thu thập
Thống kê này sẽ hiển thị đầy đủ các cột chỉ số trung bình (mean), giá trị nhỏ nhất (min), giá trị lớn nhất (max), độ lệch chuẩn (standard deviation), …
- Bước 2: Kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha.
- Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA
- Bước 4: Kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng phân tích hồi quy tuyến tính bội trên SPSS.
Quá trình phân tích hồi qui tuyến tính được thực hiện qua quy trình như sau:
- Thứ nhất: Kiểm tra tương quan giữa các biến độc lập với nhau và với biến phụ thuộc thông qua ma trận hệ số tương quan.
- Thứ hai: Phân tích hồi quy tuyến tính bội trên SPSS
- Thứ ba: Kiểm tra vi phạm các giả định hồi qui
6. Những đóng góp của luận án Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Về lý luận: Luận án đã có những đóng góp về mặt lý luận trong lĩnh vực nghiên cứu chất lượng GV Giáo dục nghề nghiệp. Thứ nhất, luận án làm rõ các lý luận liên quan đến GV và chất lượng GV, cụ thể: chỉ ra sự khác biệt trong đặc trưng lao động giữa GV trường CĐN và GV trường đại học; hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng GV các trường CĐN. Thứ hai, luận án mô tả được mức độ, cơ chế tác động trực tiếp đến chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay của 06 nhân tố tác động là chính sách của Nhà nước, cơ quan quản lý các cấp; thực tiễn phát triển KTXH và KHCN; hoạt động quản lý tổ chức; môi trường và điều kiện làm việc; uy tín, thương hiệu nhà trường; nhận thức của GV về công việc tại trường CĐN.
Luận án đã đề xuất một số thang đo mới là: (1) GV có phương pháp duy trì sức khỏe tốt, (2) GV theo dõi và thăm khám sức khỏe định kỳ, (3) GV có năng lực học tập suốt đời, (4) GV tích cực sáng tạo trong sử dụng công cụ kỹ thuật số, (5) Nhu cầu của xã hội về học nghề tăng lên có ảnh hưởng đến nhận thức và đời sống của GV các trường CĐN, (6) KHCN phát triển đòi hỏi kỹ năng của người lao động cao hơn từ đó tạo áp lực đối với chất lượng GV đào tạo nghề, (7) Nhà trường được biết đến là tổ chức có văn hóa doanh nghiệp tốt, (8) Thời gian qua nhà trường đã xây dựng và tạo uy tín, thương hiệu tốt góp phần tăng sự gắn bó với nhà trường của GV, (9) GV đề cao tinh thần tự học để phát triển chuyên môn nghiệp vụ của bản thân.
Về thực tiễn: NCS đóng góp trong nghiên cứu đối với khách thể mới – các trường cao đẳng nghề tại Hà Nội. NCS đã: (1) đánh giá được thực trạng chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội; (2) khẳng định sự tác động thuận chiều của 06 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội và đánh giá được thực trạng các nhân tố ảnh hưởng này đến chất lượng GV các trường CĐN tại Hà Nội; (3) phản ánh thực trạng các hoạt động nâng cao chất lượng GV tại các trường CĐN ở Hà Nội trong thời gian qua.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận về chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề
- Chương 3: Thực trạng chất lượng giảng viên các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến chất lượng giảng viên và chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề
1.1.1. Chất lượng giảng viên và chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề
Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Văn Đề (2012) được bảo vệ tại trường Đại học Quốc gia với đề tài “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” đã cung cấp bức tranh tổng thể về thực trạng chất lượng đội ngũ GV thực hiện việc giảng dạy tại các trường Đại học khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, qua đó luận án đã chỉ ra những mặt hạn chế, tồn tại của đội ngũ GV khu vực này chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học. Trên cơ sở đó, tác giả luận án đã đề xuất một số khuyến nghị đối với các GV này cụ thể như: đội ngũ GV đại học chưa thể dừng ở việc nhận học vị thạc sĩ, tiến sĩ mà cần phải luôn nỗ lực, trau dồi kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là các GV trẻ chưa có nhiều kinh nghiệp giảng dạy. Hơn nữa, luận án đã làm sáng tỏ ba loại nhu cầu cần được các nhà lãnh đạo tại các trường đại học khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long quan tâm bồi dưỡng đào tạo thêm cho các GV của mình đó là: (1) nhu cầu đạt chuẩn trình độ để đáp ứng việc giảng dạy trước mắt, đạt tỉ lệ chuẩn của Điều lệ đại học; (2) Nhu cầu đạt chuẩn kỹ năng sư phạm nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học, xử lý các tình hướng sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng dạy học; (3) Nhu cầu đạt chuẩn số lượng cán bộ nhằm chủ động trong việc đào tạo nguồn GV chất lượng cao, củng cố thương hiệu cho mỗi trường đại học. Nhận thấy, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Đề tập trung phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất lượng GV đại học nhưng chưa làm rõ tiêu chí kỹ năng nghề nghiệp được thể hiện cụ thể ở những kỹ năng gắn liền với nghề nghiệp như thế nào đối với GV đại học. Chủ yếu các căn cứ được đánh giá chỉ có kỹ năng sư phạm, kỹ năng tin học và ngoại ngữ; đây sẽ là vấn đề NCS sẽ tìm hiểu và làm sáng tỏ hơn trong nghiên cứu của mình để thấy sự khác biệt giữa GV đại học và GV trường CĐN – cụ thể đối với những yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp.
Bài viết của tác giả Hoàng Văn Mạnh (2016) với tiêu đề “Chất lượng đội ngũ giảng viên: Từ góc nhìn năng lực nghiên cứu khoa học” được đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ số 46 năm 2016 đã đề cập đến việc đánh giá chất lượng GV là một hoạt động khó, phức tạp và không hề dễ dàng và cần có nhiều tiêu chí để đánh giá chất lượng GV bao gồm: học vị, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ. Trong các tiêu chí kể trên thì bài viết đặc biệt nhấn mạnh đến năng lực nghiên cứu khoa học và cho rằng đây là tiêu chí quan trọng nhất phản ánh chất lượng đội ngũ GV. Tác giả cũng đưa ra dẫn chứng rằng theo tiêu chuẩn xếp hạng các trường đại học trên thế giới chủ yếu lấy nghiên cứu khoa học làm tiêu chí hàng đầu để thực hiện việc đánh giá các trường đại học. Vận dụng vào thực tiễn tại Việt nam cho thấy các trường đại học Việt Nam, cũng như các GV tại Việt Nam có năng lực nghiên cứu khoa học còn thiếu cả về chất lượng và số lượng so với các quốc gia khác trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Indonesia. Điều này thể hiện ở số lượng các bài báo đăng trên tạp chí khoa học quốc tế được công bố và việc đăng ký bản quyền phát minh, sáng chế khoa học hàng năm. Đồng quan điểm với tác giả Hoàng Văn Mạnh (2016) thì tác giả Lê Xuân Tình (2017) trong bài viết “Phát triển nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao tại Đại học Quốc Gia Hà Nội” đã đưa nhận định rằng việc trường Đại học Quốc Gia Hà Nội là một trong hai trường Đại học duy nhất của Việt Nam lọt vào Top 200 trường đại học hàng đầu Châu Á theo đánh giá của Tổ chức tư vấn giáo dục Quacqureli Symond là do tại Việt nam từ trước đến nay trường Đại học Quốc Gia luôn được coi là một trong các trường có sự phát triển mạnh mẽ về nghiên cứu khoa học và nhà trường có đội ngũ GV có học hàm, học vị cao, bề dày và kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học. Tác giả Hoàng Văn Mạnh và Lê Xuân Tình đã phát triển nghiên cứu sâu rộng về phát triển chất lượng nhân lực đội ngũ GV, nhấn mạnh vào góc độ nghiên cứu khoa học. Kế thừa từ các nghiên cứu nói trên, cùng với nghiên cứu đặc trưng của trường CĐN, NCS sẽ tiến hành tìm hiểu và phân tích kết quả Nghiên cứu khoa học của GV trường CĐN để đánh giá kết quả này phản ánh như thế nào chất lượng của đối tượng lao động này. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Grollman (2010) với đề tài nghiên cứu “The Quality of Vocational Teachers: teacher education, institutional roles and professional reality” (Tạm dịch: Chất lượng của giáo viên dạy nghề: bồi dưỡng giáo viên, vai trò của thể chế và thực tế nghề nghiệp). Nghiên cứu này tập trung phân tích các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến kiến thức chuyên môn, thực hành và hiệu quả hoạt động của đội ngũ giáo viên tham gia vào giáo dục và đào tạo kỹ thuật và dạy nghề. Các mô hình, hồ sơ và phương thức tuyển dụng giáo viên dạy nghề đa dạng tại một số nước trên thế giới được trình bày trong nghiên cứu này. Grollman (2010) cho rằng bất kỳ đánh giá nào về chất lượng công việc của giáo viên, dù là về lý thuyết hay thực hành, đều cần được xem xét dựa trên bối cảnh của môi trường thể chế giáo dục. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào thực tế nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề phản ánh qua các yếu tố gắn liền giữa tri thức của giáo viên và văn hóa nghề nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác giáo dục, bồi dưỡng giáo viên và bối cảnh thể chế giáo dục đã gắn chặt với nhau như thế nào trong tâm trí của giáo viên cũng như trong các nền văn hóa nghề nghiệp. Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra một số đề xuất liên quan đến quy trình tuyển dụng và đào tạo giáo viên dạy nghề chất lượng cao.
Tác giả Nguyễn Xuân Thành (2019) với bài viết “Phát triển đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề theo tiêu chuẩn giáo viên, giảng viên” được đăng trên tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 6 năm 2019. Bài báo chỉ ra những tiêu chí và yêu cầu về nghiệp vụ đối với đội ngũ giáo viên tại các trường dạy nghề. Hơn nữa, bài báo còn đề xuất các nội dung phát triển đội ngũ giáo viên tại các trường dạy nghề theo chuẩn nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế bao gồm: (1) Phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số lượng; (2) Phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo về chất lượng; (3) Phát triển đội ngũ giáo viên đảm bảo yêu cầu đồng bộ về cơ cấu; (4) Tuyển dụng đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; (5) Sử dụng đội ngũ giáo viên hợp lý, phù hợp điều kiện cụ thể của từng người; (6) Đổi mới phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên; (7) Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học tập, bồi dưỡng.
Bài viết “Một số vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng nghề trong bối cảnh mới” của tác giả Bùi Đức Tú (2020) được đăng trên Tạp chí giáo dục số 441 (Kì 1 – 11/2020) trình bày một số vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ GV dạy nghề trong điều kiện thực trạng. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc thiết kế nội dung phiếu điều tra làm cơ sở đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ này trong lĩnh vực nghiên cứu.
Tác giả Nguyễn Trọng Sơn (2021) trong bài viết với tiêu đề “Phát triển đội ngũ giảng viên thực hành trong trường cao đẳng nghề theo tiếp cận năng lực trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo” được đăng trên tạp chí giáo dục, số đặc biệt tháng 12/2021 đã đưa ra nhận định rằng tiếp cận năng lực phát triển đội ngũ GV thực hành sẽ giúp các cơ sở dạy nghề chuẩn hóa đội ngũ GV thực hành và phát triển năng lực GV theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong trường cao đẳng. Bài viết của tác giả đã nêu ra một số vấn đề về tiếp cận năng lực trong quá trình phát triển đội ngũ GV thực hành trường CĐN thông qua việc xác định khung năng lực cần thiết của từng GV để đáp ứng mục tiêu đào tạo theo khung năng lực đã được xác định theo yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.
Các công trình trong và ngoài nước nêu trên đề cập chung đến vai trò, vị trí của GV dạy nghề nói chung và GV trường CĐN nói riêng; chất lượng GV được đặt trong yêu cầu cụ thể của bối cảnh xã hội – cụ thể là bối cảnh đổi mới giáo dục, bối cảnh quốc tế hóa, … Tuy nhiên, các công trình chưa đưa ra kết luận cụ thể về nội hàm chất lượng GV trường CĐN. Vì vậy, trong luận án này, NCS sẽ khái quát hóa về chất lượng GV trường CĐN bằng việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về lý luận và kế thừa yếu tố bối cảnh từ các công trình nêu trên.
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng viên và chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Trong các nghiên cứu về chất lượng GV nói chung, NCS tiếp cận các công trình nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước. Cụ thể, Voss Roediger và Gruber Thorsten (2008) trong nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học đã sử dụng cách tiếp cận chuỗi giá trị và kỹ thuật thang đo để đo lường chất lượng dịch vụ trong giáo dục Đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy dựa theo quan điểm của các SV trong trường Đại học thì những yếu tố cần phải có của một GV tốt bao gồm: (1) Am hiểu, nhiệt tình, học sinh dễ dàng tiếp cận và có thái độ thân thiện; (2) Có kỹ năng giao tiếp, giảng dạy đầy đủ và có thể lựa chọn các phương pháp giảng dạy phù hợp nhất từ nhiều công cụ giảng dạy. Theo tác giả Sardiman (2009), một GV chuyên nghiệp được yêu cầu phải nắm vững bốn năng lực chính. (1) Năng lực sư phạm bao gồm làm chủ tài liệu, quản lý chương trình học, quản lý lớp học, sử dụng phương tiện/nguồn, thông thạo học sinh, hiểu biết về các chức năng và dịch vụ của hướng dẫn và tư vấn, và tổ chức quản lý trường học; (2) Năng lực chuyên môn bao gồm việc nắm vững kiến thức, thông thạo chương trình và giáo trình của trường, học các phương pháp học tập đặc biệt, hiểu biết sâu sắc về đạo đức và phát triển nghề nghiệp. (3) Năng lực cá nhân bao gồm tính kiên định và tính cách cao quý của cá nhân, sự trưởng thành và trí tuệ, hành vi mẫu mực và được công nhận là nguồn quyền lực. Sagala (2009) nói rằng năng lực cá nhân gắn liền với sự xuất hiện của một GV như một cá nhân có kỷ luật và ngoại hình đẹp, người có trách nhiệm và cam kết, và người có thể là một tấm gương. (4) Năng lực xã hội bao gồm khả năng giao tiếp với các bên liên quan khác nhau của giáo dục, làm chủ công nghệ thông tin và khả năng tương tác với cộng đồng và môi trường. Như vậy, nghiên cứu của Sardiman (2009) đã có những kết quả tương đồng, bao trùm kết quả của nghiên cứu trước; đồng thời phát triển và nghiên cứu được nhiều hơn các yêu cầu năng lực đối với GV nói chung.
Các nghiên cứu sau này có xu hướng tiếp tục đưa ra thêm các tiêu chí đo lường chất lượng GV: Uno và Nurdin (2014), đã viết rằng việc giảng dạy hiệu quả có thể được xác định bằng cách sử dụng bảy chỉ số, đó là: (1) tổ chức tốt tài liệu, (2) giao tiếp hiệu quả, (3) thành thạo và nhiệt tình với chủ đề, (4) thái độ tích cực đối với người học, (5) cung cấp giá trị hợp lý, (6) linh hoạt trong cách tiếp cận học tập, và (7) có thể tạo ra những người học tốt. Bảy chỉ số này được xác định bằng cách xem xét quá trình và kết quả học tập của học sinh. Còn trong đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu khoa học của giảng viên – Yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo các trường đại học trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Trần Mai Ước (2015) đã làm nổi bật sự quan trọng và tính bắt buộc, cần thiết của hai nhiệm vụ là giảng dạy và nghiên cứu khoa học của bất kỳ GV đại học này. Trong nghiên cứu, tác giả đã nhấn mạnh rằng hai nhiệm vụ giảng dạy và Nghiên cứu khoa học có mối quan hệ hữu cơ với nhau và bổ trợ lẫn nhau. Bài viết cũng nâng cao quan điểm đối với nhiệm vụ Nghiên cứu khoa học đối với GV đại học và cho rằng nhiệm vụ này có ảnh hưởng lớn tới chất lượng và uy tín đào tạo của trường đại học. Thông qua bài viết, tác giả cũng đã làm rõ 8 lợi ích thực tiễn của nghiên cứu khoa học đối với GV, điển hình là việc nghiên cứu khoa học góp phần giúp các GV đào sâu, cập nhật, trau dồi tri thức; phát triển tư duy; năng lực sáng tạo của GV; gắn kết giữa lý luận và thực tiễn; lý thuyết và thực hành. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa hệ thống chi tiết các chỉ tiêu cụ thể trong từng tiêu chí đánh giá và xác định các chỉ tiêu đó được thể hiện như thế nào trong hoạt động của GV. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Tiếp cận cụ thể hơn đối với các tiêu chí đánh giá chất lượng GV trường CĐN, NCS đã tổng quan các công trình có liên quan; song, các công trình đa số là các bài nghiên cứu dạng bài báo, tạp chí trên các trang học thuật như Google Scholar, Sciencedirect, … và trang chuyên ngành “Đào tạo và giáo dục nghề nghiệp Châu Á – TVET @asia”. Ưu điểm của các công trình nghiên cứu này là có tính cập nhật cao, gắn sát với thực tiễn bối cảnh kinh tế – xã hội trong nước và khu vực; nội dung khai thác được nhiều khía cạnh và góc nhìn đa chiều; tuy nhiên, thường là các nghiên cứu có quy mô nhỏ và chưa khai thác được sâu vào chủ đề nghiên cứu. Cụ thể, Brown (2000) trong nghiên cứu về phát triển nghiệp vụ nghề nghiệp của GV đã truyền đạt những lợi thế của sự phát triển nghề nghiệp của GV có ý nghĩa và dẫn đến kiến thức, kỹ năng và thực hành mới sẽ cho phép họ phục vụ học sinh của mình tốt hơn. GV dạy nghề cần phải tự định hướng trong việc theo đuổi việc học và chịu trách nhiệm về việc tạo cơ hội cho học sinh của mình. Trong nghiên cứu này, Brown (2000) cho rằng để đảm bảo rằng sự phát triển nghề nghiệp gắn liền với nhu cầu của mọi GV, phụ thuộc vào trình độ nhận thức của GV. Có bốn loại nhận thức gắn liền với sự phát triển nghề nghiệp của GV, đó là nhận thức về kỹ thuật, nhận thức cá nhân, nhận thức vấn đề và nhận thức phản biện. Nhận thức kỹ thuật là sự phản ánh chủ yếu liên quan đến quy trình hoặc phương pháp dạy học. Ý thức cá nhân là sự phản ánh cách các hoạt động trong lớp liên quan đến cuộc sống và công việc bên ngoài. Nhận thức vấn đề là sự phản ánh cách giải quyết vấn đề một cách chuyên nghiệp. Nhận thức phản biện là sự phản ánh để xây dựng suy nghĩ, cảm xúc hoặc hành động được thể hiện trong các câu hỏi. Có thể cho rằng phát triển nghề nghiệp của GV là một chuỗi các hoạt động học tập được GV thực hiện nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của họ. Công trình nghiên cứu của Brown là một trong số ít các công trình khai thác cụ thể về nhận thức của GV trong mối liên quan đến chất lượng GV dạy nghề nhưng các nội dung đề cập đến còn khá chung chung dẫn đến có thể tạo ra sự thiếu rõ ràng trong việc coi “nhận thức của GV” thuộc nội dung của chất lượng hay thuộc các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng. Nhìn nhận được vấn đề này, NCS sẽ triển khai rõ ràng hơn trong luận án của mình.
Tác giả Djatmiko (2018) với đề tài nghiên cứu “A study on the empowering teachers’ professional development and quality assurance to increase teachers’ effectiveness in vocational secondary schools” (Nghiên cứu nâng cao năng lực phát triển chuyên môn và đảm bảo chất lượng giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của giáo viên ở các trường trung cấp nghề) nhằm nhắc nhở các giáo viên rằng cần phải phát triển chuyên môn và đảm bảo chất lượng để thực hiện tốt công việc cải thiện quá trình học tập hoặc chất lượng dạy nghề. Ngày nay, dạy nghề đã được chính thức công nhận là một nghề. Do đó, giáo viên phải thể hiện sự chuyên nghiệp trong trách nhiệm dạy nghề của họ. Để chuyên nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ dạy nghề của mình, giáo viên phải không ngừng nâng cao năng lực bản thân và thực hiện đảm bảo chất lượng trong công tác giảng dạy nghề của mình. Nghiên cứu này là một đánh giá tài liệu liên quan đến tầm quan trọng của việc phát triển nghề nghiệp và đảm bảo chất lượng để tăng hiệu quả của giáo viên trong việc cung cấp các dịch vụ học tập ở các trường trung cấp nghề. Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển chuyên môn là nhu cầu của bất kỳ giáo viên nào. Sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên trong trường trung cấp nghề được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi trong thái độ, cải thiện quá trình học tập và thúc đẩy đầu ra và kết quả học tập của học sinh. Ngoài ra, giáo viên không chỉ có trách nhiệm nâng cao chất lượng đầu ra của học tập mà còn phải cộng tác với các giáo viên khác để nâng cao chất lượng kết quả học tập. Nghiên cứu chỉ ra rằng đảm bảo chất lượng là chìa khóa để đạt được và đảm bảo chất lượng của quá trình giảng dạy học tập cũng như hiệu quả của nhà trường theo yêu cầu của các bên liên quan. Nghiên cứu tập trung vào đối tượng giáo viên dạy hệ trung cấp nghề và mới tập trung đề cập 2 nội dung trong đánh giá chất lượng giáo viên đó là: trình độ chuyên môn và khả năng đáp ứng yêu cầu công việc (thông qua kết quả học tập của SV). Các nội dung này, NCS nhận thấy có phần thống nhất với nhiều công trình nghiên cứu khác nhưng chưa được khái quát hóa về lý luận cũng như cụ thể hóa về công cụ đánh giá. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Trong những năm gần đây, trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục toàn cầu, một số nhóm tác giả đã có những nghiên cứu tập trung vào chất lượng GV Giáo dục nghề nghiệp, như: công trình của Dayangku Suraya Awang Jafar và cộng sự (2022) – “TVET Teacher Professional Competency Framework in Industry 4.0 Era” (Khung năng lực nghề nghiệp giáo viên Giáo dục nghề nghiệp thời đại 4.0) đã tổng quan những nghiên cứu khác về năng lực giáo viên tại các cơ sở đào tạo nghề; từ đó tác giả đề xuất “Khung năng lực nghề nghiệp của giáo viên Giáo dục nghề nghiệp”. Đây là công trình tiếp cận chất lượng giáo viên từ góc độ năng lực và được chia ra thành: Năng lực về kỹ thuật; năng lực phi kỹ thuật; thuộc tính cá nhân; động cơ; thể chất và tinh thần. Và các tiêu chí được chi tiết hóa thành các chỉ tiêu đánh giá cụ thể, rõ ràng. Bên cạnh đó, bài viết “Knowledge, skills, and attitudes as Predictors in determining Teacher’s Competency in Malaysian TVET Institutions” (Kiến thức, kỹ năng và thái độ cũng như những yếu tố dự đoán trong xác định năng lực của giáo viên trong cơ sở đào tạo nghề (TVET) ở Malaysia) của nhóm tác giả Muhd Khaizer Omar và cộng sự (2022) trên cùng tạp chí, có cùng cách tiếp cận về năng lực nhưng phân chia tập theo theo 3 nhóm năng lực: Kiến thức, kỹ năng, thái độ và ứng dụng phân tích thực tế với bối cảnh các cơ sở đào tạo nghề ở Malaysia. Đây là 2 công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa được các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo viên và có tính cập nhật cao; tuy nhiên các nghiên cứu thực hiện trong phạm vi các cơ sở đào tạo nghề nói chung (bao gồm trường CĐN, trung cấp nghề, …). Vì vậy, các nội dung chưa có tính phân hóa để phù hợp với đặc trưng của các cơ sở đào tạo nghề khác nhau.
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên và chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Peng và cộng sự (2016) trong bài viết được đăng tải trên tạp chí quốc tế về phát triển giáo dục số 34 với tiêu đề “Emerging perceptions of teacher quality and teacher development in China” (Nhận thức mới về chất lượng giáo viên và phát triển giáo viên ở Trung Quốc) đã xem xét các khía cạnh các nhiệm vụ của giáo viên trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi và đang phát triển một cách nhanh chóng, bài viết đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa sự phát triển của cá nhân và sự phát triển của Quốc gia. Bài viết đã chỉ ra các rào cản đã ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên phần lớn xuất phát từ áp lực do thay đổi mô hình xã hội và yêu cầu cải tiến chương trình giảng dạy. Bài viết cũng đã làm nổi bật mâu thuẫn thuẫn căng thẳng giữa giảng dạy truyền thống là đánh giá thông qua kết quả các kỳ thi và nhu cầu mới của xã hội là phát triển các kỹ năng toàn diện của người học. Bài viết cũng đưa ra một số lo ngại liên quan đến sự bất bình đẳng về cơ cấu kinh tế và nguồn kinh phí giữa các trường thuộc khu vực thành thị và các trường ở khu vực nông thôn, điều này có thể ảnh hưởng và tạo nên sự khác biệt về trình độ của học sinh. Đây là một bài nghiên cứu nước ngoài nêu ra nhiều nhân tố và khía cạnh có thể ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo phát triển đội ngũ giảng dạy với trường hợp tại Trung Quốc, đặc biệt là ảnh hưởng của yếu tố bối cảnh xã hội. Công trình có giá trị tham khảo cao đối với NCS, tuy nhiên tính phù hợp khi áp dụng tại Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn sẽ cần được đánh giá và phân tích kỹ lưỡng.
Trong luận án tiến sĩ với đề tài “Factors that affect quality of teaching staff in universities in Kenya” (Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giảng viên trường đại học ở Kenya), tác giả Joseph Obwogi (2015) đã nghiên cứu khá cụ thể về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ GV bao gồm các yếu tố bên ngoài và bên trong nhà trường, bao gồm: Chính phủ và các cơ quan quản lý; Quản trị nguồn nhân lực; Phát triển chuyên môn liên tục; Phương tiện dạy học; Thách thức về chất lượng. Nhân tố bên ngoài được thể hiện rõ qua tác động của chính phủ và các cơ quan quản lý có liên quan; nhân tố bên trong thể hiện qua hoạt động quản trị nguồn nhân lực đối với đội ngũ GV, các hoạt động đi sâu vào phát triển chuyên môn liên tục cho GV và yếu tố về phương tiện dạy học cần đảm bảo đáp ứng cho công việc của người GV. Đây là các yếu tố khá cơ bản và dễ dàng nhận thấy sự tác động trực tiếp đến chất lượng đội ngũ GV. Trong nghiên cứu của mình, Obwogi đã xây dựng thang đo chi tiết cho các nhân tố và NCS có kế thừa một số thang đo phù hợp để đưa vào luận án của mình. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu các thang đo của nhân tố “Thách thức về chất lượng”, NCS nhận thấy có những thang đo đề cập chung vào cùng một nhóm vấn đề và nhóm vấn đề này có thể xem xét để trở thành một nhân tố ảnh hưởng riêng biệt. Đó là, vấn đề về thực tiễn sự phát triển của kinh tế – xã hội và khoa học – công nghệ dẫn đến nhu cầu về học nghề tăng lên, kéo theo sự thành lập của nhiều trường cao đẳng, đại học hơn; vấn đề tuyển sinh của các trường cũng có sự thay đổi; từ đó tác động đến đời sống, đến động lực của người GV và đến yêu cầu đối với chất lượng GV. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Nhóm tác giả Ruth Naylor và Yusuf Sayed (2016) chỉ ra trong nghiên cứu “Teacher quality: evidence review” (Chất lượng giáo viên: Đánh giá bằng chứng) được công bố bởi Bộ Ngoại giao và Thương mại, Canberra về các nhân tố tác động đến chất lượng giáo viên bao gồm cả yếu tố bên ngoài – các chính sách của Nhà nước và yếu tố bên trong – hoạt động quản lý của Nhà trường và các hoạt động phát triển chuyên môn nghề nghiệp. Nội dung chi tiết của các nhân tố này cơ bản có những điểm tương đồng với mô hình của Joseph Obwogi (2015) nêu trên ở yếu tố “các chính sách Nhà nước” và “các hoạt động phát triển chuyên môn”; tuy nhiên ở hoạt động quản trị trong cơ sở giáo dục, tác giả lựa chọn nghiên cứu tác động từ hoạt động quản lý của nhà trường – mang tính bao quát hơn so với hoạt động quản trị nguồn nhân lực (HRM) của nghiên cứu trước. Đây cũng là một yếu tố đáng để tìm hiểu, nghiên cứu thêm bởi khi nhắc đến GV và các nhân tố ảnh hưởng đến GV, các nhà nghiên cứu thường có xu hướng chỉ tập trung vào các nhân tố về quản trị nhân lực, trong khi các tác động từ hoạt động quản lý hay cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý tại cơ sở cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng GV. Tuy nhiên, mô hình này của Ruth Naylor và Yusuf Sayed, các yếu tố được khai thác còn khá sơ sài, chưa nghiên cứu định lượng nên chưa kiểm chứng được độ tin cậy của các thang đo cũng như mức độ tương quan của các yếu tố.
Cụ thể hơn, đối với các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên các trường CĐN, tác giả Nguyễn Xuân Thành (2019) trong bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề theo chuẩn nghề nghiệp” được đăng trên Tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 7 năm 2019 cho rằng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là cần thiết cho nền giáo dục trong bối cảnh hội nhập và đổi mới. Bài viết của tác giả đã phân tích vai trò và sự cần thiết của việc đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề theo chuẩn nghề nghiệp bao gồm: Điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của đất nước; xu hướng phát triển của đào tạo nghề nghiệp tại việt Nam, nhu cầu học nghề của người học, môi trường doanh nghiệp và ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường. Từ công trình nghiên cứu này, NCS có thể củng cố thêm về sự ảnh hưởng của bối cảnh và sự phát triển kinh tế – xã hội không chỉ đối với chất lượng GV nói chung (như nghiên cứu nêu trên) mà có ảnh hưởng cụ thể đến chất lượng GV trường CĐN nói riêng.
Nghiên cứu của Quo Qingyan và cộng sự (2025) – “Factors Affecting Teachers Quality in Higher Vocational Colleges in Maoming City, China” trên tạp chí Quốc tế về Kinh doanh chuyên nghiệp đã đề cập về các nhân tố tác động đến chất lượng GV các trường CĐN ở thành phố Maoming, Trung Quốc là một nghiên cứu có tính cập nhật được coi là gần nhất với quá trình nghiên cứu của NCS, khách thể nghiên cứu cũng có tính tương đồng cao hơn so với các nghiên cứu đã nêu trên. Tác giả chỉ ra 03 nhân tố ảnh hưởng: Hoạt động quản lý lớp học, Trình độ của GV và Đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường. Trong quá trình tổng quan, NCS nhận thấy 03 nhân tố này không có điểm mới hay khác biệt hẳn so với nhân tố được đề cập ở các nghiên cứu đi trước; tuy nhiên chúng được gọi tên một cách cụ thể hơn hay nói cách khác đó là đi vào chi tiết một nội dung cụ thể của một nhân tố có tên gọi bao quát hơn. Như là, “Hoạt động quản lý lớp học” là nội dung thuộc nhân tố Hoạt động quản lý tổ chức, “Đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường” là một phần thuộc về nhân tố Hoạt động quản trị nhân lực. Điều này làm tăng thêm sự kế thừa về các nhân tố này trong nghiên cứu của NCS. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Trong bài viết về các nhân tố tác động đến ý định sử dụng E – learning trong giảng dạy của GV (Amna Shifia Nissafani và cộng sự (2019)) – “Factors Affecting Teacher’s Intention to use E Learning” tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 1 về Quản lý/Quản trị và sư phạm giáo dục (YICEMAP), nhóm tác giả tập trung và đi sâu vào những nhân tố xoay quanh nội dung chất lượng GV – nhận thức trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy. Và NCS nhận thấy rõ nhân tố “nhận thức” có ảnh hưởng đến ý định cũng như quyết định sử dụng E-learning (một công cụ kỹ thuật số trong giảng dạy), từ đó có tác động đến chất lượng GV. Nhóm tác giả cũng đã xây dựng thang đo cụ thể tương ứng với hai nhân tố nhận thức được đề cập trong nghiên cứu: Nhận thức về tính hữu ích và nhận thức về tính dễ sử dụng E – learning. Các thang đo trong nghiên cứu này cũng sẽ được sử dụng chọn lọc cho bài nghiên cứu của NCS. Cùng nội dung nghiên cứu này, nhóm tác giả Chengming Yang và cộng sự (2025) có bài viết “What Affects Vocational Teachers’ Acceptance and Use of ICT in Teaching. A Large-Scale Survey of Higher Vocational College Teachers in China” (Điều gì ảnh hưởng đến việc chấp nhận và sử dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy của GV dạy nghề. Một cuộc khảo sát quy mô lớn GV cao đẳng dạy nghề ở Trung Quốc) trên Tạp chí Khoa học Hành vi. Có thể dễ dàng nhận thấy yếu tố kế thừa từ mô hình nghiên cứu trên của Amna Shifia Nissafani và cộng sự (2019) trong mô hình nghiên cứu của Chengming Yang và cộng sự (2025) thông qua các nhân tố như: sự kỳ vọng về hiệu suất (tương ứng với nhận thức về sự hữu ích của công nghệ), sự kỳ vọng về nỗ lực (tương ứng với nhận thức về sự dễ sử dụng công nghệ) và yếu tố điều kiện bên ngoài. Tuy nhiên, trong nghiên cứu năm 2025 này, Chengming Yang và cộng sự đã xác định các biến phụ thuộc và biến độc lập có phần dễ hiểu và rõ ràng hơn so với mô hình trước đó. Nhóm tác giả phân tách “Ý định sử dụng” và “Hành vi sử dụng” Công nghệ thông tin thành 2 biến riêng biệt, cùng với đó là 3 biến độc lập. Các biến độc lập đã thể hiện các nhân tố về “nhận thức” có ảnh hưởng đến ý định, hành vi sử dụng Công nghệ thông tin của GV các trường CĐN ở Trung Quốc; đồng thời gắn liền với các biến kiểm soát là: giới tính, kinh nghiệm và trình độ. Như vậy, mô hình đã có tính kế thừa, làm mới và hoàn chỉnh hơn; đặc biệt đối tượng nghiên cứu lại gần sát với đối tượng nghiên cứu của NCS đang thực hiện. Từ đó, càng khẳng định thêm tính phù hợp khi NCS lựa chọn “nhận thức của GV về công việc tại trường CĐN” là một nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV.
1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến nâng cao chất lượng giảng viên và chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề
Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản trị nhân lực của tác giả Phan Thị Phương (2017) với đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường nghiệp vụ thuộc Bộ Lao động – thương binh Xã hội” tại Viện Quản trị Nhân lực (HRMI) đã thành công trong việc hệ thống các cơ sở lý luận liên quan đến chất lượng đội ngũ giáo viên. Dựa trên nền tảng hệ thống các cơ sở lý luận đó luận án đã phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên tại các trường nghiệp vụ thuộc Bộ Lao động – thương binh xã hội dựa trên các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo viên, thông qua đó chỉ ra những điểm mạnh, những hạn chế tồn tại về chất lượng đội ngũ giáo viên và hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên tại các trường nghiệp vụ thuộc Bộ Lao động – Thương binh xã hội. Từ đó, luận án đã tập trung đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại các trường nghiệp vụ thuộc Bộ Lao động – Thương binh Xã hội. Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản trị nhân lực của tác giả Ngô Quang Trường (2022) với đề tài “Nâng cao chất lượng giảng viên ngành kinh tế các trường Đại học công lập trên đại bàn Thành phố Hà Nội” đã trình bày tổng quan các cơ sở khoa học về chất lượng GV ngành kinh tế các trường Đại học công lập. Trên cơ sở đó phân tích thực trạng chất lượng GV, hoạt động quản trị nhân lực nâng cao chất lượng GV ngành kinh tế tại các trường Đại học công lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Qua đó đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân gây ra những hạn chế đó để làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng GV ngành kinh tế tại các trường Đại học công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm: (1) Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của GV; (2) Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng GV gắn liền với đào tạo và sử dụng; (3)Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu giữa GV các trường Đại học và doanh nghiệp; (4) Thực hiện chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với GV, gắn thu nhập với chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc; (5) Nâng cao chất lượng tuyển dụng GV ngành kinh tế; (6) Đổi mới, tăng cường quản lý GV theo hướng linh hoạt; (7) Đẩy mạnh đổi mới quản trị đại học định hướng doanh nghiệp; (8) Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của GV ngành kinh tế.
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh (2023) với đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các trường Đại học thuộc Bộ Công thương hiện nay” được bảo vệ tại Học viện Chính trị đã tập trung trình bày một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ GV ở các trường Đại học thuộc Bộ công thương, trong đó tác giả đã nêu ra những nhân tố quy định nâng cao chất lượng đội ngũ GV ở các trường đại học thuộc Bộ Công Thương. Trên cơ sở hệ thống lý luận đó luận án đã phân tích thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ GV ở các trường Đại học thuộc bộ Công Thương hiện nay, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong nâng cao chất lượng đội ngũ GV tại các trường này. Từ những hạn chế tồn tại kết hợp với những yếu tố tác động và vấn đề đặt ra, luận án đã đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GV ở các trường Đại học thuộc Bộ Công Thương hiện nay cụ thể như: (1) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ở các trường Đại học thuộc bộ Công Thương; (2) Đổi mới, hoàn thiện chính sách, tạo động lực khuyến khích đội ngũ GV không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp; (3) Đổi mới nội dung, biện pháp tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; (4) Phát huy tính tích cực, tự giác của GV ở các trường Đại học thuộc Bộ Công thương hiện nay. So với một số luận án nêu trên, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh đã đề xuất được nhiều giải pháp cụ thể hơn để nâng cao chất lượng đội ngũ GV tại các trường, chứ không chỉ dừng lại ở việc phân tích sâu thực trạng. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Lloyd (2014) với nghiên cứu liên quan đến nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề tại các trường trung cấp nghề ở Anh Quốc, xứ Wales và Na uy. Lloyd (2014) đã trình bày quan điểm cho rằng giáo dục và đào tạo nghề là trung tâm của sự thịnh vượng kinh tế và hạnh phúc xã hội là quan điểm được các nhà hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia áp dụng rộng rãi. Việc nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đào tạo nghề đòi hỏi những giáo viên có tay nghề cao và chuyên nghiệp. Mặc dù nghiên cứu đã chỉ ra rằng các chính sách quy định về tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề khác nhau giữa các quốc gia, nhưng tính hiệu quả của các chính sách sau khi thực hiện thì hiếm khi được xem xét. Nghiên cứu của Lloyd (2014) đã cố gắng tìm cách giải quyết khoảng trống nghiên cứu này bằng cách so sánh các phương pháp tiếp cận hiện đang được áp dụng ở ba quốc gia – Anh, Wales và Na Uy. Nghiên cứu tập trung vào đối tượng nghiên cứu các giáo viên dạy làm tóc. Và dữ liệu nghiên cứu chủ yếu được thu thập dựa trên các cuộc phỏng vấn với các giáo viên dạy làm tóc ở hai trường cao đẳng tiếng Anh và hai trường cao đẳng giáo dục đào tạo nghề tại xứ Wales và ba trường cao đẳng dạy nghề của Na Uy. Các phát hiện cho thấy rằng trong khi các giáo viên làm tóc ở Anh và xứ Wales có nhiều cơ hội hơn để cập nhật các kiến thức chuyên môn, nâng cao trình độ nghề của họ, thì những người ở Na Uy thì ngược lại. Nghiên cứu này đã góp phần chỉ ra đặc điểm xã hội, điều kiện làm việc tại các trường ở khu vực khác nhau, ở quốc gia khác nhau có ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên.
Tác giả Phan Thị Thùy Trang (2020) đã có bài viết với tiêu đề “Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên dạy nghề hiện nay và kinh nghiệm các nước trên thế giới vận dụng vào Việt Nam” được đăng trên Tạp chí giáo dục, số 423 (kỳ 1 – 2/2020) cho rằng qua 5 năm thực hiện Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên dạy nghề ban hành theo Thông tư số 19/2013 / TT-BLĐTBXH, thực tế cho thấy chương trình đã góp phần rất lớn trong việc chuẩn hóa và nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên dạy nghề. Trên thực tế, một số quốc gia như Mỹ, Úc, Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia đã xác định công nghệ giáo dục là động lực phát triển xã hội. Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu sâu hơn các vấn đề thực tế của các nước trên thế giới về bồi dưỡng giáo viên, xây dựng quỹ khuyến khích phát triển giáo viên, cấp chứng chỉ hành nghề, kiểm tra giáo viên, chuẩn nghề nghiệp giáo viên, … Bài viết của tác giả đã tổng hợp kinh nghiệm của các nước trên thế giới về đào tạo giáo viên dạy nghề và chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Tác giả Mai Văn Bình (2023) trong bài viết “Đổi mới, nâng cao năng lực nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập” được đăng trên Tạp chí Tài chính đã phản ánh thực trạng chất lượng Giáo dục nghề nghiệp và năng lực nhà giáo tại các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề và 5 năm triển khai thực hiện luật Giáo dục nghề nghiệp. Bài viết cũng đã nêu ra những thành tựu đạt được trong công tác đổi mới, nâng cao năng lực nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp, bên cạnh đó là những hạn chế tồn tại như: (1) Trang thiết bị cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới; (2) Chương trình đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường; (3) Kỹ năng thực hành của nhà giáo tại một số cơ sở Giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế, chưa đảm bảo thực hiện việc dạy học tích hợp nhất là đối với các trường cao đẳng, trung cấp, trung tâm dạy nghề từ Bộ giáo dục và Đào tạo quản lý trước đây. Trên cơ sở những hạn chế tồn tại bài viết cũng đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực nhà giáo giáo dục nghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là giải pháp được cho là có tính khả thi và quan trọng nhất.
Sasmito và cộng sự (2022) đã thực hiện nghiên cứu về khung lý thuyết mô hình nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy tại các trường nghề tại Indonesia. Trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã làm nổi bật thực trạng rằng hiện nay Indonesia đang phải đối mặt với tình trạng thiếu giáo viên dạy nghề cả về số lượng và chất lượng. Một trong những nỗ lực của chính phủ Indonesia để khắc phục thực trạng này là tổ chức chương trình tích hợp chuyên môn để đào tạo giáo viên giảng dạy tích hợp cho các trường dạy nghề. Tuy nhiên, chất lượng giáo viên dạy nghề tích hợp vẫn còn đặt ra nhiều nghi vấn cho các nhà quản trị. Nghiên cứu của nhóm tác giả được thực hiện nhằm đưa ra ý tưởng liên quan đến khung mô hình khái niệm về nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề được thể hiện qua thành tích của giáo viên. Nghiên cứu đã thảo luận về các yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên dạy nghề và mô tả một khung lý thuyết dựa trên tổng quan tài liệu, các nghiên cứu cứu thực nghiệm liên quan nâng cao chất lượng giáo viên nói chung và giáo viên dạy nghề nói riêng, đặc biệt là giáo viên dạy nghề tích hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng để nâng cao chất lượng của giáo viên dạy nghề có thể được cải thiện thông qua việc tăng hiệu quả của bản thân và các kỹ năng có thể chuyển giao, bên cạnh việc chú ý đến chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy ban đầu của giáo viên.
1.4. Đánh giá tình hình nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Qua tìm hiểu các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu “Nâng cao chất lượng giảng viên các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội” NCS đưa ra một số nhận xét như sau:
Các công trình có chung đánh giá: Trong những năm gần đây mặc dù ngành giáo dục – đào tạo đã có nhiều thay đổi về cơ cấu đào tạo, mô hình đào tạo ngành nghề, đa dạng hơn ngành nghề và chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao để phát triển kinh tế và đáp ứng quá trình hội nhập, chất lượng nguồn nhân lực của ngành giáo dục và đào tạo đặc biệt là công tác bồi dưỡng, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng GV tại các cơ sở giáo dục nói chung và tại các trường CĐN nói riêng đặc biệt nhận được sự quan tâm và chú ý của nhà nước và các nhà quản lý giáo dục. Đứng trước bối cảnh đó, có khá nhiều công trình nghiên cứu và bài viết liên quan đến đến đề tài nâng cao chất lượng GV nói chung dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau và trọng một phạm vi nghiên cứu nhất định.
Khi đề cập đến nội hàm chất lượng GV và chất lượng GV trường CĐN, các nghiên cứu có điểm chung khi sử dụng lý thuyết bắt nguồn từ nội hàm chất lượng, chất lượng nguồn nhân lực, rồi đến nội hàm GV. Với định hướng nghiên cứu của mình, NCS lựa chọn kế thừa cách tiếp cận dựa theo lý thuyết này. Tuy nhiên, khi đi sâu vào nội hàm chất lượng GV, các tiêu chí đánh giá về chất lượng GV, đặc biệt là chất lượng GV trường CĐN, NCS nhận thấy các công trình chưa tiếp cận được sâu sắc để đưa ra những khái niệm gắn liền với chủ thể nghiên cứu. Khái niệm và các tiêu chí về chất lượng GV trường CĐN cơ bản vẫn được xác định giống với chất lượng GV nói chung tại các cơ sở giáo dục khác và chưa có công trình nào chỉ ra sự khác biệt trong đặc trưng lao động của GV trường CĐN với GV đại học cũng như tiêu chí đánh giá chất lượng GV trường CĐN và GV trường đại học – đối tượng được nghiên cứu nhiều trong các đề tài về chất lượng GV. Đây là nội dung NCS sẽ tiến hành tìm hiểu nhiều hơn và đưa vào trong luận án của mình. Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Các công trình nghiên cứu về chất lượng GV tại các cơ sở giáo dục nói chung và tại các trường CĐN nói riêng cũng đã làm giàu thêm kiến thức lý luận và thực tiễn về vấn đề các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra các nhân tố là gì mà chưa thực hiện nghiên cứu chuyên sâu nhằm đo lường mức độ tác động của các nhân tố tới chất lượng GV giảng dạy để đề xuất những nhóm giải pháp cho từng yếu tố tác động đến chất lượng GV. Mặt khác, trong bối cảnh nền kinh tế – xã hội đang có những thay đổi liên tục và nhanh chóng thì nhu cầu đổi mới và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn cần được tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện. Các nhân tố ảnh hưởng điển hình được các nghiên cứu trước đây đề cập đến bao gồm: chính sách hiện hành của Nhà nước, hoạt động quản lý bộ máy Nhà trường, môi trường làm việc, … nhưng trong bối cảnh thực tiễn hiện nay – biến động do đại dịch Covid -19, sự bùng nổ của KHCN đã tạo ra những ảnh hưởng hiện hữu mới đến chất lượng GV. Do đó, trong nghiên cứu của mình, NCS quyết định kế thừa những nhân tố ảnh hưởng điển hình trước đây để đánh giá thực tế các nhân tố này có thực sự ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu của NCS là chất lượng GV các trường CĐN hay không; đồng thời, NCS tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn một số nhân tố mới liên quan đến bối cảnh xã hội và nhận thức của GV để có đánh giá khái quát hơn về nội dung này.
Đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu nào về nâng cao chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội ở cấp độ tiến sĩ. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết nhưng đa số các công trình nghiên cứu viết về đối tượng là GV giảng dạy tại một cơ sở giáo dục cụ thể chưa có tính khái quát và đại diện cho GV trên một địa bàn như đề tài nghiên cứu của NCS. Đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu nào về nâng cao chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội ở cấp độ tiến sĩ.
Do vậy, NCS thực hiện nghiên cứu luận án với đề tài “Nâng cao chất lượng giảng viên các trường cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sĩ, trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả cũng như thành công của các công trình nghiên cứu đã thảo luận ở phía trên nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết ở các nghiên cứu trước đây. Theo đó, để có thể nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn chất lượng GV các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đề tài này tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề chính bao gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng GV, các tiêu chí đánh giá chất lượng lượng GV; (2) Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội, xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội; (3) Cung cấp các hàm ý quản trị, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao chất lượng GV tại các trường CĐN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Tóm tắt chương 1 Luận văn: Nâng cao chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề.
Trong chương 1, NCS đã trình bày kết quả tổng quan nghiên cứu về chất lượng GV nói chung và chất lượng GV các trường CĐN nói riêng cũng như các tiêu chí đánh giá chất lượng và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV và GV trường CĐN để làm rõ khoảng trống nghiên cứu. Nội dung chính của chương này là: tập trung trình bày tổng quan nghiên cứu về chất lượng GV và chất lượng GV các trường CĐN; các tiêu chí đánh giá chất lượng GV và chất lượng GV trường CĐN; các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV và chất lượng GV trường CĐN; cuối cùng là các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng GV và chất lượng GV trường CĐN; từ đó NCS đánh giá chung các công trình nghiên cứu đi trước để chỉ ra và hướng tới các khoảng trống nghiên cứu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Lý luận về chất lượng giảng viên trường cao đẳng nghề

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
