Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học đòi hỏi giáo dục phải có bước chuyển mạnh mẽ cả về phương pháp, nội dung và cách thức quản lý; mọi người cần phải không ngừng phấn đấu học tập, biết phát huy nội lực, thể hiện được bản lĩnh hoạt động cá nhân, biết vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, không tư duy và hành động theo những khuôn mẫu sẵn có. Vì vậy, những phẩm chất và năng lực về tính tự lực, tính tích cực hoạt động, sự tư duy sáng tạo của con người cần phải được rèn luyện và bồi dưỡng ngay từ khi học ở trường phổ thông.
Từ những yêu cầu trên, Nghị quyết 29/NQ/TW đã nhấn mạnh “Chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Đây là sự khác biệt lớn nhất giữa cuộc đổi mới Giáo dục lần này với những lần cải cách, đổi mới trước đó. Đó là mục tiêu giáo dục chuyển từ “định hướng nội dung sang định hướng năng lực”. Để thực hiện việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo phải tiến hành nhiều giải pháp, trong đó đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục được xem là một giải pháp quan trọng và cần được quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn từ các nhà giáo dục, quản lí giáo dục.
Thực tế tại các trường THCS trên địa bàn huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh hiện nay giáo viên dạy chương trình hiện hành môn Toán về cơ bản vẫn theo hướng tiếp cận nội dung, chỉ tập trung hoàn thành khối lượng kiến thức, còn nặng tính hàn lâm.… Giáo viên có chú ý đến cả ba phương diện kiến thức, kỹ năng và thái độ nhưng vẫn là những yêu cầu rời rạc riêng lẽ, chưa liên kết, thống nhất và vận dụng tổng hợp thành năng lực hành động, thực hành,… gắn với yêu cầu của cuộc sống. Chương trình mới với định hướng đòi hỏi giáo viên phải tiếp cận theo hướng hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho người học, không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, động cơ, vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
Vấn đề “Tiếp cận theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi học sinh làm hoặc vận dụng được gì hơn là biết những gì. Tránh được tình trạng biết nhiều nhưng làm hoặc vận dụng không được bao nhiêu; biết những điều cao siêu, nhưng không làm được những việc rất thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật…”
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn Toán cấp THCS tại huyện Cầu Kè.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận hoạt độn dạy học, quản lí hoạt động dạy học môn Toán ở cấp THCS và thực trạng QLHĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh, nhận diện ra được điểm mạnh, điểm yếu của vấn đề, từ đó đề xuất các biện pháp QLHĐDH môn Toán theo định hướng PTNL cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THCS huyện Cầu Kè. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Quản lý HĐDH môn Toán ở các trường Trung học cơ sở.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS ở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh theo định hướng PTNL của học sinh.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc QLHĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh còn nhiều hạn chế, bất cập. Nếu xác lập đúng cơ sở lý luận của việc QLHDDH môn Toán cấp THCS và khảo sát, đánh giá đúng thực trạng QLHDDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh thì sẽ đề xuất được các biện pháp QLHĐDHmôn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè theo hướng PTNL của học sinh phù hợp, khả thi, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về QLHĐDH môn Toán theo hướng PTNL cho học sinh THCS.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Đề xuất các biện pháp QLHĐDH môn Toán theo hướng PTNL của học sinh ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
6. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung khảo sát thực trạng QLHĐDH môn Toán theo hướng PTNL của học sinh ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh và đề xuất các biện pháp QLHĐDH môn Toán của Hiệu trưởng theo hướng PTNL của học sinh ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đối tượng khảo sát: giáo viên, Cán bộ quản lý trường THCS, bao gồm: trường THCS Phong Phú, THCS Thạnh Phú, THCS Thị Trấn Cầu Kè, THCS Hòa Ân huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh đối với hoạt động dạy học bộ môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh.
- Khảo sát thực trạng từ năm học: 2022- 2023 đến 2024 – 2025
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các lý luận kết quả nghiên cứu, văn bản, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến HĐDH và QLHĐDH môn Toán ở trường THCS để xác lập cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: để tìm hiểu thực trạng thực trạng QLHĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Ngoài ra, còn dùng để khảo sát tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất.
Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giáo viên dạy Toán, học sinh có liên quan đến thực trạng HĐDH và QLHĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: thông qua nghiên cứu các báo cáo về đổi mới HĐDH và QLHĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, Phòng Giáo dục – Đào tạo, của Sở Giáo dục – Đào tạo Trà Vinh, để hỗ trợ cho đánh giá thực trạng và góp phần xác định các biện pháp QLHĐDH môn Toán theo hướng PTNL của học sinh ở các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh.
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu.
8. Đóng góp mới của đề tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
8.1 Về lý luận
- Xác lập cơ sở lý luận QLHĐDH môn Toán theo hướng PTNL của học sinh THCS.
8.2 Về thực tiễn
Phân tích, đánh giá thực trạng HĐDH, thực trạng QLHĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Cầu Kè và đề xuất các biện pháp QLHĐDH môn Toán theo hướng PTNL của học sinh ở các trường THCS huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học môn Toán cấp Trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực của học sinh.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực ở các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Tư tưởng quản lý hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục xuất hiện rất sớm trong xã hội loài người. Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp Socarates (469-399 TCN) cho rằng dạy học phải “Giúp thế hệ trẻ từng bước tự khẳng định mình, tự phát triển tri thức mới mẻ, phù hợp với chân lý”. Khổng Tử (551-479 TCN) là bậc hiền tài, ông đề cao vai trò của học sinh, rất coi trọng tính tích cực, nhận thức của người học, đó là chìa khóa dẫn đến thành công. Người thầy ở vị trí khai mở, hướng dẫn còn mọi vấn đề do người học tìm ra. Ông cho rằng “Phải dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp nhưng đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải tập luyện, hình thành nề nếp, thói quen trong học tập”. Tư tưởng về hoạt động dạy học này của Khổng Tử đã gợi mở cho các nhà quản lý giáo dục về con đường quản lý hoạt động dạy học heo hướng chủ động, tích cực, sáng tạo và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Nhà sư phạm vĩ đại J.A. Comenxki (1592-1670) người sáng lập ra hình thức tổ chức dạy học lớp bài, đặt nền móng và chính thức tách Giáo dục học ra khỏi Triết học để trở thành một ngành khoa học riêng biệt, khi bàn về những vấn đề học đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự vật và hiện tượng. John Dewey (1859-1952) là nhà sư phạm người Mỹ, ông góp phần lớn vào việc canh tân giáo dục, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để bổ sung vào kiến thức của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên. Ông đặc biệt chú ý đến hoạt động học khi viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến tổ chức hoạt động của học sinh”.
Đến thời kỳ đương đại, các quan điểm quản lý mới gắn liền với những lĩnh vực cụ thể đã được nghiên cứu và cho ra đời, đem lại lợi ích rất lớn cho các nhà quản lý. Có thể nói, tư tưởng quản lý đã được ra đời từ rất lâu, song khoa học quản lý thì còn rất mới mẻ, do đó khoa học quản lý giáo dục với tư cách là một khoa học ứng với lĩnh vực quản lý cụ thể càng trở nên mới mẻ đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Vì thế, nếu nói về lịch sử nghiên cứu vấn đề hoạt động dạy học, hoạt động học tập chắc chắn cũng đã được các nhà quản lý nghiên cứu và đề cập đến ở các nền giáo dục nhưng có lẽ cũng chỉ dừng lại ở việc tìm ra các giải pháp, biện pháp quản lý cụ thể áp dụng ở các nhà trường, các cơ sở giáo dục cụ thể nào đó.
1.1.2 Nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Thế kỷ XXI, với sự bùng nổ của tri thức, khoa học công nghệ và đặc biệt là công nghệ thông tin, nền kinh tế thế giới đang phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, diễn biến hết sức phức tạp, nổi bật là nền kinh tế ở đó “Nguồn lực con người” giữ vai trò then chốt, nhất là nguồn lực có trình độ cao, điều đó càng thể hiện vai trò của giáo dục.
Do đó, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và Quản lý giáo dục, Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: “Những khái niệm cơ bản về Quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục” của tác giả Đặng Quốc Bảo, “Đại cương về khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc và còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác về lĩnh vực giáo dục.
Các công trình nghiên cứu của các các tác giả đã đưa ra được những cơ sở lý luận quản lý giáo dục, quản lý nhà trường mang lại hiệu quả to lớn cho sự phát triển của giáo dục Việt nam. Môn Toán trong trường phổ thông có vai trò quan trọng, được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như “Phương pháp dạy học đại cương môn Toán của tác giả Nguyễn Bá kim, “Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông” của tác giả Bùi văn Nghị, các công trình của tác giả Trần Phương, trần Văn Hạo, Võ Đại Mau…
Quản lý hoạt động dạy học môn Toán cũng được nhiều học viên cao học nghiên cứu luận văn thạc sĩ như “Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với các trường Trung học phổ thông của Sở giáo dục – đào tạo tỉnh Bắc Ninh” của tác giả nguyễn Như Minh năm 2005; “Quản lý HĐDH môn Toán ở các trường Trung học phổ thông huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình” của tác giả Vũ Văn Đương năm 2018; “Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường Trung học phổ thông thành phố Vũng Tàu tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” của tác giả Phan Ngọc Huỳnh năm 2016;
“Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường Trung học phổ thông huyện Triệu Phong tỉnh Quãng Trị” của tác giả Đoàn Văn Hải năm 2023.
Hiện nay trên địa bàn huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý hoạt động dạy học môn Toán học theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Trung học cơ sở, cho nên đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Trung học cơ sở huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh”của tác giả là mới mẻ, kết quả nghiên cứu nếu thành công sẽ mang lại giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục tại các trường Trung học cơ sở của địa phương.
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
1.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học môn Toán
1.2.1.1 Dạy học:
- Nói đến dạy học có nhiều khái niệm, điển hình:
Theo Thái Duy Tuyên: “Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tác động qua lại giữa GV và HS nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…) để phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục” [30].
Theo Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [15].
1.2.1.2 Hoạt động dạy học
HĐDH là quá trình truyền thụ và lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nhận thức của con người; là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học. Hoạt động dạy của GV là hoạt động hướng dẫn, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức học tập của HS, giúp HS tìm tòi, khám phá tri thức qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân. Hoạt động học của HS là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý, biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân.
HĐDH luôn bị chi phối bởi các yếu tố của môi trường. Ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của HĐDH bằng sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.1. Các thành tố của HĐDH [26] Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Nhìn vào sơ đồ ta thấy các thành tố cấu trúc của HĐDH quan hệ tương tác lẫn nhau, bổ sung, phối hợp với nhau. Việc tác động tốt vào mối quan hệ đó là cơ sở và điều kiện để làm tăng hiệu quả HĐDH, nâng cao chất lượng giáo dục. Mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của HĐDH được phản ánh trong quá trình dạy học, với vai trò điều khiển của thầy và tự khiển của trò. Quá trình dạy học thực chất là sự thể hiện toàn bộ hoạt động có chủ định, có kế hoạch của thầy và trò, làm cho HS nắm vững và có kiến thức về tự nhiên và xã hội, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen hành động.
Theo quan điểm sư phạm tương tác thì HĐDH là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố là người dạy, người học và môi trường theo sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.2. Cấu trúc HĐDH bộ ba: người học – người dạy – môi trường.
Theo các quan điểm đó ta nhận thấy GV là chủ thể của hoạt động dạy với mục đích làm cho HS nắm vững được hệ thống kiến thức, hình thành kỹ năng từ đó phát triển trí tuệ và nhân cách. Muốn làm được điều đó người dạy phải làm sao tạo ra được tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức cho HS. Và HS là chủ thể của hoạt động học là quá trình nhận thức, tìm tòi và vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Trong nhà trường phổ thông, dạy- học là hoạt động có kế hoạch, có mục đích thực hiện nhiệm vụ là cung cấp kiến thức, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách cho HS. Hai hoạt động này gắn bó mật thiết thống nhất biện chứng với nhau. Dạy điều khiển học, tuy nhiên học phải chủ động sáng tạo. Dạy tốt tức sẽ dẫn đến học tốt và khi học tốt đòi hỏi phải dạy tốt.
GV khéo léo tổ chức cho HS khai thác ảnh hưởng của môi trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học thì đó là một nguồn tiềm năng vô tận và đa dạng, làm cho việc dạy học gắn liền với cuộc sống, tạo hứng thú học tập cho HS.
Vậy, HĐDH là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách [20].
2.1.2.3 Hoạt động dạy học môn Toán
Trên cơ sở khái niệm HĐDH, HĐDH môn Toán được hiểu là hoạt động GV tổ chức, hướng dẫn, điều khiển HS tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng cơ bản của Toán học và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ học tập ở HS. HĐDH môn Toán được thực hiện trong quá trình hình thành kiến thức toán học hoặc vận dụng nội dung kiến thức đó. HĐDH môn Toán ở trường THCS thường liên quan đến các dạng hoạt động sau:
- Nhận dạng và thể hiện: một phương pháp, một quy tắc, một định lí…
- Những hoạt động toán học phức hợp: định nghĩa, chứng minh, giải toán quỹ tích, giải toán dựng hình…
- Những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học: lật ngược vấn đề, xét tính giải được, phân chia trường hợp…
- Những hoạt động trí tuệ chung: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa,…
- Những hoạt động ngôn ngữ: khi yêu cầu HS phát biểu một tính chất, giải thích một định nghĩa, trình bày lời giải một bài toán… Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
2.1.2.4 Hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh
- Năng lực
Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bằng sự lựa chọn dấu hiệu khác nhau.
Theo tâm lý học: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao”.
Theo nhà tâm lí học Nga V.A.Cruchetxki thì: “Năng lực được hiểu như là: Một phức hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân của con người đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện để thực hiện thành công hoạt động đó”.
Theo Nguyễn Văn Cường “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [10].
- Hình 1: Các năng lực cốt lõi
Tóm lại, năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống hoặc đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ thuật trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc.
- Năng lực Toán
Theo Nguyễn Hữu Châu, Năng lực toán là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; khả năng vận dụng tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt; khả năng phân tích, suy luận, lập luận khái quát hoá, trao đổi thông tin một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau [7].
Theo nhà giáo dục học Kơrutecxki thì cấu trúc của năng lực toán học bao gồm những thành phần sau:
- Về mặt thu nhận thông tin: năng lực tri giác hình thức hóa tài liệu toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán.
- Về mặt chế biến thông tin, đó là: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
- Năng lực tư duy lôgíc trong phạm vi các quan hệ số lượng và các quan hệ không gian, các kí hiệu, năng lực suy nghĩ với các kí hiệu toán học.
- Năng lực khái quát hóa nhanh chóng và rộng rãi các đối tượng, quan hệ, các phép toán của toán học. Năng lực rút ngắn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng, năng lực suy nghĩ với những cấu trúc được rút gọn.
- Tính mềm dẻo của quá trình tư duy trong hoạt động toán học.
- Khuynh hướng đạt tới sự rõ ràng, sự đơn giản, tính tiết kiệm và tính hợp lí của lời giải.
- Năng lực thay đổi nhanh chóng và dễ dàng hướng suy nghĩ, dạng tư duy thuận chuyển qua tư duy nghịch.
Về mặt lưu trữ các thông tin, đó là trí nhớ toán học tức là trí nhớ khái quát về các quan hệ toán học, về các đặc điểm điển hình, các sơ đồ suy luận và chứng minh, về các phương pháp giải toán và các nguyên tắc xem xét các bài toán ấy.
Về thành phần tổng hợp chung, đó là khuynh hướng toán học của trí tuệ. Tuy nhiên, cần chú ý rằng tốc độ tư duy, năng lực tính toán, trí nhớ về các công thức… không nhất thiết phải có mặt trong các thành phần của năng lực toán học.
Theo Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội, các năng lực chuyên biệt của môn Toán gồm:
- Năng lực nắm vững kiến thức và kỹ năng toán cơ bản phổ thông;
- Năng lực tư duy và khả năng lập luận;
- Năng lực tưởng tượng không gian;
- Năng lực hiểu và trình bày các nội dung toán học;
- Năng lực sử dụng các kí hiệu, ngôn ngữ toán học;
- Năng lực mô hình hóa toán học;
- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề;
- Năng lực sử dụng các dụng cụ, phương tiện học tập môn toán [32].
- HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của học sinh THCS
Dạy học theo hướng phát triển PTNL của HS không chỉ chú trọng phát triển các năng lực chung mà còn chú trọng phát triển cả năng lực chuyên biệt (môn học). Do đó cần tăng cường gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, ứng dụng trong thực tiễn. Tăng cường việc học theo nhóm, cộng tác, chia sẻ nhằm phát triển nhóm năng lực xã hội.
Vì thế, dạy học theo hướng PTNL của HS bên cạnh những thuộc tính chung về dạy học (như đã biết) còn có đặc tính riêng như sau:
- Dạy học lấy việc học của HS làm trung tâm;
- Dạy học đáp ứng các đòi hỏi thực tiễn, hướng nghiệp và phát triển;
- Linh hoạt và năng động trong việc tiếp cận và hình thành năng lực;
- Những năng lực cấu hình thành ở người học được xác định một cách rõ ràng.
- Chúng được xem là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả giáo dục.
HĐDH theo hướng PTNL là tăng cường các hoạt động; tăng cường tính thực tế, tính mục đích gắn hơn nữa với đời sống hiện thực, hỗ trợ học tập suốt đời; hỗ trợ việc phát huy thế mạnh cá nhân; quan tâm hơn những gì HS được học và học được [6].
Dạy học theo hướng PTNL về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng HĐDH hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để HS được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình.
1.2.2 Khái niệm quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
1.2.2.1 Quản lý
Khái niệm quản lý là một khái niệm có ý nghĩa tổng quát. Từ khi xã hội loài người hình thành, hoạt động tổ chức, quản lí đã được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Xét ở góc độ hoạt động thì quản là điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi con người để đạt đến mục đích, phù hợp với quy luật khách quan. Dưới góc độ khoa học, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
Trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý đã được các nhà lý luận đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
F.W Taylor, một nhà quản lý người Mỹ cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Marry Follet cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”.
Theo Đặng Quốc Bảo và Bùi Việt Phú thì “Quản lí bao gồm hai công việc: quản và lý. Quản là sự nắm giữ, duy trì; lý là sự sửa sang, đổi mới. Quản là cái tối thiểu của lý, lý là cái tối đa của quản”.
- Sơ đồ 1.3. Quan hệ của Quản và Lý [2]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8].
Như vậy, ta có thể hiểu quản lí bao gồm 2 yếu tố là chủ thể quản lý và khách thể quản lý có sự tác động và tương hỗ lẫn nhau. Người quản lý tạo ra tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch đến người bị quản lý. Còn người bị quản lý tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị trực tiếp dựa trên tác động quản lý và giá trị bản thân. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song ta có thể hiểu khái quát về quản lý: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra”.
1.2.2.2.Quản Lý nhà trường:
Theo Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý nhà trường là hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [25]. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Theo Nguyễn Sỹ Thư, “Quản lý trường học là hệ thống những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [29].
Theo Phạm Viết Vượng, “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [33].
Theo Đặng Quốc Bảo và Bùi Việt Phú thì Quản lý nhà trường là sự gắn kết mười nhân tố để thực hiện sự phát triển đồng bộ, toàn vẹn của tổng thể nhà trường sau đây:
- Ba nhân tố M, N, P là nhóm nhân tố cơ bản, chúng tạo nên chương trình dạy học.
- Hai nhân tố Th, Tr là nhóm nhân tố động lực.
- Các nhân tố H, Đ, Mô, Qi, Bô gắn kết M, N, P, Th, Tr làm cho công việc của thầy – trò đạt hiệu quả và M, N, P được hiện thực hóa vào đời sống thực tiễn.
Có thể minh họa mối liên hệ của mười nhân tố đó trên một hình sao như sau:
- Sơ đồ 1.4. Mối liên hệ của mười thành tố [2]
Vậy “Quản lí trường học là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể người dạy, nhân viên, người học, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục” [2].
1.2.2.3 Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực học sinh Trung học cơ sở.
- Từ các khái niệm trên, chúng ta hiểu:
Quản lý HĐDH là sự tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học (HT) đến khách thể quản lý dạy học (người dạy và người học) bằng các giải pháp phát huy tác dụng của các phương tiện quản lý dạy học như chế định giáo dục và đào tạo, bộ máy tổ chức và nhân lực dạy học, nguồn tài lực và vật lực dạy học, môi trường dạy học và thông tin dạy học nhằm đạt được mục đích quản lý dạy học.
1.3 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.3.1 Yêu cầu đổi mới hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh Trung học cơ sở
Trước hết cần xác định các yêu cầu về năng lực toán học (mức độ phát triển ở từng lớp và của cả cấp trung học cơ sở) mà người học cần phải có trong quá trình học tập ở nhà trường và để hoạt động hữu ích, có hiệu quả trong thực tế đời sống. Tiếp theo, khi xác định các yếu tố của quá trình dạy học như: mục tiêu dạy học, phạm vi và mức độ nội dung dạy học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả học tập đều phải được đối chiếu với các yêu cầu của năng lực toán học cần hình thành và phát triển ở học sinh và cái đích cuối cùng (kết quả đầu ra cần đạt) là phải hình thành được năng lực học tập môn Toán ở các em. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Chọn lựa và tổ chức nội dung dạy học không chỉ dựa vào tính hệ thống, logic của khoa học toán học mà ưu tiên những nội dung phù hợp trình độ nhận thức của học sinh trung học cơ sở, thiết thực với đời sống thực tế hoặc có tính thích hợp, liên môn, góp phần giúp học sinh hình thành, rèn luyện và làm chủ các kỹ năng sống.
Cấu trúc các “mạch nộ dung” và các “nhánh năng lực” của môn Toán cần phải liên kết chặt chẽ với nhau, xoắn vào nhau tương tự như mô hình chuỗi xoắn kép với các liên kết ngang của phân tử ADN.
Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học dự trên cơ sở tổ chức các hoạt động trãi nghiệm, khám phá phát hiện, học tập độc lập, tích cực, tự học có hướng dẫn của học sinh (thay đổi lối học của học sinh). Tránh lối dạy học đọc chép, “áp đặt” (thay đổi lối dạy của giáo viên). Tạo dựng môi trường dạy học tương tác tích cực. Tăng thực hành, vận dụng, gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của học sinh, của cộng đồng. Chú trọng khai thác và sử dụng kinh nghiệm của học sinh trong đời sống hằng ngày.
Tập trung vào đánh giá sự phát triển năng lực học tập môn Toán của người học bằng nhiều hình thức: tự đánh giá, đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ, đánh giá thông qua sản phẩm của học sinh,… tăng cường quan sát, nhận xét cụ thể bằng lời, động viên, giúp học sinh tự tin, hứng thú, tiến bộ trong học tập môn Toán.
Ở trung học cơ sở, việc tăng cường sự gắn kết giữ nhà trường và gia đình cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển năng lực học tập môn Toán của học sinh.
Ngoài ra, do việc hình thành, phát triển các năng lực đòi hỏi sự vận dụng phối hợp các kiến thức, kỹ năng,… nên khi xây dựng chương trình hoặc thiết kế bài học môn Toán cần chú ý đến tính tổng thể, tính tích hợp, liên môn. Logic khoa học toán học không phải là yếu tố duy nhất chi phối việc tổ chức nội dung chương trình môn Toán và nội dung bài học môn Toán. Không đặt vấn đề chú trọng tới việc cung cấp nhiều kiến thức toán học thuần túy mà chú ý lựa chọn, tổ cức các nội dung học toán một cách hợp lý, tạo cơ sở cho việc phát triển các năng lực của học sinh. Cần đổi mới cách quản lý cũng như linh hoạt trong việc thực hiện chương trình dạy học. Chương trình dạy học theo hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy đinh những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình dạy học, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lụa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học. Học sinh cần đạt được những kết quả theo yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra yêu cầu cần đạt về năng lực, phẩm chất, về nội dung cũng là công cụ nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra.
1.3.2 Hoạt động người dạy Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
1.3.2.1 Mục tiêu hoạt động dạy
Điều 2 trong Luật GD nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam, phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng là bảo vệ tổ quốc”.
Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.
- Môn Toán cấp trung học cơ sở nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề, thực hiện được việc lập luận hợp lí khi giải quyết vấn đề, chứng minh được mệnh đề toán học không quá phức tạp; sử dụng được các mô hình toán học (công thức toán học, phương trình đại số, hình biểu diễn,…) để mô tả tình huống xuất hiện trong một số bài toán thực tiễn không quá phức tạp; sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường để biểu đạt các nội dung toán học cũng như thể hiện chứng cứ, cách thức và kết quả lập luận; trình bày được ý tưởng và cách sử dụng công cụ, phương tiện học toán để thực hiện một nhiệm vụ học tập hoặc để diễn tả những lập luận, chứng minh toán học.
- Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản về:
Số và Đại số: Hệ thống số (từ số tự nhiên đến số thực); tính toán và sử dụng công cụ tính toán; ngôn ngữ và kí hiệu đại số; biến đổi biểu thức đại số, phương trình, hệ phương trình, bất phương trình; sử dụng ngôn ngữ hàm số để mô tả (mô hình hoá) một số quá trình và hiện tượng trong thực tiễn.
Hình học và Đo lường: Nội dung Hình học và Đo lường ở cấp học này bao gồm Hình học trực quan và Hình học phẳng. Hình học trực quan tiếp tục cung cấp ngôn ngữ, kí hiệu, mô tả (ở mức độ trực quan) những đối tượng của thực tiễn (hình phẳng, hình khối); tạo lập một số mô hình hình học thông dụng; tính toán một số yếu tố hình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đo lường. Hình học phẳng cung cấp những kiến thức và kĩ năng (ở mức độ suy luận logic) về các quan hệ hình học và một số hình phẳng thông dụng (điểm, đường thẳng, tia, đoạn thẳng, góc, hai đường thẳng song song, tam giác, tứ giác, đường tròn).
Thống kê và Xác suất: Thu thập, phân loại, biểu diễn, phân tích và xử lí dữ liệu thống kê; phân tích dữ liệu thống kê thông qua tần số, tần số tương đối; nhận biết một số quy luật thống kê đơn giản trong thực tiễn; sử dụng thống kê để hiểu các khái niệm cơ bản về xác suất thực nghiệm của một biến cố và xác suất của một biến cố; nhận biết ý nghĩa của xác suất trong thực tiễn.
Góp phần giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề gắn với môn Toán; có ý thức hướng nghiệp dựa trên năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân; định hướng phân luồng sau trung học cơ sở (tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động). Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Năng lực của HS đối với một môn khoa học nào đó được mô tả là việc sử dụng tổng hòa kiến thức, kỹ năng, thái độ, dưới dạng những hoạt động cần thiết để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ thực trong cuộc sống. Những kiến thức, kỹ năng, thái độ đó được hình thành thông qua các mục tiêu dạy học mà GV thực hiện trên lớp qua các bài học. Mục tiêu dạy là cơ sở để HS tự tìm cách phù hợp nhất với mình để chiếm lĩnh mục tiêu của bài học, môn học và tự đánh giá được hiệu quả, giá trị của một bài dạy, một khóa dạy hay cả một chương trình.
1.3.2.2 Nội dung chương trình
Định hướng về phương pháp dạy học môn Toán trong giai đoạn hiện nay đã được xác định là: “Phương pháp dạy học toán trong nhà trường phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học, trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy”. (Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo quyết định số 1866/QĐ- BGD&ĐT). Theo định hướng dạy học này, GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình học tập còn HS là chủ thể nhận thức, biết cách tự học, tự rèn luyện, từ đó hình thành phát triển nhân cách và các năng lực cần thiết của người lao động theo những mục tiêu mới đã đề ra.
Việc dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ thầy – trò sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm của chương trình dạy học định hướng PTNL [6].
1.3.2.3 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh Trung học cơ sở
Phương pháp dạy học theo quan điểm PTNL không chỉ chú ý tích cực hóa HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ thầy- trò theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Thực tiễn và lý luận đã cho thấy, để thực hiện dạy học có hiệu quả, GV cần biết tận dụng những ưu thế của từng phương pháp dạy học, biết lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung dạy học, phù hợp với đặc điểm và điều kiện của GV, HS và của nhà trường. Kế thừa và phát huy tối đa thế mạnh của các phương pháp dạy học, sử dụng các trang thiết bị dạy học phù hợp nhằm làm cho HS chủ động, tích cực hơn trong học tập.
Một số phương pháp dạy học được sử dụng phổ biến, có hiệu quả, có khả năng đáp ứng được yêu cầu về đổi mới PPDH môn Toán hiện nay là:
- Phương pháp vấn đáp:
Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa GV và HS, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được GV đặt ra.
Đây là phương pháp dạy học mà GV không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà chỉ hướng dẫn HS tư duy từng bước để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của HS, người ta phân biệt các loại: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi.
Sự thành công của phương pháp vấn đáp phụ thuộc nhiều vào việc xây dựng được hệ thống câu hỏi gợi mở thích hợp và còn phụ thuộc vào nghệ thuật giao tiếp, ứng xử và dẫn dắt của người GV.
- Phương pháp luyện tập và thực hành:
Luyện tập và thực hành giải toán nhằm củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm các kiến thức lý thuyết. Trong luyện tập, người ta nhấn mạnh tới việc lặp lại với mục đích học thuộc các kí hiệu, quy tắc, định lý, công thức… đã học và làm cho việc sử dụng kĩ năng được thực hiện một cách tự động, thành thục. Trong thực hành, người ta không chỉ nhấn mạnh vào việc học thuộc mà còn nhằm áp dụng hay sử dụng một cách thông minh các tri thức để giải được các bài toán khác nhau. Vì thế trong dạy học Toán bên cạnh việc cho HS luyện tập một số chi tiết cụ thể, GV cũng cần lưu ý cho HS thực hành phát triển các kĩ năng.
Các bài tập luyện tập được nhắc đi nhắc lại với tốc độ ngày càng nhanh hơn và áp lực lên HS cũng mạnh hơn. Tuy nhiên không nên gây áp lực quá cao mà chỉ vừa đủ để khuyến khích HS làm bài chịu khó hơn. Thời gian cho luyện tập, thực hành cũng không nên kéo dài quá dễ gây sự nhạt nhẽo và nhàm chán. Cần thiết kế các bài tập có sự phân hóa để khuyến khích mọi đối tượng HS đều tham gia thực hành luyện tập phù hợp với năng lực của mình. Cũng có thể tổ chức các hoạt động luyện tập, thực hành thông qua nhiều hoạt động khác nhau, kể cả việc tổ chức các trò chơi học tập nhằm làm cho HS hào hứng hơn, đồng thời qua các hoạt động đó các kĩ năng của HS cũng được rèn luyện. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
- Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề:
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là “tình huống gợi vấn đề”, vì “tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề”.
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần và có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.
Phương pháp này đòi hỏi người GV phải đầu tư thời gian và công sức. GV cần phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn HS tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề.
Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với bình thường. Hơn nữa, Lecne đã cho rằng: Chỉ có một số tri thức và phương pháp hoạt động nhất định, được lựa chọn khéo léo và có cơ sở mới trở thành đối tượng của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ:
Đây là một phương pháp dạy học mà “HS được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung”.
Chỉ những hoạt động đòi hỏi sự phối hợp của các cá nhân để nhiệm vụ hoàn thành nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn hoạt động cá nhân mới nên sử dụng phương pháp này. Chẳng hạn các bài tập có nhiều phần có thể phân nhóm để các em phân công nhau giải quết hoặc trong khi thực hiện một số trò chơi toán học.
Nên tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánh giá. Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức (tránh lối suy nghĩ: đổi mới phương pháp dạy học là phải sử dụng hoạt động nhóm). Cần lưu ý tùy theo từng nhiệm vụ học tập mà sử dụng hình thức HS làm việc cá nhân hay hoạt động nhóm cho phù hợp.
- Một số hình thức dạy học theo hướng PTNL của HS cấp THCS:
Tùy theo căn cứ phân loại, chúng ta có các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Căn cứ theo số lượng, bao gồm các hình thức: Dạy học cá nhân; dạy học theo nhóm; dạy học cả lớp. Căn cứ vào không gian dạy học, gồm: Hình thức dạy học trên lớp; hình thức dạy học ngoài lớp; hình thức dạy học ngoài nhà trường.
Hiện nay, hình thức tổ chức dạy học được sử dụng phổ biến nhất là dạy học trên lớp. Tuy nhiên, để thực hiện dạy học theo định hướng PTNL, thì ngoài việc tổ chức dạy học trong lớp học với tất cả lớp ra, cần đa dạng hóa các hình thức dạy học khác nhau như: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
- Dạy học cá nhân:
Là hình thức tổ chức dạy học khi GV tổ chức cho các em HS làm việc độc lập hoặc hướng dẫn cho cá nhân.
Dạy học cá nhân giúp phát huy được tính tự lực, tự lập và khả năng tự học của HS, GV có thể bồi dưỡng thêm cho các em HS khá giỏi, giúp đỡ các em HS yếu kém.
Hình thức dạy học cá nhân có thể thực hiện qua việc: Mỗi HS làm việc với phiếu học tập; làm trò chơi khoa học; thể hiện tài năng, sở trường (làm thơ, viết văn, kể chuyện, vẽ tranh…); các hoạt động độc lập khác (sưu tầm mẫu vật, tranh ảnh…).
- Dạy học theo nhóm:
Dạy học theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học khi GV điều khiển và hướng dẫn các hoạt động học tập theo các tổ, nhóm HS.
Dạy học theo nhóm tạo cơ hội cho HS được tham gia một cách tích cực hơn vào các hoạt động học tập như được truyền đạt, được nghe ý kiến của các bạn trong nhóm để hình thành kỹ năng giao tiếp, được khám phá kiến thức và phối hợp làm việc, được học hỏi từ các thành viên khác trong nhóm để hình thành năng lực hợp tác. Ngoài ra việc học tập theo nhóm còn hình thành ở HS tinh thần tự giác, tính tự quản lí, ý thức trách nhiệm với công việc được giao; giúp cho các em HS nhút nhát có thể hòa nhập với cac em HS mạnh dạn và có thể trở nên tự tin hơn.
- Hình thức dạy học ngoài lớp:
Trong hình thức này, GV tổ chức hoạt động học tập của HS ở bên ngoài lớp học nhằm tạo thuận lợi cho HS nắm vững, mở rộng kiến thức thông qua các hoạt động và các mối quan hệ đa dạng từ môi trường học tập. Hình thức này có thể tiến hành bên trong hoặc bên ngoài khuôn viên nhà trường. Bên trong nhà trường, hình thức này được thực hiện trong một số trường hợp như: Tiến hành đo chiều cao của một cây trong sân trường, đo chiều cao của phòng học, đo khoảng cách giữa hai dãy lớp học… trong giờ toán.
Bên ngoài nhà trường, hình thức tổ chức dạy học này thường được thực hiện qua các hoạt động như: Tham quan, học tập tại nhà máy, phân xưởng; tìm hiểu về lịch sử tại di tích… Với định hướng dạy học phát triển năng lực hiện nay, xu thế tích hợp liên môn và tổ chức dạy học ngoài nhà trường đang được quan tâm và đưa vào thực hiện trong một số nhà trường. Việc thực hiện ban đầu tuy có khó khăn nhưng đã có những khẳng định về hiệu quả của hình thức tổ chức dạy học này.
So với hình thức dạy học trên lớp, dạy học ngoài lớp tạo ra môi trường dạy học đa dạng, kích thích được hứng thú của HS, làm cho nhà trường gần hơn với thực tế cuộc sống. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Mỗi hình thức tổ chức dạy học có vai trò nhất định trong quá trình dạy học ở trường THCS. Bên cạnh hình thức cơ bản là dạy học trên lớp, cần tích cực sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhằm tăng hứng thú học tập cho HS, góp phần phát triển năng lực cho các em.
1.3.2.4 Kiểm tra, đánh giá dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh Trung học cơ sở.
Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Toán là một nội dung hết sức cần thiết trong quá trình dạy học. Kết quả học tập môn Toán của học sinh là cơ sở phản ánh chất lượng dạy học của giáo viên. Trên cơ sở đó, quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cần chú ý rằng hình thức kiểm tra có thể khác nhau. Tuy nhiên đều thuộc vào các yếu tố của quá trình dạy học môn Toán, đó là mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học môn Toán. Do đó, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh phải căn cứ vào mục đích dạy học môn Toán mà học sinh đang đạt được ở mức độ nào. Đồng thời căn cứ vào kết quả học tập môn Toán của học sinh để có thể đánh giá được hiệu quả dạy học môn Toán của giáo viên.
- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với đặc trưng của nội dung, chương trình, hình thức của môn Toán.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải căn cứ vào từng điều kiện cụ thể về đối tượng học sinh, về cơ sở vật chất, về phương tiện dạy học,…
- Kết quả học tập môn Toán của học sinh phải được thể hiện ở mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) của học sinh đạt được qua bài kiểm tra.
- Đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh phải dựa trên một chuẩn cần đạt theo mục tiêu môn Toán về những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản được cụ thể hóa trong môn Toán.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đảm bảo tính công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện theo đúng nguyên tắc đánh giá, xếp loại mà Bộ GD&ĐT quy định.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh nhằn tác động trực tiếp đến giáo viên Toán để thực hiện đầy đủ và khoa học, qua đó xác định được chất lượng học tập môn Toán của học sinh và năng lực dạy học môn Toán của giáo viên. Qua đó thấy được những vấn đề cần quan tâm, chỉ đạo và đầu tư.
1.3.3 Hoạt động người học
Động cơ học tập: “Động cơ học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập liên tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhân cách và hướng tới mục đích học tập đã đề ra”
Động cơ học tập của HS không có sẵn, không bẩm sinh, di truyền và cũng không thể cung cấp hay áp đặt mà có. Động cơ học tập của HS được hình thành dần dần trong quá trình học tập, rèn luyện. Trong quá trình đó, vai trò của người thầy là vô cùng quan trọng nhất là đối với HS phổ thông. Thầy, cô là người dẫn dắt HS chiếm lĩnh tri thức, hình thành nhân cách. Trong quá trình đó, HS tự mình hình thành nên mục đích, nhu cầu, hứng thú, ý chí, năng lực, thái độ học tập… Điều đó có được là do tự thân của HS và trách nhiệm hướng dẫn của gia đình, nhà trường và xã hội. Điều quan trọng là HSSV hình thành và phát triển được cho mình những động cơ học tập đúng đắn, lành mạnh. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Thái độ học tập của học sinh: Thái độ học tập vô cùng quan trọng và nó ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh. Học sinh có một thái độ tốt sẽ có khả năng tập trung cao độ, tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng, không trải qua sự thúc ép từ bất kì ai.
Một thái độ học tập tồi tệ sẽ khiến cho học sinh giảm khả năng ghi nhớ, tiếp thu kém do không tập trung vào môn học.
1.3.4 Điều kiện môi trường dạy học môn Toán
Môi trường dạy học môn Toán là mối quan hệ trong đó thầy và trò tiến hành hoạt động dạy và học. Môi trường dạy học rất đa dạng, bao gồm môi trường nhà trường, gia đình và môi trường xã hội, tự nhiên. Môi trường dạy học bao gồm các phương tiện và điều kiện vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học, kĩ thuật và tâm lý xã hội tác động thường xuyên và tạm thời, được thầy và trò sử dụng một cách có ý thức để đảm bảo cho lao động dạy và học tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao, đây là một trong các yếu tố của quá trình dạy học. Môi trường dạy học là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để dạy và học đạt kết quả cao nhất. Do đó việc xác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường dạy học môn Toán cho học sinh là hết sức quan trọng của ngành giáo dục, của mỗi nhà trường, mỗi cộng đồng và của toàn xã hội.
1.4 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực của học sinh
Theo Nguyễn Bá Dương thì “Mục tiêu QLGD là trạng thái mong muốn trong tương lai mang lại đối với hệ thống GD, đối với trường học (là đơn vị của hệ thống), hoặc đối với vài thông số chủ yếu của hệ thống GD, của nhà trường”. Mục tiêu của QL là một bộ phận, nhưng là quan trọng nhất, tiêu biểu nhất của mục tiêu QLGD.
Mục tiêu của quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL ở trường THCS ngoài việc đảm bảo HĐDH diễn ra có kết quả, có hiệu quả, đáp ứng mục tiêu giáo dục cho HS về kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chú trọng đến phát triển các năng lực cần thiết, khả năng vận dụng kiến thức Toán học trong học tập và thực tiễn của cuộc sống.
Trong quá trình thực hiện mục tiêu, cần nhận thức đầy đủ mục tiêu trước mắt trong thời gian nhất định, đồng thời phải hình dung những mục tiêu lâu dài cần đạt được. Đảm bảo việc thực hiện đầy đủ nội dung, chương trình, kế hoạch giảng dạy ở tất cả các lớp theo khung phân phối chương trình và hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo Trà Vinh đối với môn Toán. Phải đem lại hiệu quả thiết thực, nâng cao chất lượng toàn diện theo mục tiêu, quán triệt Nghị quyết số 29 của Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục: HS nắm chắc được kiến thức cơ bản, chính xác, có được kỹ năng cần thiết, biết vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn cuộc sống.
1.4.2 Quản lý hoạt động dạy môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Quản lí dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS là sự tác động của chủ thể quản lí tới quá trình dạy học môn Toán nhằm đảm bảo dạy học không chỉ dừng lại mục tiêu hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ tích cực của người học mà còn nhằm mục tiêu cao hơn là phát triển năng lực cho người học để giải quyết các tình huống thực tiễn của cuộc sống và nghề nghiệp.
Hoạt động giảng dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học, quản lí hoạt động này bao gồm những nội dung cơ bản là: Quản lý việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch công tác; quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của GV; quản lý việc thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của GV; quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS; quản lý thực hiện quy định hồ sơ chuyên môn của GV; quản lý việc sử dụng phương tiện dạy học…
1.4.2.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Mục tiêu dạy học phải chi tiết, cụ thể và được thể hiện bằng các động từ cụ thể như nêu được, phát biểu được, giải thích được, áp dụng được, tóm tắt được, so sánh được… Mục tiêu gắn liền với nội dung dạy học. Trên cơ sở mục tiêu đã biên soạn, GV lựa chọn những vấn đề kiến thức phù hợp với đối tượng, không quá nặng nề phức tạp (nhưng vẫn đảm bảo là kiến thức trọng tâm, vẫn phải nằm trong mục tiêu của bài), đồng thời, lồng ghép những nội dung nhằm phát triển tư duy, năng lực HS.
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
Để quản lý mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong giai đoạn hiện nay, HT nhà trường phổ thông cần tập trung vào các nội dung sau:
- Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo chương trình giáo dục phổ thông theo chỉ thị nhiệm vụ năm học. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
- Phổ biến về mục tiêu giáo dục hình thành các phẩm chất và năng lực HS mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai.
- Chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn, GV chủ động lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp liên môn, đưa vào kế hoạch dạy học.
- Phê duyệt kế hoạch dạy học do các tổ, nhóm chuyên môn, GV xây dựng
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy học.
1.4.2.2 Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên
Khâu soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp cũng hết sức quan trọng. Nếu như khâu lập kế hoạch công tác là xác định nhiệm vụ dạy – học trong từng thời điểm thì khâu soạn bài và chuẩn bị lên lớp thực hiện một phần nhiệm vụ ấy. Ở khâu này, nếu GV không thực hiện cẩn thận thì không thể đem lại thành công của giờ dạy.
Khi soạn bài GV phải nắm rõ được mục tiêu của bài học về kiến thức, kĩ năng và thái độ. Căn cứ vào mục tiêu, GV phải đưa ra những phương pháp và tổ chức dạy – học sao cho phù hợp. Một giờ Toán thành công, HS ngoài việc phát triển được kĩ năng giải toán, kĩ năng suy luận tính toán thì còn phải có khả năng hệ thống hoá kiến thức, phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. GV cần dự đoán được hết những phương án trả lời, các cách giải khác nhau của một bài toán và có đáp án rõ ràng mạch lạc cho mỗi cách giải.
Giáo án soạn của GV phải đảm bảo theo đúng phân phối chương trình môn học. Bài soạn phải đảm bảo theo đúng yêu cầu đặc trưng bộ môn, thể hiện rõ mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học sẽ được sử dụng, phương tiện dạy học Toán tối thiểu và cần có; làm rõ các hoạt động của thầy và trò, cụ thể các hình thức kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của HS, định hướng phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của HS trong hoạt động học tập.
GV phải xác định việc chuẩn bị lên lớp chu đáo là nề nếp chuyên môn, là cơ sở quyết định cho thành công của giờ lên lớp. Cán bộ quản lý, tổ chuyên môn thường xuyên kiểm tra, theo dõi và điều chỉnh những sai lệch, thiếu sót, tạo điều kiện giúp cho GV chuẩn bị tốt những quy định theo quy chế chuyên môn trước khi lên lớp.
1.4.2.3 Quản lý thực hiện quy định hồ sơ chuyên môn của giáo viên
Hồ sơ chuyên môn của GV phản ánh nội dung công việc mà GV đó được phân công giảng dạy và đang thực hiện nhiệm vụ được phân công. Nội dung thể hiện trong hồ sơ chuyên môn, phần nào là cơ sở để đánh giá, ghi nhận sự chuẩn bị, đầu tư cho chuyên môn của GV đó (ở đây hồ sơ chuyên môn của một GV không đồng nhất với năng lực chuyên môn của GV đó).
Hồ sơ chuyên môn của GV cũng là phương tiện phản ánh quá trình quản lí hoạt động giảng dạy của GV có tính khách quan và cụ thể. Quản lý tốt hồ sơ chuyên môn của GV giúp cho cán bộ quản lý, HT nhà trường nắm chắc, cụ thể hơn việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của GV.
Xây dựng nề nếp thực hiện quy định về hồ sơ chuyên môn của GV, các quy định về từng loại hồ sơ chuyên môn là yêu cầu cụ thể mà cán bộ quản lí, HT nhà trường phải đặt ra cho mỗi GV thực hiện.
Hồ sơ chuyên môn của GV phải bao gồm tối thiểu các loại sau: Giáo án; lịch báo giảng; sổ điểm cá nhân; sổ dự giờ; sổ công tác, hội họp; sổ chủ nhiệm (đối với GV làm công tác chủ nhiệm)… Cán bộ quản lý, HT nhà trường thường xuyên kiểm tra hồ sơ chuyên môn của GV bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch, thiếu sót trong hoạt động giảng dạy và công tác chuyên môn của GV.
1.4.2.4 Quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Người thầy giáo cần phải biết những phương pháp dạy học cho đúng lúc, đúng chỗ và biết vận dụng phối hợp một số các phương pháp đó khi cần thiết.
Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của GV và HS trong quá trình dạy học thời gian và địa điểm nhất định, với việc sử dụng những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
Việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. GV là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
Chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho HS cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy-trò và trò-trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
1.4.2.5 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với HS, GV mà đặc biệt là với cán bộ quản lý. Đối với cán bộ quản lý giáo dục, công việc này sẽ cung cấp những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Hơn nữa đây cũng là quản lý đầu ra của HS.
Kiểm tra đánh giá theo định hướng PTNL tập trung vào các hướng sau:
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình);
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học. Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức… sang đánh giá vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy cao như tư duy sáng tạo;
- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một PPDH;
- Tăng cường ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lí phân tích, lí giải kết quả đánh giá [6]. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập. Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải, đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS phải thực hiện đúng, đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về kiểm tra, đánh giá HS theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và đảm bảo được những yêu cầu sau:
- Đánh giá được các năng lực khác nhau của HS;
- Tính khách quan;
- Sự công bằng;
- Tính toàn diện;
- Tính công khai;
- Tính giáo dục;
- Tính phát triển;
- Tính giáo dục .
Quản lý tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS, qua đó HT nhà trường sẽ nắm được kết quả thực tế của HĐDH, chất lượng dạy học bộ môn. Nó là cơ sở để đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học. Trên cơ sở đó, GV có kế hoạch cải tiến hoạt động giảng dạy của mình; HT nhà trường có biện pháp quản lý HĐDH hữu hiệu hơn nhằm giúp HS đạt được mục tiêu học tập.
1.4.2.6 Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Đây là lực lượng cần bồi dưỡng thường xuyên để chuẩn hóa và nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Trong Điều lệ trường phổ thông quy định: “Trong trường phổ thông, GV là lực lượng chủ yếu, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt đông giáo dục”. Đội ngũ GV và CBQL là lực lượng cốt cán thực hiện mục tiêu giáo dục. Vì vậy, quản lý công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ trong nhà trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi dự giờ, thăm lớp rút kinh nghiệm. Mở các lớp chuyên đề mời những GV giàu kinh nghiệm, các chuyên gia về dạy học môn Toán theo định hướng PTNL của HS, các lớp về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học để tập huấn cho GV, qua đó góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV.
1.4.3 Quản lý hoạt động học tập môn Toán theo hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Kết quả dạy học nói chung, kết quả dạy học môn Toán nói riêng ở trường phổ thông không chỉ phụ thuộc vào kết quả giảng dạy của thầy mà quan trọng hơn, mang tính quyết định là kết quả học tập của HS. Chính vì vậy, quản lý hoạt động học tập của HS có vai trò hết sức quan trọng nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Quản lý hoạt động học tập của HS bao gồm các nội dung sau:
1.4.3.1 Tổ chức xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học
Động cơ học tập của HS không có sẵn, không bẩm sinh, di truyền và cũng không thể áp đặt mà có. Động cơ học tập của HS được hình thành dần dần trong quá trình học tập, rèn luyện. Trong quá trình đó, vai trò của GV (GV bộ môn, GV chủ nhiệm…) là vô cùng quan trọng. GV là người dẫn dắt HS hướng tới tri thức, hình thành nhân cách cho HS. Trong quá trình đó, HS phải hình thành, xây dựng được cho mình mục đích, động cơ, thái độ học tập đúng đắn. Điều đó có được là do tự thân của HS và trách nhiệm hướng dẫn của GV, tác động từ phía gia đình.
Trong giảng dạy, giáo dục, GV tổ chức cho HS tự phát hiện ra cái mới, cách giải quyết sáng tạo nhiệm vụ học tập, có những trải nghiệm tốt đẹp qua học tập dần dần làm phát sinh nhu cầu của HS về tri thức khoa học, nhu cầu giải quyết các vấn đề trong học tập, ứng dụng trong cuộc sống. Học tập dần dần trở thành nhu cầu, niềm vui không thể thiếu của HS. Qua đó học tập biến thành động cơ và bắt đầu định hướng cho các hoạt động học tập cụ thể, là động lực thúc đẩy cho HS vượt qua các khó khăn trong học tập. Nhà trường động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời đối với những nỗ lực trong học tập của HS.
GV nhắc nhở HS tự mình trả lời các câu hỏi về học tập như: Học để làm gì? (mục đích); Học vì cái gì? (Động cơ học tập); Tại sao phải học? (nhu cầu) và Học như thế nào? (thái độ). Bốn câu hỏi có sự liên hoàn chặt chẽ nhau. Các câu trả lời nhận được cùng một thời điểm trên một HS sẽ cho chúng ta một bức tranh về xây dựng, hình thành động cơ học tập của mỗi em như thế nào.
1.4.3.2 Quản lý nề nếp, thái độ học tập của học sinh
Nề nếp học tập và kỷ luật học tập của HS là những điều quy định cụ thể về tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả. Nề nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến hiệu quả học tập. Vì vậy, cần phải xây dựng và hình thành được nề nếp học tập sau đây:
- Có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyên cần, chăm chỉ, có ý thức học bài và làm bài đầy đủ.
- Có ý thức tổ chức học tập ở trường, ở nhà và những nơi sinh hoạt văn hóa…
- Có ý thức chuẩn bị, sử dụng và bảo quản đồ dùng học tập của cá nhân cũng như của tập thể.
- Nghiêm túc chấp hành nội quy trường lớp, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập cũng như trong sinh hoạt.
Nề nếp học tập tốt sẽ duy trì hoạt động học tập tốt, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Vì vậy, HT nhà trường phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nề nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợp thực hiện, tạo bầu không khí thuận lợi cho HĐDH và sinh hoạt trong nhà trường.
1.4.3.3 Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của HS. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt phù hợp với đặc thù môn Toán. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho HS các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập đối với bộ môn. Cần quản lí tốt việc bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho các em; giúp cho HS đạt được những yêu cầu sau:
- Thấy được sự cần thiết của phương pháp học tập tích cực đối với việc học tập của mình.
- Nắm được nội dung cơ bản, cách thực hiện của một số phương pháp học tập tích cực phù hợp với đặc thù bộ môn Toán.
- Thực hiện được phương pháp học tập tích cực trong giờ học dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
Để đạt được các yêu cầu trên, HT cần phải tổ chức học tập, nghiên cứu, bồi dưỡng cho toàn thể GV của trường nắm vững và thống nhất các phương pháp học tập và trách nhiệm của từng đối tượng trong việc hướng dẫn phương pháp học tập cho HS. Có kế hoạch chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra đôn đốc điều chỉnh, uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch nhằm thực hiện có hiệu quả việc giáo dục phương pháp học tập cho HS.
1.4.3.4 Quản lý việc tự học của học sinh
Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình hướng tới mục đích nhất định. Tự học là một xu thế tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Việc tự học sẽ làm cho HS phát huy hết nội lực và đem lại hiệu quả cao hơn trong quá trình học tập. Trong học tập môn Toán cấp THCS, việc tự học đóng vai trò quyết định tới kết quả học tập.
Toán học so với các môn học khác có các đặc điểm cơ bản đó là tính trừu tượng cao, tính thực tiễn phổ dụng và tính logic. Những đặc điểm này đã tác động không nhỏ đến việc phải rèn luyện kỹ năng tự học cho HS. Đòi hỏi HS ngoài giờ lên lớp cần phải dành thời gian ở nhà để suy nghĩ, nghiên cứu, tìm hiểu kỹ trong và ngoài sách giáo khoa, cũng như ở trong các nguồn tài liệu khác mới có thể hiểu rõ và nắm vững các nội dung kiến thức. Từ đó góp phần hình thành nên ý thức tự học của HS, tạo cho HS có thói quen đọc sách và tài liệu tham khảo.
Những kỹ năng tự học cần có khi học ở môn Toán: Kỹ năng nghe giảng và kết hợp ghi bài; Kỹ năng đọc sách; Kỹ năng giải bài tập; Kỹ năng thực hiện các thao tác trí tuệ cơ bản như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,..; Kỹ năng tư duy logic. Đặc biệt là Kỹ năng đọc sách, đây là kỹ năng vô cùng quan trọng đối với môn Toán. Sách giáo khoa là tài liệu chính thống và cơ bản, tất cả các nội dung đều được trình bày rõ ràng, tỉ mỉ và có hệ thống. Vì vậy trước buổi lên lớp, HS có thể đọc từ một đến hai lượt bài học để biết được vấn đề sẽ được nghiên cứu trong giờ giảng tới, từ đó các em có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức mới nâng cao chất lượng của giờ học. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
1.4.4 Quản lý các môi trường phục vụ dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh
Theo Hà Thế Ngữ, môi trường giáo dục là tổng hòa các mối quan hệ trong đó nhà giáo dục và người được giáo dục tiến hành hoạt động dạy và học. Môi trường giáo dục rất đa dạng, bao gồm môi trường nhà trường, gia đình và môi trường xã hội, tự nhiên. Môi trường dạy học bao gồm các phương tiện và điều kiện vật chất, kĩ thuật và tâm lý xã hội tác động thường xuyên và tạm thời, được người dạy và người học sử dụng một cách có ý thức để đảm bảo cho lao động dạy và học tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao, đây là một trong các yếu tố của quá trình giáo dục.
Hoạt động sư phạm được thực hiện trong khung cảch môi trường mà ở đó có rất nhiều nhân tố can thiệp vào sự thực hành của nó, cả bên ngoài lẫn bên trong. Một số yếu tố vì xuất phát từ thế giới bên ngoài của người học và người dạy được gọi là ngoại cảnh trong khi các yếu tố khác vì thuộc về cuộc sống nội tâm của con người được gọi là yếu tố bên trong [19].
Các yếu tố bên ngoài của môi trường là các nhân tố tiến triển bên ngoài sư phạm; ảnh hưởng của chúng được thực hiện từ bên ngoài của người học và người dạy.
Nó hình thành nên hoàn cảnh mà việc dạy và việc học diễn ra trong hoàn cảnh ấy. Các yếu tố chủ yếu bên ngoài là môi trường, người dạy hoặc người học, nhà trường, gia đình và xã hội. Các yếu tố môi trường bên trong của môi trường chỉ rõ sức mạnh nội tại của người học và của người dạy, tạo sức ép lên quá trình học và phương pháp sư phạm. Đó là nguồn năng lượng bên trong làm dễ dàng hoặc gây bất lợi cho hoạt động sư phạm. Các yếu tố chủ yếu bên trong là tiềm năng trí tuệ, xúc cảm, giá trị, vốn sống, phong cách học và dạy, tính cách [19].
Sơ đồ 1.5 dưới đây chỉ toàn bộ các yếu tố bên ngoài và bên trong tác động vào việc học, trong khi Sơ đồ 1.6 chỉ ra toàn bộ các yếu tố bên ngoài và bên trong tác động vào việc dạy. Hai sơ đồ sau tập hợp cùng các yếu tố, trừ các yếu tố người học và người dạy xuất hiện riêng rẽ trong hình này hoặc hình kia.
- Sơ đồ 1.5. Yếu tố môi trường và việc học [19]
- Sơ đồ 1.6. Yếu tố của môi trường và việc dạy [19]
Các yếu tố môi trường trong hoạt động sư phạm không tách biệt, khép kín độc lập mà chúng có tác động lẫn nhau, ví dụ: một lớp học sạch sẽ trang trí hài hòa phù hợp sẽ tạo cảm giác thuận lợi cho dạy và học, yếu tố vật lý này cùng lúc tác động kích thích giá trị thẩm mỹ ở người học và người dạy điều đó làm tăng gấp đôi ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động sư phạm.
Quản lý môi trường phục vụ việc dạy học môn Toán theo định hướng PTNL cần tập tập trung vào các nội dung sau: Công tác trang bị CSVC, trang thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức HĐDH môn Toán theo hướng phát triển năng lực cho HS. Việc xây dựng quy tắc ứng xử tạo nếp sống văn minh trong nhà trường; xây dựng khuôn viên nhà trường xanh – sạch – đẹp – an toàn tạo cảm giác thân thiện, dễ chịu… đối với cán bộ, GV, nhân viên và HS của trường. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa đa dạng, phong phú, phù hợp với nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HS cấp THCS để tạo ra môi trường giáo dục thu hút sự tích cực, hứng thú tham gia của HS trên cơ sở đó thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông. Công tác phối kết hợp với gia đình, các lực lượng xã hội để tạo nên môi trường giáo dục thống nhất tác động tích cực, đồng bộ đến HS.
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ.
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
1.5.1.1 Năng lực quản lý của lãnh đạo nhà trường Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước đảng, nhà nước và nhân dân về chất lượng và hiệu quả hoạt động của trường mình. Việc dạy học theo định hướng PTNL của HS nói chung và đối với môn Toán nói riêng có thành hiện thực hay không, đầu tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong thực tiễn của hiệu trưởng. Thành công của hoạt động dạy học theo định hướng PTNL phụ thuộc vào cái tâm, cái tài của HT. Các phẩm chất tâm lí; trình độ hiều biết về lý luận dạy học; năng lực tố chức năng lực quản lý nguồn tài lực và vật lực, năng lực vận động xã hội, uy tín của người HT,… sẽ giúp tập thể vượt qua trở ngại trong quá trình thực hiện; thúc đẩy sự thành công của việc dạy học Toán theo định hướng PTNL.
1.5.1.2 Trình độ, năng lực, phẩm chất đội ngũ GV Toán
Đặc trưng lao động sư phạm của người thầy giáo là dạy chữ, dạy người chủ yếu bằng nhân cách của bản thân mình. Dạy học, nhìn từ góc độ tâm lý học, là sự tác động của nhân cách đến nhân cách. Vì vậy trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, bản lĩnh chính trị và phẩm chất người thầy giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học và đến chất lượng quản lý hoạt động dạy học Toán theo định hướng PTNL. Có một câu nói của một nhà giáo dục lớn từng tham gia trong ủy ban giáo dục của UNESCO: “Không có một nền giáo dục nào vượt quá tầm đội ngũ những giáo viên đang làm việc cho nó”. Giáo viên là lực lượng quyết định sự thành công của hoạt động dạy học Toán theo định hướng PTNL.
1.5.1.3 Phẩm chất và năng lực của HS
Phẩm chất, năng lực của HS là nền móng cơ bản để tiếp thu kiến thức do thầy giáo truyền thụ và chúng có ảnh hưởng quan trọng đến việc quản lý dạy học Toán theo định hướng PTNL. Dù thầy giáo có giỏi về chuyên môn, vững về nghiệp vụ nhưng HS không đủ khả năng để tiếp thu kiến thức căn bản, không chịu khó học tập thì việc dạy học Toán theo định hướng PTNL cũng khó được cải thiện.
1.5.2 Các yếu tố khách quan
1.5.2.1 Chính sách, chủ trương về dạy học Toán theo định hướng PTNL của HS
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2019 của Ban chấp hành Trung ương khóa 11 “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Trong đó, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Những văn bản chỉ thị của ngành Giáo dục và Đào tạo đã được các cấp quản lý cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện, chính là môi trường pháp lí thuận lợi cho việc dạy học theo định hướng PTNL nói chung và đối với môn Toán nói riêng.
1.5.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, của nhà trường
Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương có sự tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục nói chung và đối với hoạt đọng dạy học theo định hướng PTNL nói riêng của một nhà trường. Hiệu trưởng cần quan tâm đến các điều kiện thuận lợi của địa phương để khai thác có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, đồng thời tìm các giải pháp nhằm hạn chế những khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ, đề xuất những cơ chế, chính sách cho các cơ quan quản lý cấp trên xem xét quyết định. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
1.5.2.3 Gia đình, cộng đồng xã hội
Gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ, thái độ học tập của HS và là nơi thỏa mãng các điều kiện vật chất và tinh thần cho việc học tập của con em. Truyền thống địa phương, các giá trị văn hóa tích cực của cộng đồng trên địa bàn là những yếu tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Trong quá trình vận động phát triển của mọi sự vật, hiện tượng thì các yếu tố chủ quan- nội lực quyết định sự phát triển; các yếu tố khách quan- ngoại lực có tác dụng hỗ trợ, tạo điều kiện cho sự vật, hiện tượng tiến hóa theo các quy luật vốn có của nó.
1.5.2.4 Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ việc dạy học Toán
Điều kiện về CSVC, trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ công tác dạy học là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Việc quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng sẽ mang lại hiệu quả cao nếu trường lớp được xây dựng khang trang, đúng quy định, điều kiện và phương tiện dạy học đầy đủ, hiện đại. Các điều kiện về CSVC, trang thiết bị đồ dùng dạy học có vai trò như vật trung gian, chất xúc tác giữa GV và HS làm tăng hiệu quả của quá trình dạy học.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
Nghiên cứu về lý luận quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS Trung học là một vấn đề cấp thiết trước yêu cầu đổi mới dạy học theo hướng tiếp cận và phát triển năng lực của HS.
Ở chương 1, tác giả luận văn đã khái lược về các công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng PTNL, quản lý HĐDH theo định hướng PTNL trong nước và quốc tế của nhiều tác giả đã được khái quát hóa có hệ thống, đã xác lập được những ưu điểm về cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng vào thực tiễn quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL của HS.
Trên cơ sở xác lập các khái niệm cơ bản của đề tài, tác giả xác lập lý luận HĐDH môn Toán theo định hướng PTNL của HS đó là: Mục tiêu, ý nghĩa, phương pháp, hình thức, nội dung HĐDH môn Toán và đặc trưng của HĐDH môn Toán. Đồng thời, tập trung xác lập cơ sở lý luận về quản lý HĐDH môn Toán ở trường THCS theo hướng PTNL của HS trên các khía cạnh: Mục tiêu quản lý theo hướng PTNL HS; quản lý hoạt động dạy môn Toán theo hướng PTNL của HS; quản lý hoạt động học môn Toán theo hướng PTNL của HS; quản lý môi trường dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS.
Các vấn đề đã trình bày mới là những tri thức lí luận. Để đề xuất được các biện pháp quản lý HĐDH thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán theo hướng PTNL của HS tại các trường THCS huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh cần phải nghiên cứu về thực trạng hoạt động này trong các nhà trường. Nội dung này sẽ được trình bày trong chương tiếp theo của luận văn. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học môn Toán ở các trường Trung học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán ở các trường Trung học […]