Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

1. Tên đề tài

Quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường Tiểu học trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lí luận về quản lí hoạt động trải nghiệm và khảo sát thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp này dùng để phân tích và tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường tiểu học.

3.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

3.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích điều tra: người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập số liệu, dữ liệu về thực trạng hoạt động trải nghiệm và công tác quản lý hoạt động trải nghiệm dưới sự điều hành lãnh đạo của hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Nội dung điều tra: Thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động trải nghiệm. Chúng tôi cũng dùng bảng hỏi để khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

Cách thức điều tra: Xây dựng 2 mẫu phiếu hỏi dành cho các đối tượng:

  • Mẫu 1: Phiếu khảo sát dành cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Mẫu 2: Phiếu khảo sát dành cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3.2.2. Phương pháp phỏng vấn

Mục đích phỏng vấn: nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu điều tra và thu thập thêm thông tin cho những vấn đề còn chưa được trả lời rõ ràng trong số liệu điều tra viết. Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.

3.2.3. Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, sản phẩm hoạt động (các hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…) Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Thu thập thông tin về hoạt động trải nghiệm và quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3.3. Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Các chỉ số được chúng tôi sử dụng là: Điểm trung bình, Độ lệch chuẩn, Độ tin cậy. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp tương quan nhị biến để tìm hiểu sự liên quan giữa hai biến với nhau.

4. Kết quả nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận khoa học về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học, khảo sát phân tích kết quả thực tế ở các trường tiểu học TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường trong giai đoạn hiện nay. Hệ thống các biện pháp đề xuất đều có tính cần thiết và khả thi cao.

Các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh mà đề tài đề xuất trên cơ sở thừa kế các nghiên cứu trước đó, đồng thời xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà trường ở các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương sẽ có tác dụng thiết thực đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Các biện pháp nói trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên các biện pháp này được sử dụng có hiệu quả nhất khi được khai thác triệt để thế mạnh riêng phù hợp với điều kiện thực tế của từng trường. Dựa vào đặc điểm, điều kiện từng địa phương, từng trường mà Hiệu trưởng có thể tham khảo và lựa chọn những biện pháp phù hợp cho công tác quản lý của mình nhất.

5. Kết luận chủ yếu của đề tài

Hoạt động trải nghiệm là hình thức tổ chức dạy học và dạy học có sức hấp dẫn đặc biệt với học sinh. Có thể nói đây là một hoạt động có tác dụng rất lớn trong việc mở rộng, củng cố, nâng cao kiến thức cho học sinh, hình thành và phát triển cho các em kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết. Quản lí HĐTN được tiến hành theo các chức năng của hoạt động quản lí đồng thời cần đảm bảo tính hiệu quả thiết thực, thu hút học sinh tham gia, phát huy được những yếu tố ảnh hưởng tích cực, khắc phục những yếu tố ảnh hưởng chưa tốt. Luận văn nghiên cứu có hệ thống cơ sở lí luận của công tác quản lí HĐTN cho học sinh trường tiểu học với tính đa dạng và phong phú, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Đặc biệt trong điều kiện đổi mới Chương trình, sách giáo khoa sau năm 2025 hiện nay.

Thực trạng quản lí HĐTN cho học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một hiện nay tuy có nhiều điểm tích cực trong việc tổ chức thực hiện và đạt hiệu quả khá cao, góp phần quan trọng trong giáo dục toàn diện cho học sinh. Song những kết quả ấy vẫn còn bộc lộ những tồn tại trong công tác quản lí và tổ chức thực hiện cần sớm được khắc phục. Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới thực trạng công tác quản lí HĐTN của nhà quản lí, trong đó nguyên nhân chủ quan chiếm ưu thế. Nguyên nhân chủ quan có ảnh hưởng nhiều nhất là: Nhà quản lí nắm vững nguyên tắc và phương pháp tổ chức HĐTN. Nguyên nhân khách quan có ảnh hưởng nhiều nhất là: Cơ sở vật chất thiếu thốn, kinh phí hạn hẹp.

Sau khi nghiên cứu lí luận và thực trạng, tác giả đã đưa ra 7 biện pháp nhằm quản lí tốt hơn hoạt động này. Các biện pháp đề xuất được khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi, kết quả khảo nghiệm cho thấy 7 biện pháp đề xuất đều được đánh giá là cần thiết và khả thi các biện pháp đề xuất bao gồm:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của CBQL, GV, cha mẹ HS, HS và các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của HĐTN cho HS ở trường tiểu học. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
  • Biện pháp 2: Tăng cường chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch HĐTN Biện pháp 3: Nâng cao vai trò chủ thể của HS trong thực hiện HĐTN
  • Biện pháp 4: Quản lí việc thực hiện nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức, đảm bảo các điều kiện, phương tiện phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặc thù của HĐTN
  • Biện pháp 5: Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để nâng cao HĐTN cho HS tiểu học
  • Biện pháp 6: Đổi mới các hình thức tổ chức HĐTN
  • Biện pháp 7: Quản lí công tác kiểm tra, đánh giá HĐTN kết hợp với thi đua, khen thưởng kịp thời

Các biện pháp trên phải được tiến hành song song, không nên xem nhẹ biện pháp nào, từ đó mới có thể đạt hiệu quả như mong muốn. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lí HĐTN là: Hiệu trưởng phải nâng cao nhận thức của GV và HS trong tổ chức thực hiện chương trình HĐTN; tăng cường CSVC, nguồn tài chính cho tổ chức HĐTN; phải phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục; phải tăng cường các biện pháp kiểm tra giám sát HĐTN… Đó là những điều kiện quan trọng quyết định để mục tiêu cuối cùng là đạt hiệu quả cao nhất trong tổ chức thực hiện.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Ngày nay, học qua trải nghiệm đang được triển khai hầu hết ở các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, một trong những quan điểm đổi mới giáo dục và đào tạo được nêu trong Nghị quyết Hội nghị số 29/NQ/TW ngày 4/11/2021 của Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh : “Chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.” Nghị quyết số 88/2022/QH13 ngày 28/11/2022 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã đề cập: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh”. Theo Quyết định số 404/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Bộ GD & ĐT đã hoàn thành việc xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông, gồm Chương trình tổng thể và các chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Thực hiện Nghị quyết số 51/2025/QH14, Bộ GD & ĐT đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông; rà soát, điều chỉnh kế hoạch thực hiện đổi mới chương trình, SGK giáo khoa phổ thông theo các Nghị quyết của Quốc hội. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Trong nội dung Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2025 đã nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh là: Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm; và 10 năng lực cốt lõi gồm: Năng lực tự chủ và tự học, Năng lực giao tiếp và hợp tác, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, Năng lực ngôn ngữ, Năng lực tính toán, Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, Năng lực công nghệ, Năng lực tin học, Năng lực thẩm mỹ, Năng lực thể chất. Điều đó cho thấy, việc đổi mới hình thức, phương pháp dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2025 đặc biệt nhấn mạnh hình thức học tập trải nghiệm và cũng trong dự thảo mới nhất này, hoạt động trải nghiệm trở thành hoạt động giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12 chứ không còn là “hoạt động được thực hiện thường xuyên” như ở dự thảo cũ.

Thực tế cho thấy trong những năm qua, giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng chủ yếu quan tâm đến hoạt động dạy học, ít quan tâm đến hoạt động trải nghiệm của học sinh nên cũng chưa đầu tư cả về trí tuệ, thời gian và nguồn lực. Vì vậy dẫn tới tình trạng học sinh giỏi lí thuyết nhưng hạn chế về kĩ năng thực hành, kĩ năng sống, năng lực thích ứng chưa cao. Nhà trường và gia đình cần tạo nhiều môi trường khác nhau để học sinh được trải nghiệm nhiều nhất, khơi dậy những ý tưởng sáng tạo của các em. Qua các hoạt động trải nghiệm thực tế đó sẽ tạo điều kiện cho các em tích cực hơn trong việc nghiên cứu, tìm ra những cái mới, sáng tạo hơn dựa trên những kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong cuộc sống. Từ đó hình thành ý thức, phẩm chất, kĩ năng sống và năng lực cho học sinh.

Thành phố Thủ Dầu Một hiện đang là trung tâm về kinh tế, giáo dục của tỉnh Bình Dương. Các trường tiểu học trên địa bàn thành phố đang được đầu tư và tạo điều kiện về mọi mặt để nâng cao hiệu quả giáo dục. Trong đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo luôn quan tâm và khuyến khích các trường đẩy mạnh các hoạt động trải nghiệm cho học sinh nhằm giúp các em phát triển toàn diện đúng với yêu cầu của chương trình giáo dục mới. Tuy nhiên, kết quả mà các hoạt động trải nghiệm mang lại còn nhiều hạn chế về mặt nội dung, hình thức tổ chức, hình thức kiểm tra đánh giá và việc quản lí hoạt động này ở nhà trường dẫn đến chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh vì thế cũng không cao.

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông, đặc biệt là giáo dục ở bậc tiểu học, chúng tôi đã chọn đề tài “Quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” nhằm đề ra một số biện pháp quản lí việc thực hiện hoạt động trải nghiệm hiệu quả hơn.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Trên cơ sở hệ thống hóa lí luận về quản lí hoạt động trải nghiệm và khảo sát thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất các biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học
  • Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

4. Giả thuyết khoa học

Hoạt động trải nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển toàn diện. Những hoạt động và biện pháp quản lí hoạt động trải nghiệm ở các trường tiểu học hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Nếu có biện pháp quản lí HĐTN đồng bộ, huy động được sức mạnh của tập thể giáo viên, cha mẹ HS, các tổ chức xã hội,… sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lí HĐTN tại các cơ sở giáo dục tiểu học nói riêng và giáo dục phổ thông nói chung.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lí luận về hoạt động trải nghiệm và quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Phạm vi về nội dung:

Quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bao gồm các nội dung: quản lí mục tiêu, quản lí nội dung, quản lí các hình thức và phương pháp tổ chức, quản lí việc kiểm tra đánh giá kết quả của hoạt động. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

6.2. Phạm vi về không gian:

Thành phố Thủ Dầu Một hiện đang là đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm hành chính, tổng hợp của tỉnh Bình Dương. Cùng với việc chú trọng đầu tư và phát triển kinh tế, xã hội thì giáo dục cũng là một trong những mũi nhọn đang được quan tâm. Chính vì vậy, chúng tôi đã thực hiện khảo sát tại 5 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một cho việc nghiên cứu đề tài.

6.3. Phạm vi về thời gian:

Đề tài khảo sát việc quản lí các hoạt động trải nghiệm trong bối cảnh hiện nay đặc biệt từ năm 2023 vì đây là thời điểm Bộ GD&ĐT ban hành Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động trải nghiệm với các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

7.1.2 Quan điểm lịch sử – lôgic

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động trải nghiệm nói chung, quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và thành phố Thủ Dầu Một nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động trải nghiệm ở các cơ sở giáo dục này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản hoạt động trải nghiệm cho học sinh phù hợp với thực tiễn.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp này dùng để phân tích và tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường tiểu học.

7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích điều tra: người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để thu thập số liệu, dữ liệu về thực trạng hoạt động trải nghiệm và công tác quản lý hoạt động trải nghiệm dưới sự điều hành lãnh đạo của hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Nội dung điều tra: Thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động trải nghiệm. Chúng tôi cũng dùng bảng hỏi để khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

  • Cách thức điều tra: Xây dựng 2 mẫu phiếu hỏi dành cho các đối tượng:

Mẫu 1: Phiếu khảo sát dành cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Mẫu 2: Phiếu khảo sát dành cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Mục đích phỏng vấn: nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu điều tra và thu thập thêm thông tin cho những vấn đề còn chưa được trả lời rõ ràng trong số liệu điều tra viết. Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.

Phương pháp phân tích hồ sơ, tài liệu, sản phẩm hoạt động (các hồ sơ quản lý, các nội quy, quy định, các kế hoạch, các báo cáo…)

Thu thập thông tin về hoạt động trải nghiệm và quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

7.2.3 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows, phiên bản 20.0 để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Các chỉ số được chúng tôi sử dụng là: Điểm trung bình, Độ lệch chuẩn, Độ tin cậy. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp tương quan nhị biến để tìm hiểu sự liên quan giữa hai biến với nhau.

8. Ý nghĩa của đề tài

8.1. Ý nghĩa khoa học:

Đề tài góp phần củng cố và làm rõ những vấn đề lí luận về việc quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

8.2. Ý nghĩa thực tiễn:

Qua việc khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề tài đã xây dựng những biện pháp khả thi và kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào trong thực tiễn. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

9. Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, phần nội dung gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học
  • Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
  • Chương 3: Các biện pháp quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

HĐTN là hoạt động giáo dục được rất nhiều các quốc gia trên thế giới quan tâm. Nó có thể là những hoạt động chính khóa nằm trong Chương trình giáo dục phổ thông, hoặc là những chương trình có tính chất ngoại khóa, bổ trợ… Những HĐTN này có thể được tồn tại dưới các “tên gọi” khác nhau như: hoạt động giáo dục tổng hợp, hoạt động giáo dục ngoài trời, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động giáo dục đặc biệt… nhưng tựu trung lại, đây là hoạt động giáo dục nhằm nâng cao kinh nghiệm sống cho HS, giúp các em có cơ hội vận dụng tối đa những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. (Nguyễn Quốc Vương, 2025). Trong đề tài này, tác giải muốn đề cập đến HĐTN trong chương trình giáo dục của một số quốc gia trên thế giới:

  • Nhật Bản

Ở Nhật Bản, nguyên lí “học thông qua làm” (learning by doing) của John Dewey đã có ảnh hưởng rất lớn sau 1945 khi người Nhật thực hiện cải cách giáo dục thời hậu chiến. Chương trình và nội dung giáo dục sau năm 1945 của Nhật Bản đã được thiết kế dựa trên nguyên lí nền tảng này và có chú ý đặc biệt tới việc coi trọng các trải nghiệm (kinh nghiệm) trong đời sống của HS, lấy chúng làm nguyên liệu, đầu mối, xuất phát điểm để xây dựng nội dung giáo dục. Trong chương trình giáo dục, học tập trải nghiệm với các hoạt động cụ thể được triển khai ở tất cả các môn học, đặc biệt là các môn như: Xã hội, Khoa học, Đời sống… Ngoài ra, dựa trên cơ sở lí luận ấy, hệ thống các câu lạc bộ ở tất cả các trường học đã được xây dựng và hoạt động sôi nổi.

Các trường học ở Nhật, trong 70 năm qua đã xây dựng được rất nhiều thực tiễn giáo dục với các HĐTN phong phú dựa trên nền tảng lí luận giáo dục học tập từ Mĩ và các nước Tây Âu. Chỉ tính riêng trong môn Xã hội và các hoạt động có liên quan, cho đến hiện tại nước Nhật đã có đến hàng vạn các “thực tiễn giáo dục” nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn như: “Đời sống ở làng quê” (Omura Sakae, 1948), “Bố, mẹ” (Ishihashi Katsuji, 1948), “Cuộc đời của một người” (Yanagita, 1996), “Ga Fukuoka” (Tanigawa Mizuko, 1960), “Con chó ở ụ vỏ sò Kasori” (Kato Kimiaki, 1991)… (Nguyễn Quốc Vương, Lê Xuân Quang, 2025)

  • Hàn Quốc Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Chương trình hoạt động giáo dục được đề cập trong chương trình quốc gia của Hàn Quốc với tên gọi Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TNST). Nội dung chương trình đề cập đến tính chất, mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. Hoạt động TNST là một thành tố cấu thành nên chương trình cơ bản chung quốc gia (cùng với hệ thống các môn học bắt buộc, các hoạt động tự chọn) và được thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12. Hoạt động ngoại khóa tuy không phải là một môn học đơn thuần nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của chương trình giáo dục chung quốc gia và có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục.

Ở Hàn Quốc, chương trình Giáo dục trải nghiệm là một hoạt động tiến hành đồng thời với hoạt động dạy học các môn học. Hoạt động này được tiến hành xuyên suốt từ Tiểu học đến Trung học phổ thông theo tỉ lệ từng cấp Tiểu học, THCS, THPT là 13,4%, 9,1%, 11,8% so với thời lượng các môn học. Tuy nhiên điểm quan trọng nhất trong nhà trường Hàn Quốc, hoạt động TNST là hoạt động ngoại khóa sau các giờ học trên lớp, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy, được thực hiện nhằm mục tiêu đào tạo ra các thế hệ nhân tài có định hướng tương lai với đầy đủ nhân cách và sức sáng tạo, biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời biết chia sẻ và quan tâm tới mọi người xung quanh. Hoạt động TNST về cơ bản mang tính chất là các hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Đặc biệt, ở Hàn Quốc, chú ý tổ chức HĐTN dựa theo đặc điểm hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi Tiểu học, THCS, THPT. Cấp Tiểu học và cấp THCS nhấn mạnh cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, cấp THPT phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo. Mục tiêu HĐTN hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo. Nội dung khái quát các HĐTN bao gồm: Hoạt động tự chủ; Hoạt động câu lạc bộ; Hoạt động tình nguyện; Hoạt động định hướng và mỗi nhóm hoạt động này đều được cụ thể hóa: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, kiểm tra-đánh giá.

HĐTN của Hàn Quốc gồm có 4 nhóm hoạt động chính là: Hoạt động tự chủ (thích ứng, tự chủ, tổ chức sự kiện, sáng tạo độc lập,…); Hoạt động câu lạc bộ (Hội thanh niên, văn hóa nghệ thuật, thể thao, thực tập siêng năng,…); Hoạt động tình nguyện (chia sẻ, quan tâm đến hàng xóm láng giềng và những người xung quanh, bảo vệ môi trường) và Hoạt động định hướng (tìm hiểu thông tin về hướng phát triển tương lai, tìm hiểu bản thân,…). Về hoạt động cụ thể trong từng nhóm, nhà trường có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh động sao cho phù hợp với đặc điểm của học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trường và điều kiện xã hội của địa phương. Các nhóm hoạt động và nội dung được nói tới ở đây chỉ mang tính chất tham khảo, các trường có thể lựa chọn và tập trung thực hiện các chương trình khác nếu thấy chương trình đó giàu tính sáng tạo hơn chương trình này. (Đỗ Thị Nga, 2024)

  • Trung Quốc

Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trung Quốc đang đòi hỏi giáo dục phải đào tạo, bồi dưỡng một lớp người “có tình yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có năng lực thích ứng với đời sống xã hội, tham gia lao động xã hội và không ngừng hấp thu tri thức mới; có chí tiến thủ, tinh thần sáng tạo cái mới, dũng cảm phấn đấu gian khổ; có tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và phẩm chất tâm lí cá nhân tốt đẹp; có năng lực phân biệt phải trái, xấu đẹp, thiện ác, chống lại tư tưởng sai lầm và phương thức sinh hoạt không tốt,… Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Để thực hiện được mục tiêu đó thì phải bắt đầu từ việc tạo ra sự chuyển biến và đổi mới tư tưởng, quan niệm giáo dục, khắc phục mô thức giáo dục “ứng thí” đơn thuần chạy theo việc lên lớp đang tồn tại trên thực tế, thực hiện giáo dục tố chất. Tức là, phải kiên trì hướng tới toàn thể học sinh, làm cho mỗi học sinh đều được phát triển; kiên trì phát triển toàn diện tố chất của học sinh, làm cho học sinh phát triển về các mặt: đức, trí, thể, mĩ, lao động; kiên trì giáo dục kết hợp chặt chẽ với thực tế phát triển kinh tế và xã hội, làm cho học sinh phát triển theo hướng thích ứng với công cuộc xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần; kiên trì dạy học theo năng lực, làm cho cá tính và sở trường của học sinh phát triển lành mạnh; coi trọng địa vị chủ thể của học sinh trong quá trình học tập, làm cho học sinh phát triển chủ động, linh hoạt và sinh động. Mục tiêu và yêu cầu như vậy không chấp nhận cách dạy học phiến diện, chỉ thiên về truyền thụ tri thức văn hóa, khoa học, kĩ thuật, trái lại, đòi hỏi cách dạy học mới trên cơ sở xây dựng được một chương trình giáo dục quán triệt toàn diện phương châm giáo dục học đi đôi với hành, nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục, đi sâu cải cách lĩnh vực giáo dục và dạy học. Vì vậy, bên cạnh việc không ngừng hoàn thiện chương trình môn học theo hướng thúc đẩy sự phát triển hài hòa của học sinh về các mặt: đức, trí, thể, mĩ, Trung Quốc cũng đã thực sự bắt tay vào việc xây dựng chương trình hoạt động, coi hoạt động ngoài giờ lên lớp là bộ phận hữu cơ của chương trình, chứ không chỉ đơn thuần là hoạt động có tính chất phụ trợ, tự nguyện của HS.

Chương trình hoạt động được thiết kế dựa vào “Kế hoạch chương trình” do Bộ Giáo dục xây dựng và quán triệt yêu cầu của mục tiêu đào tạo, thể hiện hàm nghĩa bản chất và đặc điểm của chương trình hoạt động và phù hợp với tình hình thực tế của từng trường, của từng địa phương. Chương trình hoạt động chủ yếu có 2 loại chính, đó là chương trình hoạt động chung và chương trình hoạt động theo hứng thú. Chương trình hoạt động chung thể hiện yêu cầu chung của Nhà nước và xã hội đối với sự phát triển thể chất và tâm hồn của HS và bao gồm các hình thức như sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, thực tiễn xã hội và rèn luyện thể dục thường xuyên. Chương trình hoạt động theo hứng thú được thiết kế nhằm thỏa mãn nhu cầu khác nhau của cá thể học sinh, bồi dưỡng sở thích và tài năng đặc biệt của HS, bao gồm các hoạt động: Khoa học kĩ thuật, Văn học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao,… HS có thể chọn một trong những hoạt động đó. (Đỗ Thị Nga, 2024)

  • Singapore

Hoạt động ngoại khóa và chương trình học tập năng động được khẳng định là một “thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở nhà trường”, cung cấp một nền tảng xác thực cho việc học tập sẽ diễn ra.

Chương trình hiện nay của Singapore được xây dựng theo định hướng phát triển các năng lực thế kỉ XXI cho HS. Theo đó, mục tiêu của hoạt động ngoại khóa và chương trình học tập năng động nhằm phát triển các năng lực của HS, kết hợp cùng với việc giảng dạy các môn học khác trong chương trình quốc gia để HS đạt được những năng lực cốt lõi của thế kỉ XXI. Cụ thể là:

  • Rèn luyện thân thể và các môn thể thao – mang lại thân thể cường tráng, rèn luyện tinh thần đồng đội và thi đấu công bằng cho HS. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
  • Truyền cho HS những cảm nhận về sự tinh tế và nhận thức về nền văn hóa phong phú, các di sản của xã hội đa sắc tộc.
  • Giúp HS trở thành những công dân tốt thông qua việc bồi dưỡng cho HS niềm tin vào bản thân, tính kiên cường, tính kỉ luật và tinh thần hỗ trợ lẫn nhau.
  • Phát triển toàn diện các năng lực xã hội và ý thức công dân, khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường.

Thời lượng cho hoạt động ngoại khóa không quy định theo giờ ở từng năm học. Đối với cấp Tiểu học, hoạt động ngoại khóa chỉ dành cho đối tượng từ lớp 3 đến lớp 6 (upper primary). Chương trình học tập năng động dành cho đối tượng HS lớp 1 và 2 cấp Tiểu học Singapore lại phân bổ thời lượng theo tuần. Theo đó, các chủ đề (module) được thiết kế trong chương trình này sẽ được tổ chức với thời lượng 7 đến 10 tuần, và mỗi tuần là hai giờ được thực hiện kèm với thời gian học tập chương trình môn học: sẽ có 3 – 4 module được thực hiện ở ngoài trường dành cho các hoạt động thể thao và trò chơi, giáo dục ngoài trời và triễn lãm nghệ thuật. Thời lượng cụ thể tùy thuộc vào điều kiện từng trường, từng năm học. (Đỗ Thị Nga, 2024)

  • Australia

Ở Australia, hoạt động giáo dục ngoài trời (outdoor education activitives) được coi là một môn học trong chương trình giáo dục, thực hiện xuyên suốt từ bậc Mẫu giáo đến hết lớp 12. Hoạt động giáo dục ngoài trời kết hợp mục tiêu học tập của các môn học khác như: Giáo dục thể chất và Sức khỏe, Địa lí, Lịch sử, Khoa học, Toán, Tiếng Anh và Nghệ thuật để HS được phát triển về tinh thần tự lực, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự lãnh đạo, sự phát triển của tinh thần phiêu lưu mạo hiểm, quản lí những rủi ro cá nhân, hành trình an toàn trong tự nhiên,… HĐTN có thể được coi là một môn học hoặc là hoạt động được thực hiện song song với chương trình môn học ở nhà trường nhưng luôn có một vị trí quan trọng trong việc phát triển toàn diện HS. HS có thể lựa chọn để tham gia vào một số hoạt động ngoài chương trình giảng dạy bắt buộc. Chúng được thiết kế để hỗ trợ học tập và phát triển.

Ngoài ra, ở một số nước phát triển khác, trong nhà trường phổ thông người ta cũng chú ý nghiên cứu, vận dụng tổ chức HĐTN nhằm giáo dục toàn diện cho HS ngay từ trong nhà trường. HĐTN được hầu hết các nước phát triển quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, chú ý giáo dục nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sống,… (Đỗ Thị Nga, 2024)

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Ở Việt Nam, giáo dục vốn chịu ảnh hưởng nặng của Nho giáo và chủ nghĩa “kinh viện” coi trọng lí thuyết có tính chất “hàn lâm”, “hệ thống” nên trong một thời gian dài, học tập trải nghiệm và HĐTN của HS đã không được chú ý đúng mức. Giáo viên đã trực tiếp thuyết minh, giảng giải bằng lời nói những tri thức khoa học cho HS nghe và làm cho các em lĩnh hội chúng chỉ thông qua từ ngữ. Phương thức giáo dục “chay” thông qua truyền đạt tri thức thuần túy bằng ngôn ngữ như vậy đã làm cho trường học xa vời đời sống thường ngày và không tạo ra được mối liên hệ nào đáng kể giữa những trải nghiệm của HS trong đời sống thực tế với đời sống trường học của các em. Để khắc phục hạn chế này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức đưa HĐTN vào Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể được thông qua ngày 28/7/2025.

Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về lí luận dạy học cũng đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo. Người đầu tiên nghiên cứu phát triển ứng dụng Lý thuyết Hoạt động vào nhà trường chính là tác giả Phạm Minh Hạc. Theo ông, thông qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát triển. Như vậy, trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, lĩnh hội các giá trị xã hội là hoạt động của người học. Con người có tự hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân “Hoạt động không chỉ rèn luyện trí thông minh bằng hoạt động, mà còn thu hẹp sự cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao. (Phạm Minh Hạc, 1999)

Trong nước, thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài nghiên cứu khoa học về tình hình học tập trải nghiệm sáng tạo như: Kỉ yếu hội thảo: “Tổ chức hoạt đông trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông và mô hình phổ thông gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã thu hút rất nhiều bài viết của các tác giả trong cả nước. Đã có 19 bài của 21 tác giả gửi đến hội thảo, trong số đó có một số bài viết hay, đã đề cập ở mức độ nóng vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS. Trong bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, tác giả Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có đề cập tới quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo là “hoạt động mang xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để HS tự trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê; bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tôt nhất mục tiêu giáo dục”. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Bài viết của Tác giả Đỗ Ngọc Thống nghiên cứu “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam”. Trong đó, tác giả giới thiệu kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong giáo dục phổ thông nước Anh và Hàn Quốc. Đây đều là những nước đã đưa hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào chương trình đào tạo từ sớm và đạt được những kết quả to lớn. Từ đó tác giả đưa ra kết luận: “Lâu nay chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức; chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục. Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tố của một chương trình giáo dục. Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp (Đỗ Ngọc Thống, 2023)

Theo Bùi Ngọc Diệp trong bài viết “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông”, cũng đưa ra quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. Theo đó “Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân; các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng; được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…”. (Bùi Ngọc Diệp, 2023)

Bài viết của Tác giả Đinh Thị Kim Thoa, ĐHGD – ĐHQGHN “ Hoạt động trải nghiệm sáng tạo góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm” có đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm. Trong đó, “học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”. (Đinh Thị Kim Thoa, 2022)

Ngoài ra, trong những năm gần đây đã có một số luận văn nghiên cứu về vấn đề này, chẳng hạn như: đề tài “Quản lí hoạt động trải nghiệm sang tạo cho học sinh trong các trường tiểu học huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng” của tác giả Trần Thị Mai Phương (Học viện Quản lí giáo dục, 2023); đề tài “Quản lí hoạt động trải nghiệm sang tạo ở trường Trung học cơ sở Bạch Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” của tác giả Lê Văn Thủy (Học viện quản lí giáo dục, 2025) hay đề tài “Quản lí hoạt động trải nghiệm sang tạo của học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang” của tác giả Nguyễn Quốc Huy (Đại học Huế, 2026).

Tóm lại, vấn đề hoạt động học tập thông qua trải nghiệm không phải là vấn đề mới với nhiều nước trên thế giới, nhưng với Việt Nam vấn đề này còn khá mới mẻ. Các tài liệu nghiên cứu, tác phẩm, luận văn, luận án chủ yếu tập trung khai thác cách thức tổ chức và vận dụng HĐTN vào giảng dạy. Có rất ít công trình nghiên cứu về công tác quản lí HĐTN trong nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học. Chính vì vậy, trong luận văn này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về công tác quản lí HĐTN cho HS ở trường tiểu học.

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

1.2.1. Quản lí

Thuật ngữ “quản lí” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận, lĩnh vực khác nhau.

Theo W. Taylor: “Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (Nguyễn Thị Doan, 1996)

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”. (Nguyễn Ngọc Quang, 1990)

Nguyễn Bá Sơn trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lí” có nêu: “Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động”. (Nguyễn Bá Sơn, 2000)

Trong từ điển Giáo dục định nghĩa: “Quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các hình thức chức năng chủ yếu của quản lí bao gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo hoặc lãnh đạo và kiểm tra”. (Bùi Minh Hiền, 2006)

Theo các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo: “ Quản lí là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra”. (Bùi Minh Hiền, 2006)

Trong giáo trình “Quản lí giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học, Trần Kiểm đã viết: “Quản lí là nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. (Trần Kiểm, 2024)

Từ các quan niệm trên chúng ta có thể khẳng định mặc dù có cách nói, cách diễn đạt khác nhau, song đều có điểm chung:

  • Hoạt động quản lí được tiến hành trong tổ chức hay một nhóm xã hội;
  • Hoạt động quản lí là những tác động có tính định hướng. Tính định hướng thể hiện ở việc thực hiện mục đích của tổ chức đề ra;
  • Hoạt động quản lí là những tác động phối hợp nỗ lực của các tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức và đáp ứng yêu cầu, mong đợi của xã hội, cá nhân.
  • Hoạt động quản lí bao gồm 4 chức năng cơ bản: chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra

1.2.2. Quản lí giáo dục Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Quan điểm của M.I Kônđacốp cho rằng: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa nhằm đảm bảo vận hành bình thường của một cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”. (Đặng Quốc Bảo, 1999)

Quản lí giáo dục được xem xét ở tầm vĩ mô và vi mô:

  • Ở cấp vĩ mô: “Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến tất cả các mắc xích của hệ thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục”. (Bùi Minh Hiền, 2006)
  • Ở cấp độ vi mô: “ Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến các hoạt động giáo dục, đến con người, đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp qui luật nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. (Bùi Minh Hiền, 2006)

Bản chất của quản lí giáo dục là quá trình diễn ra những tác động quản lí khi có chủ thể và đối tượng quản lí; có thông tin hai chiều từ chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí và từ đối tượng quản lí đến chủ thể quản lí. Quản lí giáo dục nằm trong phạm trù quản lí xã hội nói chung. Nó có đặc trưng riêng:

  • Quản lí giáo dục là một loại hình quản lí nhà nước;
  • Quản lí giáo dục thực chất là quản lí con người;
  • Quản lí giáo dục có thuộc tính giống như quản lí xã hội;
  • Quản lí giáo dục được xem như là hệ tự quản lí;
  • Quản lí giáo dục vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.

Từ những khái niệm trên, trong luận văn này sử dụng định nghĩa: Hoạt động quản lí giáo dục chính là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí theo những quy luật khách quan nhằm đưa ra các hoạt động giáo dục – dạy học cấp học, bậc học đạt được mục tiêu giáo dục – dạy học đặt ra.

1.2.3. Trải nghiệm Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Theo quan điểm của triết học: “Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó” . Trong các nghiên cứu tâm lí học, trải nghiệm thường được coi là năng lực của cá nhân. Trong các tài liệu sư phạm học, lí thuyết về trải nghiệm trở thành đối tượng nghiên cứu. Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu: Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy; Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường.

Theo Terehoba T. E cho rằng sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kĩ thuật lẫn kĩ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới quan. Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S. quan niệm rằng trải nghiệm là quá trình tích lũy kiến thức kinh nghiệm thực tế; bao gồm kiến thức và kĩ năng mà người học tích lũy qua thực tiễn, hoạt động. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. (Bùi Tố nhân, 2023)

Dưới góc độ của tâm lí học giáo dục, A. N. Leontiev đã giải quyết được vấn đề trải nghiệm của nhân loại: “Trong cuộc đời mình, con người đã đồng hóa kinh nghiệm của nhân loại, kinh nghiệm của những thế hệ trước. Nó diễn ra dưới hình thức nắm vững kiến thức và ở mức độ làm chủ kiến thức” .Một số nhà nghiên cứu sư phạm xem xét thuật ngữ trải nghiệm qua khái niệm “thực hành” (practice), có nghĩa là xem xét nó trong việc tiến hành quá trình đào tạo cũng như kết quả của nó . Chính vì vậy, M.N. Skatkin đã kết luận rằng: “theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào tạo và giáo dục”. (Bùi Tố nhân, 2023)

Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau:

  • Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy;
  • Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo, không được giảng dạy trong nhà trường hoặc thông qua hoạt động thực tiễn…
  • Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lí thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lí luận cụ thể. ( (Dương Minh Thành, Nguyễn Thị Ly Kha, Đỗ Thị Nga, 2025) Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

1.2.4. Hoạt động trải nghiệm

Trong nhà trường phổ thông, HĐTN hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động giáo dục được tiến hành song song với hoạt động dạy học, có mục đích nhằm phát huy chủ động, sáng tạo cho HS và giúp HS được trải nghiệm thực tế, có tính sáng tạo được chủ động tham gia vào các khâu của quá trình hoạt động giáo dục: từ thiết kế, chuẩn bị, tiến hành thực hiện đến tự đánh giá…

Theo tác giả Đinh Thị Kim Thoa: “HĐTN thực chất là giáo dục mang tính định hướng của nhà trường, được tổ chức để người học trải nghiệm, từ đó thu nhận được những giá trị cần thiết cho bản thân. Như vậy, HĐTN là hoạt động được tổ chức theo đúng quy luật hoạt động, quy luật hình thành nhân cách cá nhân trong xã hội”. (Đinh Thị Kim Thoa, 2022)

Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được thông qua ngày 28/7/2025 của Bộ GD&ĐT , các tác giả đã lược bỏ đi cụm từ “sáng tạo”, tuy nhiên, về cơ bản, định nghĩa sau đây đã nêu được những điểm cơ bản nhất của HĐTN trong trường học cũng như vai trò của nó đối với việc thực hiện mục tiêu giáo dục: “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó những hoạt động trong dạy và học nhằm tạo cơ hội cho HS quan sát, ghi nhận, suy nghĩ, lựa chọn có cơ sở, thể hiện và trực tiếp tham gia các hoạt động thực tiễn; qua đó khuyến khích, động viên, kích thích các em tích cực tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những giải pháp hoặc sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và ngoài thực tiễn, từ đó hình thành những thái độ, phẩm chất, kĩ năng và năng lực cần thiết cho học sinh”.

Như vậy, HĐTN có thể được hiểu như sau: “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực thực tiễn…, từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”.

1.2.5. Quản lí hoạt động trải nghiệm

Quản lí HĐTN của HS trong trường phổ thông về thực chất là quản lí mục tiêu, nội dung chương trình, quản lí phương pháp và các hình thức tổ chức HĐTN, tạo điều kiện về nguồn lực (con người, kinh phí, thời gian, các điều kiện cơ sở vật chất…) để thực hiện các hoạt động này.

1.3. Hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

1.3.1. Vị trí của HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông

HĐTN được xếp vào nội dung tự chọn bắt buộc dành cho tất cả HS từ lớp 1 đến lớp 12, là hoạt động giúp HS vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.

  • HĐTN được chia làm hai giai đoạn với hai nhóm mục tiêu như sau:

Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình HĐTN tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kĩ năng sống,… Thông qua HĐTN, HS được bước vào cuộc sống xã hội, được tham gia các đề án, dự án, các hoạt động thiện nguyện, hoạt động lao động,… cũng như tham gia các loại hình câu lạc bộ khác nhau,… Bằng HĐTN của bản thân, mỗi HS vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình nên HS không những biết cách tích cực hóa bản thân, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Đặc biệt, ở giai đoạn này, mỗi HS cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường và chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm.

Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, chương trình HĐTN được tổ chức gắn với nghề nghiệp tương lai chặt chẽ hơn, hình thức câu lạc bộ nghề nghiệp phát triển mạnh hơn. HS sẽ được đánh giá về năng lực, hứng thú,… và được tư vấn để lựa chọn và định hướng nghề nghiệp. Ở giai đoạn này, chương trình có tính phân hóa và tự chọn cao. HS được trải nghiệm với các ngành nghề khác nhau dưới các hình thức khác nhau.

1.3.2. Vai trò của HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông

HĐTN giúp các em chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân. Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,… Từ đó, hình thành, phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết. HĐTN về cơ bản mang tính chất của hoạt động tập thể trên tinh thần tự chủ, với sự nỗ lực giáo dục nhằm phát triển khả năng sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong tập thể. Các HĐTN có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GVCN, GVBM, BGH nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương,… (Nguyễn Thị Chi, 2023)

1.3.3. Mục tiêu HĐTN Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Mục tiêu chính của HĐTN là: nhằm định hướng, tạo điều kiện cho HS quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó tổ chức khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu, tìm ra những giải pháp mới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại.

1.3.4. Nội dung HĐTN

Nội dung HĐTN rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội…

Nội dung HĐTN của HS bao gồm nội dung trải nghiệm trong quá trình dạy học và nội dung trải nghiệm ngoài giờ học các môn học. Các hoạt động ngoài hệ thống các môn học (ngoài nhà trường) là những hoạt động giáo dục nhằm giúp HS trải nghiệm thực tiễn, vận dụng kiến thức chuyên môn để giải quyết các vấn đề đặt ra hoặc rèn luyện kĩ năng sống, phẩm chất đạo đức của người công dân.

Trong luận văn này, tác giả luận văn đề cập chủ yếu đến nội dung HĐTN ngoài giờ học các môn học, nội dung hoạt động sẽ bao gồm:

HĐTN có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường. Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm và quy mô lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như đơn giản, không tốn kém, mất ít thời gian, HS tham gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành, phát triển các năng lực cho HS hơn. HĐTN có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm, GV bộ môn, cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách Đội, BGH nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp ở địa phương,…

  • Kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống, địa phương, cộng đồng, đất nước, mang tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục, nhiều môn học; dễ vận dụng vào thực tế cuộc sống. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.
  • Được thiết kế thành các chủ điểm mang tính mở, không yêu cầu mối liên hệ chặt chẽ giữa các chủ điểm.

1.3.5. Phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN

Nội dung giáo dục của HĐTN thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. Từ đó, sẽ quy định việc lựa chọn, phối hợp các phương pháp HĐTN và hình thức tổ chức HĐTN.

Phương pháp giáo dục trong HĐTN là các cách thức tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện thông qua các hoạt động gắn liền với thực tiễn (cuộc sống, xã hội,…) nhằm hình thành giá trị sống cho HS (phát triển toàn diện HS). Theo đó, trong HĐTN hoàn toàn có thể sử dụng tất cả các phương pháp giáo dục nhân cách HS trong quá trình giáo dục: phương pháp thuyết phục, phương pháp trò chuyện, phương pháp giao việc, phương pháp thực hành rèn luyện,…

Hình thức tổ chức giáo dục trong HĐTN: các HĐTN có thể được tổ chức theo các quy mô và hình thức khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường. Trong đó, tổ chức theo quy mô nhóm và quy mô lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như đơn giản, không tốn kém, mất ít thời gian, HS tham gia được nhiều hơn và có nhiều khả năng hình thành, phát triển các năng lực cho HS hơn. HĐTN trong nhà trường phổ thông tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định.

  • Một số hình thức tổ chức HĐTN ở Tiểu học:
  • Tham quan dã ngoại

Đây là hình thức tổ chức học tập trải nghiệm hiệu quả nhất bởi tính hấp dẫn đối với HS. Các hình thức tham quan dã ngoại mà hiện nay các trường phổ thông có thể lựa chọn như: tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề, viện bảo tàng…

Riêng ở khu vực thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, các trường tiểu học có thể tổ chức cho học sinh tham quan một số địa điểm như: bảo tàng tỉnh Bình Dương, nhà tù Phú Lợi, công ty gốm sứ Minh Long, làng nghề gốm Tương Bình Hiệp, nông trại Tree, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất đóng tại địa bàn,…

  • Trò chơi Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Trò chơi là một loại hoạt động giải trí, thư giãn đồng thời là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Việc lựa chọn trò chơi phù hợp sẽ có tác dụng rất tích cực tới HS. Người giáo viên cần phải có tư duy trong cách lực chọn trò chơi để tổ chức học tập trải nghiệm. Trò chơi mang lại những thuận lợi trong quá trình tổ chức dạy học trải nghiệm rõ nét nhất là: việc phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho HS, giúp HS dễ tiếp thu kiến thức, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn,…

Một số trò chơi được sử dụng nhiều trong các trường phổ thông hiện nay như: trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi mô phỏng game truyền hình,… Có thể thấy tổ chức trò chơi là hoạt động quen thuộc dễ thực hiện trong quá trình học tập trải nghiệm và có ý nghĩa giáo dục tích cực.

  • Dự án khoa học

Học sinh phát triển kiến thức và kĩ năng khoa học thông qua các dự án khoa học mà bản thân hoặc nhóm tự thực hiện sau giờ học dựa vào một vài hướng dẫn định hướng. Nội dung của dự án có liên quan trực tiếp đến bài học hoặc nhóm bài học mà HS vừa học. Thời gian của mỗi dự án được xác định dựa vào đặc điểm của bài học, tính phức tạp của dự án và đối tượng HS ở từng lớp.

  • Các câu lạc bộ

Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa, do trường hoặc giáo viên tổ chức thành từng nhóm HS dựa trên sở thích, nhu cầu, năng khiếu,…nhằm tạo ra môi trường để HS sinh hoạt, giao lưu, tiếp xúc với nhau hoặc tiếp xúc với những thành phần xã hội khác. Hoạt động của câu lạc bộ giúp tạo cơ hội cho HS chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm hoặc được vận động, tham gia các hoạt động mang tính đồng đội, hoặc tham gia vào các hoạt động nghệ thuật. Câu lạc bộ hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như:

  • Câu lạc bộ học thuật
  • Câu lạc bộ thể dục thể thao
  • Câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật
  • Câu lạc bộ võ thuật
  • Câu lạc bộ hoạt động thực tế
  • Câu lạc bộ trò chơi

Đối với HS tiểu học, hoạt động câu lạc bộ nên khuyến khích tập trung ngay tại trường, ví dụ sau giờ học văn hóa buổi sáng, buổi chiều sẽ có 1 khoảng thời gian để tất cả HS tham gia vào hoạt động câu lạc bộ.

  • Thí nghiệm khoa học Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Đây là hình thức phù hợp, kích thích sự ham thích tìm hiểu khoa học ở HS, giúp HS lĩnh hội các kiến thức khoa học, nắm bắt vấn đề, phát hiện ra kiến thức khoa học. Mặt khác, hình thức này tạo cho HS có niềm tin và cơ sở khoa học vào kiến thức mới, vào tính đúng đắn của các kết luận khoa học được rút ra, phù hợp với tư duy trực quan của HS, kích thích óc tò mò, ham hiểu biết khoa học ở các em.

  • Sân khấu tương tác

Là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi người tham gia. Phần diễn chính là một cuộc thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả. Nội dung của sân khấu tương tác là các vấn đề, những điều trực tiếp tác động tới cuộc sống của HS. HS tự chọn ra vấn đề bức thiết, các em tự xây dựng kịch bản và cuối cùng là chọn ra những diễn viên cho vở diễn đó để thực hiện và sẽ không có sự giúp đỡ từ bên ngoài. Sân khấu tương tác có thể diễn ra trong phạm vi lớp học hoặc rộng hơn là phạm vi toàn trường.

  • Lao động

Hoạt động lao động bước đầu hình thành cho HS hiểu và trân trọng giá trị của lao động, từ đó trẻ có ý thức trong lao động lành mạnh. Hoạt động lao động cũng giúp trẻ gắn bó nhiều hơn với cuộc sống, hình thành nên trách nhiệm của bản thân với cuộc sống cá nhân.

Các hoạt động thường tổ chức như: trực nhật, vệ sinh lớp học, trồng cây xanh và làm vệ sinh môi trường xung quanh, nấu bữa cơm gia đình, hoạt động lao động công ích. Mỗi hoạt động cần được gắn với một chủ đề nhất định để định hướng học tập trải nghiệm cho HS như: Chiến dịch giờ trái đất, chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học, chiến dịch ứng phó với biến đổi khí hậu,…

Quy mô của hoạt động có thể tổ chức trong không gian nhà trường hoặc ngoài nhà trường. Việc tổ chức có thể diễn ra thường xuyên nhưng phải phù hợp với điều kiện địa phương và nhà trường, đồng thời phải đảm bảo những vấn đề đó là những vấn đề lâu dài có tính cấp thiết và giáo dục cao.

  • Các hoạt động nhân đạo

Là hoạt động nhằm thể hiện tình thương yêu và ý thức tôn trọng giá trị phẩm chất của con người với con người. Hoạt động nhân đạo giúp các em HS được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm và giá trị vật chất của mình với những thành viên trong cộng đồng, giúp các em biết quan tâm hơn đến những người xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho HS như: tiết kiệm, tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,… Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Hoạt động nhân đạo trong trường tiểu học được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: quyên góp sách vở cũ, quần áo cũ cho các bạn học sinh vùng khó khăn, Tổ chức Trung thu cho các bạn học sinh nghèo tại địa phương, Nuôi heo đất để tặng quà cho các bạn học sinh nghèo ăn Tết, Giúp đỡ người già neo đơn trong địa bàn,…

Trong quản lí HĐTN luôn đề cao các hoạt động thực tiễn mang tính tự chủ của HS, vì vậy nên tổ chức cho HS và GV cùng tham gia bàn bạc, nêu ý kiến hoặc tự HS xây dựng kế hoạch và phân chia công việc, nhiệm vụ rồi thực hiện. Tùy thuộc vào đặc trưng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi địa phương, nhà trường có thể lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả.

1.3.6. Kiểm tra, đánh giá HĐTN

Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả hoạt động không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá, mà chú trọng ở khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa. Trong HĐTN, đánh giá HS và đánh giá chương trình HĐTN là vô cùng quan trọng. Kết quả này giúp GV đánh giá đúng được năng lực của HS, từ đó có thể hỗ trợ, thúc đẩy sự tiến bộ của từng cá nhân HS. Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học. Qui trình đánh giá năng lực thông qua HĐTN:

  • Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả hoạt động

Xác định cách thức và công cụ thu thập thông tin: thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều hình thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau; thiết kế các công cụ, các tình huống đánh giá đúng kĩ thuật; tổ chức thu thập được các thông tin chính xác, trung thực. Cần bồi dưỡng cho HS những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia đánh giá và cải tiến hoàn thiện.

Phân tích và xử lí thông tin: các thông tin về năng lực thu được qua quan sát, trả lời miệng, trình diễn,… được phân tích theo nhiều mức độ với tiêu chí rõ ràng và được lưu trữ trong hồ sơ đánh giá HS.

Xác nhận kết quả: xác nhận HS đạt hay không mục tiêu từng hoạt động, cuối lớp học, cuối cấp học dựa vào các kết quả định lượng và định tính với chứng cứ cụ thể, rõ ràng; phân tích, giải thích sự tiến bộ học tập vừa căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình và kết quả đánh giá tổng kết, vừa căn cứ vào thái độ học tập và hoàn cảnh cụ thể của từng HS.

1.4. Lý luận về quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

1.4.1. Lập kế hoạch tổ chức HĐTN cho HS

Lập kế hoạch là một chức năng cơ bản của quản lí, trong đó phải xác định những vấn đề như nhận định và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình. Trong mỗi kế hoạch thường bao gồm các nội dung như xác định hình thành mục tiêu, xác định và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuối cùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra.[Đặng Quốc Bảo, 1999:333]

Khi lập kế hoạch quản lí HĐTN cho HS, người CBQL trường học cần thực hiện các nội dung sau:

  • Đánh giá được thực trạng của nhà trường liên quan đến HĐTN, làm rõ điều kiện nguồn lực đáp ứng cho HĐTN
  • Xác định mục tiêu có tính khả thi
  • Lựa chọn được những HĐTN cần tiến hành theo chủ đề của tuần, tháng, kì, năm học của từng bộ môn và cách thức tiến hành, quan tâm đến nội dung HĐTN: trải nghiệm nhận thức, trải nghiệm xã hội, trải nghiệm tình cảm, trải nghiệm mô phỏng thông qua máy tính, trò chơi,vv…

Trải nghiệm nhận thức được thiết kế theo chủ đề môn học hay liên môn

Trải nghiệm xã hội được thiết kế theo các chủ đề liên quan đến giải quyết các vấn đề xã hội: Dân số, môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, hòa nhập, bản sắc văn hóa dân tộc, đói nghèo,vv…

Trải nghiệm tình cảm được thiết kế theo các chủ đề về văn hóa, nghệ thuật đòi hỏi HS phải thể hiện xúc cảm, tình cảm của mình trước các vấn đề nêu ra Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Trải nghiệm mô phỏng được thiết kế theo các chủ đề ứng dụng công nghệ thông tin và trò chơi

  • Sắp xếp công việc theo tiến độ hợp lí, đáp ứng nguồn lực và các biện pháp để thực hiện có hiệu quả.

Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch HĐTN:

Căn cứ vào nhiệm vụ năm học và chương trình học tập các môn học, Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch HĐTN cho từng khối lớp hoặc toàn trường và chỉ đạo giáo viên tổ chức thực hiện. Kế hoạch HĐTN cần xác định rõ:

  • Tên hoạt động của từng chủ đề hay từng môn học hoặc tích hợp các môn học: lựa chọn tên mang ý nghĩa và thu hút được sự quan tâm của các đối tượng tham gia; phù hợp với nhiệm vụ của năm học và tâm lí lứa tuổi HS.
  • Mục tiêu của hoạt động: phải rõ ràng, phù hợp với mục tiêu của giáo dục, kiến thức, nhận thức, khả năng, năng lực của HS,…
  • Nội dung của HĐTN: phù hợp và có mối quan hệ với hoạt động dạy học, rèn luyện đạo đức, kĩ năng sống cho HS.
  • Năng lực của GV, HS khi triển khai thực hiện.
  • Các lực lượng tham gia: CBGV, HS trong trường có thể mời thêm các chuyên gia, cha mẹ HS, địa phương, các tổ chức có liên quan.
  • Nguồn lực tham gia: Nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính cần sử dụng, sự phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường.
  • Thời gian thực hiện: ngày, tuần, tháng, học kì.
  • Kết quả cần đạt được: sự mở rộng về nhận thức, sự phát triển về kĩ năng hành vi ở HS.
  • Các tiêu chí đánh giá kết quả HĐTN.

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch tổ chức HĐTN cho HS

Tổ chức thực hiện kế hoạch HĐTN cho HS Tiểu học có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động học tập văn hóa, rèn luyện đạo đức, kĩ năng sống cho HS trong nhà trường.

Quá trình tổ chức thực hiện bao gồm:

Hiệu trưởng thành lập Ban chỉ đạo tổ chức HĐTN do Hiệu trưởng làm trưởng ban, và đại diện các tổ chức đoàn thể, đại diện GV ở các khối lớp, các bộ môn, các tổ chức trong và ngoài nhà trường có liên quan.

  • Giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch HĐTN, thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch.
  • Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lí, huy động cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho thực hiện kế hoạch. Khi sắp xếp bố trí nhân sự, Hiệu trưởng phải biết được phẩm chất và năng lực của từng người, mặt mạnh, mặt yếu để công việc được tiến hành một cách thuận lợi và có hiệu quả.

Nhiệm vụ tổ chức thực hiện các HĐTN trong trường Tiểu học là trách nhiệm của mỗi cán bộ GV bộ môn, GV chủ nhiệm và cán bộ Đoàn – Đội. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Trong việc tổ chức thực hiện, Hiệu trưởng cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác, tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.

  • Bồi dưỡng năng lực tổ chức HĐTN cho GV nếu thấy cần thiết, huy động và phân phối các nguồn lực để tiến hành HĐTN cho HS.
  • Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để thực hiện HĐTN.

Việc giáo dục HS không chỉ có nhà trường và gia đình mà phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch tổ chức HĐTN cho HS

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch tổ chức HĐTN là sự can thiệp của Hiệu trưởng vào toàn bộ quá trình quản lí HĐTN để đảm bảo việc thực hiện trải nghiệm được diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả.

Cụ thể, việc chỉ đạo thực hiện HĐTN trong trường Tiểu học được tiến hành như sau:

  • Chỉ đạo GV xây dựng chương trình, kế hoạch HĐTN
  • Chỉ đạo GV đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN
  • Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nội dung, chương trình HĐTN
  • Chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho HĐTN
  • Chỉ đạo GV nhận xét, đánh giá kết quả HĐTN

Tóm lại, chỉ đạo HĐTN không chỉ sau khi lập kế hoạch có tổ chức thì mới có chỉ đạo mà là quá trình đan xen. Nó ảnh hưởng đến quyết định các chức năng quản lí, điều hòa, điều chỉnh các HĐTN của nhà trường trong quá trình quản lí.

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch tổ chức HDTN cho HS Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Đây là khâu cuối cùng trong chu trình quản lí của Hiệu trưởng trong công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch tổ chức HĐTN của GV, HS trong nhà trường, đồng thời mở ra một chu trình quản lí mới. Công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐTN giúp Hiệu trưởng kịp thời phát hiện và điều chỉnh những lệch lạc, sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch, từ đó đưa ra những uốn nắn, sửa chữa cần thiết. Để làm tốt công tác này Hiệu trưởng cần:

  • Xây dựng được các tiêu chí đánh giá kết quả HĐTN sát với mục đích yêu cầu của từng hoạt động, trong từng thời điểm.
  • Xây dựng lực lượng đánh giá có uy tín đối với từng hoạt động, việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trực tiếp hoặc gián tiếp để kịp thời phát hiện và điều chỉnh những lệch lạc, sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch, từ đó đưa ra những uốn nắn, sửa chữa cần thiết.
  • Sử dụng nhiều hình thức đánh giá như: sử dụng phiếu khảo sát, quan sát thực tế, trao đổi trực tiếp, hỏi ý kiến GV, HS hoặc chuyên gia.
  • Kiểm tra hoạt động học tập của HS về các nội dung HĐTN để biết được mức độ thu nhận và vận dụng kiến thức chung cũng như các kiến thức mà các em lĩnh hội được từ các HĐTN.
  • Kiểm tra hoạt động dạy học, giáo dục của GV đối với việc thực hiện mục tiêu giáo dục của các HĐTN. Đồng thời Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của GV (thông qua việc kiểm tra bài soạn của GV, dự giờ giảng của GV ở những bài học có nội dung liên quan đến HĐTN,…) để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng HĐTN trong nhà trường.
  • Kiểm tra, đánh giá về tinh thần, thái độ, ý thức tham gia HĐTN của HS và mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng hành vi của HS.
  • Sau khi kiểm tra, đánh giá phải tổ chức rút kinh nghiệm, chỉ ra những mặt đạt được và chưa được của hoạt động, qua đó công nhận những giá trị và những đóng góp của tập thể và cá nhân đối với HĐTN.

Tóm lại, quản lí HĐTN của HS ở trường Tiểu học là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra được tiến hành bởi Hiệu trưởng và CBQL trường học trong sự phối hợp và phân công rõ ràng, đặc biệt phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà trường. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học

1.5.1. Các yếu tố chủ quan

  • Thái độ và phương pháp học tập của người học

HS Tiểu học hiện nay có nhu cầu và động cơ sáng tạo khá cao, vì vậy các em cần có nhiều cơ hội trải nghiệm với sự hỗ trợ của GV và các lực lượng hỗ trợ khác. Trên lí thuyết và thực tiễn, thái độ và phương pháp học tập của HS có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng, hiệu quả quản lí HĐTN. Do đó, nhà trường và GV luôn biết quan sát và học hỏi, quan sát tinh tế và có hiệu quả; luôn rèn khả năng tư duy và tưởng tượng sáng tạo.

  • Năng lực giáo dục của người thầy

Để thực hiện tốt kĩ năng tổ chức HĐTN cho HS, GV cần có các năng lực sau:

  • Xây dựng nội dung chương trình tổ chức HĐTN cho HS phù hợp với mục tiêu chung của nhà trường và địa phương.
  • Chú trọng nâng cao ý thức và năng lực tự học, tự rèn luyện của HS trên cơ sở có hướng dẫn, chỉ đạo của GV. Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS trong quá trình tham gia HĐTN.

Tổ chức việc kiểm tra, đánh giá đảm bảo tính khách quan, đánh giá đúng theo định hướng của mục tiêu đào tạo đề ra. Chú trọng việc đánh giá trong suốt quá trình rèn luyện kĩ năng chứ không chỉ tập trung vào đánh giá kết quả cuối cùng như đối với các nội dung học tập khác.

  • Ý thức trách nhiệm và năng lực quản lí của Hiệu trưởng trong quản lí HĐTN

Yếu tố ý thức trách nhiệm và hành động lãnh đạo của người Hiệu trưởng luôn có mối quan hệ biện chứng gắn kết với nhau trong mọi hoạt động quản lí của nhà trường. Để các HĐTN có hiệu quả, trước hết người Hiệu trưởng phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của HĐTN trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nói chung và đổi mới quản lí nhà trường nói riêng. Cùng với yêu cầu nhận thức nêu trên, năng lực tự thân của người Hiệu trưởng về tự bồi dưỡng hoặc tham dự các khóa đào tạo, bồi dưỡng là yếu tố mang tính nội lực quyết định chất lượng và hiệu quả công tác quản lí.

1.5.2. Các yếu tố khách quan Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

  • Môi trường giáo dục của nhà trường:

Chương trình giáo dục Tiểu học (dự thảo) nói chung và các định hướng HĐTN của Bộ GD&ĐT ban hành mới đây chưa cụ thể với điều kiện của từng trường, từng địa phương nên khi triển khai gặp rất nhiều khó khăn.

Đội ngũ CBQL, GV chủ yếu được đào tạo về chuyên môn các lĩnh vực giảng dạy mà chưa được bồi dưỡng, rèn luyện các kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục. Mặt khác, cho đến nay, CBQL và GV nhà trường chủ yếu vẫn tập trung vào chất lượng học tập, chưa thực sự quan tâm đến HĐTN. Chính vì vậy, các HĐTN chưa có môi trường giáo dục thuận lợi, chủ yếu dựa vào sự nhiệt tình và kinh nghiệm của mỗi người khi tham gia các hoạt động đó.

Môi trường HĐTN phải là môi trường học tập sáng tạo: không nên đem sự áp đặt, bắt buộc tham gia và điểm số để tạo áp lực cho HS; các hình thức giáo dục cần thay đổi linh hoạt về không gian, người học được lựa chọn hoạt động phù hợp với sở trường, hứng thú của mình, tài liệu học tập cần phong phú; tăng cường hoạt động gắn với cộng đồng địa phương,…

  • Yếu tố môi trường gia đình và cộng đồng

Môi trường sống và tác động của gia đình là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến HĐTN và quản lí HĐTN. Nhiều gia đình hiện nay chỉ lo cho con đi học, dù là học cả ngày nhưng không muốn con tham gia các hoạt động khác dù họ cũng biết là rất cần thiết.

Để HĐTN có hiệu quả giáo dục, cha mẹ HS phải là một lực lượng tham gia giáo dục, thường xuyên nắm bắt được tình hình học tập, rèn luyện ở trường, lớp; trên cơ sở đó động viên, hỗ trợ các em tham gia các HĐTN.

Chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội cần có sự ủng hộ về vật chất và tinh thần cho hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung, các HĐTN nói riêng. Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả HĐTN, bởi công tác xã hội hóa giáo dục là một nhiệm vụ quản lí quan trọng của Hiệu trưởng.

  • Cơ sở vật chất và kinh phí thực hiện HĐTN

HĐTN thường đòi hỏi cơ sở vật chất và kinh phí nhất định. HĐTN hướng tới việc mở rộng không gian lớp học nên được tổ chức ở nhiều địa phương khác nhau. Trong nhà trường HĐTN có thể tổ chức trong lớp học, ngoài sân trường. Đội ngũ GV tham giá các hoạt động mất rất nhiều thời gian mà lại chưa có chính sách động viên.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

HĐTN là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường, là sự tiếp nối các hoạt động trên lớp, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên sản phẩm đáp ứng mục tiêu giáo dục trong thời kì hội nhập. Trước xu thế hội nhập, giáo dục phải đào tạo nên những con người mới có được những phẩm chất đáp ứng với nền kinh tế số, đẩy mạnh công nghiệp 4.0. HĐTN là con đường gắn lí thuyết với thực hành, gắn nhà trường với xã hội và gia đình, là con đường rèn luyện kĩ năng, hành vi cho HS tạo nên sự phát triển hài hòa, cân đối trong nhân cách của người học.

Quản lí HĐTN bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá thực hiện HĐTN. Để thực hiện tốt hoạt động này, Hiệu trưởng và người quản lí phải thấy được những tác động, mối quan hệ của các yếu tố ảnh hưởng như: trình độ năng lực của GV, HS trong nhà trường, sự phối kết hợp giữa các tổ chức trong và ngoài nhà trường, điều kiện kinh tế, văn hóa, sự quan tâm của các cấp để thực hiện tốt HĐTN. Luận văn: Quản lí trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học.

Việc nghiên cứu, phân tích các cơ sở lí luận có liên quan đến HĐTN, quản lí HĐTN, các điều kiện cần thiết và vai trò của người Hiệu trưởng trong việc quản lí tổ chức thực hiện HĐTN là những cơ sở lí luận cho các công việc tiếp theo để nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp quản lí HĐTN cho HS trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL trải nghiệm cho học sinh trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993