Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT dành cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình như sau:

Hình 4 Quy trình nghiên cứu

  • Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu tiến hành tổng quan các lý thuyết liên quan, bao gồm Thuyết hành động hợp lý (TRA), Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và Mô hình thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT), nhằm xây dựng nền tảng lý thuyết cho đề tài. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây về việc chấp nhận công nghệ ngân hàng cũng được xem xét để xác định các nhân tố ảnh hưởng và làm rõ khoảng trống nghiên cứu.

  • Xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên các cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT. Trên cơ sở đó, các giả thuyết nghiên cứu được hình thành để kiểm định mối quan hệ giữa các biến trong mô hình.

  • Xây dựng bảng câu hỏi và thang đo Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế theo cấu trúc rõ ràng, sử dụng các thang đo kế thừa từ các nghiên cứu trước và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh dịch vụ SWIFT. Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ.

  • Thu thập và phân tích số liệu

Khảo sát được thực hiện đối với khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được sử dụng để thu thập dữ liệu từ những khách hàng đã sử dụng hoặc có nhu cầu tiềm năng đối với dịch vụ SWIFT.

Dữ liệu thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS, bao gồm kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) để đánh giá giá trị của thang đo, và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

  • Kết luận và hàm ý quản trị

Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra các kết luận chính và đề xuất những hàm ý thực tiễn nhằm hỗ trợ Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ trong việc nâng cao mức độ chấp nhận và sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng cá nhân.

3.2 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

Dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: các báo cáo về hoạt động thanh toán do các tổ chức tín dụng gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; các bài báo, tạp chí khoa học và các nghiên cứu chuyên ngành có liên quan đến chủ đề nghiên cứu; các trang thông tin điện tử cung cấp nội dung phù hợp với phạm vi nghiên cứu; số liệu thống kê về tình hình kinh tế – xã hội của thành phố Cần Thơ trong những năm gần đây; và dữ liệu về tình hình sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ trong giai đoạn từ năm 2023 đến 6 tháng đầu năm 2025.

  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp với khách hàng cá nhân tại Vietcombank – Chi nhánh Cần Thơ. Các cuộc phỏng vấn này được thực hiện bằng hình thức khảo sát bảng câu hỏi và được triển khai trong quá trình thực hiện nghiên cứu.

3.2.2 Phương pháp chọn mẫu

  • Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu sơ cấp.

3.2.3 Phương pháp xác định cỡ mẫu Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis – EFA). Trong EFA, việc xác định cỡ mẫu thường dựa trên hai yếu tố chính, bao gồm yêu cầu tối thiểu về số lượng quan sát và số biến đo lường được đưa vào phân tích.

Trên thực tế, cỡ mẫu trong EFA thường được xem xét dựa trên kích thước mẫu tối thiểu cũng như số lượng biến quan sát trong mô hình nghiên cứu. Nhiều học giả đã đưa ra các quan điểm và khuyến nghị khác nhau liên quan đến vấn đề này, cụ thể như sau:

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), để tiến hành phân tích nhân tố khám phá, số lượng quan sát cần đạt ít nhất từ 4 đến 5 lần số biến được sử dụng trong phân tích.

Theo Hair et al. (2009), cỡ mẫu tối thiểu cho EFA là 50 quan sát, trong đó 100 quan sát trở lên được đánh giá là phù hợp hơn. Đồng thời, các tác giả cũng khuyến nghị rằng tỷ lệ giữa số quan sát và số biến đo lường nên đạt 5:1, tức là mỗi biến quan sát cần có ít nhất 5 quan sát tương ứng. Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Bên cạnh đó, Tabachnick và Fidell (1996) cho rằng để phân tích hồi quy đạt hiệu quả tốt, cỡ mẫu cần thỏa mãn công thức: n ≥ 50 + 8m, trong đó n là cỡ mẫu và m là số biến độc lập trong mô hình nghiên cứu.

Đối với mô hình nghiên cứu được đề xuất trong luận văn này, gồm 09 biến độc lập, tác giả áp dụng công thức của Tabachnick và Fidell (1996) để xác định cỡ mẫu tối thiểu. Theo đó, cỡ mẫu cần đạt n ≥ 50 + 8 × 9 = 122 quan sát.

Từ yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn 150 quan sát để phục vụ cho nghiên cứu, nhằm đảm bảo độ tin cậy của các kết quả phân tích. Việc lựa chọn cỡ mẫu này đồng thời cũng phù hợp với điều kiện về thời gian, chi phí và khả năng tiếp cận đối tượng khảo sát. Cụ thể, mẫu được phân bổ tại các đơn vị thuộc Vietcombank Cần Thơ bao gồm: Trụ sở Chi nhánh Hòa Bình (60 quan sát), Phòng giao dịch Ninh Kiều (15), Phòng giao dịch Hưng Lợi (15), Phòng giao dịch An Hòa (15), Phòng giao dịch Cái Răng (15), Phòng giao dịch Nam Cần Thơ (15) và Phòng giao dịch Phong Điền (15).

3.3 Phương pháp phân tích

Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả sử dụng kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Đối với phương pháp nghiên cứu định lượng, các kỹ thuật phân tích được trình bày tương ứng với từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau.

Đối với mục tiêu 1, nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê mô tả và so sánh. Cụ thể, các phép so sánh tuyệt đối và tương đối, cùng với các chỉ tiêu thống kê mô tả như tỷ lệ phần trăm, tần suất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn,… được áp dụng nhằm phân tích và đánh giá thực trạng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT dành cho khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ.

Đối với mục tiêu 2, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định độ tin cậy và phân tích nhân tố. Độ tin cậy của các thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach’s Alpha. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được sử dụng nhằm xác định và nhóm các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, mô hình hồi quy Logistic nhị phân được áp dụng để xác định và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ.

Đối với mục tiêu 3, kết quả phân tích từ mục tiêu 1 và mục tiêu 2 được tổng hợp và phân tích nhằm đề xuất các hàm ý thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai và thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT dành cho khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ.

3.4 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

3.4.1 Lý thuyết về kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Kiểm định Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy của các nhóm nhân tố và từng biến quan sát nhỏ bên trong nhóm nhân tố đó.

Các biến quan sát phải có hệ số tương quan giữa các biến và tổng (item-total correlation) lớn hơn 0,3. Nếu biến nào có hệ số tương quan tổng biến nhỏ hơn 0,3 trong phân tích Cronbach’s Alpha thì sẽ bị loại bỏ (Nunnally và Burnstein 1994). Đồng thời hệ số Cronbach’s Alpha của các nhóm nhân tố phải nằm trong khoảng từ 0,6 đến 1,0 (Peterson, 1994).

  • Chi tiết phương pháp kiểm định độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha):

Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau, α có công thức tính như sau:

  • Trong đó: ρ là hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi. N là số mục hỏi.

Phương pháp Cronbach’s Alpha dùng để loại bỏ các biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số thông qua hệ số Cronbach’s Alpha.

Những số có hệ số tương quan biến tổng (item – total correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại. Thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu mới (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995).

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng nếu Cronbach’s Alpha quá cao (>0,95) thì có khả năng xuất hiện biến quan sát thừa (Redunmant items) ở trong thang đo. Biến quan sát thừa là biến đo lường một khái niệm hầu như trùng với biến đo lường khác, tương tự như trường hợp cộng tuyến (collinearity) trong hồi quy, khi đó biến thừa nên được bác bỏ

3.4.2 Khái quát về phân tích nhân tố khám phá (EFA) Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Phân tích EFA là một phương pháp phân tích thống kê dùng để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (gọi là các nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của tập biến ban đầu (Hair và các cộng sự,1998). EFA được sử dụng trong trường hợp người nghiên cứu cần nhận diện một tập hợp gồm một số lượng biến mới tương đối ít, không có tương quan với nhau để thay thế tập hợp biến gốc có tương quan với nhau để thực hiện một phân tích đa biến tiếp theo sau như hồi qui hay phân tích biệt số. Dữ liệu tương thích là dữ liệu được thu thập thông qua thang do Likert, sau khi đã đánh giá độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha).

  • Các tham số trong phân tích nhân tố:

Barlett’s test of sphericity là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể với giả thuyết sau:

  • H0: Các biến không có tương quan với nhau. H1: Có sự tương quan giữa các biến.
  • Giá trị p của kiểm định là một số sao cho với mọi α > p thì giả thuyết Ho bị bác bỏ.

Trong kiểm định Barlett’s với mức ý nghĩa α = 5% thì:

  • Nếu giá trị p < α thì bác bỏ giả thuyết Ho và chấp nhận giả thuyết H1.
  • Nếu giá trị p > α thì chấp nhận giả thuyết H0.

Ma trận tương quan (Correlation matrix): Cho biết hệ số tương quan giữa tất cả các cặp biến trong phân tích. Về mặt lý thuyết thì hệ số tương quan thông thường phải trên 0,7 thì các biến có mối quan hệ tương quan rất cao với nhau. Tuy nhiên, trong thực tế tiêu chuẩn 0,7 là một số quá cao và số liệu thực tế nhiều khi không đáp ứng được. Do đó trong thực tế nghiên cứu đặc biệt đối với mục đích thăm dò sẽ sử dụng một cấp độ thấp hơn có hệ số tương quan là 0,5.

Phương sai tối đa của mỗi nhân tố (Communality): Là lượng biến thiên của một biến được giải thích chung với các biến khác được xem xét trong phân tích. Đây cũng là phần biến thiên được giải thích bởi các nhân tố chung.

  • Phương sai tổng hợp từng nhân tố (Eigenvalue): đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố.
  • Factor loading (hệ số tải nhân tố): là những hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố.
  • Factor Matrix (ma trận nhân tố): Chứa các hệ số tải nhân tố của tất cả các biến đối với các nhân tố được rút ra.
  • Factor scores : Điểm số nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng quan sát trên các nhân tố được rút ra, còn được gọi là nhân số. Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Kaiser – Meyer – Olkin (KMO): là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. 0,5< Trị số KMO < 1 là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp, nếu trị số KMO nhỏ hơn 0,5 thì dữ liệu không phù hợp.

Mô hình phân tích nhân tố có dạng như sau: Xi = Ai1 + Ai2F2 +…+ AimFm + ViUi

Trong đó:

  • Xi : Biến được chuẩn hoá thứ i.
  • Aij: Hệ số hồi quy bội của biến được chuẩn hoá. F: Nhân tố chung.
  • Vi: Hệ số hồi quy của biến chuẩn hóa.
  • Ui: Nhân tố duy nhất của biến i.m: Số nhân tố chung.

Mỗi nhân tố duy nhất thì tương quan với những nhân tố khác và với các nhân tố chung. Các nhân tố chung có sự kết hợp tuyến tính của các biến quan sát.

  • Fi = wi1x1 + wi2x2 +…+ wikxk Trong đó:
  • Fi: Ước lượng nhân tố thứ i.
  • Wi: Trọng số hay hệ số điểm nhân tố. k: Số biến.

Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng (1 = Rất không đồng ý/Rất không quan trọng tăng dần đến 5 = Rất đồng ý/Rất quan trọng) để đo lường các biến quan sát thuộc các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ E-Banking của của khách hàng cá nhân tại Vietcombank Cần Thơ. Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:

Giá trị trung bình Ý nghĩa:

  • 1,00 – 1,80 Rất không đồng ý/rất không hài lòng/rất không quan trọng 1,81 – 2,60
  • Không đồng ý/không hài lòng /không quan trọng 2,61 – 3,40
  • Không ý kiến/Trung bình 3,41 – 4,20
  • Đồng ý/Hài lòng/Quan trọng 4,21 – 5,00
  • Rất đồng ý/Rất hài lòng /Rất quan trọng

3.4.3 Khái quát về mô hình hồi quy nhị phân (Logit Regression) Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression hay Logit Regression) được sử dụng trong trường hợp biến phụ thuộc là biến nhị phân, nhằm ước lượng xác suất xảy ra của một sự kiện dựa trên thông tin từ các biến độc lập. Trong mô hình hồi quy Logit, thông tin cần thu thập đối với biến phụ thuộc là việc một sự kiện cụ thể có xảy ra hay không.

Cụ thể, biến phụ thuộc Y chỉ nhận hai giá trị là 0 và 1, trong đó giá trị 0 thể hiện sự kiện nghiên cứu không xảy ra, còn giá trị 1 thể hiện sự kiện nghiên cứu xảy ra. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng thu thập dữ liệu đối với các biến độc lập X nhằm phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố này và khả năng xảy ra của sự kiện.

Dựa trên biến phụ thuộc nhị phân, mô hình hồi quy Logistic được sử dụng để dự đoán xác suất xảy ra của sự kiện. Theo nguyên tắc phân loại, nếu xác suất dự đoán lớn hơn 0,5 thì kết quả dự đoán được xác định là “sự kiện xảy ra”; ngược lại, nếu xác suất dự đoán nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 thì kết quả được xác định là “sự kiện không xảy ra”.

Trong nghiên cứu này, hồi quy Logistic được sử dụng để đánh giá ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ. Theo đó, hàm Logit được xây dựng để ước lượng xác suất lựa chọn dịch vụ của khách hàng. Trong mô hình, xác suất này phản ánh khả năng khách hàng có ý định sử dụng dịch vụ SWIFT. Biến phụ thuộc đo lường ý định sử dụng dịch vụ được mã hóa với hai giá trị: 1 tương ứng với trường hợp khách hàng có ý định lựa chọn dịch vụ, và 0 tương ứng với trường hợp khách hàng không có ý định lựa chọn dịch vụ.

3.4.4 Phân tích hồi quy đa biến

Phương pháp này được sử dụng nhằm xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố theo mô hình nghiên cứu đề xuất. Qua đó, nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ.

3.5 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Mô hình nghiên cứu đề xuất được xây dựng trên cơ sở các nền tảng lý thuyết như Mô hình Chấp nhận Công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM), Thuyết Hành động Hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây liên quan đến dịch vụ tài chính số và hệ thống chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT. Các mô hình này đều nhấn mạnh vai trò của những yếu tố như nhận thức về tính hữu ích, rủi ro, chi phí, mức độ tin cậy và ảnh hưởng xã hội trong việc hình thành ý định chấp nhận và sử dụng các công nghệ, dịch vụ mới của khách hàng.

Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc là ý định sử dụng, phản ánh mức độ sẵn sàng hoặc kế hoạch của khách hàng cá nhân trong việc sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT. Các biến độc lập bao gồm: nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về chi phí, nhận thức về rủi ro, sự tin cậy đối với ngân hàng và hệ thống, an ninh và bảo mật, ảnh hưởng xã hội và sự tiện lợi. Những yếu tố này được giả thuyết là có tác động đến ý định hành vi của khách hàng và được kế thừa từ các mô hình lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc chấp nhận công nghệ và dịch vụ ngân hàng số.

3.5.1 Biến “Nhận thức về tính hữu ích”

Theo Mô hình Chấp nhận Công nghệ (TAM), nhận thức về tính hữu ích (Perceived Usefulness – PU), được hiểu là mức độ mà người dùng tin rằng việc sử dụng một hệ thống sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc của họ, là yếu tố quyết định trực tiếp đến ý định hành vi (Davis, 1989). Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, nhận thức về tính hữu ích thể hiện ở mức độ mà khách hàng cho rằng dịch vụ đó giúp họ thực hiện các giao dịch nhanh hơn, đáng tin cậy hơn và hiệu quả hơn. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Wang, 2004; Luarn & Lin, 2005; Nguyen & Tran, 2019) đã chỉ ra một cách nhất quán rằng khi khách hàng nhận thức công nghệ ngân hàng là hữu ích, ý định chấp nhận và sử dụng công nghệ đó sẽ gia tăng. Do đó, đối với dịch vụ SWIFT, những khách hàng tin rằng hệ thống này cho phép thực hiện các giao dịch chuyển tiền quốc tế một cách an toàn và hiệu quả sẽ có xu hướng hình thành ý định sử dụng dịch vụ cao hơn Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

H1: Nhận thức về tính hữu ích được kỳ vọng có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng.

3.5.2 Biến “Chi phí cảm nhận”

Từ góc độ chi phí – lợi ích trong việc chấp nhận công nghệ, khách hàng không chỉ đánh giá tính hữu ích mà còn cân nhắc các chi phí liên quan đến việc sử dụng dịch vụ. Chi phí cảm nhận ở mức cao có thể làm giảm giá trị cảm nhận của công nghệ và cản trở ý định chấp nhận sử dụng (Wang, 2004; Luarn & Lin, 2005). Trong lĩnh vực ngân hàng số, chi phí cảm nhận bao gồm phí dịch vụ, thời gian và công sức cần bỏ ra để hoàn tất giao dịch. Khi khách hàng cho rằng dịch vụ chuyển tiền SWIFT có chi phí cao hơn so với các phương thức thay thế như Western Union hoặc các nền tảng fintech, ý định sử dụng dịch vụ của họ sẽ suy giảm.

H2: Chi phí cảm nhận được kỳ vọng có ảnh hưởng ngược chiều đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền SWIFT của khách hàng.

3.5.3 Biến “Rủi ro cảm nhận”

Theo Thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), kiểm soát hành vi cảm nhận và nhận thức rủi ro có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ sẵn sàng của cá nhân khi tham gia vào các hành vi mang tính không chắc chắn. Trong bối cảnh giao dịch tài chính, rủi ro cảm nhận liên quan đến khả năng xảy ra tổn thất do lỗi hệ thống, chậm trễ trong xử lý giao dịch hoặc biến động tỷ giá. Nghiên cứu của Lee (2009) và Latupeirissa và cộng sự (2020) cho thấy rủi ro cảm nhận có tác động làm suy giảm đáng kể mức độ tin tưởng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Đối với dịch vụ SWIFT, khi khách hàng lo ngại về các khoản phí ẩn, sự chậm trễ trong chuyển tiền hoặc việc xử lý thông tin không an toàn, họ có xu hướng hạn chế hoặc tránh sử dụng dịch vụ này.

H3: Rủi ro cảm nhận được kỳ vọng có mối quan hệ tiêu cực với ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT.

3.5.4 Biến “Niềm tin”

Niềm tin vào ngân hàng và hệ thống là một yếu tố then chốt, mở rộng các khuôn khổ lý thuyết TRA và TAM, đặc biệt trong bối cảnh dịch vụ số và tài chính (Gefen et al., 2003). Niềm tin thể hiện mức độ khách hàng tin tưởng vào độ tin cậy, tính minh bạch và năng lực của ngân hàng cũng như hệ thống mà ngân hàng sử dụng. Khi khách hàng tin tưởng vào quy trình xử lý của ngân hàng và nhận thức SWIFT là một mạng lưới an toàn, được công nhận rộng rãi trên phạm vi quốc tế, mức độ bất định cảm nhận sẽ giảm xuống. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm (Luarn & Lin, 2005; Gefen et al., 2003; Nguyen & Tran, 2019) đã khẳng định rằng niềm tin có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định hành vi trong lĩnh vực ngân hàng trực tuyến.

H4: Niềm tin được kỳ vọng là có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT của khách hang.

3.5.5 Biến “An toàn và bảo mât” Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

An ninh và quyền riêng tư được xem là những cơ chế quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro trong việc chấp nhận và sử dụng công nghệ (Laforet & Li, 2005; Wang, 2004). Các yếu tố này phản ánh mức độ mà khách hàng tin rằng thông tin cá nhân và tài chính của họ được bảo vệ khỏi sự truy cập trái phép. Trong các giao dịch chuyển tiền quốc tế, nơi liên quan đến số tiền lớn và dữ liệu nhạy cảm, nhận thức về an ninh và bảo mật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi chấp nhận dịch vụ. Khi khách hàng cảm nhận rằng các giao dịch SWIFT tại Vietcombank tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn như mã hóa dữ liệu và cơ chế theo dõi SWIFT GPI, họ sẽ cảm thấy an tâm hơn và có xu hướng sẵn sàng sử dụng dịch vụ.

H5: An toàn và bảo mật được kỳ vọng có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT của khách hàng.

3.5.6 Biến “Ảnh hưởng xã hội”

Ảnh hưởng xã hội được hình thành từ khái niệm chuẩn mực chủ quan trong Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) và tiếp tục được phát triển trong mô hình UTAUT (Venkatesh et al., 2003). Yếu tố này thể hiện mức độ mà ý kiến và hành vi của những người xung quanh có thể chi phối quyết định sử dụng dịch vụ của cá nhân. Trong bối cảnh dịch vụ tài chính, đặc biệt là các dịch vụ chuyển tiền quốc tế, sự giới thiệu và kinh nghiệm của người khác có tác động đáng kể đến nhận thức và ý định của khách hàng (Luarn & Lin, 2005). Khi khách hàng nhận thấy bạn bè, người thân hoặc đối tác thường xuyên sử dụng dịch vụ SWIFT, họ sẽ có xu hướng tin tưởng hơn và sẵn sàng lựa chọn dịch vụ này cho các giao dịch của mình.

H6: Ảnh hưởng xã hội được kỳ vọng là có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT của khách hàng.

3.5.7 Biến “Sự tiện lợi”

Sự thuận tiện đề cập đến mức độ dễ dàng và ít tốn công sức khi sử dụng dịch vụ, tương đồng với khái niệm “nhận thức về tính dễ sử dụng” trong mô hình TAM của Davis (1989). Yếu tố này phản ánh cách khách hàng đánh giá sự đơn giản, khả năng tiếp cận và mức độ hỗ trợ trong quá trình sử dụng dịch vụ. Nhiều nghiên cứu trước đây của Luarn & Lin (2005) và Nguyen & Tran (2019) cho thấy sự thuận tiện có vai trò quan trọng trong việc nâng cao mức độ hài lòng và thúc đẩy ý định chấp nhận các dịch vụ ngân hàng điện tử. Trong trường hợp dịch vụ SWIFT tại Vietcombank, khi khách hàng cảm nhận quy trình thực hiện rõ ràng, thủ tục không phức tạp, thời gian xử lý nhanh và được nhân viên hỗ trợ tận tình, họ sẽ có xu hướng sẵn sàng sử dụng dịch vụ này hơn.

H7: Sự tiện lợi được kỳ vọng là có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng.

3.6 Xây dựng thang đo cho các nhân tố trong mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

Dựa trên nền tảng lý thuyết và việc tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, tác giả xây dựng hệ thống thang đo cho các yếu tố trong mô hình nghiên cứu. Sau đó, các thang đo này được xem xét và điều chỉnh lại dựa trên kết quả thảo luận nhóm được thực hiện ở giai đoạn nghiên cứu sơ bộ. Theo đó, các biến quan sát thuộc sáu nhóm yếu tố đã được chỉnh sửa và hoàn thiện dựa trên ý kiến góp ý của các chuyên gia. Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 mức để đo lường các biến quan sát, với các mức độ đánh giá từ “hoàn toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng ý”, tương ứng với giá trị từ 1 đến 5. Trong đó, giá trị 1 thể hiện mức “hoàn toàn không đồng ý” và giá trị 5 thể hiện mức “hoàn toàn đồng ý”.

  • Bảng 1 Thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên cứu

Ý định sử dụng là biến phụ thuộc của nghiên cứu, thể hiện mong muốn của khách hàng cá nhân trong việc sử dụng hoặc tiếp tục sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ. Ý định này bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm nhận thức về tính hữu ích, chi phí, rủi ro, sự tin cậy, ảnh hưởng xã hội, an toàn và bảo mật trong mô hình nghiên cứu.

3.7 Mô hình nghiên cứu

Các biến nghiên cứu:

Hình 15 Mô hình nghiên cứu

  • H1: Cảm nhận về tính hữu ích có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT.
  • H2: Chi phí cảm nhận có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT.
  • H3: Rủi ro cảm nhận có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT.
  • H4: Niềm tin với ngân hàng và hệ thống SWIFT có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ.
  • H5: Yếu tố an toàn và bảo mật có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT.
  • H6: Ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT.
  • H7: Sự tiện lợi có tác động tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ SWIFT.

Bảng 2 Diễn giải chiều tác động của các biến nghiên cứu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trong chương 3, tác giả đã trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài, bao gồm cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu đề xuất, các biến độc lập và biến phụ thuộc được xác định, cũng như việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định. Chương này đồng thời làm rõ chiều hướng tác động kỳ vọng của từng yếu tố, qua đó cung cấp cơ sở lý thuyết cho cả các tác động tích cực và tiêu cực trong mô hình. Mô hình nghiên cứu được xây dựng nhằm phân tích một cách toàn diện các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng SWIFT của khách hàng cá nhân tại Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ. Chương tiếp theo sẽ trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu, quá trình thu thập dữ liệu và các phương pháp phân tích được sử dụng để kiểm định thực nghiệm các giả thuyết đã đề xuất. Luận văn: PPNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC đến ý định sử dụng dịch vụ chuyển tiền liên NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x