Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho thanh thiếu niên là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm và triển khai hiệu quả. Ở Việt Nam, thời gian gần đây vấn đề GDKNS cho HS-SV đã nhận được sự quan tâm nhiều hơn từ các cấp quản lý giáo dục, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phương diện lý luận và thực tiễn của việc GDKNS thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các con đường giáo dục khác ở tất cả các cơ sở giáo dục.

Giáo dục KNS ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ giúp người học hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức và nhân cách. Việc giáo dục KNS cho HS là vấn đề được Đảng, Nhà Nước rất quan tâm điều đó thể hiện thông qua các văn bản chỉ đạo: Nghị quyết số 02/HNTW hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VIII (1996), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN khóa IX (2001), khóa X (2014), Nghị quyết số 29/NQ-TW tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI (2021), khóa XII (2024); Luật giáo dục 2013, Luật Giáo dục sửa đổi 2017, Nghị quyết số 05/2013/NQ – CP (2013), Chiến lược phát triển Giáo dục giai đoạn 2019-2028,… của Chính phủ.

Bên cạnh đó, những áp lực của xã hội về tình trạng đi xuống về mặt đạo đức của một bộ phận không nhỏ HS-SV, đòi hỏi ngành GD&ĐT cần tăng cường việc giáo dục KNS cho HS. Tại Điều lệ trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ GD&ĐT ban hành (2019) đã chỉ ra: “Ngành GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên” [6].

Thông tư số 04/2022/TT-BGDĐT (2022) Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về Quản lý hoạt động giáo dục KNS và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa và tại công văn số 463/BGDĐT-GDTX “Hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục KNS tại các cơ sở GDMN,GDPT và GDTX” (năm 2023) Trong đó đã nhấn mạnh: “Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá. Nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và cộng đồng trong giáo dục đạo đức và KNS cho học sinh” [10]. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Hệ thống chủ trương trên là cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên trên thực tế các hoạt động GDKNS gặp không ít khó khăn, bất cập, hiệu quả giáo dục KNS còn chưa cao. Có lẽ, một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó chính là vấn đề phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác quản lý hoạt động giáo dục KNS.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một lực lượng giáo dục, là tổ chức chính trị – xã hội của thanh niên Việt Nam. Là cánh tay phải của Đảng CS VN, là tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động cho thanh – thiếu niên và nhi đồng. Thông qua các nội dung hoạt động Đoàn – Đội – Sao nhi đồng để giáo dục thế hệ trẻ theo định hướng của Đảng và phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

Trong suốt chiều dài lịch sử, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã thực hiện tốt vai trò của mình. Tuy nhiên do ảnh hưởng của các yếu tố về mặt xã hội, xu thế hội nhập, mở cửa, quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Sự phát triển nhanh của nền kinh tế, một mặt mang lại các điều kinh tế cho người dân, mặt khác cũng ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến định hướng giá trị sống, đến đạo đức thế hệ trẻ. Đòi hỏi phải có sự quản lý, kết hợp giữa Ban Giám hiệu các trường THPT với BCH Đoàn trường để thông qua các hoạt động Đoàn, giáo dục KNS, giá trị sống cho thanh thiếu niên.

Cần quản lý các hoạt động để nâng cao hiệu quả giáo dục KNS cho HS THPT… những vấn đề đòi hỏi cần được nghiên cứu sâu và làm rõ hơn.

Trong quá trình công tác tại trường THPT của huyện Bình Giang, tôi nhận thấy việc quản lý GDKNS thông qua các HĐ đoàn còn chưa được quan tâm. Các công trình nghiên cứu thực tiễn GDKNS ở các trường THPT thông qua các hoạt động Đoàn còn hạn chế.

Như vậy, trên lý luận, cũng như trên thực tiễn quản lý nhà trường THPT, vai trò của tổ chức Đoàn đặc biệt quan trọng. Thông qua các hoạt động đặc thù của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban chấp hành (BCH) Đoàn trường tham gia quản lý hoạt động giáo dục KNS và tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT, đây là một vấn đề còn ít được quan tâm nghiên cứu.

Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh thông qua các hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong nhà trường, trong đó làm rõ vai trò của Ban chấp hành Đoàn trường tham gia, phối hợp với Ban giám hiệu các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

4. Giả thuyết khoa học

Nếu các biện pháp quản lý của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đối với hoạt động GDKNS cho học sinh trong việc phối hợp với BGH nhà trường được đề xuất phù hợp cơ sở lý luận quản lý giáo dục, đảm bảo các chức năng, đặc thù của hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và giải quyết được các vấn đề thực tiễn thì hoạt động GDKNS ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương sẽ đạt được mục tiêu đặt ra với chất lượng, hiệu quả cao hơn.

5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Khái quát hóa và xây dựng khung lý thuyết về GDKNS cho HS thông qua các hoạt động Đoàn ở các trường THPT
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý GDKNS cho HS thông qua các hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

5.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Nội dung giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPT huyện Bình Giang được giới hạn thông qua các hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
  • Các nghiên cứu thực tiễn được triển khai ở tất cả các lớp trong trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương thời gian 2025 – 2026.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề QLGD, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT; Phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý luận về QLGD, giáo dục KNS, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và những kết quả khảo sát, đánh giá công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua các hoạt động Đoàn để xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.

6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Ankét)

Sử dụng phiếu điều tra đối với cán bộ quản lý, giáo viên nhằm tìm hiểu thực trạng của việc quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tìm hiểu các kỹ năng sống cần thiết nhất cho học sinh THPT ở nông thôn và thực trạng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THPT.

  • Phương pháp quan sát

Quan sát cách tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, công tác giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động Đoàn.

  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tìm hiểu kinh nghiệm của cán bộ quản lý, giáo viên về việc quản lý và tổ chức cũng như sử dụng các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua các hoạt động của Đoàn.

6.3. Nhóm các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

  • Phương pháp chuyên gia: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Tổ chức thảo luận chuyên đề, lấy ý kiến các chuyên gia về một số kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá tính khả thi của các giải pháp quản lý GDKNS cho học sinh trước khi tổ chức thử nghiệm.

  • Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng để thu thập, xử lí và phân tích các số liệu nghiên cứu thông qua các tham số thống kê.

7. Cấu trúc của luận văn

  • Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phần phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đoàn trong trường THPT.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Đoàn ở các trường THPT huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

Ở Mỹ, từ những năm 1980, tất cả sinh viên trong và ngoài nước Mỹ đều có thể đăng ký chương trình giáo dục “ Thanh thiếu niên vươn xa hơn” [dẫn theo tài liệu TS Trần Anh Tuấn] [44]. Mục tiêu của cương trình nhằm giúp các thanh thiếu niên tăng cường các hành vi tích cực để dễ dàng đạt được các mục tiêu sống, hỗ trợ đạt được các kỹ năng cần thiết để phát triển và có cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh, tạo mục tiêu cuộc sống thông qua các hoạt động đóng góp tích cực cho cộng đồng. Hình thức đó được đưa vào giảng dạy 1 hay 2 lần/tuần và mỗi sinh viên không phải học chương trình đó quá 20 giờ/năm.

Ở Châu Á, tiếp cận giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) muộn hơn, vào cuối những năm 1980, thậm chí sang những năm 1990. Song ở các nước Nam Á và Đông Nam Á hiện nay lại có những hoạt động GDKNS mạnh nổi bật nhất với nhiều hướng tiếp cận không hoàn toàn giống nhau [dẫn theo Trần Anh Tuấn] [44].

Trong cuốn sách“Chương trình giảng dạy kĩ năng sống”(Life Skill Education and Curriculum, 2014) tác giả Gracious Thomas nhấn mạnh vai trò của giáo viên nhằm giáo dục kĩ năng giữ an toàn cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS. Ngoài việc phát triển một kế hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể được điều chỉnh bởi hệ thống giáo dục trong nước [39]. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Tác giả Diane Till Man trong cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” (Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh)- 2017 “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sống” [13].

Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân”. [49]

Diễn đàn Thế giới về giáo dục cho mọi người (tại Dakar, thủ đô Senegan năm 2000) đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người – gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu. Trong đó, Mục tiêu 3 nêu rõ: Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp [30].

Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 – 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác” [34].

Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách. Học sinh đến trường không chỉ học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa mang tính phổ quát toàn cầu,… tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển.

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Tác giả Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống” [04] khẳng định rằng về yêu cầu cụ thể đổi mới chương trình nội dung và phương pháp. Trong đó: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực”. Tác giả cũng khái quát rằng: Do nhận thức, thiếu nguồn nhân lực và kinh nghiệm nên việc triển khai GDKNS một cách có ý thức, có hệ thống và hiệu quả ở Việt Nam còn hạn chế. Đối tượng được tiếp cận chương trình GDKNS còn hạn hẹp. Trong lĩnh vực giáo dục chính quy(Bậc phổ thông) việc GDKNS cho người học còn mờ nhạt.

Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” [35] cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học”.

Bắt đầu từ năm 2016 xuất hiện Mô hình “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm khắc phục tính thụ động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội. Một trong những nội dung rất được chú ý là đưa GDKNS vào phương pháp dạy học mới phù hợp với từng lứa tuổi giúp các em tự tin trong học tập, tổ chức các hoạt động tập thể như các hoạt động do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức khuyến khích các em tham gia chủ động, tự giác từ đó rèn kỹ năng ứng xử hợp lí với các tình huống trong cuộc sống và sinh hoạt. [8]

Trên thực tế giáo dục phổ thông hiện nay, các hoạt động GDKNS tuy đã được triển khai rộng khắp, song vẫn còn chung chung, chưa xác định rõ ràng, đầy đủ một hệ thống KNS cần trang bị cho từng độ tuổi, càng chưa có những hướng dẫn mục tiêu, nội dung cụ thể cho GDKNS theo từng khu vực vùng miền, theo từng nhóm đối tượng đặc thù dựa trên nhu cầu phát triển khác nhau.

Như vậy, để có thể GDKNS thực sự chất lượng, có hiệu quả cho học sinh THPT không thể không nghiên cứu khảo sát định lượng mức độ hình thành KNS của học sinh, đánh giá đúng nhu cầu phát triển KNS theo từng nhóm đối tượng đặc thù, từ đó xác định rõ danh mục GDKNS cụ thể cho học sinh theo các nhóm đối tượng đặc biệt thông qua các hoạt động Đoàn trong nhà trường.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

1.2.1. Hoạt động giáo dục

Hoạt động giáo dục (HĐGD) là tất cả các hoạt động nhằm định hướng, hình thành và phát triển nhân cách cho người học theo một mục tiêu giáo dục nhất định, diễn ra trong nhà trường và ngoài trường [01]

Những HĐGD đó có thể là hoạt động dạy học các môn trong giờ lên lớp, có thể là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là một loại HĐGD trong các HĐGD.

1.2.2. Kỹ năng sống và Giáo dục kỹ năng sống

  • Kỹ năng sống

Nếu hiểu kỹ năng là năng lực (tổng hòa cả kiến thức, thái độ và hành vi) theo nghĩa rộng, thì kỹ năng sống (KNS) là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹ năng để thực hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác hoặc trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó.

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [dẫn theo TS Trần Anh Tuấn] [44].

Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục [49], đó là:

  • Học để biết (Learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,…;
  • Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…;
  • Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;
  • Học để làm (Learning to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn mạnh thêm kỹ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ.

Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy “kỹ năng sống” bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người.

Bản chất của KNS là kỹ năng tự quản bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.

Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.

KNS không phải tự nhiên có được mà được hình thành trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.

KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân, kỹ năng sống mang tính xã hội vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn và phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.

  • Các con đường hình thành KNS

Các kỹ năng nói chung và KNS nói riêng được hình thành ở mỗi cá nhân thông qua sự tổng hợp tri thức, thái độ, kinh nghiệm sống có được khi tham gia vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn bằng các năng lực cá nhân.

Có nhiều con đường hình thành KNS [dẫn theo Trần Anh Tuấn, 44], song có thể khái quát thành hai:

  • Cá nhân trải nghiệm và tích lũy kinh nghiệm sống. Bao gồm cả phương thức bị động, tự phát (“Sống lâu lên lão làng”), hoặc chủ động (học hỏi, tự rèn luyện); Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.
  • Cá nhân được chuẩn bị thông qua tác động giáo dục có tổ chức (tức GDKNS);

Có thể nói, để hình thành KNS cho HS, GDKNS là con đường hiệu quả nhất, nhờ có sự chủ động chọn lọc, cung cấp các kiến thức về các kỹ năng và nhóm kỹ năng một cách chuẩn xác, sau đó hướng dẫn, trợ giúp HS rèn luyện, vận dụng vào các t́nh huống cụ thể để giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống. Từ đó hình thành nên KNS cho các em.

Tuy nhiên, GDKNS chỉ có hiệu quả cao khi cá nhân được trải nghiệm. Nên con đường GDKNS không thể thay thế, mà cần kết hợp với con đường cá nhân trải nghiệm và tích lũy kinh nghiệm sống.

  • Giáo dục kỹ năng sống

Theo quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), “ Giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) là cách tiếp cận giáo dục giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới, trong sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng sống của con người thích ứng với những đổi thay nhanh chóng của xã hội hiện đại” [31].

Bản chất đặc thù của hoạt động GDKNS là tổ chức các hoạt động thực tiễn, giúp người học vận dụng các kiến thức về các lĩnh vực đã học được vào thực tế của đời sống xã hội, chuyển dịch kiến thức, thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó vào khả năng thực tế theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng, có thái độ tích cực để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội.

Quan niệm này nhấn mạnh rằng kỹ năng không hình thành và tồn tại một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. Kỹ năng mà một người có được (ví dụ: kỹ năng thương lượng) một phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ về nội dung thương lượng). Việc đề cập thái độ cũng là một góc nhìn hữu ích với thái độ có tác động mạnh mẽ đến kỹ năng (Ví dụ, thái độ kì thị khó làm cho một người thực hiện tốt kỹ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người khác).

1.2.3. Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

  • Khái niệm quản lý

Từ xa con người đã nhận thức được vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong tất cả các hoạt động xã hội, làm cho các hoạt động đó đạt được mục tiêu với chất lượng và hiệu quả tối ưu và góp phần làm cho xã hội loài người được vận hành và phát triển.

Quản lý là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục đích, nếu không quản lý tốt không thể đem lại kết quả mong muốn. Đồng thời quản lý là một khoa học quản lý là khoa học mũi nhọn, sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học, xã hội học v.v.

Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định.

Bản chất của quản lý là nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động riêng lẻ của nó (C.Mác).

A.I.Berg cho rằng: “Quản lý là quá trình chuyển một hệ thống động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó” [23].

Như vậy, Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của tổ chức và phù hợp với quy luật khách quan.

Các chức năng cơ bản của của quá trình quản lý bao gồm các thành tố: Lập kế hoạch; Tổ chức; Lãnh đạo; Kiểm tra, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và môi trường bên ngoài tác động vào quản lý bao gồm con người, nguyên vật liệu, máy, thiết bị, thời gian, thông tin, v.v. Trong đó yếu tố con người là thành tố chủ yếu tác động lên các thành tố còn lại, sơ đồ dưới đây thể hiện rõ bản chất của quá trình quản lý.

Sơ đồ 1.1: Bản chất của chu trình quản lý

  • Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Quản lý nhà trường là một bộ phận nòng cốt của quản lý giáo dục, là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên lý của quản lý vào lĩnh vực giáo dục ở một cơ sở giáo dục (quản lý giáo dục cấp vi mô).

Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động quản lý một cơ sở giáo dục (Hiệu trưởng hoặc người có chức vụ tương đương như hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục mà họ được giao trách nhiệm quản lý.

Quản lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên, học sinh…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt mục tiêu giáo dục. Mặt khác, quản lý nhà trường còn là sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc huy động các nguồn lực đảm bảo cho hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt được chất lượng và hiệu quả cao nhất.

1.2.3. Biện pháp quản lý

Có nhiều khái niệm khác nhau về biện pháp quản lý, theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”; Theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng của tác giả Nguyễn Văn Đạm, “Biện pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến một mục đích nhất định”[14].

Một biện pháp giải quyết vấn đề nào đó phải thể hiện được trong nó về mục đích, về nội dung và cách thực hiện, đồng thời là những điều kiện để thực hiện.

Biện pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý tiến hành sử dụng các công cụ quản lý tác động vào việc thực hiện từng khâu của chức năng quản lý trong mỗi quá trình quản lý nhằm tạo nên sức mạnh, tạo ra năng lực thực hiện mục tiêu quản lý. Hay nói cách khác, biện pháp quản lý là những phương pháp quản lý cụ thể trong những sự việc cụ thể, đối tượng cụ thể và tình huống cụ thể.

1.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống

Quản lý hoạt động GDKNS là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến đối tượng quản lý và các lực lượng giáo dục nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDKNS cho học sinh của nhà trường.

1.3. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

1.3.1. Mục tiêu của GDKNS cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay

Mục tiêu của GDKNS nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp, trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.

Xét cho cùng, GDKNS tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền và bổn phận của mình; phát triển hài hòa, toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động, tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng,

1.3.2. Nội dung GDKNS cho học sinh THPT

1.3.2.1 Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình

Kỹ năng tự nhận thức; Kỹ năng xác định giá trị; Kỹ năng kiểm soát cảm xúc; Kỹ năng ứng phó với căng thẳng; Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ; Kỹ năng thể hiện sự tự tin.

1.3.3.2. Nhóm các kỹ năng phân biệt và sống với người khác

Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng lắng nghe tích cực; Kỹ năng thể hiện sự cảm thông; Kỹ năng thương lượng; Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn; Kỹ năng hợp tác.

1.3.2.3. Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả:

Kỹ năng tư duy phê phán; Kỹ năng tư duy sáng tạo; Kỹ năng ra quyết định; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng kiên định; Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm; Kỹ năng đặt mục tiêu; Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.

1.3.3. Hình thức tổ chức GDKNS cho HS Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Việc giáo dục kỹ năng sống cho HS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức chủ yếu: Coi GDKNS là một môn học riêng biệt; Kỹ năng sống được tích hợp vào một vài môn học chính và Kỹ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình.

Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa kỹ năng sống thành một môn học riêng biệt. Còn đa số các nước, để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp kỹ năng sống vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường. Ví dụ, ở Mỹ và một nước khác sử dụng tiếp cận “Whole Approach” trong đó có hình thức xây dựng “Trường học thân thiện” nhằm thúc đẩy việc tích hợp kỹ năng sống vào các môn học trong nhà trường.

1.3.4. Nguyên tắc GDKNS cho học sinh THPT

  • Thay đổi hành vi

Mục đích cao nhất của giáo dục kỹ năng sống là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Giáo dục kỹ năng sống thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình.

  • Tương tác

Kỹ năng sống không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu. Cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên và học sinh với nhau trong quá trình giáo dục. Việc tổ chức các hoạt động GDKNS có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục kỹ năng sống hiệu quả.

  • Trải nghiệm Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Người học cần được đặt vào các tình huống thực tế để trải nghiệm và thực hành. Học sinh chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó. Kinh nghiệm có được khi học sinh được hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế.

  • Tiến trình

GDKNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất cứ mắt xích nào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ.

  • Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và hoàn cảnh học

GDKNS cần phải chú ý đến cá tính, giới tính của các em để có hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú, sinh động cũng như có phương pháp giáo dục kỹ năng sống thích hợp

  • Thời gian- môi trường giáo dục

GDKNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các t́nh huống “thực” trong cuộc sống.

1.3.5. Biện pháp GDKNS cho HS

Các biện pháp GD KNS cho HS chú yếu được thực hiện thông qua:

  • Nói chuyện giáo dục
  • Nêu gương người tốt, việc tốt về KNS
  • Nhắc nhở, phê phán những biểu hiện xấu về
  • Có hình thức khen thưởng, kỉ luật đúng đắn, kịp thời.
  • Phát động các phong trào thi đua.
  • Kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội.
  • Khuyến khích, động viên học sinh tham gia các câu lạc bộ về KNS
  • Tạo tình huống KNS để HS rèn luyện.
  • Phát huy sự gương mẫu trong đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường.

1.3.6. Đánh giá chất lượng GDKNS trong trường học

  • Kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục KNS cho học sinh thường xuyên và định kỳ.
  • Đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh thông qua tự kiểm tra và thông tin của các lực lượng giáo dục khác.
  • Khen thưởng, động viên kịp thời những kết quả tốt, những tập thể, cá nhân tích cực, điển hình, đạt kết quả cao.
  • Phê bình, nhắc nhở chính xác những biểu hiện vi phạm nội quy, pháp luật, vi phạm chuẩn mực đạo đức, sự vô trách nhiệm… gây hậu quả xấu trong việc GDKNS cho HS.

1.4. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

1.4.1. Mục tiêu của quản lý HĐ GDKNS cho học sinh trường THPT

Cũng như tất cả các hoạt động giáo dục khác, để thực hiện đạt hiệu quả công tác GDKNS cho học sinh, người hiệu trưởng phải quản lý chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu của GDKNS.

1.4.2. Nội dung của quản lý HĐ GDKNS cho học sinh THPT

  • Xây dựng kế hoạch GDKNS cho học sinh THPT

Việc xây dựng kế hoạch GDKNS cho học sinh là việc làm quan trọng, cần thiết trong công tác quản lý giáo dục của hiệu trưởng và BGH nhà trường. Đây là một quá trình xác định những mục tiêu và các biện pháp tốt nhất, thời gian tiến hành, chỉ tiêu cần đạt để thực hiện được những mục tiêu đó.

Để việc xây dựng kế hoạch GDKNS cho học sinh đạt được tốt, hiệu trưởng và BGH nhà trường phải dựa trên tình hình thực tế của học sinh, của đội ngũ giáo viên nhà trường trong năm học, của địa phương mà trường mình đóng để định ra nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp.

  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện mục tiêu GDKNS cho học sinh THPT

Người hiệu trưởng và BGH nhà trường phải đảm bảo việc chỉ đạo thực hiện GDKNS theo một số nguyên tắc sau: [dẫn theo 8]

Giáo dục học sinh qua thực tiễn sinh động: Nhà trường phải gắn thực tiễn sinh động của xã hội, của cả nước, của địa phương; nhạy bén, cập nhật với tình hình chuyển biến của địa phương, của đất nước, đưa những thực tiễn đó vào những hoạt động của nhà trường, thông qua các giờ lên lớp. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Giáo dục theo nguyên tắc tập thể: thể hiện ở 3 nội dung: Hướng dẫn, dìu dắt học sinh trong hoạt động tập thể; Giáo dục các phẩm chất, các kỹ năng bằng sức mạnh tập thể; Giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể. Vì qua tập thể, các phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tinh thần hợp tác, đoàn kết, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn, ham học hỏi mọi người v.v được nảy nở, khuyến khích phát triển, đồng thời phát huy và điều chỉnh những động cơ kích thích bên trong góp phần rất lớn vào việc GDKNS cũng như hình thành và phát triển nhân cách học sinh.

Quan tâm chỉ đạo GDKNS cho học sinh thông qua dạy các môn văn hóa và các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng nhiều hình thức và các biện pháp, người hiệu trưởng cần làm cho tập thể sư phạm nhà trường nhận thức được rằng GDKNS cho học sinh là việc làm cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, trong các hoạt động đều có thể thực hiện được.

Hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động và các hoạt động xã hội khác … là những hoạt động có điều kiện thuận lợi để giáo dục, rèn luyện học sinh các kỹ năng sống trong thực tế và có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục nhận thức, tư tưởng, thái độ cho học sinh. Thông qua những hoạt động này, những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt được rèn luyện, củng cố; khơi dậy cho các em lòng yêu thích cái đẹp, hứng thú, tự giác trong việc thực hiện, rèn luyện các KNS.

Vì vậy người hiệu trưởng phải có kế hoạch cụ thể, quan tâm tổ chức các hoạt động này, góp phần nâng cao chất lượng GDKNS cho học sinh. Ngoài ra để tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp, người hiệu trưởng cần lưu ý tạo những điều kiện, phương tiện cần thiết để các em thực hiện các yêu cầu, những thao tác, các kỹ năng, những hành vi nhà trường đề ra cho các em.

  • Xây dựng đội ngũ giáo viên có năng lực GDKNS cho học sinh

Đội ngũ giáo viên là nòng cốt quyết định chất lượng giáo dục học sinh. Đội ngũ giáo viên có năng lực GDKNS cho học sinh phải là những thày cô giáo tâm huyết, thương yêu học sinh, có kinh nghiệm thực tế, có vốn kiến thức nhất định về kỹ năng sống, có khả năng hợp tác, cuốn hút học sinh, biết lắng nghe và chia sẻ với các em, hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học. Do vậy rất cần sự chỉ đạo của Hiệu trưởng để khuyến khích, động viên, chọn lựa đội ngũ giáo viên phù hợp, chất lượng để GDKNS cho các em học sinh đạt hiệu quả. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Để hoạt động GD KNS có hiệu quả, BGH các trường cần có kế hoạch:

  • Tuyển dụng giáo viên: căn cứ theo nhu cầu thực tế của nhà trường và quy định của ngành để thông báo, tuyển dụng GV cho phù hợp.
  • Sử dụng: căn cứ vào năng lực của GV từ đó phân bổ, sắp xếp các vị trí công tác cho phù hợp. Đặc biệt là lựa chọn GV và CB đoàn có năng lực để GD KNS cho HS.
  • Bồi dưỡng: có kế hạch bồi dưỡng thường xuyên và cử GV, CB đoàn tham gia các lớp bồi dưỡng, tạo điều kiện cho GV, CB đoàn đi học nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu GD trong tương lai.
  • Đánh giá, xếp loại GV, CB đoàn, đoàn viên giáo viên: từ đó có biện pháp để bồi dưỡng, sắp xếp công việc phù hợp.

Kiểm tra, đánh giá GDKNS cho học sinh THPT

Nhà trường trong đó Ban giám hiệu có kế hoạch kiểm tra việc thực hiện GDKNS cho học sinh của giáo viên bằng các hình thức như quan sát, dự giờ, kiểm tra giờ tự quản của học sinh, tự kiểm tra đánh giá của đội sao đỏ, qua các hoạt động ngoại khóa, kiểm tra qua các tiêu chuẩn, tiêu chí thi đua theo các đợt, kiểm tra qua các tình huống cụ thể.

Qua kiểm tra, đánh giá việc GDKNS cho học sinh. Đánh giá thi đua, khen thưởng theo nhiều mức độ khác nhau. Từ đó rút kinh nghiệm, tìm ra phương pháp quản lý phù hợp. Điều chỉnh kế hoạch quản lý GDKNS cho học sinh ở các năm tiếp theo.

  • Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục, giữa gia đình – nhà trường
  • xã hội trong việc GDKNS cho học sinh THPT

Nhà trường cần phối hợp với các lực lượng giáo dục nhằm tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục; xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần huy động mọi nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho việc giáo dục trẻ nói chung, giáo dục GDKNS nói riêng.

Người hiệu trưởng cũng cần quan tâm xây dựng môi trường giáo dục thân thiện để giáo dục học sinh và một bầu không khí giáo dục trong nhà trường, xây dựng nền nếp, đúng mực, quan hệ thân thiện giữa các thành viên trong nhà trường như giữa thày với thày, thày và trò, giữa học sinh với nhau.

1.5. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia các hoạt động GDKNS trong nhà trường THPT Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

1.5.1. Vị trí, vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong nhà trường

Tổ chức Đoàn thanh niên đóng vai trò hạt nhân chính trị, nòng cốt trong các hoạt động phong trào của trường trung học phổ thông, là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong nhà trường THPT là một trong những tổ chức chính trị có vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng, phát triển và thực hiện các nhiệm vụ chính trị của nhà trường.

Công tác Đoàn trong trường học nói chung và trường THPT nói riêng có nhiệm vụ rất quan trọng đó là giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hóa cho học sinh.

Thông qua các hoạt động giáo dục đó góp phần trang bị, bồi dưỡng cho đoàn viên, thanh niên về đạo đức và những phẩm chất đáng quý của đoàn viên.

Cũng thông qua hoạt động đoàn, giúp cho học sinh nhận thức sâu sắc về tinh thần nhân đạo, tương thân tương ái, thái độ công bằng, giản dị, khiêm tốn và mình vì mọi người.

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang đổi mới, hội nhập quốc tế đã đem lại cho đất nước nhiều đổi thay, hoạt động đoàn thể trong trường học cũng cần phải bắt nhịp và đổi mới có hiệu quả trong tình hình mới để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao và đáp ứng với nguyện vọng của thanh niên và mong muốn của nhà trường, địa phương và đất nước.

Để thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ được giao, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường phải không ngừng đổi mới các nội dung hoạt động và vận dụng phù hợp, sáng tạo, hiệu quả vào thực tế nhà trường.

1.5.2. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia tổ chức, quản lý các HĐ GDKNS trong nhà trường THPT Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

  • Khái niệm quản lý HĐGDKNS cho HS thông qua hoạt động Đoàn

Quản lý hoạt động GDKNS cho HS thông qua hoạt động Đoàn là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của Hiệu trưởng nhà trường, phối hợp với Ban chấp hành Đoàn trường (với tư cách là một chủ thể tham gia quản lý nhà trường) tổ chức triển khai các hoạt động đặc thù của Đoàn TNCS trong nhà trường có lồng ghép, tích hợp mục tiêu GDKNS và các nội dung GDKNS, nhờ đó thực hiện có chất lượng và có hiệu quả các hoạt động GDKNS cho học sinh – đoàn viên TNCS toàn trường.

  • Một số hình thức hoạt động đoàn trường tham gia GDKNS cho học sinh THPT
  • Tổ chức các hoạt động chuyên đề cho đoàn viên thanh niên:

Vào các buổi sinh hoạt dưới cờ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức các buổi truyền thông giáo dục về các giá trị sống, KNS theo từng chủ đề như: Đoàn viên thanh niên THPT với phòng chống bạo lực học đường và các tệ nan xã hội; Đoàn viên thanh niên THPT với giao tiếp ứng xử có văn hóa; Đoàn viên thanh niên THPT với phòng chống lợi dụng và xâm hại; Thanh niên với tình bạn, tình yêu học trò; Truyền thông thanh niên về giới, sức khỏe sinh sản trong học sinh THPT, Rèn luyện kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm trong thanh niên học sinh,…

  • Tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ:

Đây là một loại hình hoạt động quan trọng, không thể thiếu được trong sinh hoạt tập thể đoàn thanh niên trường học nói chung và trong GDKNS cho học sinh nói riêng. Hoạt động này bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, độc tấu, nhạc cụ, thi kể chuyện,…

  • Tổ chức các hoạt động xã hội và lao động công ích:

Tổ chức đưa thanh niên học sinh vào các hoạt động xã hội như từ thiện ủng hộ đồng bào lũ lụt, các bạn học sinh có hoàn cảnh khó khăn, thăm và tặng quà mẹ Việt Nam anh hùng huyện Bình Giang… Hoạt động này khi tiến hành thường xuyên sẽ phát triển tốt các KNS, giá trị sống ở thanh niên học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Các hoạt động lao động công ích giúp học sinh vận dụng kiến thức vào đời sống như: Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường, làm đẹp bồn hoa, cây cảnh cho đẹp trường, lớp. Đây là hoạt động tưởng như là thường xuyên nhưng thực ra trong nhà trường hiện nay học sinh ít được tham gia.

  • Tổ chức hoạt động sáng tạo khoa học – kĩ thuật:

Đây là hoạt động giúp thanh niên học sinh tiếp cận được những thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến và bước đầu sáng chế những máy móc, thiết bị từ những vật liệu tái chế. Thông qua hoạt động này, đoàn trường đã tạo điều kiện cho đoàn viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, tạo cho các em sự tìm tòi, kích thích học tập tốt hơn đồng thời hình thành các đức tính cần, kiệm và kỹ năng tự khẳng định mình.

  • Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao:

Vui chơi, giải trí là nhu cầu thiết yếu của thanh niên học sinh, đồng thời là quyền lợi của mỗi đoàn viên. Nó là một loại hoạt động có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với GDKNS cho học sinh ở bậc THPT. Hoạt động này làm thỏa mãn về tinh thần cho các em sau những giờ học căng thẳng, góp phần rèn luyện một số phẩm chất: tính tổ chức, kỉ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái.

  • Ban chấp hành Đoàn trường phối hợp với BGH nhà trường trong quá trình tổ chức và quản lý GDKNS cho HS

Dựa trên cơ sở lý luận về mục tiêu và Nội dung quản lý GDKNS đã trình bày ở trên (mục 1.3 và mục 1.4) có thể xác định các nội dung Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tham gia tổ chức, quản lý các HĐ GDKNS trong nhà trường THPT. Bao gồm:

  • Tham gia lập Kế hoạch, chương trình hoạt động GDKNS cho học sinh.

Trong nhà trường THPT, BCH đoàn trường có thể tham mưu, phối hợp với BGH lập Kế hoạch, Chương trình công tác chung của nhà trường (kế hoạch chiến lược, kế hoạch năm học); Mặt khác, BCH Đoàn trường chủ động lập kế hoạch công tác đoàn, trong đó có các hoạt động đặc thù của đoàn TNCS tham gia GDKNS cho đoàn viên, thanh niên học sinh.

  • Tham gia cùng BGH tổ chức, chỉ đạo các hoạt động GDKNS của nhà trường

Trong cơ cấu quản lý, điều hành nhà trường, BCH Đoàn trường, trực tiếp là Bí thư Đoàn trường (hoặc Cố vấn BCH Đoàn trường) là một thành viên của “bộ tứ” tham gia cùng BGH tổ chức, chỉ đạo các hoạt động các hoạt động giáo dục học sinh, trong đó có các hoạt động GDKNS của nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

  • Tham mưu với BGH lựa chọn, bồi dưỡng GV, CB đoàn GD KNS cho HS.
  • Tham gia xây dựng chương trình, nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động GD KNS cho HS.

Vai trò của BCH Đoàn trường là tổ chức các hoạt động đặc thù của đoàn để huy động sự tham gia tích cực của doàn viên thanh niên học sinh tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức. Bởi trong nhà trường, tuyệt đại đa số học sinh THPT đồng thời cũng là đoàn viên Đoàn TNCS. Thông qua đó lồng ghép các KNS để GD HS.

  • Tham gia cùng BGH kiểm tra đánh giá các hoạt động GDKNS của nhà trường

BCH Đoàn trường tham gia cùng BGH thực hiện kiểm tra, đánh giá các hoạt động GDKNS cho học sinh.

Bên cạnh đó, BCH Đoàn trường còn tham gia đánh giá các phong trào thi đua và tham gia công tác khen thưởng học sinh là đoàn viên và các hoạt động tập thể của các chi đoàn TNCS trong các hoạt động GDKNS cho học sinh.

1.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lư GDKNS cho học sinh THPT thông qua các HĐ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

1.6.1. Các yếu tố chủ quan

Để đảm bảo hiệu quả quản lý hoạt động GDKNS, cần phải xem xét đến các yếu tố sau:

  • Sự quan tâm lãnh đạo nhà trường, của BCH đoàn trường đến GDKNS cho học sinh

Vai trò của Ban giám hiệu sẽ quyết định tới chất lượng hoạt động quản lý GDKNS cho học sinh THPT. Ban giám hiệu nhà trường có nhận thức đúng đắn, chú trọng tới nội dung, hình thức, phương pháp GDKNS hoặc đặc biệt quan tâm tổ chức các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khóa để lồng ghép GDKNS cho học sinh. Có như vậy hoạt động quản lý GDKNS cho học sinh của Hiệu trưởng sẽ đạt những hiệu quả nhất định. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Trong nhà trường THPT, đa số HS là đoàn viên, nếu BCH đoàn trường quan tâm phối hợp với BGH nhà trường, lồng ghép các nội dung GD KNS vào các hoạt động đoàn, cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa khác thì hoạt động GD KNS cho HS sẽ mang lại kết quả thiết thực.

  • Đội ngũ giáo viên, cán bộ đoàn tham gia GD KNS cho HS

Hiệu quả quản lý hoạt động GDKNS phụ thuộc vào chất lượng các hoạt động giáo dục được tổ chức trong thực tiễn. Vai trò người thày có ảnh hưởng lớn trong quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh THPT thông qua các bài giảng, qua tổ chức các hoạt động tập thể và chính bằng nhân cách người thày. Phong cách, đạo đức người thày ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục học sinh. Chính vì thế, người giáo viên cần phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

1.6.2. Các yếu tố khách quan

  • Chủ trương đổi mới nội dung chương trình GDKNS

Nội dung giáo dục cần phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của người học cũng như nhu cầu của xã hội. Các chương trình giáo dục kỹ năng sống được coi là hiệu quả thì phải đưa ra mô hình thực tế về kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề/ ra quyết định (học để biết), các kỹ năng tự kiểm soát bản thân, đương đầu với những cảm xúc và tình cảm (học để tự khẳng định) và các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách (học để chung sống với mọi người) cũng như các kỹ năng thực hành (học để làm) để thực hiện được các hành vi mong muốn.

  • Đặc điểm lứa tuổi, giới tính của học sinh THPT

Những đặc điểm lứa tuổi và giới tính có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành và phát triển KNS. Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự khác nhau trong hành vi ứng phó với những khó khăn của từng độ tuổi khác nhau. Kết luận của những đề tài này cho thấy từ độ tuổi 18, 19 đã chọn cách ứng phó đổ lỗi cho bản thân và sử dụng kiểu ứng phó với stress như uống rượu, bia và hút thuốc nhiều hơn so với trẻ nhỏ hơn. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Một số đề tài cũng chỉ ra sự khác biệt trong KNS của nam và nữ. Chẳng hạn, trong nhiều tình huống, nữ có mức độ thể hiện tình cảm cao hơn nam. Các em thường tìm chỗ dựa tình cảm, hỏi kinh nghiệm và lời khuyên của người khác. Bên cạnh đó, nữ thường có cách giải quyết tích cực trước tình huống khó khăn hơn nam, khả năng kiềm chế bản thân, xu hướng lảng tránh khó khăn hơn và ít thực hiện những hành vi tiêu cực hơn nam.

  • Sự phối hợp giáo dục của gia đình học sinh và các tổ chức Đoàn cơ sở

Gia đình là một trong những yếu tố tác động trực tiếp, liên tục, thường xuyên tới việc GDKNS cho học sinh. Nền nếp của gia đình ảnh hưởng lớn đến tâm lý, đạo đức, KNS của học sinh.

Các tổ chức Đòan cơ sở ở khu dân cư HS sinh sống ( Thôn, xã…) có vai trò nhất định trong quá trình GD KNS thông qua các HĐ đoàn, bởi trong các năm học, thời gian nghỉ hè các em về sinh hoạt tại Đoàn cơ sở. Để đảm bảo tính liên tục trong các HĐ GD nói chung, HĐ Đoàn nói riêng, cần có sự phối kết hợp gữa BCH Đoàn trường và BCH Đoàn cơ sở để GD HS.

  • Môi trường giáo dục

Môi trường giáo dục cần phải lành mạnh, an toàn và có khả năng bảo vệ. Để quản lý GDKNS hiệu quả cần phải coi trọng môi trường giáo dục, không chỉ ở trong nhà trường mà còn ở gia đình và trong cộng đồng. Cần phải kết hợp chặt chẽ giáo dục kỹ năng sống với các điều kiện bổ sung như chính sách phát triển một môi trường tâm lý xã hội thuận lợi và gắn với cộng đồng.

  • Điều kiện kinh tế, chính trị của địa phương.

Giáo dục và kinh tế, chính trị có vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến GD nói dung và GD KNS nói riêng. Nếu địa phương có điều kiện kinh tế tốt, có nhiều ngành nghề truyền thống, có các phong trào văn hóa, văn nghệ lành mạnh, có nhiều lễ hội, phong tục tập quán, truyền thống hiếu học sẽ là điều kiện thuận lợi cho HS học tập cũng như cho các HĐ đoàn nói riêng và các hoạt động đoàn thể nói chung. Góp phần GD KNS và đạo đức HS.

  • Ý thức phấn đấu rèn luyện của HS, của Đoàn viên.

Đây là nhân tố quyết định trong tất cả các hoạt động của HS, của Đoàn viên. HS, đoàn viên là lứa tuổi đã có sự phát triển mạnh mã khả năng ý thức và tự ý thức. Trong tất cả các hoạt động, các em đã cơ bản nhận thức được vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của các hoạt động mà các em tham gia. Nếu các em ý thức tốt sẽ thúc đẩy các em hành động, tạo lập các hành vi thói quen phù hợp với chuẩn mực của XH.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

Chương 1 đã tổng thuật một số khái niệm cơ bản như: hoạt động giáo dục, kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống, quản lý trường học, quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh, quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh thông qua hoạt động đoàn. Đồng thời cũng làm rõ mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, biện pháp, hình thức GD KNS cho HS. Những nghiên cứu lí luận trong chương 1 là cơ sở lý luận để xác định mục tiêu, nội dung và các biện pháp quản lý các hoạt động GDKNS cho học sinh…

Luận văn đã đi sâu nghiên cứu những lí luận cơ bản về lí luận GDKNS cho học sinh THPT: mục tiêu, nội dung, hình thức, nguyên tắc, biện pháp và đánh giá được chất lượng GDKNS cho HS THPT trong trường học.

Chương 1 cũng đã làm rõ nội dung quản lý hoạt động GDKNS thông qua hoạt động đoàn trường trong sự phối hợp giữa BGH trường THPT và BCH Đoàn trường trong quá trình quản lý hoạt động GDKNS cho học sinh THPT: xác định được vị trí, vai trò của Đoàn TNCS HCM trong quá trình tham gia tổ chức, quản lí HĐ GDKNS trong nhà trường THPT.

Đồng thời, luận văn cũng đã xác định được các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến quá trình GD KNS cho HS.

Những nghiên cứu trên là cơ sở để nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp để QL GDKNS thông qua HĐ đoàn trong trường THPT. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993