Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Thời gian qua các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã dần quan tâm và thực hiện quản lý CSVC với các nội dung xây dựng, trang bị; sử dụng; bảo quản theo các quy định của ngành giáo dục hiện hành. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn nhiều thiếu sót, vấp phải nhiều khó khăn, chưa chủ động lập kế hoạch, hạn chế về trình độ sử dụng dần dần dẫn đến hiệu quả khai thác không cao. Mục tiêu của luận văn là tìm ra các biện pháp quản lý CSVC ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, qua đó đã góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý CSVC trong nhà trường, cải thiện chất lượng giáo dục theo định hướng đổi mới hiện nay.

Luận văn đã bám sát vào cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng công tác quản lý CSVC ở các trường trong thời gian nghiên cứu để đánh giá những thành công, hạn chế của các nhà trường. Đánh giá về mặt thành công: Các trường được sự quan tâm từ nhiều phía, nhất là các cấp lãnh đạo ngành giáo dục trong tạo điều kiện cho nhà trường về nguồn quỹ đất, xây dựng các công trình kiến trúc, phòng học, phân bổ ngân sách trong mua sắm, hướng dẫn sử dụng và bảo quản CSVC phục vụ hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ đạt chất lượng. Đánh giá về mặt hạn chế: Diện tích nhà trường còn chật hẹp, áp lực quá tải về CSVC do tỷ lệ trẻ trên mỗi lớp vượt quá quy định, diện tích khuôn viên chưa đảm bảo, nhất là các khuôn viên vui chơi ngoài trời, diện tích không gian cây xanh, sân chơi, bãi tập; chưa có phòng tập đa năng. Công tác quản lý chưa được thực hiện một cách thường xuyên, chưa đáp ứng tốt yêu cầu, năng lực quản lý và sử dụng của CBQL cơ sở vật chất còn hạn chế.

Căn cứ vào những thành công và hạn chế này luận văn đã đề ra được các biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những thành công của các trường hiện nay. Qua đó giúp các trường nắm chắc được các biện pháp cần phải thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở các trường trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh hiện nay.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay là một xu thế khách quan. Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2021 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học [2]. Mọi sự đổi mới đều quan tâm đến chất lượng cuối cùng là năng lực người học, hướng đến người học.

Từ yêu cầu đổi mới giáo dục, đổi mới hoạt động quản trị và các điều kiện bảo đảm thực hiện hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục cũng được đặt ra cấp thiết. Các điều kiện bảo đảm thực hiện hoạt động giáo dục là một tập hợp các yếu tố như con người, chính sách giáo dục, môi trường giáo dục và cơ sở vật chất (CSVC) phục vụ hoạt động dạy học. Điều này cho thấy để đạt được thành công trong công tác đổi mới giáo dục thì cần phải tăng cường đổi mới quản lý ở tất cả các mặt, về các điều kiện bảo đảm thực hiện hoạt động giáo dục hay trong đó có hoạt động quản lý cơ sở vật chất của các nhà trường. CSVC trong trường học là một trong những điều kiện quan trọng góp phần bảo đảm chất lượng dạy học của các nhà trường. Đây cũng là một trong những nội dung cần được tăng cường quản lý để nâng cao hiệu quả sử dụng, mang lại lợi ích cho người học và tiện lợi cho người dạy. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Cơ sở vật chất là một trong những thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện (CSVC). Ở trường mầm non CSVC là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu được trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường, là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục và góp phần quyết định đến chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non. Cơ sở vật chất là phương tiện để tác động đến thế giới tâm hồn của trẻ, cơ sở vật chất trang thiết bị của trường mầm non có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Trong điều kiện kinh tế, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường không ngừng được đổi mới và hoàn thiện. Mặt khác việc tổ chức quản lý đối với cơ sở vật chất – kỹ thuật cũng cần được quan tâm đầy đủ. Nhưng việc quản lý không đơn thuần chỉ trong coi, giữ gìn cái gì đã có mà phải khai thác khả năng của các lực lượng ngoài xã hội đầu tư cho nhà trường nhằm từng bước hoàn thiện dần điều kiện cơ sở vật chất theo yêu cầu của công tác nuôi dạy trẻ. Tuy nhiên cơ sở vật chất vẫn chưa đáp ứng yêu cầu dạy và học cả về số lượng cũng như chất lượng. Vì vậy để đáp ứng sự thay đổi toàn diện của giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội về giáo dục thì cần phải tăng cường quản lý các thành tố hình thành nên chất lượng giáo dục trong đó có thành tố CSVC.

Cùng với sự phát triển cả nước, thị xã Dĩ An, Bình Dương hiện là địa bàn kinh kế phát triển, với trung tâm hành chính, tập trung các ngân hàng lớn, bao quanh là các khu công nghiệp (Sóng Thần, Đồng An, VSIP, Tân Đông Hiệp…), thu hút hàng chục ngàn lao động trong và ngoài khu vực, số lượng dân nhập cư đông, tạo nên khu dân cư sầm uất. Cũng chính vì thế, nhu cầu giáo dục càng tăng cao, số lượng trường học, quy mô trường lớp phát triển nhanh trong những năm gần đây từ bậc mầm non đến trung học phổ thông để đáp ứng nhu cầu cho trẻ trong độ tuổi đến trường. Với việc phát triển kinh tế mạnh mẽ đã góp phần tăng cường nhu cầu giáo dục, tạo động lực để các nhà trường, ngành giáo dục đầu tư cải thiện các điều kiện dạy – học, trong đó có CSVC trong các trường MNCL trên địa bàn.

Thời gian qua các trường mầm non công lập(MNCL) tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã thực hiện quản lý CSVC trong công tác xây dựng, trang bị; sử dụng; bảo quản CSVC theo các quy định của ngành giáo dục hiện hành. Bên cạnh đó các trường đã được Nhà nước và các cấp ban ngành lãnh đạo quan tâm đầu tư để nhà trường xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ. Qua đó đã góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý CSVC trong nhà trường, cải thiện chất lượng giáo dục theo định hướng đổi mới hiện nay.

Tuy nhiên, với nhu cầu về xây dựng, trang bị CSVC của các trường hiện nay rất lớn trong khi sự đầu tư vẫn phải dựa phần lớn vào nguồn ngân sách của nhà nước, dẫn đến CSVC của các trường đang bị lạc hậu so với yêu cầu thực tế. Điều này tác động lớn đến công tác xây dựng, trang bị, sử dụng, bảo quản CSVC trong trường còn nhiều thiếu sót, gặp nhiều khó khăn, không chủ động, hiệu quả khai thác không cao.

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý cơ sở vật chất ở các trường MNCL trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương”.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Trên cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất tại các trường MN, xác định thực trạng quản lý CSVC ở các trường MNCL thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, đề xuất biện pháp quản lý CSVC ở các trường MNCL trên địa bàn nhằm phục vụ tốt hơn công tác dạy học và chăm sóc trẻ theo yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý cơ sở vật chất ở trường mầm non công lập.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý CSVC ở các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

4. Giả thuyết nghiên cứu

Công tác quản lý CSVC tại các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được thực hiện trên cơ sở các quy định của nhà nước và ngành giáo dục theo các nội dung quản lí về xây dựng, trang bị, sử dụng, bảo quản CSVC và đã đạt được những kết quả trong hỗ trợ hoạt động dạy học và chăm sóc trẻ. Tuy nhiên công tác này còn các hạn chế và bất cập, khó khăn dẫn đến hiệu quả quản lý CSVC còn thấp. Nếu hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định thực trạng, đề xuất được các biện pháp quản lí có tính cần thiết và khả thi trong xây dựng, trang bị; sử dụng; bảo quản CSVC thì sẽ đảm bảo hiệu quả quản lý CSVC ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.
  • Đề xuất biện pháp quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lí CSVC ở các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương với các chủ thể quản lý trường MNCL.
  • Về địa bàn khảo sát: Số trường khảo sát là 10 trường MNCL hiện đang hoạt động tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Đối tượng khảo sát là tất cả các hiệu trưởng (HT), cán bộ quản lý và GV.
  • Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng quản lý CSVC trong thời gian từ tháng 9/2025 đến nay.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

7.1.1. Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc

Nghiên cứu xem xét một cách sâu sắc toàn diện, khách quan về hoạt động quản lý CSVC ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong mối quan hệ với yếu tố pháp luật, kinh tế, văn hoá – xã hội, môi trường, quản lý của nhà nước. Vì thế nghiên cứu sẽ đi xem xét hoạt động quản lý CSVC của các trường MNCL trong mới quan hệ tổng thể, xét theo các chức năng quản lý gồm Chức năng kế hoạch hoá; Chức năng tổ chức; Chức năng chỉ đạo; và chức năng kiểm tra.

7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic

Giáo dục mầm non là nền tảng đầu đời để trẻ có những kiến thức, kỹ năng cơ bản để bước vào các cấp học cao hơn. Tiếp cận quan điểm lịch sử- logic trong đề tài là xem xét và phân tích, đánh giá CSVC và quản lý CSVC ở trường MN trong điều kiện giáo dục cụ thể của đất nước và của địa phương, với những ưu điểm cần phát huy và tồn tại cần khắc phục. Nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trật tự logic.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu căn cứ vào thực trạng hoạt động quản lý CSVC ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương để đánh giá những điểm đạt được, những tồn tại. Quan điểm sẽ được vận dụng trong quá trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp để giải quyết khó khăn, tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động quản lý CSVC một cách sát thực, khả thi. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trong đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận thông qua việc nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống các văn bản pháp luật; các nghiên cứu đã được thực hiện và công bố trên các sách, báo, tạp chí của các nhà khoa học, nhà giáo dục học, các tác giả khác có liên quan đến vấn đề quản lý CSVC trong các trường MN.

7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp điều tra thông qua việc khảo sát các đối tượng liên quan đến hoạt động quản lý CSVC trong các MN công lập thị xã Dĩ An, Bình Dương. Chủ thể quản lý gồm hiệu trưởng (HT), cán bộ quản lý CSVC và giáo viên (GV) ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Cách thức chọn mẫu: Trong đề tài này tác giả sử dụng kỹ thuật lấy mẫu xác suất đối với tất cả các HT, cán bộ quản lý CSVC và GV của 10 trường MNCL hiện đang hoạt động tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Trung bình mỗi trường có trên 30 người bao gồm: HT, cán bộ quản lý CSVC và GV, vì vậy tác giả lựa chọn cỡ mẫu là 300.

Nghiên cứu sử dụng 1 bảng khảo sát để điều tra các đánh giá của đối tượng khảo sát về các vấn đề quản lý CSVC trong các trường MNCL. Bảng khảo sát định dạng ở dạng giấy và file mềm (word) trên máy vi tính tác giả sẽ thực hiện khảo sát trực tiếp hoặc gửi đến từng đối tượng khảo sát bằng như mail, fax, mạng xã hội.

  • Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Phân tích các kế hoạch, hồ sơ chuyên môn, báo cáo sơ kết, tổng kết, biên bản kiểm tra… để tìm hiểu thực trạng quản lý cơ sở vật chất trong trường mầm non MN công lập thị xã Dĩ An, Bình Dương.

  • Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn sâu CBQL, TCM và GV các trường MNCL thị xã Dĩ An, Bình Dương nhằm thu thập ý kiến, đánh giá về hoạt động quản lý CSVC; thuận lợi và khó khăn; các yếu tố ảnh hưởng và định hướng trong hoạt động quản lý CSVC của nhà trường.

  • Phương pháp quan sát Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Quan sát hoạt động quản lý xây dựng, trang bị CSVC; Quản lý sử dụng CSVC; Quản lý bảo quản CSVC của HT, cán bộ quản lý CSVC và giáo viên ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương để tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lý CSVC ở các trường.

7.2.3. Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này dùng để xử lý những số liệu thu thập được từ phương pháp điều tra bảng hỏi. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch và xử lý bằng các phần mềm hỗ trợ như Excel 2018 và phần mềm SPSS 22 trong phân tích, đánh giá về tổng các đánh giá, tỷ lệ đánh giá, trung bình…

8. Ý nghĩa khoa học của đề tài

8.1. Ý nghĩa về lý luận

Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động quản lý CSVC; chính sách pháp luật về quản lý cơ sở vật chất trong trường MN và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý CSVC ở trường MNCL – cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

8.2. Ý nghĩa về thực tiễn

Trên cơ sở lý luận về hoạt động quản lý CSVC tại trường MN, nghiên cứu đã phân tích thực trạng và đánh giá những điểm đạt được cũng như tồn tại về hoạt động quản lý CSVC ở trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương từ tháng 9/2025 đến nay, tác giả đã đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý CSVC tại các trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới mang tính khả thi. Đề tài còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với HT các trường MNCL ở địa phương.

9. Cấu trúc luận văn

Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì có 3 chương chính:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất tại trường mầm non công lập.
  • Chương 2. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3. Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất các trường mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Hầu hết các nước trên thế giới đều xem CSVC là một thành phần quan trọng trong đảm bảo chất lượng dạy học theo hướng tích cực và phù hợp với sự hiện đại hóa nội dung, phương pháp và hình thức dạy học. Tùy vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật và định hướng giáo dục của mỗi nước mà quá trình xây dựng, trang bị CSVC trong trường học được thực hiện theo hướng khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục của mỗi nước. Cụ thể CSVC bao gồm như diện tích khuôn viên, diện tích các phòng học, các công trình xây dựng, các phòng thí nghiệm, thư viện, nhà vệ sinh, khu vui chơi, thể thao…

Ở các nước phát triển về giáo dục như Đức, Ba Lan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Singapore… việc trang bị CSVC rất đầy đủ và hiện đại, học sinh ngày càng được tiếp cận với công nghệ hiện đại như học bằng các phần mềm tương tác, máy tính bảng, các phương tiện nghe nhìn trực quan. Một số trường còn sử dụng máy móc thay cho giáo viên trong công việc dạy học. Chính vì vậy yếu tố CSVC được đánh giá là một thành phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dạy học ở các cấp học, trong đó có cấp học mầm non [21]. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Khi đánh giá cơ sở giáo dục – đào tạo, tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution. ADB/ILO – Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông gồm: Triết lý; Tổ chức và quản lý; Chương trình giáo dục và đào tạo; Đội ngũ cán bộ quản lý – giáo viên; Thư viện và các nguồn lực cho dạy học; Tài chính; Khuôn viên nhà trường và CSVC; Xưởng thực hành, phòng thí nghiệm, thiết bị và vật liệu; Dịch vụ người học. Qua đó cho thấy yếu tố CSVC là một yếu tố để đánh giá chất lượng một trường học nói riêng và hệ thống giáo dục của một quốc gia nói chung.

Để phát huy hiệu quả của CSVC, mang lại lợi ích cho người học, phát triển nền giáo dục không phải chỉ cần chú trọng đến việc xây dựng, mua sắm trang thiết bị hiện đại mà cần phải quản lý CSVC một cách chặt chẽ, khoa học. Các trường học cần phải biết phối hợp, điều phối các thành tố cấu thành quá trình giáo dục như mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và CSVC mới phát huy hiệu quả của việc đầu tư vào xây dựng và trang bị CSVC từ đó giúp các trường đạt được mục tiêu giáo dục. Chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu ở quốc tế liên quan đến quản lý CSVC trường học.

Vào đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học nổi tiếng như viện sĩ người Nga XG Strumilin hay Alfred Marshall nhà kinh tế học người Anh đều cho rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển con người, là đầu tư cho xã hội và đem lại lợi nhuận “Nếu đầu tư một đồng rúp vào giáo dục thì sau 5 năm sẽ sinh lợi thành 4 rúp” (dẫn bởi Nguyễn Văn Hộ, 2001). Việc đầu tư vào giáo dục một phần trong đó là đầu tư cho CSVC và quản lý CSVC trường học [18].

Các quan điểm dạy học nổi tiếng đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó đã được một số trường ở Việt Nam vận dụng như phương pháp giáo dục hiện đại như Steiner (1978), Montessori và Reggio Emilia (Carol Garhart Mooney, Nguyễn Bảo Trung dịch, 2024) [9].

Đây là các phương pháp giáo dục thực tiễn mang tính đột phá, đã được vận dụng từ lâu ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới và thu được thành công vang dội. Mục tiêu của các phương pháp giáo dục này là tạo điều kiện tối đa để trẻ trau dồi niềm đam mê học hỏi, thông qua thực hành thường xuyên để hình thành các kỹ năng, cá nhân hóa việc học tập, trẻ là trung tâm của hoạt động dạy học và chú trọng phát triển năng khiếu toàn diện cho từng học sinh. Để vận dụng các phương pháp giáo dục này thì CSVC và quản lý CSVC hiệu quả luôn được quan tâm hàng đầu. CSVC phải đáp ứng được xu thế phát triển của giáo dục, nhu cầu học tập của học sinh và phát huy khả năng học tập của trẻ. Quá trình quản lý, sử dụng CSVC nhằm phát huy được tất cả các khả năng của học sinh, giác quan, tạo tính tương tác cao, giúp trẻ tự khám phá, phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Đây là mục tiêu hướng đến của nền giáo dục các quốc gia hiện nay.

Các nghiên cứu, phương pháp dạy học liên quan đến quản lý CSVC nêu trên dùng để đánh giá chung cho các hệ thống giáo dục bao gồm nhiều cấp học, không đánh giá riêng cho cấp MN. Tuy nhiên, qua đây có thể cũng khẳng định được tầm quan trọng của CSVC trong quá trình dạy học ở các trường học nói chung và trường MN nói riêng hiện nay. Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng CSVC và quản lý CSVC ở các trường mầm non hiện nay. Từ đó xây dựng các biện pháp quản lý CSVC nhằm gia tăng hiệu quả quản lý CSVC tại các trường mầm non trong thời gian tới.

1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Giáo dục là một lĩnh vực được rất sự quan tâm, đầu tư phát triển của Nhà nước thời gian qua. Một trong những nội dung được quan tâm đó là đầu tư hoàn thiện CSVC nhằm phục vụ và góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong các trường học. Chính vì vậy các nghiên cứu về vấn đề này hiện nay được rất nhiều tác giả đề cập đến.

Tác giả Trần Quốc Bảo với đề tài “Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho việc dạy học ở trường THPT công lập TP.HCM” đã thực hiện khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động quản lý CSVC kỹ thuật ở một số trường THPT công lập tại TP.HCM.

Qua nghiên cứu tác giả đã đánh giá được những mặt đạt được và các tồn tại để đề ra các biện pháp quản lý khắc phục những tồn tại đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC – kỹ thuật phục vụ cho việc dạy – học của các trường giai đoạn sau đó [3].

Tác giả Vương Ngọc Lê đã thực hiện đề tài “Thực trạng quản lý CSVC ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ”. Trong đề tài tác giả đã Hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác quản lý CSVC trường học; Khảo sát thực trạng công tác quản lý CSVC ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Từ đó đề xuất một số giải pháp cho công tác quản lý CSVC ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ [22].

Trần Đức Hùng với nghiên cứu “Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay” đã thực hiện nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT tỉnh Quảng Ngãi [19].

Trong nghiên cứu của Phan Văn Ngoạn (2021) với đề tài “Thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở Trường Đại học Tiền Giang” tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về CSVC và quản lý CSVC ở trường học; Khảo sát và phân tích thực trạng CSVC và công tác quản lý CSVC ở Trường Đại học Tiền Giang; Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở Trường Đại học Tiền Giang [24]. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Đỗ Hồng Sâm trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường Đại học” đã cho rằng CSVC, trang thiết bị là những vật vô tri, vô giác nhưng có thể thể hiện khả năng sư phạm của nó dưới sự điều khiển của GV, qua đó tăng tốc độ truyền đạt thông tin, lôi cuốn người học. Từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trang thiết bị tại các trường nghiên cứu một phù hợp với thực trạng [26].

Trường cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng giáo trình quản lý giáo dục có nội dung quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật ở trường phổ thông. Trong đó nêu CSVC – kỹ thuật ở trường phổ thông trong đó khẳng định vị trí – vai trò quan trọng của cơ sở vật chất – kỹ thuật trường học; trình bày nội dung quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật trong trường học. Qua đó giúp các nhà trường phổ thông thực hiện công tác quản lý CSVC – kỹ thuật một cách hiệu quả [23].

Các nghiên cứu trên là những nghiên cứu mang tính thực tiễn, vận dụng vào các đơn vị, đối tượng nghiên cứu một cách khoa học. Tuy có những sai khác về đối tượng nghiên cứu nhưng về cơ bản thì các nghiên cứu nêu trên có thể được tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu này. Qua tổng quan, cho thấy có rất ít nghiên cứu về quản lý CSVC ở trường MNCL và chưa có nghiên cứu nào thực hiện tại trường MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, điều này khẳng định sự cần thiết và tính mới của đề tài.

1.2. Khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

1.2.1. Cơ sở vật chất trường mầm non

Trường học nói chung và trường mầm non nói riêng là một hệ thống thuộc 3 thành phần gồm: Những cá nhân như trẻ, giáo viên, hiệu trưởng, cán bộ, nhân viên; Nhóm phương tiện vật chất, kỹ thuật và tài chính như ngôi trường, sách giáo khoa, đồ dùng dạy và học, hồ sơ lưu trữ, kinh phí; Nhóm các tổ chức như Ban giám hiệu, phòng hoặc ban chức năng, các tổ chuyên môn, các hội đồng, chi bộ Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội Khuyến học, hội phụ huynh học sinh…

Vậy có thể thấy CSVC trong nhà trường là một thành phần cấu thành trường học, một thành phần không thể thiếu để nhà trường thực hiện các mục tiêu dạy học, nó là một phương tiện để thực hiện những định hướng đã đề ra.

Vương Ngọc Lê cho rằng: CSVC trường học là hệ thống các phương tiện và kỹ thuật cần thiết được giáo viên và học sinh sử dụng để hoạt động dạy – học, giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra [22].

Tác giả Phan Văn Ngoạn nêu khái niệm CSVC trong trường học là hệ thống các phương tiện vật chất (đất đai, tài sản, trang thiết bị, công cụ dụng cụ… (hữu hình) và phần mềm, bản quyền sáng chế phát minh, danh tiếng, uy tín… (vô hình) của nhà trường được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục [24].

Tiếp thu về kế thừa những khái niệm trên, trong luận văn này tác giả quan niệm: Cơ sở vật chất trường mầm non là một hệ thống đối tượng vật chất hỗ trợ hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trường mầm non.

Cơ sở vật chất trường mầm non bao gồm trường sở và thiết bị dạy học nhằm phục vụ quá trình dạy học nhằm đạt các mục tiêu của nhà trường được giao hoặc hướng tới. Trường sở là nơi tiến hành các hoạt động dạy – học, bao gồm những tòa nhà sân chơi, vườn trường và quang cảnh tự nhiên bao quanh trường; Thiết bị dạy học là hệ thống đối tượng vật chất và tất cả những phương tiện kỹ thuật được giáo viên và trẻ sử dụng trong quá trình giáo dục.

1.2.2. Quản lý trường mầm non Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

  • Quản lý

Tùy theo khía cạnh nghiên cứu, mục đích nghiên cứu mà có nhiều khái niệm được đưa ra về quản lý. Viện ngôn ngữ học (2021) trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đã lột tả bản chất của thuật ngữ “quản lý” trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang sắp xếp, đưa vào thế “phát triển”[31].

Tác giả Stoner (1995) thì nêu lên quan điểm quản lý là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức”.

Tác giả Harol (1993) “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [16].

Tác giả Nguyễn Đức Trí cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”[27].

Nguyễn Phúc Châu lại cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể quản lý (những người bị quản lý) bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý” [11]

Theo Phan Văn Ngoạn thì quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục tiêu chung của hệ thống. [24]

Tiếp thu và kế thừa những quan niệm trên, trong luận văn này tác giả quan niệm: “Quản lý là quá trình tác động có chủ định, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra”.

  • Quản lý trường mầm non

Quản lý trường Mầm non là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch hợp qui của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên của nhà trường, chính họ là đối tượng trực tiếp tác động đến quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của cấp học Giáo dục mầm non [8]

1.2.3. Quản lý cơ sở vật chất trường mầm non

CSVC trường học chỉ phát huy tác dụng, góp phần thúc đẩy chất lượng giáo dục, đảm bảo mục tiêu giáo dục đề ra khi được quản lý một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện mỗi nhà trường. Không phải nhà trường có nhiều thiết bị hiện đại đều có chất lượng giáo dục tốt, việc trang bị cần phải đi đôi với khai thác, vận dụng vào hoạt động dạy học một cách hiệu quả, tiết kiệm; song song đó là công tác bảo quản, sửa chữa định kỳ để đảm bảo tình trạng tốt nhất cho trang thiết bị, trường sở. CSVC trường học vừa mang tính kinh tế giáo dục vừa mang tính khoa học giáo dục, vì vậy công tác quản lý vừa phải đảm bảo các yêu cầu chung về quản lý kinh tế và quản lý khoa học, và vừa phải tuân thủ theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục. Quản lý tốt CSVC sẽ góp phần nâng cao, thúc đẩy chất lượng dạy học, đảm bảo mục tiêu giáo dục được thực hiện, đáp ứng xu thế đổi mới theo hướng hiện đại trong lĩnh vực giáo dục hiện nay.

Từ khái niệm CSVC và quản lý trường MN, có thể đưa ra khái niệm về quản lý CSVC trường mầm non: Quản lý CSVC trường mầm mon là hệ thống tác động có định hướng của chủ thể quản lý trường mầm non (hiệu trưởng, cán bộ quản lý) đến công tác cơ sở vật chất nhằm xây dựng, sử dụng, bảo quản CSVC hỗ trợ, phát triển các mục tiêu mà nhà trường được giao hoặc hướng đến.

1.3. Cơ sở vật chất ở trường mầm non Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

1.3.1. Tầm quan trọng của cơ sở vật chất trong trường mầm non

Cơ sở vật chất trường học là một trong các yếu tố hết sức quan trọng, có tác động trực tiếp đến quá trình giáo dục, đảm bảo chất lượng dạy học, giúp các trường đạt được mục tiêu đề ra. Qua quá trình thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới và nước ta đã cho thấy đào tạo con người mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, ngày càng đa dạng nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tất yếu phải có những CSVC tương ứng.

Trong giáo dục mầm non CSVC là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ theo mục tiêu của cấp học, ngành học. Không thể chăm sóc, giáo dục trẻ theo mục tiêu của ngành học nếu không có những cơ sở vật chất tương ứng. Đôi khi CSVC cần phải đi trước một bước để dẫn dắt quá trình dạy học, phát triển các phương pháp dạy học tiên tiến và phù hợp với tình hình địa phương.

CSVC là một trong những tiền đề để đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục trẻ. Việc cho trẻ hoạt động một cách tích cực đòi hỏi các trường mầm non phải xây dựng được môi trường giáo dục phù hợp, đối với CSVC phải đáp ứng các yêu cầu về diện tích khuôn viên, diện tích phòng học, đồ dùng, đồ chơi, cũng như cách bố trí, sắp xếp, sử dụng, bảo quản chúng.

Vậy có thể thấy rằng CSVC là một yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng giáo dục tại các trường mầm non. Tuy nhiên hiệu quả của CSVC đối với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em phụ thuộc nhiều vào khả năng khai thác và sử dụng của giáo viên cũng như vào phương hướng chỉ đạo của nhà quản lý nhà trường.

Cơ sở vật chất là phương tiện của quá trình đổi mới phương pháp dạy học, vì vậy cơ sở vật chất trường học phải được xây dựng phù hợp với nội dung giáo dục, đảm bảo bền, đẹp, an toàn, sáng tạo. Đối với giáo viên thì trong quá trình sử dụng phải biết khai thác đầy đủ các chức năng đồng thời lên kế hoạch bảo quản chúng. Đối với trẻ thì cơ sở vật chất trong nhà trường giúp trẻ nắm vững kiến thức tự nhiên xã hội, khi tham gia vào hoạt động một cách tích cực góp phần phát triển tư duy, trí nhớ cho trẻ. Hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non chủ yếu là hoạt động “Chơi mà học, học mà chơi” chính vì lẽ đó khi trẻ tham gia hoạt động chơi thì trẻ cần có nơi chơi, đồ chơi thì trẻ sẽ hứng thú khám phá thế giới xung quanh. Ngoài ra khi trẻ được học tập trong phòng có đủ ánh sáng, đủ nhiệt độ ấm về mùa đông, mát mẽ về mùa hè, bàn ghế đúng quy cách, đầy đủ đồ dùng đồ chơi cho trẻ sẽ giúp trẻ tiếp thu và lĩnh hội kiến thức nhanh vì tư duy trẻ mầm non là tư duy trực quan sinh động, do đó khi giáo viên lên tiết không thể dạy mà không có đồ dùng cho trẻ. Do đó trong giờ học giờ chơi của trẻ không thể thiếu cơ sở vật chất và các trang thiết bị dạy học cho trẻ. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Môi trường tự nhiên trong trường mầm non như: Cây xanh, vườn hoa, vườn rau, bể cá, …. đều góp phần phát triển giáo dục cho trẻ khi trẻ được tham quan tìm hiểu thế giới xung quanh trẻ cây cối, hoa lá… giúp trẻ biết về môi trường xung quanh trẻ cảm nhận cái đẹp trong thiên nhiên. Chính vì vậy, Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở mầm non, không thể đảm bảo chất lượng giáo dục khi không có cơ sở vật chất và trang thiết bị phù hợp.

1.3.2. Các yếu tố cấu thành cơ sở vật chất trường mầm non

Theo Thông tư 25/2022/TT-BGDĐT của bộ GD&ĐT ban hành ngày 07 tháng 8 năm 2022 và cách phân chia CSVC đã đề cập thì có thể chia CSVC trường mầm non thành 3 thành bộ phận. Cụ thể:

  • Trường sở

Trường sở đóng vai trò là nơi diễn ra quá trình dạy – học của nhà trường và học sinh, ở chứa đựng các yếu tố, môi trường có tác dụng giáo dục trực tiếp đến học sinh, là nơi diễn ra các mối quan hệ trong hệ thống giáo dục.Vì vậy trường sở cần phải đảm bảo điều kiện để thực hiện vai trò, nhiệm vụ đó. Có thể hiểu trường sở là tổng thể gồm nhiều khối công trình, có thiết kế cấu trúc đặc trưng riêng, có các tính năng riêng biệt nhưng tựu trung là góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.

Các công trình của nhà trường như phải đảm bảo về diện tích, khuôn viên và số lượng, chất lượng và công năng các công trình, được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Trường phải có biển tên trường, khuôn viên có tường, rào bao quanh; Có nguồn nước sạch và hệ thống cống rãnh hợp vệ sinh.

Sân, vườn và khu vực cho trẻ chơi đảm bảo yêu cầu diện tích, thiết kế phù hợp với lứa tuổi trẻ mầm non, có cây xanh tạo bóng mát và vườn cây để trẻ khám phá, học tập. Khu vực trẻ chơi ngoài trời được lát gạch, láng xi măng hoặc trồng thảm cỏ và trang bị các loại đồ chơi ngoài trời.

Phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ và hiên chơi bảo đảm yêu cầu về diện tích và công năng của từng phòng. Tùy theo công năng mà các phòng được trang bị đủ đồ dùng, đồ chơi, học liệu cho trẻ hoạt động, ăn và nghỉ ngơi.

Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh theo quy định về diện tích, trang thiết bị dạy học, ăn uống một cách vệ sinh, an toàn. Nhà vệ sinh được thiết kế cho trẻ, nhà vệ sinh cho cán bộ, giáo viên, nhân viên riêng biệt bảo đảm yêu cầu và thuận tiện cho sử dụng. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Khối phòng hành chính quản trị bảo đảm yêu cầu về diện tích, trang thiết bị cho CBQL, GV làm việc và bàn ghế tiếp khách một cách thuận lợi và hiệu quả. Phòng y tế phải đủ diện tích và có các trang thiết bị y tế và đồ dùng theo dõi sức khỏe trẻ, có bảng thông báo các biện pháp tích cực can thiệp chữa bệnh và chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng, trẻ béo phì, có bảng theo dõi tiêm phòng và khám sức khỏe định kỳ cho trẻ, có tranh ảnh tuyên truyền chăm sóc sức khoẻ, phòng bệnh cho trẻ. Phòng bảo vệ, thường trực đảm bảo diện tích, có bàn ghế, đồng hồ, bảng, sổ theo dõi khách; phòng dành cho nhân viên có diện tích tối thiểu 16m2, có tủ để đồ dùng cá nhân; khu để xe cho cán bộ, giáo viên, nhân viên có đủ diện tích và có mái che.

  • Thiết bị giáo dục
  • Vai trò của thiết bị giáo dục:

Thiết bị giáo dục là một trong những điều kiện vật chất của nhà trường được sử dụng nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ dạy học trong lớp học, trong phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ; Phòng giáo dục thể chất, nghệ thuật, bếp ăn, nhà vệ sinh; và các thiết bị khác trong sân trường, vườn trường, phòng truyền thống.

Thiết bị giáo dục có vai trò giúp các nhà trường hiện thực hóa mục tiêu, nguyên lý giáo dục mà Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục đã đề ra, theo đó học phải đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường phải gắn liền với xã hội. Trong quá trình dạy học, GV sử dụng thiết bị như là công cụ lao động; HS thông qua thiết bị làm phương tiện để hiểu các khái niệm, dễ lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những kỹ năng thói quen cần thiết, bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời sống.

Thiết bị giáo dục có vai trò hết sức cần thiết cho các quá trình sư phạm vì trong đó hàm chứa rất nhiều tiềm năng tri thức, đồng thời giữ vai trò là đối tượng nhận thức. Ví dụ: Bộ dụng cụ ghép hình trong trường mầm non chứa đựng về các nguyên lý cấu tạo để ghép cho trùng khớp, kỹ thuật in ấn và nội dung giáo dục được truyền tải khi hoàn thành bộ ghép hình. Vì vậy có thể nói thiết bị giáo dục vừa là phương tiện để nhận thức vừa lại là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức.

Thiết bị giáo dục giúp nâng cao tính trực quan của dạy và học, góp phần giảm nhẹ cường độ lao động của giáo viên, giảm bới lời thuyết trình giúp trẻ dễ hiểu. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Thiết bị giáo dục là phương tiện quan trọng để rèn luyện thể chất và bước đầu hình thành nhân cách đối với trẻ.

Ngày nay với sự phát triển khoa học công nghệ, nhất là trong công nghệ máy tính thì thiết bị giáo dục trong nhà trường ngày càng nhiều đã làm thay đổi một cách căn bản về phương pháp, làm cho quá trình giáo dục sinh động và hiệu quả hơn. Giúp các nhà trường vận dụng những phương pháp giáo dục mới vào quá trình giáo dục qua đó nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng hiện đại.

  • Yêu cầu của thiết bị giáo dục:

Yêu cầu của thiết bị giáo dục trong nhà trường là phải phù hợp với yêu cầu về đổi mới nội dung và đổi mới phương pháp của chương trình giáo dục; an toàn cho người sử dụng, phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi, khả năng và đặc điểm tư duy HS; Đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm và hiệu quả kinh tế khi đầu tư.

Cần nắm rõ hệ thống phân loại thiết bị giáo dục (thiết bị, đồ chơi) của trường mầm non.

  • Thiết bị giáo dục trong trường mầm non bao gồm:

Các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ mức tối thiểu trở lên. Trong quá trình dạy học nhà trường phải sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm đảm bảo chất lượng. Đối với các trường có điều kiện mua sắm, trang bị thêm ngoài danh sách tối thiểu phải đảm bảo tính giáo dục, an toàn, phù hợp với trẻ; Hằng năm các trường phải tiến hành sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo định kỳ.

  • Thư viện trường mầm non
  • Vai trò của thư viện trong trường mầm non:

Thư viện trong trường học là một bộ phận không thể thiếu trong trường mầm non, đây là nơi không những góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên mà còn giúp trẻ có tính tự lập, tư duy, phát triển ngôn ngữ, có tính tự học.

Giáo viên có thể đọc sách cho trẻ nghe mọi lúc mọi nơi, một cuốn sách cô có thể đọc nhiều lần để rèn kỹ năng ghi nhớ cho trẻ, khi đọc cho trẻ nghe một câu chuyện hay một bài thơ giáo viên cần đưa ra câu hỏi cho trẻ trả lời. Những câu hỏi giáo viên đưa ra cần dựa vào nội dung của sách hoặc những câu hỏi dựa trên những cuốn sách sẽ giúp trẻ phát triển tư duy, ngôn ngữ và giúp trẻ yêu thích đọc sách hơn. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Bên cạnh những giờ học hát, học múa, học vẽ… nhà trường cần tăng cường hoạt động đọc sách cho trẻ nghe. Giáo viên có thể tổ chức cho trẻ đóng kịch giúp trẻ có cơ hội ghi nhớ, kích thích khả năng sáng tạo của trẻ, giúp trẻ biết cái thiện và làm các việc tốt của nhân vật.

Khi các bé có cơ hội kể lại các câu chuyện đã nghe, đóng vai nhân vật trong câu truyện sẽ giúp trẻ có cuộc sống phong phú từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện hơn. Trong câu chuyện khi giáo viên đọc cho trẻ nghe cần cho trẻ biết tính cách tốt, xấu của nhân vật từ đó giáo dục trẻ biết yêu quý.

Ngoài ra các hoạt động ngoại khóa nhà trường tổ chức ngày hội đọc sách có sự kết hợp phụ huynh cũng góp phần tích cực để hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, phát triển văn hóa đọc sách cho các bé.

Đối với các thầy giáo, cô giáo trong trường mầm non thì thư viện trường học càng có vị trí quan trọng. Vì đây là nơi lưu giữ, cung cấp, bổ sung, cập nhật kiến thức để các hoạt động giáo trẻ thêm phong phú và sinh động, giúp ích cho giáo viên nâng cao được tay nghề chuyên môn của mình góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trong nhà trường ngày càng đi lên.

  • Yêu cầu của góc thư viện trong trường mầm non:

Trẻ lứa tuổi mầm non, những hình ảnh trực quan sẽ để lại những ấn tượng sâu sắc cho trẻ, do dó trường mầm non cần tạo cho trẻ một không gian lý thú cho trẻ đọc sách đây là một việc làm rất cần thiết. Góc sách dành cho trẻ mầm non có thể được các cô thiết kế ngay trong lớp học hoặc tổ chức ngoài trời, có thể các cô tận dụng chân cầu thang, .. Sách dành cho trẻ giáo viên nên đặt ở những nơi thuận tiện cho trẻ có thể nhìn thấy để lấy và cất dễ dàng, góc đọc sách các trường mầm non nên bố trí đủ ánh sáng cho trẻ, trang trí những hình ảnh kích thích hứng thú cho trẻ để giúp trẻ yêu sách và thích đọc sách. Bổ sung đầy đủ sách cho trẻ hoạt động.

Giáo viên cần rèn cho trẻ có thói quen không được mang sách ra khỏi khu vực thư viện, không được làm rách sách, bẩn sách.

  • Thư viện trong trường mầm non bao gồm:

Hệ thống giá, kệ được sắp đặt tạo ra không gian riêng cho trẻ hoạt động.

Bổ sung các sách, truyện tranh, câu đố, thơ ca, ký tự, thẻ chữ cái,… bố trí phù hợp trẻ được sắp xếp sau khi đọc xong và thay đổi linh hoạt tạo hứng thú cho trẻ.

Đủ các tài liệu cho giáo viên có thể tra khảo, nghiên cứu tài liệu để nâng cao trình độ chuyên môn.

Vậy CSVC trường mầm non là một hệ thống bao gồm trường sở và thiết bị dạy học, thư viện phù hợp với lứa tuổi mầm non, nhằm đạt được mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [5],[7],[8].

1.3.3. Yêu cầu về cơ sở vật chất trường mầm non Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

  • Yêu cầu quy mô trường, lớp

Theo điều lệ trường mầm non thì quy mô trường lớp phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn của địa phương. Số trẻ trong mỗi nhóm được quy định trong điều 13. Cụ thể như sau:

Đối với nhóm trẻ từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi được tổ chức thành các nhóm trẻ. Số trẻ tối đa trong một nhóm trẻ được quy định như sau:

  • Nhóm trẻ từ 3 đến 12 tháng tuổi: 15 trẻ;
  • Nhóm trẻ từ 13 đến 24 tháng tuổi: 20 trẻ;
  • Nhóm trẻ từ 25 đến 36 tháng tuổi: 25 trẻ.

Đối với lớp mẫu giáo: Trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi được tổ chức thành các lớp mẫu giáo. Số trẻ tối đa trong một lớp mẫu giáo được quy định như sau:

  • Lớp mẫu giáo 3 – 4 tuổi: 25 trẻ;
  • Lớp mẫu giáo 4 – 5 tuổi: 30 trẻ;
  • Lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi: 35 trẻ.

Nếu số lượng trẻ em trong mỗi nhóm, lớp không đủ 50% so với số trẻ tối đa được quy định thì được tổ chức thành nhóm trẻ ghép hoặc lớp mẫu giáo ghép;

Khi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có một trẻ khuyết tật học hòa nhập thì sĩ số của lớp được giảm 5 trẻ. Mỗi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo không quá 2 trẻ cùng một loại tật. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Mỗi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có đủ số lượng giáo viên theo quy định hiện hành.

Nếu nhóm, lớp có từ 2 giáo viên trở lên thì phải có 1 giáo viên phụ trách chính.

Nhà trường có thể bố trí nhiều điểm trường để để thuận tiện cho trẻ đến trường, hiệu phó sẽ đảm nhiệm phụ trách lớp phụ trách điểm trường và Mỗi trường, mỗi nhà trẻ không có quá 7 điểm trường [8].

  • Yêu cầu địa điểm, diện tích và khuôn viên trường mầm non

Theo quy định tại điều 27, Điều lệ trường mầm non (Bộ GD&ĐT, 2023) thì các trường mầm non phải được đặt tại khu dân cư phù hợp quy hoạch chung, thuận lợi cho trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ; đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường.

Độ dài đường đi của trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ: đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, khu tái định cư, khu vực ngoại thành, nông thôn không quá 1 km; đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn không quá 2km.

Diện tích khu đất xây dựng nhà trường, nhà trẻ gồm: diện tích xây dựng; diện tích sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi. Diện tích sử dụng đất bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ đối với khu vực đồng bằng, trung du; 8m2 cho một trẻ đối với khu vực thành phố, thị xã và núi cao.

Đối với nơi khó khăn về đất đai, có thể thay thế diện tích sử dụng đất bằng diện tích sàn xây dựng và bảo đảm đủ diện tích theo quy định, Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm lập đề án báo cáo việc sử dụng diện tích thay thế và phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

Khuôn viên của nhà trường, nhà trẻ có tường bao ngăn cách với bên ngoài bằng gạch, gỗ, tre, kim loại hoặc cây xanh cắt tỉa làm hàng rào, cổng chính của nhà trường, nhà trẻ có biển tên nhà trường. Biển tên nhà trường mầm non được thiết kế gồm:

  • Góc trên bên trái ghi: Uỷ ban nhân dân xã/ phường, thị trấn và tên riêng của xã phường, thị trấn đó;
  • Ở giữa ghi: Lớp mẫu giáo, nhóm trẻ và tên riêng của lớp mẫu giáo, nhóm trẻ;Không ghi loại hình lớp mẫu giáo, nhóm trẻ công lập, dân lập hay tư thục.
  • Cuối cùng ghi: Địa chỉ, số điện thoại, số quyết định thành lập hoặc số giấy phép thành lập của lớp mẫu giáo, nhóm trẻ.

Yêu cầu về cơ cấu khối công trình

Cũng tại điều 27, Điều lệ trường mầm non thì Cơ cấu khối công trình tại các trường mầm non cần phải đạt được những yêu cầu sau:

Yêu cầu chung: Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

  • Các công trình phải đảm bảo đúng quy cách về tiêu chuẩn thiết kế và các quy định về vệ sinh trường học hiện hành.
  • Bố trí công trình cần đảm bảo độc lập giữa khối nhóm trẻ, lớp mẫu giáo với khối phục vụ; Đảm bảo an toàn và yêu cầu giáo dục với từng độ tuổi; Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố và hệ thống phòng cháy chữa cháy.
  • Đảm bảo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tiếp cận sử dụng.

Khối phòng nhóm trẻ, lớp mẫu giáo

Số phòng của các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo được xây dựng tương ứng số nhóm, lớp theo các độ tuổi của nhà trường, nhà trẻ, đảm bảo mỗi nhóm, lớp có phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em riêng.

Phòng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em gồm: Phòng sinh hoạt chung; Phòng ngủ; Phòng vệ sinh; Hiên chơi.

  1. Khối phòng phục vụ học tập: phòng giáo dục thể chất, phòng giáo dục nghệ thuật hoặc phòng đa chức năng.
  2. Khối phòng tổ chức ăn: khu vực nhà bếp và
  3. Khối phòng hành chính quản trị gồm:

Văn phòng trường: Gồm có các công trình phòng hiệu trưởng; Phòng phó hiệu trưởng; Phòng hành chính quản trị; Phòng Y tế; Phòng bảo vệ; Phòng dành cho nhân viên; Khu vệ sinh cho giáo viên, cán bộ, nhân viên; Khu để xe cho giáo viên, cán bộ, nhân viên.

Yêu cầu về sân vườn gồm: sân chơi của nhóm, lớp; sân chơi chung; sân chơi – cây xanh.

  • Yêu cầu về phòng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Phòng sinh hoạt chung: Đảm bảo 1,5 – 1,8m2 cho một trẻ; đủ ánh sáng tự nhiên và thoáng; nền nhà láng xi măng, lát gạch màu sáng hoặc gỗ. Được phép sử dụng phòng sinh hoạt chung làm nơi ăn, ngủ cho trẻ mẫu giáo. Phòng sinh hoạt chung có các thiết bị như Bàn, ghế của trẻ đúng quy cách và đủ cho số trẻ trong lớp; Bàn, ghế, bảng cho giáo viên; Hệ thống tủ, kệ, giá đựng đồ chơi, đồ dùng, tài liệu; Hệ thống đèn, hệ thống quạt.

Phòng ngủ: Đảm bảo 1,2 – 1,5m2 cho một trẻ; đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Phòng ngủ bao gồm các thiết bị như: Giường, phản, chiếu, đệm, chăn, gối, màn, quạt tùy theo khí hậu từng miền; Hệ thống tủ, kệ, giá đựng các đồ dùng phục vụ trẻ em ngủ. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Phòng vệ sinh: Đảm bảo 0,4 – 0,6m2 cho một trẻ; đối với trẻ mẫu giáo có chỗ riêng cho trẻ em trai, trẻ em gái. Phòng vệ sinh được xây dựng liền kề với phòng sinh hoạt chung, thuận tiện cho sử dụng và dễ quan sát. Phòng vệ sinh có các thiết bị như: Đối với trẻ nhà trẻ: vòi nước rửa tay; ghế ngồi bô; có thể bố trí máng tiểu, bệ xí cho trẻ 24 – 36 tháng; vòi tắm; bể có nắp đậy hoặc bồn chứa nước. Đối với trẻ mẫu giáo: vòi nước rửa tay; chỗ đi tiểu và bệ xí cho trẻ em trai và trẻ em gái; vòi tắm; bể có nắp đậy hoặc bồn chứa nước.

Hiên chơi: Đảm bảo 0,5 – 0,7m2 cho một trẻ, chiều rộng không dưới 2,1m; có lan can bao quanh cao 0,8-1m, sử dụng các thanh đứng với khoảng cách giữa hai thanh không lớn hơn 0,1m.

  • Yêu cầu về nhà bếp

Đảm bảo 0,3 – 0,35m2 cho một trẻ. Gồm có khu sơ chế, khu chế biến, khu nấu ăn, khu chia thức ăn; được thiết kế và tổ chức theo dây chuyền hoạt động một chiều. Nhà bếp có các thiết bị sau như: Có đầy đủ đồ dùng phục vụ trẻ em ăn bán trú tại trường; Có dụng cụ chế biến thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm; Có tủ lạnh để lưu mẫu thực phẩm của trẻ em ăn bán trú; Có đủ nước sử dụng, chất lượng nước phải được cơ quan Y tế kiểm định; Đảm bảo việc xử lí các chất thải đúng quy định; Đảm bảo yêu cầu phòng chống cháy nổ.

  • Yêu cầu về thiết bị, đồ dùng đồ chơi, tài liệu

Theo quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non, trường phổ thông thì thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập ở tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc, họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống nhằm bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

Nhà trường, nhà trẻ phải có đủ thiết bị, đồ chơi, đồ dùng cá nhân, tài liệu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sử dụng có hiệu quả trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.

Nhà trường, nhà trẻ sử dụng các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, tài liệu ngoài danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành phải đảm bảo tính giáo dục, an toàn, phù hợp với trẻ em mầm non.

Nhà trường, nhà trẻ phải có kế hoạch bảo quản, sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, tài liệu.

  • Yêu cầu về góc thư viện trong trường mầm non

Xây dựng thư viện trong trường mầm non hiện nay đang bắt đầu được chú ý, diện tích không cần lớn, giáo viên có thể tận dụng khoảng lớp để làm góc thư viện cho trẻ. Hệ thống kệ để sách cho trẻ các cô có thể tận dụng nguyên vật liệu bỏ đi để chế tạo thành kệ đựng sách cho trẻ sao cho phù hợp, trong tầm tay, tầm mắt trẻ, sao cho trẻ dễ quan sát, dễ lấy cất, hệ thống sách phù hợp độ tuổi trẻ, đa dạng sinh động để lôi cuốn trẻ. Để từ đó giúp trẻ tích cực khám phá, sử dụng, hình thành thói quen đọc sách, đây là nền tảng để giúp trẻ trở thành người độc lập từ đó trở thành người học tập suốt đời.

1.4. Quản lý cơ sở vật chất trường mầm non Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

1.4.1. Phân cấp quản lý cơ sở vật chất trường mầm non

Cơ sở vật chất trong trường mầm non là điều kiện hết sức quan trọng để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ, chính vì thế CSVC phục vụ cho yêu cầu chăm sóc gáo dục trẻ phải phù hợp đặc điểm lứa tuổi trẻ và từng bước đáp ứng yêu cầu quy định. Mục tiêu cần đạt được của công tác quản lý cơ sở vật chất trong trường mầm non là: Tổ chức xây dựng hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng các yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ; Tổ chức sử dụng CSVC, thiết bị dạy học vào quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ; Tổ chức bảo quản hệ thống CSVC, thiết bị.

Để đạt được 3 mục tiêu trên, Hiệu trưởng phải có những hiểu biết cần thiết về công tác xây dựng CSVC nhà trường và phải xây dựng được cơ cấu quản lý hợp lý trong nhà trường.

Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chung thông qua các Hiệu phó giúp việc, lập kế hoạch về xây dựng, trang bị và sử dụng, bảo quản hệ thống CSVC kỹ thuật trong phạm vi toàn trường, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá.

Nhiệm vụ của các Phó hiệu trưởng là giúp Hiệu trưởng lập kế hoạch xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh, sửa chữa hệ thống CSVC, thiết bị thuộc bộ phận mình phụ trách theo từng học kỳ và từng năm học. Tổ chức triển khai kế hoạch do Hiệu trưởng đề ra, kiểm tra đôn đốc việc sử dụng và bảo quản của cán bộ, giáo viên.

Khi lập kế hoạch, Hiệu trưởng cần chú ý đến tính hiện thực của nó. Phải tính đến hoàn cảnh thực tế của nhà trường và địa phương. Khả năng khai thác tiềm năng của cán bộ, giáo viên, khả năng đóng góp của phụ huynh và ngân sách của chính quyền địa phương dành cho GDMN. Người Hiệu trưởng phải đưa ra kế hoạch lâu dài và kế hoạch ngắn hạn theo từng học kỳ, từng năm học. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Giáo viên: Để nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC kỹ thuật trường học. Hiệu trưởng cần có nhiều biện pháp kết hợp biện pháp hành chính kết hợp biện pháp động viên thi đua. Yêu cầu GV đưa việc sử dụng phương tiện dạy học vào kế hoạch chuyên môn của mình trong từng học kỳ.Từng học kỳ tổ chức hội giảng sử dụng phương tiện dạy học. Thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và cách sử dụng các phương tiện dạy học cho giáo viên thông qua nhiều hình thức. Xây dựng những quy định sử dụng CSVC kỹ thuật trường học, yêu cầu phải người phải thực hiện, xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm tổn hại đến CSVC của nhà trường. Có sổ sách theo dõi tài sản tình trạng các phương tiện thiết bị còn, mất, hỏng, tình hình sử dụng. Thực hiện kiểm kê tài sản có ghi biên bản cụ thể rõ ràng theo định kỳ. Giáo dục tinh thần có ý thức trách nhiệm và ý thức tiết kiệm trong CB,GV,CNV.

1.4.2. Nội dung quản lý cơ sở vật chất

  • Quản lý xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Như đã đề cập ở trên thì nội dung quản lý xây dựng, trang bị cơ sở vật chất cũng có đầy đủ các chức năng gồm kế hoạch hóa xây dựng, trang bị; tổ chức trong hoạt động xây dựng, trang bị; chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch xây dựng, trang bị; kiểm tra đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong xây dựng, trang bị CSVC tại nhà trường. Cụ thể:

  • Lập kế hoạch xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Trong công tác kế hoạch hóa xây dựng, trang bị CSVC các nhà quản lý phải thực hiện việc lập kế hoạch hiện trạng và phát triển CSVC; kế hoạch mua sắm, trang bị, tiếp nhận trang thiết bị; kế hoạch phân phối trang thiết bị trong từng giai đoạn, và đến từng đối tượng sử dụng. Khi lập kế hoạch các trường phải đánh giá, xem xét tính hiện thực; hoàn cảnh của nhà trường, hoàn cảnh của địa phương; khả năng khai thác tiềm năng của đội ngũ và của phụ huynh học sinh; và ngân sách của địa phương có thể chi cho công tác giáo dục theo giai đoạn của kế hoạch.

Để xây dựng kế hoạch phù hợp nhà trường bên cạnh việc tuân thủ theo những văn bản của Nhà nước quy định như Điều lệ trường mầm non hiện hành (Bộ GD&ĐT, 2023), Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia hành (Bộ GD&ĐT, 2022), thì nhà trường cũng nên thu thập ý kiến, trao đổi với CBQL, GV trong quá trình lập kế hoạch xây dựng, trang bị CSVC. Từ đó giúp nâng cao tính phù hợp ngay từ khâu lập kế hoạch hóa xây dựng, trang bị CSVC trong nhà trường.

Các bước thực hiện lập kế hoạch hóa xây dựng, trang bị CSVC:

  • Bước 1: Đánh giá hiện trạng trường sở, trang thiết bị. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Nhà trường tiến hành điều tra các dữ liệu từ quy hoạch của địa phương, quy hoạch của ngành giáo dục, số liệu từ phòng giáo dục, từ nhà trường để đánh giá về hiện trạng trường sở, trang thiết bị. So sánh các quy định về danh mục thiết bị giáo dục, cấp chuẩn trường đạt được hoặc hướng đến để đánh giá mức độ đáp ứng của trường sở, trang thiết bị hiện có của nhà trường. Qua đó xác định các danh mục trường sở cần xây dựng và trang thiết bị cần mua sắm, trang bị.

  • Bước 2: Xác định nguồn kinh phí.

Nhà trường xác định nguồn kinh phí có được từ các nguồn khác nhau như Nhà nước cung cấp, vốn tự có, vốn viện trợ, các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp theo từng năm học và cho từng chu kỳ 3 – 5 năm.

  • Bước 3: Lập kế hoạch xây dựng, trang bị cơ sở vật chất.

Với việc xác định được nguồn kinh phí chính xác theo từng thời kỳ sẽ giúp nhà trường lập được kế hoạch xây dựng trường sở và mua sắm trang thiết bị. Trong kế hoạch được lập cần xác định rõ mốc thời gian cho những công việc cần hoàn thành.

Để nâng cao hiệu quả quản lý thì ngay từ giai đoạn lập kế hoạch nhà trường cũng phải xây dựng những quy định, quy chế, quy trình quản lý, sử dụng, sửa chữa và bảo quản CSVC trong nhà trường, hướng dẫn thực hiện các đối với CB, GV trong nhà trường nhằm thực hiện đúng mục tiêu đề ra.

  • Tổ chức xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Trong công tác tổ chức xây dựng, trang bị CSVC thì các nhà quản lý cần sẽ tổ chức bộ máy, phân công trách nhiệm trong xây dựng, trang bị CSVC. Mỗi trường sẽ bố trí bộ phận CSVC – trang thiết bị chuyên trách hoặc kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm về công tác quản lý cơ sở vật chất của nhà trường.

Đầu mỗi năm học bộ phận CSVC – trang thiết bị tổ chức thông báo và quán triệt cho GV về kế hoạch xây dựng, trang bị cơ sở vật chất để mỗi các thành viên trong nhà trường thấy rõ trách nhiệm của mình.

Theo kế hoạch, nhà trường sẽ phân công, giao nhiệm vụ cụ thể rõ ràng, phù hợp với quy mô của nhà trường, phù hợp với khả năng, trình độ của người chịu trách nhiệm.Người phụ trách công tác thiết bị giáo dục phải đạt các tiêu chuẩn, nhiệm vụ và hưởng các chế độ theo quy định. Nếu cần thiết, nhà trường sẽ thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV phụ trách xây dựng, trang bị CSVC nếu họ không đáp ứng yêu cầu thực hiện. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Ngoài ra các nhà trường có thể tự tổ chức phong trào tự làm thiết bị giáo dục qua đó giúp nhà trường giảm được nguồn chi, tạo nên những thiết bị có tính ứng dụng trong thực tế đối với các nhà trường, giúp nhà trường nâng cao hiệu quả công tác tổ chức xây dựng, trang bị CSVC.

  • Chỉ đạo xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Trong công tác chỉ đạo xây dựng, trang bị CSVC các nhà quản lý sẽ thông tin đến tập thể về hướng xây dựng, trang bị CSVC. Thu thập ý kiến, trao đổi với CBQL, GV trong quá trình xây dựng, trang bị CSVC. Xây dựng và thực hiện chế độ động viên khen thưởng, khuyến khích các đóng góp trong xây dựng, trang bị CSVC đối với các thành viên trong và ngoài nhà trường, cán bộ giáo viên tham gia tự làm thiết bị giáo dục.

  • Kiểm tra xây dựng, trang bị cơ sở vật chất

Trong công tác kiểm tra xây dựng, trang bị CSVC nhà trường cần tiến hành đánh giá chất lượng và hiệu quả trong xây dựng, trang bị CSVC; Tổ chức kiểm tra tình trạng CSVC, các hạn mục mua sắm, tiếp nhận trang thiết bị theo định kỳ, theo kế hoạch, xác định chất lượng, lắp đặt và cho vận hành thử;

Tiến hành so sánh kết quả đạt được so với kế hoạch đề ra trong các giai đoạn. Khi phát hiện các sai sót trong quá trình thực hiện nhà trường cần thực hiện các điều chỉnh, thay đổi bổ sung, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xây dựng, trang bị CSVC.

  • Quản lý sử dụng cơ sở vật chất

Quản lý sử dụng cơ sở vật chất cũng bao gồm 4 chức năng quản lý. Cụ thể:

Trong công tác lập kế hoạch sử dụng CSVC các nhà quản lý cần phải thiết lập kế hoạch chi tiết sử dụng CSVC; Quá trình này cần phải căn cứ vào các sổ sách thống kê số lượng, chất lượng CSVC hiện có từ đó nhà trường sẽ có kế hoạch phân bổ cho các cá nhân, đơn vị. Nhà trường có kế hoạch sử dụng, thời gian, sử dụng thử để biết tình trạng của thiết bị giáo dục, các phương án dự phòng hoặc thay thế. Để đảm bảo cơ sở thực hiện có hiệu quả nhà trường cần ban hành nội quy sử dụng và chế độ thưởng phạt trong sử dụng CSVC, căn cứ vào đó để giao trách nhiệm từng cá nhân, tập thể trong sử dụng CSVC có vai trò, nhiệm vụ trong quá trình sử dụng. Nhà trường cũng phải thiết lập các cơ chế phối hợp trong sử dụng CSVC giữa các bộ phận, phòng ban và cá nhân khi có nhu cầu. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Trong công tác tổ chức sử dụng CSVC các trường cần phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng, nội quy sử dụng CSVC đã được thiết lập. nhà trường xem xét đánh giá việc sử dụng có đúng mục đích? Có đúng quy trình kỹ thuật không? Đúng phương pháp không? Đảm bảo an toàn khi sử dụng và các biện pháp xử lý khi có tình huống xảy ra không? Số tiết học có sử dụng so với kế hoạch đã đề ra. Trong quá trình sử dụng nếu không đảm bảo được hiệu quả sử dụng thì nhà trường cần thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV trong sử dụng CSVC nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, khai thác CSVC của nhà trường trong hoạt động dạy học.

Trong công tác chỉ đạo về sử dụng CSVC, để đảm bảo hiệu quả hoạt động sử dụng CSVC nhà trường cần thực hiện thông tin đến CBQL, GV tình hình CSVC để nắm bắt tình hình CSVC và trang thiết bị hiện tại; kế hoạch đầu tư mua sắm, trang bị của nhà trường để CBQL, GV lên kế hoạch sử dụng trong quá trình dạy học. Trong quá trình sử dụng nhà trường sẽ tạo cơ chế khuyến khích, khen thưởng khi CBQL, GV sử dụng hiệu quả CSVC và phát huy tinh thần làm chủ của CBQL, GV trong sử dụng và bảo quản CSVC. Nhà trường cũng cần đưa công tác sử dụng CSVC thành quy chế đánh giá CBQL, GV từ đó có sự ràng buộc trách nhiệm của CBQL, GV trong quá trình sử dụng CSVC nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng CSVC, trang thiết bị trong trường MNCL.

Trong công tác kiểm tra sử dụng CSVC, trang thiết bị nhà trường cần tiến hành công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng CSVC một cách thường xuyên theo định kỳ, theo chuyên đề hay đột xuất theo thực tế yêu cầu tại trường. Để làm được điều này nhà trường căn cứ vào các quy định hiện hành, nội quy quản lý trong đó có các định mức, tiêu chí về sử dụng CSVC đã được nhà trường xây dựng để đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng CSVC. Dựa vào kết quả kiểm tra nhà trường sẽ có các biện pháp điều chỉnh, thay đổi hoặc bổ sung phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC trong nhà trường.

  • Quản lý bảo quản cơ sở vật chất

Trong công tác lập kế hoạch bảo quản CSVC. Trước hết nhà trường cần chỉ đạo lập hồ sơ thống kê số lượng, tình trạng bảo quản đối với từng trang thiết bị, công trình hiện có tại trường. Từ đó nhà trường thiết lập kế hoạch chi tiết bảo quản CSVC đối với từng công trình, thiết bị, thời gian, kinh phí, người chịu trách nhiệm. Để tạo cơ sở cho công tác lập kế hoạch nhà trường cần xây dựng và ban hành nội quy, chế độ thưởng phạt trong bảo quản CSVC. Đây chính là cơ sở để nhà trường thực hiện công tác bảo quản CSVC trong nhà trường một cách hiệu quả.

Trong công tác tổ chức bảo quản CSVC nhà trường cần thiết lập các quy định về quyền hạn, trách nhiệm trong bảo quản CSVC đến từng đối tượng sử dụng. Từ đó xác định rõ người chịu trách nhiệm trong bảo quản từng trang thiết bị, công trình, nhất là bộ phận chuyên trách (nếu có) của nhà trường. Nhà trường cũng cần tổ chức bộ phận chuyên trách trong bảo vệ CSVC như bộ phận CSVC, thiết bị nhà trường, tổ bảo vệ, bộ phận kho vào biên chế nhà trường. Cần đưa vào chế độ kiểm kê, sửa chữa định kỳ hoặc đột xuất khi cần thiết đối với tất cả các CSVC trong nhà trường bao gồm cả các công trình và trang thiết bị.

Nhà trường cũng phải xây dựng cơ chế phối hợp trong bảo quản CSVC giữa các thành viên trong trường. Nhà trường cũng phải thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CBQL, GV trong bảo quản CSVC bằng nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả bảo quản, sửa chữa các công trình và trang thiết bị. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Trong công tác chỉ đạo bảo quản CSVC nhà trường tiến hành thông tin đến CBQL, GV các quy định về bảo quản CSVC; Tạo cơ chế khuyến khích, khen thưởng đối với CBQL, GV có thành tích trong bảo quản CSVC; phổ biến và phát huy tinh thần làm chủ của CBQL, GV trong sử dụng, giữ gìn và bảo quản CSVC. Nhà trường cũng đưa công tác bảo quản CSVC thành quy chế đánh giá CBQL, GV, những hành vi phá hoại, gây hư hỏng nghiêm trọng, cố tình sẽ bị xem xét kiểm điểm để răn đe trước nhà trường.

Trong công tác kiểm tra bảo quản. Cũng giống như hoạt động xây dựng, trang bị và sử dụng CSVC, trong kiểm tra bảo quản CSVC nhà trường cần kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả bảo quản CSVC một cách thường xuyên theo định kỳ, theo chuyên đề hay đột xuất tùy yêu cầu thực tế tại trường. Căn cứ kiểm tra là dựa trên các quy định, nội quy đã xây dựng và ban hành về công tác quản lý CSVC tại trường. Nhà trường tổ chức kiểm tra việc tuân thủ các hướng dẫn bảo quản đã ban hành đối với CBQL, GV, bộ phận CSVC – trang thiết bị nhà trường và các đơn vị, cá nhân có liên quan trong quá trình sử dụng CSVC phục vụ dạy học; Đánh giá hiệu quả công tác bảo quản CSVC và thực hiện điều chỉnh, thay đổi bổ sung hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả bảo quản CSVC nếu cần thiết.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cơ sở vật chất trường mầm non

1.5.1. Yếu tố khách quan

  • Cơ sở pháp lý về quản lý cơ sở vật chất trường học

Cơ sở vật chất ngày càng được sự quan tâm của các cấp quản lý. Trong chỉ thị Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2021 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, […] trong đó có điều kiện bảo đảm thực hiện… CSVC là một trong những điều kiện bảo đảm thực hiện đề cập trong chỉ thị trên. Điều này cho thấy Đảng ta đã thực sự quan tâm đến hoạt động giáo dục nói chung và vấn đề quản lý CSVC trong các nhà trường nói riêng. Từ đó toàn Đảng, toàn dân ta có cơ sở để đánh giá, xem xét đúng vị trí của CSVC trong nhà trường.

Trong Điều 58, Luật giáo dục (2005) nêu một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường là “Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa”. Điều này cho thấy ngành giáo dục đã và đang định hướng theo hướng hiện đại hóa, chuẩn hóa, phù hợp với xu thế hội nhập. Một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu này là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với mục tiêu. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Với định hướng trên, thời gian qua tất cả các cấp, ban, ngành liên quan đều thể hiện sự quan tâm trong công tác giáo dục của đất nước. Tùy vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà các cấp ban ngành tạo điều kiện tốt nhất để các trường mầm non xây dựng, trang bị CSVC; hướng dẫn sử dụng và bảo quản trang thiết bị. Điều này đã giúp các trường mầm non ngày càng được hoàn thiện trong công tác quản lý CSVC tại trường. Điều này cũng được thể hiện qua các văn bản, quyết định, quy định… của từng cấp liên quan đến hoạt động quản lý CSVC trong nhà trường như: Điều lệ trường mầm non; Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non; Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.

Việc các cơ sở pháp lý về quản lý CSVC trong các trường mầm non công lập ngày càng được hoàn thiện đã giúp tạo cơ sở vững chắc để các trường thực hiện hoạt động xây dựng, mua sắm; sử dụng và bảo quản CSVC.

  • Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Để việc đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả thì cần phải tiến hành đổi mới CSVC, nhất là các trang thiết bị hiện đại phù hợp với phương pháp dạy học. Các thiết bị như máy tính, phần mềm mang tính tương tác, hệ thống loa, amly, màn hình… để thiết lập bài dạy, cách thức dạy học trong nhà trường, truyền tải nội dung dạy học giữa thầy với trò, giữa trò với nội dung bài học. Điều này đòi hỏi nhà trường phải thay đổi cách thức xây dựng, đầu tư mua sắm trang thiết bị, hướng dẫn sử dụng và thực hiện các hình thức bảo quản phù hợp.

  • Mức độ đầu tư vào giáo dục của địa phương

Tình hình kinh tế mỗi địa phương có mức độ phát triển khác nhau, vì vậy mức độ đầu tư vào giáo dục cũng khác nhau. Một trong những nội dung được quan tâm đầu tư vào giáo dục của địa phương là CSVC ở các nội dung xây dựng trường sở, mua sắm trang thiết bị, sử dụng và bảo quản. Điều này tác động đến hoạt động quản lý CSVC của mỗi nhà trường, các trường phải điều chỉnh hoạt động quản lý sao cho phù hợp với địa phương để đảm bảo khai thác hiệu quả CSVC được đầu tư, trang bị nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho hoạt động học tập của học sinh.

Đối với các công trình ở các nơi dân cư đông đúc, các thành phố lớn thì quỹ đất dành cho giáo dục nói chung có phần hạn chế và khó điều chỉnh. Chính vì thế việc xây dựng thêm các công trình, các phòng chức năng với yêu cầu mở rộng diện tích, nhất là diện tích các khu vui chơi, thể dục thể thao, hoạt động ngoài trời đòi hỏi phải có kế hoạch lâu dài và được sự quan tâm từ các cấp quản lý, điều này tác động đến sự chủ động của các nhà trường trong hoạt động quản lý CSVC khi có nhu cầu mở rộng nhà trường, đáp ứng nhu cầu tăng thêm của số lượng học sinh và chất lượng cần nâng cao của giáo dục đáp ứng các tiêu chí, chuẩn mực mà nhà trường đã đặt ra. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

Vấn đề kinh phí xây dựng trường sở; kinh phí mua sắm, trang thiết bị dạy học trong nhà trường cũng là một khó khăn bởi các trường mầm non công lập không được chủ động trong hoạt động xây dựng mà cần có sự đồng ý của các cấp quản lý. Trong khi đó nguồn kinh phí cho CSVC chủ yếu lấy từ ngân sách nhà nước, vì thế các hoạt động phát sinh chi phí đều phải có một thời gian trể, trải qua nhiều cấp ban ngành trong xét duyệt các thủ tục xây dựng, chi, tiêu, mua sắm và thanh lý. Chính vì thế ảnh hưởng đến công tác quản lý CSVC của các nhà trường.

  • Yếu tố chất lượng các công trình, trang thiết bị

Trong một số hoạt động xây dựng mua sắm, trang bị công tác giám sát, kiểm tra của các nhà trường chưa tốt dẫn đến chất lượng một số hạng mục công trình không đảm bảo, nhanh chóng xuống cấp; các trang thiết bị mua sắm không phù hợp, không được có được các chính sách bảo hành, đào tạo sử dụng tốt từ nhà cung cấp dẫn đến nhanh chóng hư hỏng mà không được sửa chữa, không phát huy hiệu quả đầu tư, sử dụng. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động sửa chữa, bảo quản, phát sinh các chi phí dẫn đến hoạt động quản lý CSVC không hiệu quả.

  • Yếu tố nhu cầu của xã hội

Hiện nay với sự phát triển về kinh tế Việt Nam nói chung thì xã hội ngày càng có sự quan tâm đến hoạt động giáo dục, các bậc phụ huynh luôn mong muốn cho con em mình được học tập trong những ngôi trường đạt chuẩn, được xây dựng khang trang, vững trãi, được trang bị đầy đủ các thiết bị dạy học hiện đại, có không gian vui chơi giải trí cho trẻ… Chính vì thế các tầng lớp xã hội sẵn sàng chung tay góp sức với các trường trong hoạt động quản lý CSVC bằng các nguồn lực có thể nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho con em. Đây là cơ hội và cũng là thách thức đối với nhà trường trong hoạt động quản lý CSVC, nhất là trong hoạt động xã hội hóa CSVC trong các trường học.

1.5.2. Yếu tố chủ quan

  • Mục tiêu, phương pháp dạy học mà nhà trường sử dụng

Hiện nay ở cấp mầm non có rất nhiều phương pháp dạy học, mục tiêu của mỗi nhà trường trong hoạt động dạy học cũng khác nhau, chính vì thế CSVC của mỗi trường cũng phải đáp ứng được mục tiêu, phương pháp dạy học mà nhà trường áp dụng. Điều này tác động đến hoạt động quản lý CSVC của nhà trường như trong xây dựng hệ thống cơ sở vật chất; sử dụng và bảo quản hệ thống cơ sở vật chất.

  • Ý thức giữ gìn cơ sở vật chất của giáo viên, học sinh

Hiện nay tại các trường học nói chung và trường mầm non nói riêng còn một bộ phận GV, CBQL, học sinh chưa ý thức giữ gìn CSVC trong quá trình sử dụng, bảo quản. Việc đề xuất mua sắm, trang bị không phù hợp với nhu cầu thực tế, gây lãng phí trong hoạt động đầu tư mua sắm của nhà trường. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

  • Khả năng sử dụng, bảo quản của giáo viên

GV là người trực tiếp sử dụng các trang thiết bị để phục vụ hoạt động dạy học trong lớp học. Chính vì vậy nếu khả năng sử dụng, bảo quản của GV không tốt sẽ có thể gây ra các hỏng hóc, hư hại cho trang thiết bị. Chính vì vậy khả năng sử dụng, bảo quản của GVảnh hưởng lớn đến hoạt động quản lý CSVC của nhà trường.

  • Trình độ quản lý của hiệu trưởng, cán bộ quản lý

Trình độ quản lý của hiệu trưởng, CBQL trong các trường mầm non công lập ngày càng được chuẩn hóa, được đào tạo bài bản nhằm đảm bảo hoạt động quản lý CSVC một cách hiệu quả. Với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì các trường mầm non cũng phải thay đổi biện pháp quản lý CSVC nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự thay đổi phương pháp dạy học như tăng cường CSVC đáp ứng phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường tính tương tác giữa học sinh và bài học thông qua các thiết bị dạy học… Điều này giúp các trường tăng cường hiệu quả quản lý CSVC đáp ứng tốt mục tiêu dạy học của các trường MNCL trong xu thế phát triển của giáo dục nước nhà.

Hoạt động kiểm tra, giám sát trong mua sắm, sử dụng và bảo quản CSVC. Công tác kiểm tra trong quá trình sử dụng và bảo quản CSVC của các trường còn mang tính hình thức, chưa phát huy được vai trò tự chủ của cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Công tác duy tu, bảo dưỡng các công trình, các trang thiết bị dạy học chưa được quan tâm đúng mức, chỉ khi nào có dấu hiệu hư hỏng, xuống cấp thì các trường mới đề xuất sửa chữa, bảo dưỡng, điều này dẫn đến một số hạng mục công trình, trang thiết bị có những hư hỏng nhanh chóng và khó sửa chữa, ảnh hưởng đến chất lượng công trình và trang thiết bị dạy học.

Tiểu kết Chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất trong nhà trường phổ thông nói chung, trường mầm non nói riêng, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất: Quản lý CSVC là một thành phần, một bộ phận của quản lý trường học. quản lý CSVC bao gồm ba nội dung cơ bản là quản lý xây dựng, trang bị CSVC; quản lý sử dụng CSVC và quản lý bảo quản CSVC.

Thứ hai: Trong quá trình quản lý CSVC các trường mầm non công lập có nhiều yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CSVC, các yếu tố này tác động tạo nên môi trường bên ngoài mà tất cả các trường học đều bị ảnh hưởng. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý CSVC xuất phát từ vấn đề nội tại của các trường học, các yếu tố này mỗi trường sẽ có sự khác nhau, vì thế sự tác động đến hoạt động quản lý CSVC cũng khác nhau.

Thứ ba: Các yếu tố khách quan hay chủ quan đều có thể là yếu tố thuận lợi hay bất lợi cho nhà trường trong quản lý CSVC. Vì vậy các lãnh đạo nhà trường cần phải đánh giá đúng thực trạng quản lý CSVC của từng trường học, xác định được những yếu tố thuận lợi và bất lợi, mức độ tác động của chúng. Để nâng cao hiệu quả quản lý CSVC, các trường MNCL cần phải vận dụng, phát huy các yếu tố thuận lợi, loại bỏ các yếu tố bất lợi nhằm giúp nhà trường đạt được các mục tiêu quản lý CSVC nói riêng và mục tiêu giáo dục nói chung. Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL cơ sở vật chất các trường MN công lập

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý cơ sở vật chất ở các trường mầm non công lập […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993