Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Trung học phổ thông tại Huyện Bắc Tân Uyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Đề tài nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm ở một số trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác chủ nhiệm ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên. Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu, đó là phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được những quả sau:

Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm ở các trường phổ thông. Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi nghiên cứu công tác chủ nhiệm trên cơ sở các nội dung bao gồm: Mục đích công tác chủ nhiệm, chức năng, nhiệm vụ của GVCN; Nội dung công tác chủ nhiệm; Phương pháp công tác chủ nhiệm; nghiên cứu quản lý công tác chủ nhiệm theo hướng tiếp cận chức năng quản lý bao gồm:

Đối với chức năng lập kế hoạch: HT chưa thực hiện tốt việc lập một số kế hoạch như: kế hoạch sửa chữa, thay thế, bổ sung trang thiết bị CNTT; kế hoạch phối hợp với CMHS trong việc sử dụng phiếu liên lạc điện tử.

Đối với chức năng tổ chức: HT chưa thực hiện tốt: tổ chức thực hiện nâng cao nhận thức của GVCN về công tác chủ nhiệm lớp; phân công phân nhiệm rõ ràng cho các các nhân, bộ phận phụ trách công tác QL công tác chủ nhiệm lớp.

Đối với chức năng lãnh đạo, chỉ đạo: HT chưa thực hiện tốt việc chỉ đạo công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trình độ công tác chủ nhiệm lớp; chỉ đạo thực hiện nội dung, phương pháp công tác chủ nhiệm lớp; chỉ đạo tổ chức hội thi GVCN và ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, phối hợp CMHS.

Đối với chức năng kiểm tra đánh giá: HT chưa thực hiện tốt hoạt động xây dựng bộ tiêu chí đánh giá việc xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp; kiểm tra, dự giờ các tiết sinh hoạt chủ nhiệm, buổi hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp của GVCN.

Từ nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng công tác chủ nhiệm và quản lý công tác chủ nhiệm ở một số trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, đề tài đã đề xuất 4 nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác chủ nhiệm, đó là:

Nhóm biện pháp cải tiến hoạt động lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp: Lập kế hoạch sửa chữa, thay thế, bổ sung trang thiết bị CNTT; Lập kế hoạch phối hợp với CMHS trong việc sử dụng phiếu liên lạc điện tử.

Nhóm biện pháp cải tiến hoạt động tổ chức thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp: Tổ chức thực hiện nâng cao nhận thức của GVCN về công tác chủ nhiệm lớp; Phân công, phân nhiệm rõ ràng cho các cá nhân, bộ phận phụ trách công tác QL công tác chủ nhiệm lớp. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Nhóm biện pháp cải tiến hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo công tác chủ nhiệm lớp: Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trình độ công tác chủ nhiệm lớp; Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nội dung, phương pháp công tác chủ nhiệm lớp; Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hội thi GVCN giỏi và ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, phối hợp CMHS.

Nhóm biện pháp cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá trong QL công tác chủ nhiệm lớp: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá việc xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp; Kiểm tra, dự giờ tiết sinh hoạt chủ nhiệm, buổi hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp của GVCN.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam đang trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật hiện đại đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu. Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, thì giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng. Chính vì thế Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập Quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.”[9]

Nhiệm vụ của giáo dục ở đây không chỉ giáo dục về trí tuệ mà còn phải giáo dục toàn diện học sinh. Điều 27, luật giáo dục 2018 đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[25] Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Để hoàn thành mục tiêu đó thì vai trò của CTCN lớp trong nhà trường có vị trí đặc biệt quan trọng. Bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI được xác định là “Học để biết; Học để làm; Học để tự khẳng định; Học để chung sống với mọi người” được xem là một cách tiếp cận kĩ năng sống đối với những nội dung cần giáo dục cho HS [4]. Nếu GVCN có thể xác định từng nội dung giáo dục theo tiếp cận bốn trụ cột này thì hiệu quả giáo dục sẽ đảm bảo. Bởi vì GVCN là người tổ chức, quản lý trực tiếp và sâu sát nhất về mọi mặt với HS, giáo dục đạo đức, lối sống, phát triển nhân cách, tư vấn hướng nghiệp cho HS. Đồng thời là “cầu nối” giữa CMHS với nhà trường góp phần thực hiện tốt mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

CTCN lớp có vị trí và vai trò quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện của nhà trường nói chung và các trường THPT nói riêng. Học sinh THPT có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi, đây là giai đoạn phát triển tâm lý đầy biến động, cần sự giáo dục, định hướng nhân cách, nghề nghiệp đúng đắn. Lứa tuổi này dành phần lớn thời gian cho hoạt động học tập, do đó quá trình giáo dục học sinh lứa tuổi này trong nhà trường đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách học sinh. Thêm vào đó, với xu thế toàn cầu hóa, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang trên đà phát triển mạnh mẽ đã mang lại nhiều yếu tố tích cực, có tác dụng định hướng và tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển nhân cách HS. HS có cơ hội tìm hiểu, tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới, theo kịp với xu thế hiện đại. Nhận thấy rằng học sinh ngày nay nhanh nhẹn hơn, thông minh hơn, linh hoạt và mạnh dạn hơn. Vì thế CTCN lớp phải có sự đổi mới về phương pháp, kỹ năng, ứng dụng công nghệ thông tin để phù hợp xu thế.

CTCN lớp ở trường THPT có vai trò giáo dục đặc biệt quan trọng, tuy nhiên hiện nay hiệu quả giáo dục của công tác này vẫn chưa được phát huy mạnh mẽ do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vì thế hiệu quả CTCN lớp hiện nay chủ yếu dừng lại ở việc quản lý quá trình học tập và kỉ luật học sinh, vai trò giáo dục của công tác vẫn chưa được thể hiện rõ nét, chưa đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn. Các tệ nạn xã hội đặc biệt là tệ nạn về ma túy, những yếu tố độc hại từ sách, báo, phim ảnh… thật sự có hại cho sự hình thành và phát triển nhân cách của HS. Chính vì thế một số bộ phận không nhỏ HS ngày nay có thói quen hưởng thụ, lười lao động và học tập, chỉ thích lên facebook, chơi game, sống ảo.

Trong những năm qua công tác quản lý chủ nhiệm lớp của HT các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã có nhiều cố gắng và đi vào nề nếp, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu hoạt động QL CTCN lớp chưa thật sự được chú trọng, còn mang tính hình thức, chủ yếu là hồ sơ, sổ sách, chưa ứng dụng CNTT vào QL CTCN lớp, dẫn đến hồ sơ sổ sách GVCN khá nặng nề dẫn đến việc GVCN không có nhiều thời gian quan tâm đến lớp chủ nhiệm, đạo đức của học sinh xuống cấp ngày càng nhiều, thiếu trách nhiệm trong học tập, ngỗ nghịch, lười học, ham chơi… Mặt khác, do áp lực thi cử ngày càng đè nặng lên tâm lý của giáo viên, học sinh và CBQL, nên họ chỉ tập trung vào hoạt động dạy và học trên lớp; CTCN lớp cũng chưa được các CBQL thực sự quan tâm. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần QL hiệu quả CTCN lớp ở các trường THPT.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi nhận thấy rằng hoạt động quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT mang tính cấp thiết và lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Trung học phổ thông tại Huyện Bắc Tân Uyên”.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QL CTCN lớp ở trường THPT, đánh giá thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

4. Giả thuyết khoa học

Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương hiện nay đã được quan tâm và thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả giáo dục chưa cao, còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Nếu đánh giá được đúng thực trạng và đề xuất một số biện pháp hợp lý thì sẽ đảm bảo tính cần thiết và khả thi trong quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường
  • Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.
  • Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương. Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất.

6. Giới hạn đề tài Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

  • Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quản lý công tác chủ nhiệm lớp dưới sự điều hành quản lý, lãnh đạo của HT trường
  • Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 2024 –
  • Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại 3 trường THPT công lập thuộc huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương là trường THPT Lê Lợi, trường THPT Tân Bình, trường THPT Thường Tân

7. Phương pháp luận nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

  • Tiếp cận hệ thống – cấu trúc

Tiếp cận theo quan điểm hệ thống – cấu trúc trong nghiên cứu đề tài này là xem xét CTCN lớp ở trường THPT là một công tác giáo dục trong nhà trường, phân tích nội dung, phương pháp và các điều kiện ảnh hưởng đến hiệu quả CTCN lớp. Các lý luận về CTCN lớp là cơ sở cho việc nghiên cứu hoạt động QL CTCN lớp ở trường THPT. Phân tích nội dung QL, chức năng QL và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QL CTCN lớp ở trường THPT.

  • Tiếp cận thực tiễn

Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu đề tài này là thông qua khảo sát thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương, từ đó đánh giá được ưu điểm, hạn chế, thuận lợi và khó khăn trong QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

  • Tiếp cận lịch sử – logic

Tiếp cận theo quan điểm lịch sử – logic trong nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu quá trình phát triển của hoạt động QL CTCN lớp ở trường THPT trong thời gian, không gian và các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; giúp tiếp cận và trình bày nội dung nghiên cứu hợp lý và theo trình tự logic.

7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận trong các tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận về QL CTCN lớp ở trường THPT.

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương; khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả QL bằng việc sử dụng Phiếu hỏi. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Bảng hỏi thứ nhất khảo sát thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở trường THPT dành cho giáo viên chủ nhiệm.

Bảng hỏi thứ hai khảo sát thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở trường THPT dành cho CBQL.

Bảng hỏi thứ ba khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL CTCN lớp ở trường THPT dành cho CBQL và GVCN.

  • Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương bằng việc sử dụng Phiếu Phỏng vấn.

Đối tượng phỏng vấn: Ban giám hiệu, tổ trưởng tổ chủ nhiệm, GVCN

Nội dung phỏng vấn: Tìm hiểu thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng CTCN lớp và thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

Đối tượng: Kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hồ sơ HS, biên bản họp phụ huynh, biên bản làm việc với CMHS.

  • Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp xử lý số liệu toán học thông qua việc sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 20 để xử lý số liệu. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng các đại lượng thống kê gồm:

Thống kê mô tả: Bảng phân bố tần số; tỉ lệ phần trăm; trị trung bình; số trung vị; mode; độ lệch chuẩn; biểu đồ nhận định về thực trạng CTCN lớp ở các trường THPT, cũng như thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên.

Kiểm định: Kiểm định trị trung bình (T – test) để đánh giá sự khác biệt về mặt ý nghĩa của hai hay nhiều đối tượng về một đại lượng nghiên cứu.

8. Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông
  • Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Trung học phổ thông tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Trung học phổ thông tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu đề tài

1.1.1. Ở nước ngoài Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy giáo dục chưa có trường lớp chuyên biệt. Đến chế độ chiếm hữu nô lệ, giáo dục đã có trường học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo lớp được hình thành từ thế kỷ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc Commenxke đề xướng. Để QL lớp học, nhà trường cử ra một trong những GV giảng dạy làm chủ nhiệm lớp. GVCN được HT lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín với HS, được Hội đồng giáo dục nhất trí phân công chủ nhiệm các lớp học để thực hiện mục tiêu giáo dục.[15, tr.5]

Đối tượng của giáo dục trong nhà trường là những con người đang trong quá trình phát triển: sinh động, sống động, biến đổi hàng ngày. Một nhà sư phạm nổi tiếng của nước ngoài đã nói rằng: điều quan trọng nhất đối với nhà giáo là phải “hiểu người rồi mới dạy người”[34]. Nhà giáo dục nổi tiếng V.A. Xukhômlinxki cũng đã từng nói: “muốn giáo dục con người về mọi mặt thì trước tiên cần phải hiểu con người về mọi mặt như thế”[31]. Điều đó cũng có nghĩa rằng, muốn tác động đến người học có hiệu quả, nhất định phải hiểu được tâm lí người học, do đó, những tri thức cơ bản về đặc điểm phát triển tâm lí học sinh là thực sự cần thiết đối với tất cả các nhà giáo dục, từ nhà quản lí đến người làm chương trình, người trực tiếp giảng dạy, giáo dục học sinh.

Nhà sư phạm A.X. Makarenco cho rằng: “Tập thể là một cơ thể xã hội sinh động thể hiện sức mạnh tổng hợp của các thành viên của nó. Sức mạnh của các thành viên một khi đã được liên kết lại một cách có mục đích, có tổ chức thì sẽ tạo ra sức mạnh chung của tập thể mạnh gấp nhiều lần tổng số sức mạnh của các thành viên riêng lẻ, đồng thời có tác dụng làm tăng lên sức mạnh của từng thành viên.” [1].

1.1.2. Ở trong nước

CTCN lớp có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách cho học sinh. Cho nên các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung giáo dục cho học sinh trung học mà có liên quan đến CTCN lớp như: giáo dục kỹ năng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục hướng nghiệp…

Việc nghiên cứu về CTCN lớp còn ít đề tài công trình nghiên cứu. Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, hướng nghiên cứu này cũng được đề cập đến trong một số công trình như:

Lí luận giáo dục” của nhóm tác giả Phan Thanh Long, Trần Quang Cấn, Nguyễn Văn Diện đã đưa ra những chức năng cơ bản của giáo viên chủ nhiệm, những nội dung CTCN, một số phương pháp giáo dục học sinh. Để làm được CTCN lớp yếu tố quan trọng nhất đó là năng lực của người GVCN.[19] Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT” của Hà Nhật Thăng (chủ biên), đã trình bày những cách thức thực hiện CTCN lớp ở các trường phổ thông.[28]

Nhóm tác giả Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ đã giới thiệu những nội dung cơ bản về CTCN lớp trong tác phẩm “Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông”.[27]

Trong tác phẩm: “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” của Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, các tác giả đã đề cập đến yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến giao tiếp giữa GV và HS cũng như quá trình GD và hình thành nhân cách HS, hình thành tập thể HS.[22]

Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp” của trường cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu tương đối đầy đủ các kỹ năng giải quyết vấn đề thuộc CTCN lớp.

Luận văn thạc sỹ năm 2018 “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT tỉnh Thái Nguyên”, của tác giả Trần Thị Thúy đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm và QL của HT đối với đội ngũ GVCN, hoạt động CTCN lớp. Qua nghiên cứu thực trạng tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp QL CTCN lớp của các trường THPT tỉnh Thái Nguyên.[29]

  • Ngoài ra, có thể tìm thấy hướng nghiên cứu đề tài này trên một số bài báo, tạp chí như:

Phạm Minh Hùng (2018) trong bài viết “Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay” đã đề cập đến giáo dục học sinh qua tập thể và bằng tập thể, một nguyên tắc giáo dục quan trọng mà người khởi xướng là nhà giáo dục nổi tiếng A.S Macarenco, nhằm nâng cao năng lực cho GVCN.[14]

Nguyễn Dục Quang (2018) trong bài viết “Bàn về năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” đã đề cập đến vấn đề cơ bản của CTCN lớp, những nội dung trong CTCN lớp ở trường phổ thông từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Tác giả đã đưa ra một số nội dung cơ bản cho CTCN lớp, đề cao vai trò của người GVCN trong giáo dục học sinh, và những nội dung cần thiết đòi hỏi người GVCN tự bồi dưỡng và được bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục.[23].

Nhiều tác giả đã nghiên cứu về công tác GVCN lớp nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do yêu cầu thực tế của công tác QL giáo dục, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp tại các trường THPT ở địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để đề ra những biện pháp QL hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của một huyện vùng sâu vùng xa.

1.2. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

1.2.1. Khái niệm quản lý; quản lý giáo dục; quản lý nhà trường

1.2.1.1. Quản lý

Trong lĩnh vực QL, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về khoa học QL nói chung và QL giáo dục nói riêng, điển hình như:

Theo Đại từ điển tiếng việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan”[35]

Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” [17]

Tác giả Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2014) cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.[13]

Như vậy, những định nghĩa trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về các góc độ tiếp cận nhưng đều thống nhất ở điểm chung: QL là quá trình tác động có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra.

1.2.1.2. Quản lý giáo dục

QL giáo dục là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu giáo dục đã định Theo tác giả Trần Kiểm thì khái niệm “Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.

Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.[18]

Đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”.[18]

QL giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành giáo dục – đào tạo mà là sự nghiệp chung của cả xã hội.

1.2.1.3. Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Trường học là tế bào của hệ thống giáo dục các cấp từ Trung ương đến địa phương, là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp QL giáo dục, đồng thời nó cũng là một hệ thống độc lập, tự quản của xã hội. Bởi vậy mọi hành động của QL giáo dục cấp trên đều phải hướng về trường học. Có thể nói QL giáo dục suy cho đến cùng là QL trường học.

Theo Phạm Minh Hạc (1986): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[10].

Theo Phạm Viết Vượng (2012): “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[32]

Nguyễn Ngọc Quang (1989) cho rằng QL nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [24].

Như vậy, QL nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định, đó là nhà trường (đơn vị giáo dục). QL nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó QL nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.

1.2.2. Khái niệm giáo viên trường trung học; giáo viên chủ nhiệm lớp

1.2.2.1. Giáo viên trường trung học

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương. Ví dụ, giáo viên toán, giáo viên chủ nhiệm [20, tr.380] Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Theo Từ điển Giáo dục học, giáo viên là chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề và trường mầm non, đã tốt nghiệp các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, đại học hoặc sư phạm mẫu giáo. Giáo viên là người truyền thụ toàn bộ các kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình bộ môn của bậc học, cấp học, ngoài ra còn có trách nhiệm phụ đạo cho học sinh kém và bồi dưỡng học sinh giỏi, có năng khiếu. Người giáo viên không những chỉ dạy tốt các kiến thức chuyên môn mà còn phải chú ý “dạy người”, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức để học sinh của mình phát triển nhân cách toàn diện [11, tr.169].

Theo Wikipedia (Việt Nam) thì Giáo viên là người giảng dạy, giáo dục cho học viên, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh giá chất lượng từng học trò [36]

Theo Điều 30, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học thì “GV trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: HT, Phó HT, GV bộ môn, GV làm hoạt động Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lí thanh niên, cố vấn Đoàn), GV làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), GV làm hoạt động tư vấn cho HS” [6].

  • Nhiệm vụ của giáo viên trung học.

Nhiệm vụ của GV trung học được quy định tại Điều 31, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học [6]. Theo đó, GV thực hiện nhiệm vụ ứng dụng CNTT trong HĐD được thể hiện thông qua các quy định về nhiệm vụ như: GV thực hiện dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của GV do Bộ trưởng Bộ GD – ĐT quy định; GV thực hiện rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của HS; GV thực hiện quyết định của HT, chịu sự kiểm tra, đánh giá của HT và các cấp quản lí giáo dục.

  • Quyền hạn của giáo viên trung học.

Quyền hạn của GV trung học được quy định tại Điều 32, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học [6]. Theo đó, GV thực hiện việc ứng dụng CNTT trong HĐD với các quyền hạn được thể hiện thông qua các quy định như: GV được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục HS; GV được cử tham gia các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

1.2.2.2. Giáo viên chủ nhiệm lớp Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Theo Từ điển Giáo dục học: Giáo viên chủ nhiệm là nhà giáo được giao trách nhiệm tổ chức, quản lý, giáo dục một lớp học sinh ngoài những giờ lên lớp của các giáo viên bộ môn trong các trường trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Chế độ chủ nhiệm lớp cũng còn được thực hiện ở một số trường cao đẳng và đại học sư phạm.

Nội dung công việc chủ yếu của giáo viên chủ nhiệm bao gồm:

  • Theo dõi tinh thần học tập rèn luyện của học sinh, tình hình diễn biến tư tưởng, kỷ luật và kết quả học tập để có biện pháp giáo dục thích hợp.
  • Kết hợp với giáo viên bộ môn nắm chắc diễn biến về kết quả học tập của học sinh trong từng môn học để phối hợp với giáo viên bộ môn giúp học sinh học tập tốt.
  • Tổ chức các hoạt động ngoài giờ học, phối hợp với Đoàn, Đội xây dựng tập thể học sinh tiên tiến.
  • Phối hợp với gia đình tiến hành bồi dưỡng học sinh năng khiếu, giáo dục học sinh cá biệt.
  • Tổ chức tham gia lao động sản xuất và giáo dục hướng nghiệp [11, 170]

Theo Đại từ điển tiếng việt: “Giáo viên là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương”, “Chủ nhiệm là người đứng đầu và chịu trách nhiệm chính một số tổ chức”[35]. Thuật ngữ “giáo viên chủ nhiệm” là một từ ghép được hình thành từ hai từ “giáo viên” và “chủ nhiệm”. Như vậy có thể hiểu rằng: giáo viên chủ nhiệm là một trong những người dạy học của lớp, là người QL và chịu trách nhiệm chính về lớp đó.

1.2.3. Trường Trung học phổ thông

Theo Điều 30, luật Giáo dục [25] Cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm:

  1. Trường tiểu học;
  2. Trường trung học cơ sở;
  3. Trường trung học phổ thông;
  4. Trường phổ thông có nhiều cấp học;
  5. Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp.

Theo Từ điển Giáo dục học, Trường Trung học phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông tiếp nối cấp trung học cơ sở và kết thúc bậc trung học, gồm ba lớp 10, 11, 12. Hiện tại có 2 loại trường THPT: phan ban và không phân ban. Sau khi hoàn chỉnh kế hoạch và chương trình giáo dục, trường THPT sẽ chỉ còn một loại là trung học phân ban. Trường THPT được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường. Trường THPT do chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập, sát nhập, chia, tách, giải thể. Học sinh học hết chương trình THPT thi tốt nghiệp đạt yêu cầu thì được giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp bằng tốt nghiệp THPT [11, tr.446].

Theo Điều 10, Điều lệ trường trung học [6] Thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; cho phép hoạt động giáo dục. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập đối với các trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là THPT. Giám đốc sở giáo dục và đào tạo quyết định cho phép hoạt động giáo dục đối với trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là THPT.

Trường phổ thông được lập tại các địa phương trên cả nước. Người đứng đầu một ngôi trường được gọi là “Hiệu trưởng“. Trường được sự QL trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), tức là Trường Trung học phổ thông ngang với Phòng Giáo dục quận huyện. Quy chế hoạt động do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.[37]

1.2.4. Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Theo tác giả Phạm Viết Vượng (2016): “Trong nhà trường, đơn vị tổ chức cơ bản để giảng dạy và học tập là lớp học. Để quản lý trực tiếp một lớp học nhà trường cử ra những giáo viên giỏi, giàu nhiệt tình để làm chủ nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện một lớp học”.[33]

Theo tác giả Trần Thị Hương (2017) cho rằng: “Giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông nói chung và trường THPT có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục của nhà trường. Họ là người thay mặt hiệu trưởng quản lý, giáo dục toàn diện học sinh một lớp học, là cố vấn cho các hoạt động tập thể học sinh, người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường”[16]

Theo Nguyễn Thanh Bình (2019) thì Giáo viên chủ nhiệm được hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm CTCN lớp, còn nói CTCN lớp là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm.”[8]

Như vậy có nhiều định nghĩa về GVCN, nhưng cùng có ý chung đó là GVCN là người thay mặt hiệu trưởng quản lý, giáo dục toàn diện học sinh một lớp học.

1.3. Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT

1.3.1. Vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT

GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và CMHS quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện HS lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp.

Với tư cách là người đại diện cho tập thể các nhà sư phạm, GVCN có trách nhiệm truyền đạt tới HS của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường tới tập thể và từng HS của lớp chủ nhiệm. Đồng thời, GVCN có khả năng biến những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của mỗi HS.

Mỗi GVCN còn là một thành viên tham mưu của Hội đồng sư phạm có trách nhiệm, phản ánh đầy đủ thông tin về lớp chủ nhiệm cũng như từng thành viên trong tập thể lớp, đề xuất các giải pháp giáo dục HS, giúp cán bộ QL, lãnh đạo nhà trường đưa ra các định hướng, giải pháp QL, giáo dục HS hiệu quả. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn bộ mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản là cán bộ lớp, cán bộ Đoàn và tính tự giác của mọi HS trong lớp.

GVCN còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng HS của lớp phản ánh với HT, với các tổ chức trong nhà trường và với các GV bộ môn. GVCN với tư cách là đại diện cho lớp còn có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi mọi mặt HS của lớp.

Như vậy, GVCN là cầu nối giữa HT, giữa các tổ chức trong nhà trường, giữa các GV bộ môn với tập thể HS. Nói một cách khác, GVCN là người đại diện hai phía, một mặt đại diện cho Hội đồng sư phạm, mặt khác lại đại diện cho tập thể HS trong quá trình thực hiện CTCN lớp.

  • GVCN giữ vai trò là người cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn ở trường THPT

GVCN có thể tư vấn cho đội ngũ này về việc lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của từng tổ chức, đồng thời kết hợp với các hoạt động giáo dục trong kế hoạch của lớp sẽ đem lại hiệu quả cao.

  • Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường, GVCN là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách HS và là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội

GVCN vừa đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển, giáo dục HS vừa phải tổ chức phối hợp với các lực lượng xã hội có liên quan nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của lớp chủ nhiệm, giáo dục HS hiệu quả.

GVCN cũng là người triển khai những yêu cầu giáo dục của nhà trường đến với gia đình, cha mẹ HS, đồng thời cũng là người tiếp nhận các thông tin phản hồi từ HS, gia đình HS, các dư luận xã hội về HS trở lại với nhà trường để giúp lãnh đạo nhà trường có giải pháp QL, phối hợp hiệu quả; đồng thời tạo mối liên hệ thông tin đa chiều giữa nhà trường – gia đình HS – xã hội.[15, tr.5]

1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Theo tác giả Nguyễn Việt Hùng và Hà Thế Truyền (2019) đã đưa ra chức năng của GVCN lớp bao gồm:

Thu thập xử lý thông tin đa dạng về lớp chủ nhiệm để xây dựng hồ sơ HS và lập kế hoạch phát triển tập thể.

Với chức năng quản lí, GVCN phải biết lập kế hoạch năm học và các kế hoạch giáo dục ngắn hạn khác để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, các chủ trương, nhiệm vụ nhà trường giao cho. Đây là nhiệm vụ trung tâm của GV chủ nhiệm lớp nhằm tổ chức có hiệu quả các hoạt động GD học sinh lớp chủ nhiệm.

Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Đây là chức năng đặc trưng và cũng là yêu cầu đối với GVCN mà các giáo viên bộ môn không thể thay thế. Để giáo dục và phát triển toàn diện từng HS, GVCN tất yếu phải xây dựng và phát triển tập thể lớp. Tập thể phát triển là tập thể ở giai đoạn có tính tự quản cao, có dư luận tập thể lành mạnh, các mối quan hệ trong tập thể gắn bó và mang tính nhân văn. Tập thể phát triển cũng đồng thời là môi trường học tập thân thiện, chứa đựng văn hóa của mình. Đó chính là văn hóa học đường. Môi trường học tập thân thiện là môi trường mà HS được quan tâm mọi mặt, được đảm bảo an toàn, môi trường học tập chất lượng tốt,giúp HS phát huy hết tiềm năng…

Tổ chức các hoạt động giáo dục và các hình thức giao lưu đa dạng. Đây là một nhiệm vụ cơ bản của GVCN. Thông qua tổ chức các loại hình hoạt động phong phú, đa dạng để giáo dục hành vi, thói quen ứng xử văn hóa cho HS về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, lao động…đồng thời, qua đó phát triển tập thể lớp và từng HS.

Phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp. Sự bất hòa và những xung đột nảy sinh là điều khó tránh trong các mối quan hệ giữa các thành viên của tập thể. Thực tiễn bạo lực học sinh trong nhà trường hiện nay đang làm mọi người đều bức xúc và để lại hậu quả nặng nề về tâm lí, tinh thần học sinh. Do đó GVCN cần lưu tâm ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn có thể trong tập thể lớp chủ nhiệm. Một tập thể phát triển có văn hóa tổ chức, là môi trường học tập thân thiện thì mâu thuẫn sẽ được giải quyết trên nền của sự thiện chí, tôn trọng, thừa nhận lẫn nhau .

Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường xây dựng môi trường giáo dục, tổ chức giáo dục và đánh giá học sinh. GVCN thường xuyên cần kết hợp với GV bộ môn để giáo dục HS và tổ chức hoạt động tự học nhằm không ngừng nâng cao chất lượng học tập cho HS lớp mình. GVCN cũng phải phối hợp với tổ chức Đoàn, các tổ chức xã hội khác để GD đạo đức, nề nếp, lối sống cho học sinh; tổ chức và đưa HS vào hoạt động xã hội. Đặc biệt, GVCN cần phối hợp với cha mẹ HS để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dựa trên tình cảm, quan hệ huyết thống, tác động giáo dục đến con, em theo mục tiêu giáo dục, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của HS. GVCN phối hợp với các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và tổ chức các hoạt động giáo dục HS.

Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh bằng công nghệ thông tin. Bộ GD-ĐT cũng quy định về hồ sơ học sinh, sinh viên và ứng dụng công nghệ thông tin trong QL hồ sơ học sinh, sinh viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 58/2015/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Việc tổ chức ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin trong công tác quản lí học sinh, sinh viên ở các trường là một trong những tiêu chuẩn xét thi đua năm học đối với các cơ sở giáo dục. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Trong xã hội hiện đại HS gặp nhiều thách thức về tâm lí, tinh thần, trong khi trong nhà trường nhìn chung chưa có đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng tâm lí học đường, nên GVCN cần phải thực hiện chức năng tư vấn/ thậm chí là tham vấn để HS tự giải quyết vấn đề bằng chính nội lực của mình.[15, tr.6]

1.3.3. Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT

Tác giả Hà Nhật Thăng (2012) đã đưa ra yêu cầu về phẩm chất và năng lực của GVCN lớp ở trường THPT như sau:[28]

Có lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn. Trước hết họ phải thực sự am hiểu, nắm bắt sâu sắc chủ trương, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay. GVCN phải nhận thức và ý thức đúng đắn về nghề dạy học, về người thầy giáo, cần phải có tầm nhìn tương lai để thấy rằng làm nghề dạy học, làm công tác giáo dục thực sự có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của đất nước. Do đó, trong cách nghĩ, cách làm giáo dục, họ cần xác định phải gắn chặt với thực tiễn, với những đòi hỏi của sự nghiệp CNH – HĐH nước nhà. Bên cạnh đó GVCN còn phải xây dựng cho mình niềm tin nghề nghiệp vì đó là động lực giúp cho GVCN dám nghĩ, dám làm một cách sáng tạo trong quá trình tổ chức và giáo dục HS. Khi GVCN có niềm tin ở HS thì sẽ tạo cho họ sức mạnh cảm hóa to lớn đối với đối tượng mình phụ trách. Đó là điều kiện thuận lợi để GVCN làm công tác giáo dục HS có hiệu quả.

Có chuyên môn vững vàng, có “tay nghề” cao. Đây là một trong những yêu cầu có tính quyết định sự thành công hay thất bại của CTCN lớp. Bởi vì giảng dạy tốt, kiến thức chuyên môn sâu thì HS mới phục và chấp nhận sự giáo dục của mình. Trong khi dạy học, GVCN đồng thời cũng giáo dục HS và đó là dịp để hiểu HS lớp mình tốt nhất. Trình độ chuyên môn càng vững vàng thì GVCN càng tự tin hơn để chủ động và sáng suốt tìm tòi các biện pháp tác động giáo dục HS của mình hiệu quả nhất. Hệ thống những tri thức mà GVCN cần nắm vững bao gồm những tri thức khoa học có liên quan đến môn mình giảng dạy, các lĩnh vực chính trị – xã hội, nghệ thuật, những tri thức về ngoại ngữ, tin học, phương pháp giảng dạy các môn học, các kỹ năng khác như: kỹ năng thiết kế, kỹ năng tổ chức thực hiện, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn.

Có sự khéo léo đối xử sư phạm và phải có uy tín đối với HS và CMHS. Sự khéo léo đối xử sư phạm đòi hỏi phải hiểu tâm lý HS, nắm chắc các đặc điểm lứa tuổi HS THPT hiện nay, hiểu những điều đang diễn ra trong tâm hồn các em. GVCN cần có uy tính với HS. Muốn có uy tín với HS thì phải hiểu rõ HS, biết tổ chức tập thể HS hoạt động một cách tích cực và sáng tạo nhất. GVCN càng quan tâm xây dựng tập thể HS đoàn kết, có kỷ luật, chủ động, đồng thời nâng cao uy tín của tập thể đó thì bản thân GVCN sẽ càng được HS kính trọng hơn. Vì thế việc ứng xử khéo léo càng mang lại hiệu quả giáo dục cao và uy tín cho GVCN.

Thật sự mẫu mực là tấm gương cho HS noi theo. Người GVCN phải có nghị lực để trau dồi tay nghề, nâng cao nghiệp vụ sư phạm, lắng nghe ý kiến của HS và CMHS nhằm tìm ra các giải pháp giáo dục hữu hiệu nhất. GVCN phải là chỗ dựa tinh thần, có đủ uy tín để các em có thể tâm sự, trình bày nguyện vọng, những điều riêng tư của mình. GVCN phải thực sự là người cha, người mẹ tốt trong cuộc sống tập thể của trường [28, tr.15]

1.3.4. Công tác chủ nhiệm ở trường THPT Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

  • Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm

Giáo viên chủ nhiệm là người thay thế HT QL toàn diện tập thể học sinh một lớp học để triển khai các tác động giáo dục, các hoạt động giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Nói như vậy có nghĩa là GVCN không chỉ QL toàn diện tập thể lớp, mà còn QL các hoạt động giáo dục toàn diện học sinh ở lớp mình. Chức năng QL tập thể lớp của GVCN thể hiện khác nhau (trực tiếp hay gián tiếp) ở các giai đoạn phát triển khác nhau của tập thể HS, khi đội ngũ tự quản đã vững vàng và tập thể đã ở giai đoạn phát triển thì vai trò QL trực tiếp của GVCN chuyển dần sang QL gián tiếp, phát huy cao độ vai trò tự quản của đội ngũ cán bộ lớp, tổ và từng thành viên trong tập thể lớp.

Tại điều 31, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, GVCN trước hết phải là GV giảng dạy bộ môn, đã được quy định rõ như sau:

GV bộ môn có những nhiệm vụ sau đây: a) Dạy học và GD theo chương trình, kế hoạch GD, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của GV do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định; QL học sinh trong các hoạt động GD do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả GD; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; b) Tham gia công tác phổ cập GD ở địa phương; c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và GD; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của HS; d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của HT, chịu sự kiểm tra, đánh giá của HT và các cấp QL giáo dục; đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước HS; thương yêu, tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của HS; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh; e) Phối hợp với GVCN, các GV khác, gia đình HS, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và GD học sinh; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

  • Nội dung công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT

Theo tác giả Hà Nhật Thăng thì nội dung CTCN lớp ở trường THPT là:

  • Tìm hiểu và phân loại HS Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Tìm hiểu và nắm vững đặc điểm của lớp chủ nhiệm: Số lượng, tên, tuổi của từng HS trong lớp, học lực, hạnh kiểm…

Đặc điểm tình hình của lớp: phong trào, truyền thống, khó khăn, thuận lợi, chất lượng giáo dục chung, chất lượng học tập, tùng mặt giáo dục cụ thể; bầu không khí, quan hệ xã hội…

Đội ngũ GV giảng dạy tại lớp: Uy tín, khả năng, trình độ…Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của lớp trong trường (đầu cấp, cuối cấp…). Đặc điểm tình hình địa phương, hoàn cảnh kinh tế xã hội của địa phương…

Tìm hiểu và nắm vững đặc điểm của từng HS Sơ yếu lý lịch (họ tên cha mẹ, nghề nghiệp, địa chỉ, sở thích năng khiếu…).

Hoàn cảnh sống của HS (điều kiện kinh tế của gia đình, trình độ văn hóa của cha mẹ, điều kiện học tập, bầu không khí gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ xã hội của gia đình, tình hình kinh tế – xã hội, an ninh trật tự, môi trường giáo dục tại địa phương nơi cư trú…)

Đặc điểm tâm sinh lý, tính cách, năng lực, trình độ, nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, phẩm chất đạo đức, các mối quan hệ, cách ứng xử của HS trong gia đình, ở nhà trường, ngoài xã hội…

Những biến đổi và sự phát triển về thể chất, tâm lý và xã hội của HS theo các giai đoạn phát triển của lứa tuổi. [28, tr.25]

Phân loại theo học lực hạnh kiểm; theo đặc điểm tính cách; các trường hợp cần quan tâm đặc biệt.

  • Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm Dự kiến kế hoạch chủ nhiệm:

Để dự kiến được kế hoạch giáo viên phải.

Nắm được kế hoạch, chương trình giáo dục chung của nhà trường.

Nắm bắt tình hình cụ thể của lớp chủ nhiệm GVCN dự kiến kế hoạch, đặt ra các yêu cầu trọng điểm cho từng giai đoạn. Sau đó phác thảo kế hoạch chủ nhiệm thông qua các hoạt động cụ thể theo trình tự thời gian.

  • Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm:

Sau khi phác thảo kế hoạch GVCN cần tham khảo ý kiến đồng nghiệp và Ban cán sự lớp để thống nhất một số nội dung cần thiết.

  • Chỉ đạo tập thể học sinh thực hiện kế hoạch:

GVCN luôn có sự chỉ đạo thật tốt để đạt hiệu quả như mong muốn.

Phổ biến rõ công tác cho cho tập thể lớp, thống nhất quyết tâm thực hiện tốt kế hoạch, biến kế hoạch thành chương trình hành động cụ thể. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Chuẩn bị các điều kiện vật chất và kỹ thuật để thực hiện các hoạt động. Phối hợp với đội ngũ cán bộ lớp thực hiện và điều hành công việc.

Theo dõi kiểm tra và điều chỉnh hoạt động để các hoạt động luôn đi đúng hướng.

Kết thúc một công việc cần tổng kết đánh giá phân tích ưu điểm và hạn chế rút kinh nghiệm.

Có sự khuyến khích tập thể hay cá nhân tốt, phê bình các cá nhân thiếu tích cực, thiếu cố gắng.

Triển khai các hoạt động tiếp theo.

  • Tổ chức mạng lưới tự quản lớp chủ nhiệm:

Xây dựng dựng đội ngũ tự quản là nền tảng cho CTCN và cũng là một việc làm quan trọng và khó khăn đối với GVCN.

Đầu tiên GVCN cần xác định được tiêu chuẩn của cán bộ lớp:

  • Có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có khả năng gương mẫu.
  • Tính tình thẳng thắn, giám đấu tranh, giám phê bình.
  • Năng nổ hoạt động và sẵn sàng hoạt động.
  • Có khả năng học tập tốt: Từ khá trở lên.
  • Được tập thể lớp tín nhiệm.
  • Có hoàn cảnh gia đình thuận lợi.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ lớp tốt cần tìm hiểu thông qua GVCN cũ, GV bộ môn, quan sát sự hoạt động của các em khi ra chơi hoặc giao một số công việc.

Khi đã tìm được đội ngũ cán bộ lớp, GVCN cần bồi dưỡng cho các em có ý thức trách nhiệm cao đối với lớp, phục vụ tập thể lớp, biết phê bình và tự phê bình. Bồi dưỡng cho các em có phương pháp QL lớp.

Mỗi tháng họp một lần để tổng kết rút kinh nghiệm, giao kế hoạch nhiệm vụ tháng tới. Mỗi tuần hội ý với cán bộ lớp 1 lần để có số liệu sinh hoạt và khen, chê kịp thời. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lớp, GVCN cần chú ý chọn đúng nguồn, tránh việc thay cán bộ lớp, không phó mặc việc lớp cho đội ngũ cán bộ lớp.

  • Thường xuyên kết hợp với giáo viên bộ môn:

Phối hợp với các GVBM nhằm nâng cao hiệu quả CTCN lớp.

Phối hợp với các GVBM để theo dõi, kiểm tra và đôn đốc việc học tập của tập thể và cá nhân HS.

GVCN phải thường xuyên tập hợp ý kiến của GVBM về lớp mình và lớp bạn.

Trao đổi trực tiếp với GVBM về những vấn đề cụ thể của lớp để cùng đưa ra giải pháp giáo dục thống nhất.

Đề xuất các ý kiến của tập thể học sinh về công tác dạy và học với GVBM có liên quan.

  • Thường xuyên kết hợp với gia đình học sinh:

Sử dụng phần mềm để liên lạc với CMHS thông qua tin nhắn theo hàng tuần

Mời phụ huynh học sinh đến trường để trao đổi về việc giáo dục học sinh khi có những hiện tượng bất thường và khẩn cấp.

Liên hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh để tích cực hoá các hoạt động của phụ huynh học sinh trong công tác phối hợp giáo dục.

  • Kết hợp chặt chẽ với lực lượng trong nhà trường

GVCN phải nắm bắt được kế hoạch của nhà trường, Đoàn thanh niên để phối hợp và phổ biến kịp thời đến học sinh.

Thường xuyên động viên, đôn đốc nhắc nhở các em tham gia tốt các hoạt đông đoàn thể, phong trào thi đua do đoàn thể phát động.

Phối hợp chặt chẽ với giám thị, Đoàn để trao đổi thông tin 2 chiều.

  • Giáo dục học sinh cá biệt:

Trong mỗi lớp học có những học sinh cá biệt khi GVCN lớp có kế hoạch và biện pháp giáo dục đối tượng học sinh này tốt sẽ là động lực để xây dựng được tập thể lớp vững mạnh. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

GVCN phải tìm hiểu lý lịch, tính cách học sinh, tìm hiểu điểm yếu của học sinh. Kết hợp với GVBM, nhà trường, gia đình.

GVCN không được nóng vội, uốn nắn dần, khi đưa ra tập thể lớp không nói nhiều, khi gặp riêng không được chì trích mà nhẹ nhàng tâm sự và phân tích.

Giao cho học sinh cá biệt một số việc và sau đó phải động viên khuyến khích kịp thời những việc em làm tốt.

Lập kế hoạch cho cán sự lớp để thành lập các đôi bạn cùng tiến.

Luôn thông báo kịp thời các thông tin về học sinh với gia đình và ngược lại.

Tóm lại, GVCN cần hiểu rõ toàn bộ cuộc sống tâm hồn, tình cảm của HS kể cả những thay đổi trong đời sống nội tâm của từng HS. Đặc biệt, đối với HS cá biệt cần tìm hiểu kỹ những nguyên nhân dẫn đến cá biệt để có giải pháp tác động phù hợp, kịp thời.

  • Phương pháp giáo dục trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT

Theo tác giả Hà Nhật Thăng (2012) thì phương pháp giáo dục trong CTCN lớp ở trường THPT gồm:

Nghiên cứu hồ sơ HS: Gồm học bạ, sơ yếu lí lịch, sổ liên lạc, các bản nhận xét đánh giá HS của các GV cũ, sổ điểm… Đây là bước tiếp cận đầu tiên nhằm tìm hiểu sơ bộ những nét cơ bản nhất ở mỗi HS.

Đàm thoại, trò chuyện trực tiếp với HS, GV bộ môn, GVCN cũ, cha mẹ HS, bạn bè…, những người có liên quan khác với HS để tìm hiểu những vấn đề cá nhân HS đó.

Hỏi ý kiến: trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu HS, có thể hỏi ý kiến những người liên quan hoặc những người có kinh nghiệm để nhận được lời chỉ bảo, những lời khuyên, những ý kiến có ích.

Quan sát: Đây là phương pháp cần làm thường xuyên để theo dõi trực tiếp, thường xuyên một cách khách quan những biểu hiện về thái độ, hành vi của HS trong mọi hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể, trong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường…

Ankét: Đây là phương pháp phỏng vấn trên giấy, chính là đưa ra một hệ thống những câu hỏi để tìm hiểu về các phẩm chất đạo đức, về các quan hệ, thái độ, nhu cầu, nguyện vọng của HS. Ngoài ra có thể nêu câu hỏi cho CMHS hoặc các lực lượng giáo dục liên quan khác.

Thông qua các sản phẩm do HS làm ra như bài kiểm tra, báo tường, làm đồ dùng học tập, các sản phẩm lao động, nhật ký…

Thu thập và xử lý thông tin: những thông tin thu thập được qua quá trình tìm hiểu cần được ghi vào sổ chủ nhiệm hay nhật ký GVCN. Dùng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại để rút ra kết luận chính xác, khách quan, khoa học, tránh hời hợt, chủ quan, thiên vị, cảm tính trong đánh giá đối tượng giáo dục. [28, tr.23]

Tóm lại, điều đặc biệt quan trọng đối với GVCN là thông qua các phương pháp nghiên cứu, thu thập được thông tin thật chính xác, đồng thời phân tích được nguyên nhân của các hiện trạng để nhanh chóng tìm ra biện pháp giáo dục. Tìm hiểu HS là một quá trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, đòi hỏi GVCN phải kiên trì, thận trọng, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng thương yêu HS sâu sắc.

1.4. Lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

1.4.1. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông

  • Khái niệm

Theo Điều 18, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học thì mỗi trường trung học có Hiệu trưởng (HT) và một số Phó HT. Nhiệm kỳ của HT là 5 năm, thời gian đảm nhận chức vụ HT không quá 2 nhiệm kỳ ở một trường trung học [6].

  • Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng

Nhiệm vụ và quyền hạn của HT được quy định tại Điều 19, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học [6]. Theo đó, các nhiệm vụ và quyền hạn của HT có liên quan đến hoạt động quản lí việc ứng dụng CNTT trong HĐD được thể hiện thông qua các nội dung quy như: HT xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường; HT xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; HT quản lí GV, nhân viên; quản lí chuyên môn; phân công hoạt động, kiểm tra, đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện hoạt động khen thưởng, kỉ luật đối với GV, nhân viên; HT quản lí tài chính, tài sản của nhà trường; HT thực hiện hoạt động xã hội hoá giáo dục của nhà trường; HT chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành.

  • Vai trò của Hiệu trưởng

Theo Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền (2023) [12], HT được ví như là linh hồn của một nhà trường. Sự thành công hay thất bại của nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu của xã hội phụ thuộc rất lớn vào khả năng lãnh đạo và quản lí của người đứng đầu tổ chức. HT là người chịu trách nhiệm cho tất cả các hoạt động xảy ra trong và ngoài nhà trường. Vai trò của HT nhà trường được cấu thành bởi ba yếu tố, bao gồm: Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Thứ nhất trong vai trò GV: HT là người có trình độ học vấn theo yêu cầu của cấp học quản lí, nắm vững chuyên môn đã hoặc đang giảng dạy, có nghiệp vụ sư phạm và các yêu cầu khác của một GV;

Thứ hai trong vai trò là người quản lí: HT quản lí quá trình sư phạm; quản lí các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện cho hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường;

Thứ ba trong vai trò của người lãnh đạo: vai trò lãnh đạo của HT nhà trường ngày càng được quan tâm vì nhiều lí do, trong đó chủ yếu là nhà trường phổ thông đang phải trải qua nhiều thay đổi, đòi hỏi HT phải lãnh đạo nhà trường thích ứng với yêu cầu mới của thực tiễn.

  • Chức năng quản lý nhà trường của hiệu trưởng

Có nhiều cách tiếp cận để xác định chức năng QL, chúng ta có thể xác định chức năng QL của HT nhà trường bao gồm chức năng: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch.

Theo Trần Kiểm (2014), lập kế hoạch là hành động đầu tiên của HT, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Chức năng tổ chức là HT hình thành bộ máy, quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng. Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo đòi hỏi HT phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật QL. Chức năng kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Cần chú ý khi kiểm tra phải theo chuẩn. Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin cần đảm bảo đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là cơ sở quan trọng để thực hiện thành công các chức năng QL. Các chức năng QL có mối liên hệ với nhau và chúng lập thành một chu trình QL [18]

Theo Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền (2023) đã xác định các chức năng QL cụ thể như sau:

  • Chức năng lập kế hoạch

Lập kế hoạch là quá trình thiết lập, dự tính một cách khoa học các mục tiêu, nội dung, phương pháp, trình tự, thời gian tiến hành các công việc, chuẩn bị huy động các nguồn lực để triển khai các hoạt động một cách chủ động nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu giáo dục của nhà trường. Lập kế hoạch gồm ba giai đoạn, bao gồm: thiết lập các mục tiêu; nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu; quyết định về cách thức, phương pháp hoạt động cần tiến hành để đạt mục tiêu. Các kế hoạch trong QL nhà trường có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau cụ thể:

Theo cấp kế hoạch, kế hoạch trong QL nhà trường gồm: kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường và kế hoạch tác nghiệp.

Theo thời gian thực hiện, tùy thuộc vào độ dài thời gian, mức độ phức tạp, tầm quan trọng của kế hoạch, kế hoạch trong QL nhà trường có thể phân thành: kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn.

  • Chức năng tổ chức Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Đây là quá trình hình thành cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận, các đơn vị trong nhà trường, thực hiện phân công lao động, phân công nhân sự cho các vị trí, tổ chức phân bổ công việc, quyền hạn và các nguồn lực để thực hiện thành công các kế hoạch đặt ra hướng tới đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường.

  • Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo

Nội dung chính của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo nhằm giúp chủ thể QL nhà trường định ra chủ trương, đường lối, nguyên tắc hoạt động và vận hành các hoạt động của nhà trường. Trong tiến trình QL nhà trường, các chỉ thị, yêu cầu, chỉ đạo các hoạt động cụ thể được đưa ra bởi các chủ thể QL có thể bằng văn bản, bằng lời nói hoặc bằng các kênh truyền đạt thông tin khác.

  • Chức năng kiểm tra, đánh giá

Chức năng này thể hiện việc thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát một cách chủ động đối với các công việc của nhà trường nhằm tìm ra, khẳng định những ưu điểm, phát hiện những hạn chế, sai sót, kịp thời thực hiện điều chỉnh cần thiết để hoạt động đi đúng hướng, đảm bảo thực hiện mục tiêu QL. Trong quá trình vận hành các hoạt động của nhà trường, nếu không đạt được kết quả mong muốn, nhà QL cần phải áp dụng các biện pháp điều chỉnh cần thiết. Quá trình kiểm tra, giám sát là tiến trình điều chỉnh và tự điều chỉnh liên tục và thường diễn ra theo trình tự: (1) Thiết lập các tiêu chuẩn của công việc; (2) Đo lường mức độ hoàn thành công việc so với các tiêu chuẩn đề ra; (3) Tiến hành điều chỉnh sự lệch chuẩn; (4) Tiến hành điều chỉnh các tiêu chuẩn nếu cần thiết [12]

1.4.2. Tầm quan trọng của quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT

  • Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT

Từ các khái niệm, nội dung của QL, QL giáo dục, công tác GVCN có thể xác định: QL CTCN lớp là hoạt động QL chuyên biệt của HT nhằm đảm bảo mục tiêu và hiệu quả giáo dục của công tác GVCN bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra phát hiện và giải quyết những vấn đề thuộc công tác GVCN nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện HS trong mỗi lớp và từ đó góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông.

Chất lượng công tác GVCN chỉ được đảm bảo khi xây dựng được các đặc trưng như: thủ tục, quy trình, kế hoạch công tác GVCN, hiện thực hóa, đồng thời cải tiến liên tục và phải được quan tâm thường xuyên.

  • Tầm quan trọng của QL CTCN lớp ở trường THPT

QL CTCN lớp là một mảng trong hệ thống công tác QL nhà trường của HT, đây là một công việc mang tính chiến lược lâu dài, thường xuyên. Để làm tốt công tác này người HT phải căn cứ vào tình hình giáo dục thực tiễn của nhà trường như số lượng HS, địa bàn nhà trường, số lượng GVCN lớp, đặc diểm của đội ngũ GVCN lớp… để lên kế hoạch cho từng công việc cụ thể, thời gian thực hiện những công việc này, rồi tiến hành tổ chức, chỉ đạo đội ngũ GVCN lớp thực hiện từng công việc hoặc thực hiện đồng thời các công việc theo đặc trưng từng khối lớp, tiếp theo đó là đánh giá, kiểm tra việc thực hiện các công việc này của đội ngũ GVCN lớp nhằm phát hiện kịp thời các sai lệch, yếu kém để từ đó người HT có các biện pháp tư vấn, thúc đẩy, giúp đỡ GVCN lớp khắc phục, giải quyết các tồn tại nhằm hoàn thiện, đồng bộ CTCN lớp.

Mục đích của CTCN lớp là nhằm nắm bắt tâm lý HS để có định hướng giáo dục ý thức HS, góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện học sinh trong nhà trường phổ thông, góp phần cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục,

1.4.3. Nội dung quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Hoạt động QL là một chuỗi công việc kế tiếp nhau, đã được tách riêng thành từng việc trên cơ sở chuyên môn hoá. Đó là các chức năng QL. Đối với bất kỳ đối tượng QL nào, ở cấp độ QL nào cũng phải thực hiện những chức năng QL chung. Do đó, chức năng QL là tất yếu khách quan của QL giáo dục hay QL bất kỳ đối tượng nào. Lãnh đạo nhà trường phải thực hiện chức năng cơ bản đó. Hệ thống chức năng bao gồm: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, thông tin

Căn cứ vào lý luận QL và các chức năng QL, tác giả xây dựng nội dung QL CTCN lớp ở trường THPT theo chức năng QL như sau:

  • Xây dựng kế hoạch QL CTCN lớp ở trường THPT

Theo từ điển Tiếng Việt (2024) “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời gian tiến hành” [21].

  • Việc lập kế hoạch QL CTCN lớp ở trường THPT được tiến hành qua ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Thiết lập các mục tiêu về việc QL CTCN lớp. Để có mục tiêu xác thực, cần phải xác định thực trạng của nhà trường: Xác định thực trạng về số lớp; số tiết dạy từng GV; học lực, hạnh kiểm của từng HS. Từ đó, nhà trường thiết lập các mục tiêu phù hợp với thực tế, đảm bảo mục tiêu xác lập có tính thiết thực, mang tính chiến lược và khả thi.

Giai đoạn thứ hai: nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu. Đây là giai đoạn quan trọng nhằm giúp cho việc xác định và khẳng định được tính khả thi của mục tiêu đề ra. Việc nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu bao gồm: xác định đội ngũ GVCN (Việc lựa chọn giáo viên làm chủ nhiệm lớp thường dựa vào các tiêu chí sau: có năng lực chuyên môn vững vàng, nhiệt tình công tác, nhanh nhẹn, hoạt bát, biết cách tổ chức, số tiết giảng dạy bộ môn phù hợp, thường thông qua trao đổi để chọn đội ngũ GVCN), xác định chất lượng đội ngũ GVCN cốt cán, có kinh nghiệm trong CTCN lớp, họ sẽ là những lực lượng tiên phong trong việc hướng dẫn xử lý các tình huống, bồi dưỡng, chia sẻ kinh nghiệm thực tế; xác định nguồn kinh phí tập huấn bồi dưỡng đội ngũ GVCN.

Giai đoạn thứ ba: lập kế hoạch QL CTCN. Ở giai đoạn này, nhà trường cần có những quyết định về cách thức, phương pháp hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu đề ra. Có thể nói đây là giai đoạn mang tính định hướng, cũng chính là giai đoạn truyền thông điệp của HT đến tập thể đội ngũ GVCN về những định hướng cần thực hiện trong CTCN lớp, việc lập kế hoạch càng chi tiết, càng xác thực, có tầm nhìn sẽ giúp cho GVCN lớp nhận thức và có niềm tin vào thành công trong việc thực hiện kế hoạch đề ra. Đối với việc xây dựng kế hoạch CTCN chúng ta có thể xây dựng lồng ghép các kế hoạch hoạt động chuyên đề từng tháng, trong từng năm học HT xác định thực trạng đội ngũ GVCN để xây dựng kế hoạch như:

  • Kế hoạch ứng dụng CNTT trong CTCN lớp Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyết định từ năm học 2015 – 2016, hồ sơ HS, SV trong tất cả các trường đại học, cao đẳng, THCN sẽ được QL bằng CNTT, giúp cho CMHS có thể biết được tình hình học tập của con mình qua hệ thống thông tin. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch chung về CTCN lớp trong năm học. HT lập kế hoạch về ứng dụng CNTT trong CTCN lớp bao gồm:

  • Thống nhất về việc ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS; QL sổ chủ nhiệm;
  • Điểm thi đua từng lớp; xếp loại học lực, hạnh kiểm
  • Thống nhất về phương thức trao đổi với CMHS bằng cách sử dụng phần mềm liên lạc qua tin nhắn điện thoại.
  • Kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn CTCN lớp cho GVCN

GVCN được được rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ. Những yêu cầu công việc của người QL đưa ra phảic có tính thực tế và cái đích cuối cùng của mọi công việc là phải có tác dụng giáo dục cao. Chính vì thế HT phải khảo sát về trình độ năng lực ứng xử, xử lý tình huống của GVCN đối với HS, việc ứng dụng CNTT vào CTCN lớp. Từ đó, HT lập kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo cho đội ngũ GVCN.

  • Kế hoạch phối hợp giữa GVCN với các lực lượng khác trong nhà trường

Việc giáo dục toàn diện học sinh không chỉ là công việc của riêng GVCN mà là công việc chung của nhà trường và các lực lượng giáo dục khác, vì thế để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục học sinh thì rất cần thiết có sự phối hợp giữa GVCN với nhà trường và các lực lượng giáo dục khác. Để sự phối hợp này ngày càng chuyên môn hóa, càng ăn khớp với nhau hơn thì rất cần thiết có những quy chế về hội họp, quy chế về sự phối hợp giữa đội ngũ GVCN với các lực lượng giáo dục khác… Nếu thực hiện tốt điều này thì việc QL đội ngũ GVCN của HT cũng sẽ thuận lợi, sâu sát, chuyên nghiệp hơn.

  • Kế hoạch thi GVCN giỏi

HT xây dựng kế hoạch tổ chức hội thi GVCN giỏi vòng trường. Xây dựng tiêu chí và hình thức đánh giá GVCN giỏi.

Kế hoạch huy động nguồn kinh phí cho việc bồi dưỡng, tập huấn, khen thưởng.

HT lập kế hoạch để huy động nguồn kinh phí phục vụ cho việc bồi dưỡng, tập huấn, khen thưởng dựa vào:

  • Kinh phí từ nguồn quỹ hội CMHS;
  • Kinh phí từ các mạnh thường quân
  • Kinh phí hoạt động của nhà trường

Muốn QL CTCN lớp đạt hiệu quả cao thì cần phải xây dựng kế hoạch thật chi tiết, cụ thể và phù hợp với đặc điểm của trường. Kế hoạch chỉ thực sự hiệu quả khi xác định đúng thực trạng, nhu cầu và đưa ra biện pháp đúng đắn. HT cần xây dựng được những chỉ tiêu, tiêu chí, lượng hoá tối đa các nội dung cho cả năm học, cho từng kỳ, cho từng đợt thi đua phù hợp với đối tượng học sinh ở các khối lớp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá chính xác, công bằng.

  • Tổ chức thực hiện quản lý công tác chủ nhiệm lớp

Theo Từ điển Tiếng Việt (2024), “Tổ chức là làm thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định” [21]. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Như vậy, tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận để thực hiện kế hoạch đề ra. Căn cứ vào kế hoạch QL CTCN lớp và theo tình hình thực tế tại trường, HT ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo, thành lập các tổ chủ nhiệm trong đó phân công rõ ràng từng nội dung công việc đến từng người phụ trách công việc. Sự phân công cụ thể: HT là Trưởng ban chỉ đạo; đội ngũ tổ trưởng tổ chủ nhiệm là thành viên. Và các lượng lượng này phải phối hợp một cách chặt chẻ, khoa học đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu đã đề ra. Bên cạnh đó, HT cần xây dựng và ban hành các văn bản quy định có liên quan đến hoạt động, các văn bản này sẽ mang tính pháp lý, thống nhất và bắt buộc sẽ tạo thành hệ thống kết nối liên tục, hiêu quả trong đơn vị. Bên cạnh đó hiện nay CNTT phát triển mạnh mẽ, các phần mềm liên tục được ra đời để đáp ứng nhu cầu xã hội, đặc biệt đã mang nhiều tiện ích cho nhà trường, CMHS và HS mà còn góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nước nhà và trở thành cầu nối thông tin giữa nhà trường và gia đình, không chỉ ứng dụng CNTT trong liên lạc với CMHS mà còn trong QL CTCN lớp nhằm giúp cho Hiêu trưởng sẽ nắm được tình hình cụ thể, rõ ràng, nhanh chóng như: QL HS gồm các thông qua hồ sơ HS; QL học tập: Sổ điểm, sổ điểm danh, học bạ; QL GVCN: Sổ chủ nhiệm, thi đua giữa các lớp, công tác phối hợp giữa GVCN với các lực lượng trong nhà trường; QL công tác phối hợp giữa GVCN và CMHS: phiếu liên lạc điện tử (nhắn tin hàng tuần vào số điện thoại CMHS đăng ký đầu năm học). Vì vậy cần phải tổ thức thực hiện việc ứng dụng CNTT trong QL và trong CTCN lớp.

  • Lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ giáo viên chủ nhiệm thực hiện kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp

Theo Từ điển Tiếng Việt (2024), “Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện; chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể, theo một đường lối, chủ trương nhất định” [21]

Như vậy lãnh đạo chỉ đạo đội ngũ GVCN trong CTCN lớp là việc tổ chức, hướng dẫn, động viên của HT đến đội ngũ GVCN để thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra.

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của HT hết sức quan trọng. Bởi vì mang tính định hướng, hướng dẫn, dẫn dắt của HT là hết sức quan trọng, nó mang ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện thành công kế hoạch đề ra.

Trong chỉ đạo, HT thu thập thông tin nhanh, chính xác để xử lý kịp thời. Mặt khác phải nhanh nhạy phát hiện những chỗ mạnh, chỗ yếu của từng GVCN trong công tác QL lớp để kịp thời uốn nắn, nhắc nhở. Bên cạnh đó, HT cũng phải thường xuyên động viên, hỗ trợ, khuyến khích kịp thời để GVCN có được điều kiện thuận lợi nhất và tạo được động lực làm việc hiệu quả trong CTCN lớp. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo CTCN lớp cụ thể như sau: (1) Chỉ đạo GVCN xây dựng kế hoạch chủ nhiệm; (2) Chỉ đạo thống nhất các nội dung CTCN lớp; (3) Chỉ đạo việc ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, phối hợp CMHS; (4) Chỉ đạo tổ chức hội thi GVCN giỏi; (5) Chỉ đạo tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn liên quan đến CTCN lớp. (6) Chỉ đạo công tác phối hợp giữa GVCN với các lực lượng giáo dục trong nhà trường.

  • Kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Theo Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên (2024) thì kiểm tra và đánh giá được hiểu như sau: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”; “Đánh giá là nhận định giá trị”. [21]

Như vậy, kiểm tra, đánh giá CTCN lớp là quá trình xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Trong đó, việc đánh giá là quá trình đưa ra những nhận định về giá trị của số liệu thu được từ quá trình kiểm tra bằng việc quan sát, mô tả về việc thực hiện CTCN lớp của đội ngũ GVCN.

Đây là giai đoạn kết thúc của một chu trình QL, nhưng nó chính là sự khởi đầu cho một chu trình QL mới. Thông quan hoạt động kiểm tra, đánh giá nhà trường sẽ có những nhìn nhận, đánh giá, bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tiếp theo. Muốn hoạt động đánh giá CTCN lớp của GVCN có hiệu quả thì HT cần thực hiện:

  • Ban hành các tiêu chí, quy định về hoạt động kiểm tra, đánh giá CTCN lớp của đội ngũ GVCN
  • Xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu trong công tác của nhiệm của GVCN và tổ chủ nhiệm
  • Xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá việc ứng dụng CNTT trong việc QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, công tác phối hợp CMHS
  • Xây dựng và ban hành các quy định về các hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến CTCN lớp của GVCN và tổ chủ nhiệm
  • Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá CTCN
  • Kế hoạch kiểm tra CTCN lớp của GVCN
  • Kế hoạch kiểm tra GVCN ứng dụng CNTT trong QL hồ sơ HS, sổ chủ nhiệm, công tác phối hợp CMHS
  • Kế hoạch kiểm tra, dự giờ tiết sinh hoạt chủ nhiệm, buổi hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng CTCN lớp của GVCN.

Việc kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác GVCN của HT diễn ra thường xuyên và không chỉ có tính định kì hàng tuần, hàng tháng mà còn thông qua hồ sơ, các loại sổ sách, báo cáo hàng tháng, học kỳ… Và cả kiểm tra đột xuất, việc kiểm tra này không chỉ nhằm đánh giá, xếp loại thi đua mà còn giúp HT nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót, khen thưởng kỉ luật một cách khách quan, thu thập được nhiều thông tin để kịp thời điều chỉnh các nội dung, các biện pháp quản lí cho phù hợp từ đó xây dựng ngày càng hợp lí các nội dung quản lí của HT về CTCN lớp.

Bên cạnh đó, không chỉ ứng dụng CNTT trong liên lạc với CMHS mà còn trong QL CTCN lớp nhằm giúp cho Hiêu trưởng sẽ nắm được tình hình cụ thể, rõ ràng, nhanh chóng như: QL HS gồm các thông qua hồ sơ HS; QL học tập: Sổ điểm, sổ điểm danh, học bạ; QL GVCN: Sổ chủ nhiệm, thi đua giữa các lớp, công tác phối hợp giữa GVCN với các lực lượng trong nhà trường; QL công tác phối hợp giữa GVCN và CMHS: phiếu liên lạc điện tử (nhắn tin hàng tuần vào số điện thoại CMHS đăng ký đầu năm học).

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

1.5.1. Các yếu tố khách quan

  • Yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay đối với QL nhà trường và công tác GVCN

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, do đó nguồn lực con người Việt Nam trở lên có ý nghĩa quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có trí thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Điều này đòi hỏi phải có những căn bản về giáo dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến công tác giáo viên chủ nhiệm có hiệu quả, giúp người học có thể chủ động, tích cực phát triển kiến thức, kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống. Theo Đặng Quốc Bảo (2013) [2]: Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông là “nhà quản lý không có dấu đỏ”, là linh hồn của lớp học. Có thể coi giáo viên chủ nhiệm vừa là “người lĩnh xướng” của dàn nhạc vừa là ông hoàn thành bản giao hưởng hình thành nhân cách toàn vẹn cho thế hệ trẻ.

Trước yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay, với sự nhận thức về QL giáo dục, có thể coi GVCN như một nhà QL với các vai trò: Người lãnh đạo lớp học; Người điều khiển lớp học; Người làm công tác phát triển lớp học; Người làm công tác tổ chức lớp học; Người giúp HT bao quát lớp học; Người giúp HT thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng và rèn luyện của học sinh.

  • Điều kiện tự nhiên xã hội, địa bàn, dân cư, môi trường giáo dục của địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của giáo dục – đào tạo của nhà trường.

Trong điều kiện hiện đại, xã hội ngày càng phức tạp, quan hệ xã hội càng phong phú, học sinh tiếp cận thông tin bằng nhiều nguồn khác nhau, rất dễ bị lôi kéo, kích động, dễ bị nhiễm tư tưởng bàng quan, thói quen hưởng thụ, lười lao động; nhiều tệ nạn xã hội tác động, xâm nhập vào nhà trường như: văn hoá phẩm đồi trụy, ma tuý, cờ bạc, chia bè phái gây gổ đánh nhau, nghiện trò chơi điện tử… Vì thế không ít học sinh ngoan đã trở thành học sinh cá biệt.

Điều này lại càng làm cho công việc chủ nhiệm lớp của GVCN đã vốn đã nhiều việc nay lại càng phức tạp hơn. Cũng trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, không ít các bậc phụ huynh chỉ quan tâm đến việc làm kinh tế, họ gần như phó mặc cho nhà trường việc giáo dục con cái, vì thế người GVCN đôi khi còn phải làm cả những công việc thay cho cha mẹ học sinh như tư vấn nghề nghiệp, tư vấn về quan hệ gia đình, lứa đôi… Các yếu tố như địa bàn, dân cư cũng ảnh hưởng không ít đến CTCN lớp. Với những trường THPT có học sinh ở xa đến học thì việc liên lạc giữa GVCN và gia đình thường khó khăn và ít thường xuyên. Trình độ dân trí còn thấp, thì công tác giáo dục toàn diện học sinh bị ảnh hưởng bởi nhiều hủ tục văn hóa lạc hậu, GVCN càng thiếu sự phối kết hợp giáo dục của gia đình. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

  • Đặc điểm tâm sinh lý học sinh Trung học phổ thông

Theo tác giả Hà Nhật Thăng (2012) [28, tr.12] thì: Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi từ 15 đến 18 tuổi, có những chuyển biến quan trọng cả về sự phát triển thể lực lẫn sự phát triển tâm lý. Học sinh mang nhiều nét tâm lý của người lớn mặc dù vẫn còn một vài đặc điểm của tuổi thiếu niên. Các em có khả năng tri giác rõ ràng, có những rung cảm mãnh liệt, đặc biệt là tính tích cực cao thể hiện sự nhiệt tình, sôi nổi của tuổi trẻ. Đây là lứa tuổi khao khát thể hiện mình, muốn được lập công, và cũng rất dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội, bắt chước hoặc đua đòi lối sống lai căng, có lối sống ích kỷ, không tôn trọng người khác.

Có thể khẳng định rằng, đặc điểm tâm sinh lý, trình độ phát triển và chất lượng của học sinh các trường THPT có ảnh hưởng rõ rệt đến công tác GVCN. Bởi vậy, trong QL hoạt động GVCN cũng không thể không xem xét đến yếu tố này.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan

  • Phẩm chất, năng lực và tầm nhìn của HT

HT một trường Trường THPT là chủ thể QL, chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động của nhà trường theo đúng quan điểm, đường lối, phát triển giáo dục của Đảng và nhà nước, thực thi công tác QL nhà trường nhằm đảm bảo các mục tiêu, nội dung chương trình và chất lượng giáo dục học sinh.

Trong thực tế sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, công việc QL nhà trường nhằm và vai trò tổ chức, chỉ đạo của HT nói chung cũng như QL công tác GVCN trong trường THPT nói riêng càng trở lên quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục của mỗi cơ sở giáo dục – đào tạo. Có thể nói rằng khi người HT có phẩm chất, năng lực và tầm nhìn tốt thì mới giúp cho công tác GVCN có chất lượng và hiệu quả cao.

  • Nhận thức, ý thức trách nhiệm và năng lực sư phạm của đội ngũ những người tham gia công tác GVCN

Hiện nay có những thay đổi và tác động của môi trường giáo dục đối với nhà trường phổ thông và các hoạt động giáo dục trong nhà trường, trong đó có các hoạt động thuộc công tác GVCN. Theo đó, cần thiết phải chú trọng hơn nữa đến công tác GVCN. Lý luận giáo dục và kinh nghiệm của các GVCN chỉ rõ: Thành công của mỗi nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nghiệp vụ sư phạm, ý thức nghề nghiệp của người GVCN, có kỹ năng tích hợp nội dung của các phong trào thi đua với nội dung của công tác GVCN.

GVCN trước hết phải là nhà giáo dục, là người tổ chức hoạt động giáo dục, quan tâm tới từng học sinh, chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức, hành vi, những biến động về tư tưởng, nhu cầu và nguyện vọng của các em, là người dẫn dắt, tổ chức cho HS tham gia các hoạt động xã hội. Đồng thời, người GVCN bằng chính nhân cách của mình, là tấm gương tác động tích cực đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức, nhân cách của HS. Mặt khác là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục, góp phần xây dựng và phát triển đất nước…

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

Trong chương này chúng tôi đã giải quyết các vấn đề cơ bản của cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, đồng thời khẳng định tính đúng đắn về hướng nghiên cứu của đề tài. Các vấn đề được giải quyết trong chương, bao gồm:

Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy, CTCN đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm, nghiên cứu. Ở Việt Nam, có đề tài của Hà Nhật Thăng đã trình bày những cách thực thực hiện CTCN lớp ở các trường THPT, trong tác phẩm “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT” của nhóm tác giả hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang đã giới thiệu nội nội dung cơ bản về CTCN lớp và nhiều đề tài luận văn thạc sĩ đã đi sâu tìm hiểu thực trạng QL CTCN lớp ở các trường THPT và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL CTCN lớp. Tuy nhiên, các đề tài này chưa đi sâu vào nghiên cứu QL CTCN lớp các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dương.

Qua nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận về CTCN lớp và QL CTCN lớp, chúng tôi đã xây dựng được các khái niệm công cụ cho đề tài như: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, GVCN, CTCN lớp, QL CTCN lớp. Chúng tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu về vị trí, tầm quan trọng của QL CTCN lớp ở trường phổ thông; xác định mục đích, nội dung, phương pháp CTCN lớp.

Việc tìm hiểu nghiên cứu cơ sở lý luận, luận văn đã hệ thống hóa một số nội dung cơ bản của vấn đề QL, công tác giáo viên chủ nhiệm lớp, QL CTCN lớp. Trong đó QL CTCN lớp theo 4 chức năng như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá. Xây dựng phát triển đội ngũ GVCN lớp, nâng cao năng lực của đội ngũ GVCN. Bên cạnh đó còn có công tác phối hợp với CMHS, với các lực lượng trong nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện HS là một nhiệm vụ quan trọng của HT.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí công tác CTCN lớp thì HT ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên phải nắm vững các nhiệm vụ, mục tiêu, chức năng quản lí nhà trường. Đồng thời nắm vững nội dung QL CTCN lớp, các yếu tố ảnh hưởng đến QL CTCN lớp… để từ đó vận dụng vào hoạt động quản lí CTCN lớp nói chung, cũng như vận dụng các cơ sở lý luận này để tìm hiểu thực trạng quản lí CTCN lớp của HT ở các trường THPT tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993