Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là kể từ khi nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/06/2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người”. Học sinh, sinh viên có vai trò rất lớn trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá của đất nước ta hiện nay, đây là nguồn bổ sung cho lực lượng lao động xã hội có trình độ cao, là nguồn nhân lực chủ yếu để phát triển đất nước. Đồng thời cũng là người đi đầu trong các phong trào do Đảng và Nhà nước đề ra, là người tiếp thu tinh hoa văn hoá, khoa học kỹ thuật của các nước phát triển trên thế giới, đồng thời cũng là người giới thiệu Việt Nam cho tất cả mọi người trên thế giới biết đến. Do đó Học sinh sinh viên phải có năng lực tự hoàn thiện, tự học để tiếp cận với tri thức khoa học và công nghệ bằng các kênh thông tin khác nhau, không chỉ bằng con đường học tập trên lớp. Xuất phát từ vị trí vai trò, đặc điểm của đội ngũ Học sinh sinh viên mà vấn đề tự học càng trở nên quan trọng trong xã hội hiện đại. Ký túc xá Ngoại ngữ trực thuộc Trung tâm Hỗ trợ sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, là một trong những đơn vị có chức năng sắp xếp bố trí chỗ ở cho học sinh, sinh viên để học tập và nghiên cứu phối hợp cùng nhà trường để đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Thực tế, chất lượng học tập của học sinh, sinh viên còn chưa cao, chúng tôi nhận thấy học sinh, sinh viên còn rất lúng túng trong tự học, tự nâng cao kiến thức chuyên môn và tay nghề. Các thầy cô giáo phần lớn chỉ tập trung truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm cho học sinh, sinh viên mà chưa quan tâm hướng dẫn cho học sinh, sinh viên tự học, tự nâng cao kiến thức. Học sinh, sinh viên học tập còn mang tính chất đối phó với kiểm tra và thi cử. Khả năng tự học hỏi, tự nghiên cứu còn rất yếu; công tác quản lý việc tự học của học sinh, sinh viên nội trú chưa được sát sao. Chính vì vậy, tìm ra biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên đang sinh sống tại ký túc xá là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ tình hình trên tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp bậc thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng luận cứ khoa học và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động tự học của sinh viên nội trú các trường đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu hoạt động tự học và biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, nội trú tại ký túc xá Ngoại Ngữ.
5. Câu hỏi nghiên cứu: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ hiện có những hạn chế, bất cập nào? Nguyên nhân của các hạn chế đó?
- Cần dựa trên cơ sở khoa học quản lý nào để để đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội?
- Cần những biện pháp quản lý nào để hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội có chất lượng và hiệu quả ?
6. Giả thuyết khoa học
Nếu tìm được biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại Ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp, đáp ứng yêu cầu đào tạo thì chất lượng hoạt động học tập của sinh viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú
- Điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú của trường, . tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội.
- Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề hoạt động tự học nhằm xây dựng khung lý luận cho đề tài.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, trò chuyện, quan sát, xin ý kiến chuyên gia, nhằm phân tích thực trạng.
- Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích, xử lý các thông tin, số liệu thu được.
9. Những đóng góp của đề tài hay ý nghĩa khoa học
9.1. Ý nghĩa lý luận:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ hiện nay, chỉ ra những mặt được và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội nói riêng và trong cả nước nói chung.
10. Cấu trúc luận văn
Nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú các trường Đại học.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ-Đại học quốc gia Hà Nội
- Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc xá Ngoại ngữ – Đại học quốc gia Hà Nội
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú các trường Đại học.
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử vấn đề tự học
Tự học là một vấn đề từ trước đến nay luôn được mọi người quan tâm.
- Có nhiều quan niệm về vấn đề này:
Ngay từ thời cổ đại, khi Giáo dục học chưa được hình thành nhưng xã hội cũng đã xuất hiện nhiều tư tưởng về vấn đề tự học.
Từ thời Trung Hoa cổ đại, các nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quan trọng của vấn đề tự học. Khổng Tử (551 – 479 Trước công nguyên), trong cuộc đời dạy học của mình ông luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực của người học. Ông đã từng dạy học trò: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho” hay “Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa”.
Socrat (469 – 309 Trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu “Anh hãy tự biết lấy anh” qua đó, mong muốn học trò phát hiện ra “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận.
Đến thế kỷ XVIII – XIX các nhà giáo dục nổi tiếng như J.Rutxô (1712 – 1778), Disterverg (1790 – 1886) và K.D Usinxki (1824 – 1890) T.H Petstalogi (1746 – 1827) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức”[26].
Nhiều nhà giáo dục ở Châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học sinh. Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật ông T.Makiguchi đã trình bày những tư tưởng giáo dục mới trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”. Ông cho rằng giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Raja Roy Singh, nhà giáo dục Ấn Độ trong tác phẩm “Giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã đưa ra quan điểm về quá trình “Nhận biết dạy- học”, và ông chủ trương rằng người học phải là người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy – học”. Theo ông “Sự học tập do người học chủ đạo”
Các nhà giáo dục hiện đại cũng đã đi sâu vào nghiên cứu khoa học giáo dục cũng đã khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học. Phát triển tư tưởng từ quan điểm của các nhà giáo dục tiền bối, họ đã chỉ ra một số yếu tố quan trọng như:
N.A Rubakin, Smit Hecbơc đã nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động cơ hoạt động đúng đắn là điều kiện để học sinh tích cực chủ động trong học tập.
Để giúp người học nâng cao tính tích cực nhận thức và đạt hiệu quả trong hoạt động tự học các tác giả như A.M.Machiuskin, A.V.Petrovski, cũng đã đề ra trong việc thiết kế các bài tập nhận thức, nhất là bài tập nêu vấn đề để SV thực hiện trong thời gian tự học đó là trách nhiệm của người giáo viên.
Cuối thế kỷ XX, quan niệm về học tập suốt đời được coi là chìa khóa mở cửa vào thế kỷ XXI. Theo khuyến cáo về “Giáo dục cho thế kỷ XXI”, UNESCO đã nêu bốn trụ cột về giáo dục: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”.
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả về quản lý hoạt động tự học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Tự học và quản lý tự học ở Việt Nam, ngay từ thời xưa đã được đề cập đến, như nhà toán học Lương Thế Vinh từ một đứa trẻ chăn trâu vẫn luôn tu chí học hành. Các bậc thầy trong giáo dục thời xưa đã từng chú ý đến vai trò của người học như: Chu văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời đại ngày nay cũng có nhiều ý kiến về vấn đề này.
Ngay từ khi lãnh đạo đất nước giành độc lập Bác Hồ, dù bận trăm công, nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian cho việc tự học: Khi nói chuyện với các đảng viên hoạt động lâu năm (vào ngày 9 tháng 12 năm 1961), Hồ Chủ tịch đã tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học… Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Và với Bác, nguyên lý và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau: “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân”. Bác Hồ đã từng dạy: cách học tập… lấy người học làm nòng cốt, và khi nói về công tác huấn luyện và học tập, Người nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”, Người khuyên “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”[17,tr18].
Nghị quyết Hội nghị TW2, Khoá VIII đã đề cập đến vấn đề “Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”, “Phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”.
Điều 40 Luật giáo dục (2015) nêu rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [15,tr 31].
Từ quan điểm chỉ đạo trên, để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tự học của các giáo sư, các nhà giáo dục học như Thái Duy Tuyên, Nguyễn Cảnh Toàn, Hà Thị Đức, Trần Quốc Thành, … đã được hoàn thành: “Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường Cao đẳng Đại học chuyên nghiệp” của tác giả Thái Duy Tuyên, “Tuyển tập tác phẩm tự học – Tự giáo dục – Tự nghiên cứu” của tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [21].
Vấn đề nghiên cứu tự học và hoạt động tự học đã được đặt nền tảng vững chắc về quan điểm chỉ đạo nhằm đưa Việt Nam hội nhập với nền kinh tế tri thức. Và trong những năm gần đây đã có nhiều luận văn thạc sỹ quan tâm nghiên cứu vấn đề này, như:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Tuyết Hồng với đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định”. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Lý với đề tài: “ Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hòa Bình”
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Văn Quang với đề tài: “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của SV nội trú trường Cao đẳng Sơn La”.
Các tác giả đã nghiên cứu vấn đề tự học ở những góc độ khía cạnh khác nhau, chỉ ra vai trò, vị trí tầm quan trọng của tự học, các phương pháp tự học, các điều kiện và phương tiện phục vụ tự học, các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả tự học và các phương pháp nâng cao chất lượng tự học.
Nhưng về phương diện quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú Ký túc xá Ngoại Ngữ – Đại Học Quốc Gia Hà Nội thì chưa có đề tài nào đề cập tới. Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại Ký túc xá Ngoại Ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội.
1.2 Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
1.2.1 Tự học
Tự học là gì? Vị trí của hoạt động tự học đối với quá trình học tập nghiên cứu của mỗi người ra sao? Nội dung phương pháp tự học bao gồm những vấn đề nào?… Đây là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu giáo dục đã dày công nghiên cứu từ lâu:
Nhà tâm lý học N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động các nhân bằng cách thiết lập các mối liên hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [25] .
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp…) và khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [21,tr.631].
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học, GS.TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”[21].
Theo tác giả Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định” [18,tr.37].
Tự học là một dạng lao động trí óc đòi hỏi người học phải tích cực chủ động quyết tâm cao. Trong quá trình tự học người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực hoạt động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập sáng tạo cho hôm nay và cho mai sau.
- Từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi thống nhất khái niệm về tự học như sau:
Tự học là một quá trình hoạt động nhận thức của mỗi người, là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả chất lượng chiếm lĩnh tri thức của loài người để phát triển nhân cách. Tự học đòi hỏi một sự nỗ lực, tự giác, kiên trì sáng tạo về phương pháp hình thức phù hợp với điều kiện, khả năng và mục tiêu đặt ra. Tự học không chỉ là lĩnh hội tri thức khoa học mà còn bao gồm kinh nghiệm sống, lao động và học tập, chiếm lĩnh những giá trị văn hoá xã hội của nhân loại và dân tộc trong quá khứ lịch sử và hiện tại.
1.2.2. Quản lý Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động.
Quản lý là yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Đó là loại lao động để điều khiển người lao động. Nó là một thuộc tính lịch sử, có tính vĩnh hằng.
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.
Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [24,tr33].
Ở Việt Nam chúng ta, khi nói đến quản lý có nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra những khái niệm về quản lý:
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [8, tr.7].
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6,tr.1].
Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước ta có thể kết luận: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm hướng dẫn, điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt tới những mục đích phù hợp với ý chí của nhà quản lý và phù hợp quy luật khách quan.
Các chức năng quản lý: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Chức năng lập kế hoạch (kế hoạch hóa).
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất giúp cho nhà quản lý tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học. Trên cơ sở đó căn cứ vào những gì đã có, những gì sẽ có trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ mong muốn của tổ chức. Lập kế hoạch bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động.
- Xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý.
- Lập kế hoạch sẽ tạo ra khả năng cho việc điều hành tác nghiệp của hệ thống làm cho việc kiểm tra được dễ dàng.
- Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch.
Theo quan niệm của Ernest Dale, chức năng tổ chức là một quá trình, bao gồm 5 bước sau:
- Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức;
- Phân chia toàn bộ công việc thành các nhiệm vụ để các thành viên hay bộ phận trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp logic. Bước này gọi là phân công lao động;
- Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả. Việc nhóm gộp nhiệm vụ cũng như thành viên trong tổ chức gọi là bước phân chia bộ phận;
- Thiết lập một cơ chế điều phối, tạo thành sự liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận tạo điều kiện đạt được mục tiêu một cách dễ dàng;
- Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh nếu cần.
Công tác tổ chức bao gồm:
Xác định cấu trúc của bộ máy.
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
Chức năng chỉ đạo. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Chỉ đạo là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý (con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống.
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh.
- Động viên khen thưởng. Theo dõi, giám sát.
- Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.
- Chức năng kiểm tra đánh giá.
Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần phải thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót lệch lạc, tìm ra nguyên nhân của những sai sót, điều chỉnh và tạo thông tin cho quản lý tiếp theo.
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm 4 giai đoạn ,trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý. Chức năng kiểm tra, đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý
1.2.3 Giáo dục và quản lý giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của con người. Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ráng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội.
Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục [14].
Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [14].
Từ các định nghĩa trên ta thấy có hai yếu tố cơ bản thường được nhắc đến trong quản lý giáo dục đó là:
- Chủ thể quản lý: Hệ thống, bộ máy quản lý giáo dục các cấp.
- Khách thể quản lý: Là hệ thống giáo dục quốc dân hay sự nghiệp giáo dục của địa phương.
Như vậy, sự tác động từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có thể từ người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục đến các đối tượng quản lý là người dạy, người học, cơ sở vật chất thiết bị, hoặc từ tác động giữa các cấp quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
1.2.4 Nhà trường và quản lý nhà trường
1.2.4.1 Nhà trường
Nhà trường là tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước, xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, đây là cơ sở chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Nói chung nhà trường vẫn là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý lại vừa là một hệ thống độc lập, tự quản của xã hội. Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội.
Trường học là tổ chức cơ sở của các cấp quản lý giáo dục, cho nên quản lý trường học là nội dung quan trọng của quản lý giáo dục, khoản 2, điều 48, Luật giáo dục 2015 đã định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [15].
1.2.4.2 Quản lý nhà trường
- Có nhiều tác giả quan niệm về quản lý nhà trường khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [19,tr34].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh [10,tr61].
Là một thiết chế đặc biệt của xã hội nên nhà trường cùng với công tác quản lý trường học là vô cùng quan trọng, bao gồm sự quản lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường. Người ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm các thành tố và được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.2: Quản lý các thành tố của quá trình dạy học
Vai trò của người quản lý là phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành liên kết chặt chẽ với nhau đưa đến kết quả mong muốn.
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm: Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị nhằm phục vụ cho việc học tập, giảng dạy; Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường để xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị để tiến hành cho hoạt động dạy học và giáo dục; Quản lý tổ chức đội ngũ nhà giáo, CBCNV, tập thể Học sinh sinh viên thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường; Quản lý các hoạt động chuyên môn; Quản lý chương trình, thời gian, quản lý chất lượng, theo chương trình giáo dục của Bộ, của nhà trường; Quản lý việc học tập của Học sinh sinh viên theo quy chế của Bộ Giáo dục và đào tạo. Hay nói một cách tổng quát quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục để đạt mục tiêu giáo dục. Do vậy, công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có quản lý các hoạt động trong nhà trường và quản lý các quan hệ giữa nhà trường với xã hội.
1.2.5 Quản lý hoạt động tự học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Khái niệm
Quản lý hoạt động tự học là quản lý các hoạt động học tập tích cực của người học và các điều kiện đảm bảo cho người học học tập tích cực, nhằm nâng cao hiệu quả học tập của người học và hiệu quả đào tạo của cơ sở giáo dục.
Quản lý hoạt động tự học của sinh viên là một nội dung quản lý rất quan trọng của hoạt động quản lý nhà trường. Vì nếu quản lý tốt hoạt động tự học của sinh viên sẽ tạo ra những nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ năng, có ý thức tổ chức kỷ luật … và ngược lại nếu quản lý kém sẽ làm suy yếu các nguồn lực và làm giảm chất lượng học tập của sinh viên và chất lượng đào tạo của nhà trường.
- Mục tiêu của quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Mục tiêu của quản lý hoạt động tự học của sinh viên là làm cho quá trình đào tạo, huấn luyện được vận hành đồng bộ, có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo:
Về nhận thức: SV có nhận thức đúng đắn về mục đích của việc học tập nâng cao trình độ, trên cơ sở đó có tình cảm, có thái độ tốt đối với hoạt động tự học của bản thân và ý thức tự học, tự rèn luyện.
Về thái độ: Giúp SV biết cách xây dựng kế hoạch, phương pháp học tập và thực hiện đúng các quy định về tự học, tự khắc phục khó khăn để tiến hành tự học, biết đấu tranh với những hành vi sai trái trong học tập.
Về hành vi: Rèn luyện tính kiên trì, hình thành tính tự chủ, tính tự giác, thói quen độc lập trong suy nghĩ và hành động, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu.
- Nội dung quản lý hoạt động tự học
Tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò của tự học và thúc đẩy hoạt động tự học của SV:
Thông qua giáo dục truyền thống nhà trường, trang bị và nâng cao nhận thức cho SV về mục tiêu, yêu cầu đào tạo, kích thích niềm hứng thú, say mê học tập tự học của SV, xây dựng bầu không khí học tập tích cực. SV tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên. Bởi vì, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu.
Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự tự khẳng định mình, tự thoả mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập và rèn luyện, sự mong muốn thành nghề trong tương lai… cho tới cấp độ cao là thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khát khao tri thức. Mọi động cơ đều được hình thành từ những tác động thực tiễn và được cá nhân hoá thành hứng thú, tâm thế, niềm tin của mỗi cá nhân. Hình thành động cơ hoạt động phải được bắt đầu từ việc xây dựng các điều kiện cho phù hợp với nhận thức, tình cảm của cá nhân. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Quản lý kế hoạch tự học:
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng. Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao. Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó. Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao. Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch. Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi.
Kế hoạch tự học giúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả. Từ đó quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập của SV.
- Quản lý nội dung tự học:
Trong mục tiêu đào tạo của trường cao đẳng, đại học nói chung, mỗi ngành học đều có mục tiêu đào tạo riêng, bao gồm khối kiến thức về khoa học cơ sở, cơ bản và khối kiến thức về khoa học chuyên ngành SV theo học. Đó là những nội dung học tập bắt buộc trong trường, nhiệm vụ của SV phải hoàn thành trong thời gian quy định. Ngoài nội dung bắt buộc trong khung chương trình, SV có thể tự học, tự nghiên cứu các lĩnh vực tri thức và nghề nghiệp theo sở thích, năng khiếu của bản thân. Việc quản lý nội dung tự học nhằm hướng SV vào nội dung phù hợp với mục tiêu, chương trình đào tạo.
Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho nội dung tự học phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo, thì giảng viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho SV. Nội dung tự học gồm 2 phần:
Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc.
Tư vấn nội dung tự học cho sinh viên, định hướng nghiên cứu đào sâu, mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung học tập.
- Quản lý các phương pháp tự học: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Để việc học tập nói chung và tự học nói riêng có hiệu quả thì SV phải có phương pháp học tập. Phương pháp học tập phải phù hợp với nội dung học tập. Mỗi nội dung tự học có phương pháp tự học tương ứng, phù hợp với điều kiện tố chất và năng lực học tập của mỗi SV. Đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, trừu tượng hóa, khái quát hóa…. Ngoài ra bên cạnh những phương pháp chung còn có các phương pháp đặc thù với từng môn học như phương pháp học kỹ thuật nghề nghiệp là luyện tập thực hành…Từ các phương pháp học tập, tự học, mỗi SV cần lựa chọn, xác định cho bản thân phương pháp học tập phù hợp với năng lực, sở thích của bản thân.
Việc quản lý các phương pháp tự học của SV được thực hiện thông qua: Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học tích cực; việc hướng dẫn các phương pháp tự học cho sinh viên; việc hướng dẫn phương pháp tự học cho sinh viên chọn, đọc, ghi chép đúng khi đọc; thông qua việc tổ chức Xê-mi- na báo cáo chuyên đề về tự học của sinh viên; thông qua việc tổ chức sơ kết, tổng kết nêu gương sinh viên có phương pháp tự học có hiệu quả…
Mục tiêu của quản lý phương pháp tự học là chủ thể quản lý nhằm hướng cho SV có phương pháp tự học phù hợp với nội dung học tập, với điều kiện và năng lực của mỗi SV.
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học:
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của SV là một khâu quan trọng của quản lý để đo lường kết quả thực hiện kế hoạch và điều chỉnh sai lệch nếu có để đạt kết quả mong muốn. Một yêu cầu không thể thiếu trong khâu quản lý chất lượng tự học là hình thành được ý thức tự kiểm tra đánh giá ở SV, giúp cho SV biết xác định khả năng học tập của mình, xác định những việc đã thực hiện và chưa thực hiện để tự điều chỉnh bản thân nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động tự học. Đó là kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học, thực hiện kế hoạch tự học theo mục tiêu, nhiệm vụ tự học, phát hiện những sai lệch giúp SV điều chỉnh hoạt động tự học.
Vấn đề tự kiểm tra đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của sinh viên là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của việc học tập nói chung, tự học nói riêng. Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả tự học bao gồm:
- Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên.
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu yêu cầu, nhiệm vụ tự học phát hiện sai lệch, giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động tự học.
- Quản lý việc tổ chức thi, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên:
Để đáp ứng yêu cầu hoạt động tự học của SV Ký túc xá phải đảm bảo các điều kiện cho hoạt động tự học của sinh viên trên các mặt sau:
- Quản lý cơ sở vật chất đảm bảo cho việc học tập, việc ăn, ở, tự học, sinh hoạt tập thể khác cho sinh viên.
- Quản lý giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và các phương tiện kỹ thuật phục vụ việc dạy học và học tập.
- Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian tự học cho sinh viên.
1.3 Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
1.3.1 Đào tạo theo phương thức tín chỉ và các yêu cầu sinh viên tự học
Hoạt động tự học của sinh viên là một hoạt động không thể thiếu và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập ở bậc đại học. Tuy nhiên, trong các phương thức đào tạo khác nhau, hoạt động này lại có những nét đặc thù riêng. Sự khác biệt giữa hoạt động tự học trong học chế niên chế so với học chế tín chỉ được thể hiện ở một số điểm sau:
Trước hết, trong phương thức đào tạo theo niên chế, sinh viên tuân thủ theo một chương trình do nhà trường định sẵn của từng học kỳ, từng năm học, từng khóa học căn cứ vào thời khóa biểu. Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học. Sinh viên có nhiệm vụ và quyền được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù hợp với điều kiện của mình. Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó. Khi đó người sinh viên phải ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu sao cho quá trình học tập hiệu quả nhất.
Thứ hai, hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ qui định hoạt động tự học của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập. Hoạt động dạy – học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học. Trong ba hình thức tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giảng bài, hướng dẫn; sinh viên nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giảng viên,..), hình thức thứ ba có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giao nội dung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi được yêu cầu). Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học.
Tùy thuộc tính chất đặc thù của từng môn học (mục tiêu, nội dung môn học) mà có các hình thức tổ chức dạy – học khác nhau. Có những môn học chỉ có một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có những môn học có hai hoặc cả ba kiểu giờ tín chỉ. Trong mọi trường hợp, công thức tính cho mỗi môn học là không đổi:1+0+2 (môn học thuần lý thuyết); 0+2+1 (môn học thuần thực hành); 0+0+3 (môn học thuần tự học). Cách tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ cho chúng ta thấy một đặc điểm rất quan trọng góp phần tạo nên sự khác biệt với phương thức đào tạo truyền thống. Nếu hoạt động tự học trong học chế niên chế chỉ mang tính chất tự nguyện thì phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ coi tự học là một thành phần hợp pháp và bắt buộc phải có trong hoạt động học tập của sinh viên. Để học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành, thực tập trên lớp sinh viên cần phải có 2 hay 1 giờ chuẩn bị ở nhà. Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của sinh viên.
Thứ ba, nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3 thành phần chính:
- Phần nội dung bắt buộc phải biết (N1) được giảng trực tiếp trên lớp.
- Phần nội dung nên biết (N2) có thể không được giảng trực tiếp trên lớp mà giáo viên có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Phần nội dung có thể biết (N3) dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, thảo luận nhóm, xemina, làm thí nghiệm… và các hoạt động khác có liên quan đến môn học.
Như vây, kiến thức của mỗi môn học được phát triển thông qua những tìm tòi của người học dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên. Nếu sinh viên không tự học thì họ mới chỉ lĩnh hội được 1/3 khối lượng kiến thức của môn học và như vậy đồng nghĩa với việc họ không đạt được yêu cầu của môn học đó. Ngoài ra, một điểm rất quan trọng, khác biệt với học chế niên chế là trong học chế tín chỉ, hoạt động tự học được kiểm tra, đánh giá thường xuyên thông qua các bài kiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận …trong suốt cả quá trình học. Qua các phân tích trên đây, rõ ràng rằng trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hoạt động tự học của sinh viên trở thành hoạt động bắt buộc với các chế tài cụ thể qui định cho hình thức học tập này.
1.3.2 Mục đích. nội dung, phương pháp và cách thức tự học của sinh viên
Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên như đã phân tích trên đây là do tác động của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nhưng dù là nguyên nhân gì thì hoạt động tự học như vậy không đáp ứng được với phương pháp đào tạo theo tín chỉ mà cần phải có những biện pháp nhằm tăng cường hoạt động này.
Chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trực tiếp và gián tiếp. Trong đó chúng ta phải thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của giảng viên, sinh viên và điều kiện phục vụ tự học trong việc đẩy mạnh hoạt động tự học của sinh viên
Vai trò của giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ
Giảng viên đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc định hướng và kích thích ý thức tự học cho sinh viên. Không phải giảng viên chỉ có nhiệm vụ quan trọng trong những giờ lên lớp còn những giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên thì không cần can thiệp. Ngược lại, đối với hoạt động tự học của sinh viên, giảng viên phải quan tâm hơn. Đối với hoạt động tự học, giảng viên cần kịp thời tư vấn khi sinh viên cần.
Một số nhiệm vụ chính của giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên như sau:
- Giúp sinh viên nắm được đề cương môn học
Khi bắt đầu một môn học, giảng viên cần giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương của môn học đó. Nội dung của đề cương bao gồm: Mục đích môn học, Mục tiêu môn học, Nội dung chi tiết của môn học, Điều kiện tiên quyết, Hình thức tổ chức và phương pháp dạy – học cho từng nội dung của môn học, Hình thức kiểm tra – đánh giá của từng hoạt động học tập…Qua đó, sinh viên chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu của môn học. Giảng viên cần phải tuân thủ theo đúng kế hoạch trong đề cương và yêu cầu sinh viên nghiêm túc thực hiện đề cương này.
Xác định rõ nội dung tự học và phương tiện để thực hiện nội dung đó Trong đào tạo theo tín chỉ, nội dung N2, N3 như đã đề cập ở trên là những nội dung của hoạt động tự học. Giảng viên cần thiết kế các nhiệm vụ tự học cụ thể cho sinh viên để họ có thể tự chiếm lĩnh được các nội dung này, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của từng bài học trong một khoảng thời gian định trước. Để giúp sinh viên thực hiện được nhiệm vụ tự học của mình, giảng viên cần giới thiệu đầy đủ các tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo, cách thu thập, tra cứu và xử lý thông tin trong tài liệu với những hướng dẫn chi tiết, cụ thể. Bên cạnh đó, giảng viên cần tăng cường hướng dẫn, giúp đỡ sinh viên xây dựng kế hoạch tự học khoa học, hợp lý, phù hợp với điều kiện của mình để đạt tới đích một cách hiệu quả nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Kiểm tra – đánh giá hoạt động tự học của sinh viên
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, khi hoạt động tự học là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức kiểm tra – đánh giá hoạt động này. Nếu giảng viên chỉ giao nhiệm vụ tự học mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó mà không đem lại kết quả như mong muốn. Giảng viên thường xuyên đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như bài tập cá nhân (tuần); bài tập nhóm (tháng); bài tập lớn (học kỳ thông thường là một bài tổng luận về môn học) và các bài thi giữa kỳ, cuối kỳ. Qua đó hình thành cho sinh viên cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập
- Vai trò của sinh viên đối với hoạt động tự học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ
Bên cạnh sự hướng dẫn của giảng viên, sự quản lý của nhà trường thì hoạt động tự học chỉ có thể thực sự đem lại hiệu quả khi có sự nỗ lực của bản thân chủ thể tham gia, đó chính là sinh viên. Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải thay đổi nhận thức, xóa bỏ sức ỳ để có những phương pháp học tập tích cực, thái độ tự chủ- tự chịu trách nhiệm nhằm thích ứng với những yêu cầu học tập mới.
- Một số nhiệm vụ chính của sinh viên đối với hoạt động tự học như sau:
Nắm vững mục tiêu của môn học và mục tiêu của từng bài học (mà thông thường được mô tả khá kỹ trong đề cương môn học được cung cấp khi bắt đầu học môn học) để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tự học phù hợp và nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó.
Đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trước giờ lên lớp: đọc tài liệu, làm các bài tập, bài kiểm tra, thảo luận nhóm theo yêu cầu của giảng viên.
Trong quá trình tự học, sinh viên cần suy nghĩ, sáng tạo và mạnh dạn đưa ra những ý kiến, nhận xét, thắc mắc của mình mà không quá phụ thuộc vào tài liệu và những bài giảng của giảng viên.
- Tăng cường các điều kiện phục vụ tự học của sinh viên
Hoạt động tự học của sinh viên không thể thực hiện tốt nếu không đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết bị học tập, nguồn học liệu… Trong đó hệ thống nguồn học liệu đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tự học của sinh viên. Nhận thức được vai trò quan trọng của yếu tố này, nhà trường cùng ký túc xá cần có kế hoạch để không ngừng cải thiện điều kiện cơ sở vật chất của mình như:
Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm -thực hành – thực tập, thư viện; bám sát yêu cầu cúa các đề cương môn học để chuẩn bị các học liệu được coi là bắt buộc ghi trong đề cương môn học
Tăng cường khả năng khai thác các tiện ích của mạng nội bộ, mở rộng nguồn tư liệu điện tử, thiết bị dạy học… bằng cách ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin hiện đại. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, khi xem xét các điều kiện phục vụ hoạt động tự học, các nhà quản lý cũng cần quan tâm tới các điều kiện phục vụ, thái độ phục vụ sinh viên của các bộ phận chuyên trách, các chính sách hỗ trợ của nhà trường để tạo cho sinh viên một môi trường học tập tốt nhất.
Kết luận: Hoạt động tự học của sinh viên đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy -học đại học nói chung và đặc biệt cần thiết trong phương thức đào tạo theo tín chỉ. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học cần phải có sự quản lý sát sao của mọi người liên quan đến hoạt động tự học của sinh viên, đặc biệt giảng viên phải đổi mới phương thức tổ chức dạy học và đòi hỏi cao hơn tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của sinh viên trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình.
1.4 Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú
1.4.1 Bản chất quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú
Quản lý Hoạt động tự học của SV nội trú là những tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên nội trú. Đây là quá trình thực hiện các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Xây dựng kế hoạch: Căn cứ vào kế hoạch học tập của nhà trường trong từng năm học để xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức thực hiện.
- Tổ chức: Căn cứ kế hoạch đã được xây dựng, phân bố thời gian, hình thức tổ chức sao cho phù hợp với nội dung.
- Chỉ đạo: Ban hành các văn bản pháp quy có liên quan đến quản lý Hoạt động tự học của SV.
- Kiểm tra: Tổ chức, thành lập các đoàn kiểm tra, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm kết quả đạt được của Hoạt động tự học của sinh viên nội trú.
1.4.2 Mục tiêu quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú
Mục tiêu quản lý hoạt động tự học của SV nội trú là nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo hiệu quả. Đạt được mục tiêu này cần phải:
Đối với Ký túc xá:
- Đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của SV về Cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị phục vụ cho việc tự học của SV.
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, quá trình tự học của SV.
Đối với sinh viên:
- Cần xác định đúng mục đích của việc tự học đối với mỗi bản thân cá nhân.
- Có thái độ, phương pháp, ý thức tự học, tự nghiên cứu, biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Lập kế hoạch
Kế hoạch tự học là bảng phân chia một cách chi tiết về nội dung tự học theo thời gian một cách khoa học và hợp lý nhất dựa trên động cơ tự học, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện đảm bảo cho việc tự học của người học. Từ việc xây dựng kế hoạch, người học sẽ chủ động nắm bắt được những nhiệm vụ cụ thể để đạt được mục tiêu, người học phải tự giác thực hiện các nhiệm vụ của mình, kiểm soát được toàn bộ quá trình tự học. Kế hoạch tự học của SV phải được cụ thể hoá thành thời gian biểu trong từng buổi, từng tuần, từng tháng, từng học kỳ đối với từng môn học. Khi kế hoạch tự học được xác định rõ ràng SV sẽ thuận lợi trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học và mức độ đạt được của mục tiêu tự học đã đề ra.
Quản lý xây dựng kế hoạch tự học của SV nhằm đảm bảo mọi SV trong quá trình học tập tại trường đều phải có bản kế hoạch học tập riêng cho mình. Kế hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính khả thi thể hiện ở sự sắp xếp, bố trí chính xác các công việc, phân phối hợp lý thời gian và xác định đúng các hình thức tổ chức thực hiện từng công việc và mức độ hoàn thành chúng. Phải đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp lý các hình thức tự học, các môn học có tính chất khác nhau.
Xây dựng kế hoạch tự học là việc làm thể hiện tính khoa học, tính tích cực chủ động nhằm giúp cho SV bố trí thời gian công việc một cách hợp lý, hoàn thành đúng tiến độ và chất lượng. Song việc thực hiện kế hoạch một cách có hiệu quả và thường xuyên lại là một việc khó hơn. Đây là quá trình biến những điều đã dự định thành hiện thực, là sự tiến hành trong thực tiễn các hoạt động theo những phương thức đã lựa chọn.
Điều kiện cần và đủ của quản lý kế hoạch tự học của SV là: việc lập kế hoạch học tập và việc thực hiện kế hoạch tự học của SV. Điều này có nghĩa khi đã lập được kế hoạch học tập yêu cầu SV phải thực hiện bằng được kế hoạch đã đề ra. Việc thực hiện này đòi hỏi SV phải có sự kiên trì, nhẫn nại, quyết tâm cao, có sự nỗ lực lớn của ý chí, tập trung tư tưởng hướng mình vào hoạt động học tập để thực hiện kế hoạch đề ra.
- Tổ chức Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Nội dung tự học là những kiến thức bắt buộc SV phải nắm bắt được và những kiến thức yêu cầu SV phải tự đào sâu, mở rộng suy nghĩ, trang bị thêm cho bản thân về những vấn đề, những nội dung được nghe giảng trên lớp.
Quản lý nội dung tự học của SV nhằm tận dụng và phát huy hiệu quả thời gian ngoài giờ lên lớp của SV nội trú, hướng SV tập trung vào những nội dung của yêu cầu đào tạo. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý Ký túc xá trong nhiệm vụ quản lý hoạt động tự học của SV.
Phương pháp tự học của mỗi cá nhân, của mỗi môn học khác nhau sẽ khác nhau. Để quản lý phương pháp tự học phải bắt đầu từ việc xác định mục đích, động cơ học tập đúng đắn, đó chính là cách học, biện pháp học và kỹ thuật học…Do vậy, người học cần biết tổ chức việc quản lý phương pháp tự học của mình theo một kế hoạch hợp lý, biết tạo ra điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc học tập và tự học tập suốt đời, học ở mọi người, mọi nơi, mọi lúc.
Quản lý phương pháp tự học là biện pháp giúp SV tự học tốt. Để tự học tốt SV phải có phương pháp học tập khoa học để tiết kiệm thời gian, sức lực, đạt hiệu quả cao, và để làm được điều này SV phải trang bị cho mình một số phương pháp cơ bản như: phương pháp nghe giảng và ghi chép, phương pháp đọc tài liệu, phương pháp ghi chép khi đọc tài liệu, phương pháp xử lý thông tin…
- Chỉ đạo
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải đảm bảo các điều kiện phục vụ cho hoạt động tự học của SV, cho SV có được những điều kiện tốt nhất để phát huy tiềm năng cá nhân trong tự học. Công tác này bao gồm:
Quản lý cơ sở vật chất đảm bảo việc học tập trên lớp, tự học, sinh hoạt tập thể. Quản lý sách, giáo trình, tài liệu tham khảo, phương tiện kỹ thuật dạy học. Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian tự học của sinh viên.
Quản lý việc xây dựng môi trường thuận lợi cho sinh viên học tập.
- Kiểm tra-đánh giá
Việc kiểm tra đánh giá hoạt động học tập, tự học của sinh viên có vai trò rất quan trọng, nó vừa giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình dạy học, nó lại vừa có vai trò bánh lái, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy và giúp sinh viên thay đổi phương pháp học tập để phù hợp với hình thức, phương pháp kiểm tra nhằm đạt kết quả cao. Lý luận dạy học cũng như thực tiễn cho thấy: Kiểm tra đánh giá tri thức kỹ năng, kỹ xảo của SV là một khâu quan trọng của quá trình dạy học và được xem là một phương pháp dạy học. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Đối với SV nội trú, việc kiểm tra đánh giá hoạt động tự học bao gồm: Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của SV nội trú (hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học…).
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học, phát hiện sai lệch giúp SV điều chỉnh hoạt động tự học.
Kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả tự học là chức năng của giáo viên, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ quản lý sinh viên.
1.4.4 Tổ chức các lực lượng tham gia quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú.
Các lực lượng tham gia quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú bao gồm:
- Phòng Công tác Học sinh sinh viên
Tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của nhà trường.
Chỉ định Ban cán sự lớp Học sinh sinh viên lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khoá học. Quyết định bổ nhiệm có thời hạn Ban cán sự lớp.
- Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ, lập danh sách trích ngang của Học sinh sinh viên.
- Lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác Học sinh sinh viên theo quy định hiện hành.
- Xây dựng, rà soát quy chế và các quy định, quy trình liên quan đến công tác học sinh, sinh viên.
- Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho Học sinh sinh viên.
- Giới thiệu Học sinh sinh viên liên hệ với các đơn vị ngoài trường nhằm phục vụ trực tiếp cho việc học tập, nghiên cứu khoa học và phục vụ các công việc chính đáng khác của Học sinh sinh viên.
- Là đầu mối đón tiếp các cơ quan, cá nhân đến làm việc về các vấn đề liên quan đến Học sinh sinh viên.
- Đề nghị khen thưởng cho tập thể hoặc cá nhân Học sinh sinh viên đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện.
- Đề nghị xử lý kỷ luật đối với Học sinh sinh viên vi phạm nội quy, quy chế.
- Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho Học sinh sinh viên.
- Tổ chức cho Học sinh sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác.
- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho Học sinh sinh viên. Là đầu mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình, địa phương. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Tập hợp ý kiến phản ánh của Học sinh sinh viên, trả lời và giải quyết khiếu nại về các mặt liên quan tới học tập và sinh hoạt nói chung.
Phối hợp với Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các phòng chức năng tạo điều kiện cơ sở vật chất và tổ chức cho Học sinh sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, các câu lạc bộ, các hoạt động giải trí lành mạnh khác và các hoạt động từ thiện, xã hội.
Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với Học sinh sinh viên về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến Học sinh sinh viên.
Tạo điều kiện giúp đỡ Học sinh sinh viên tàn tật, khuyết tật, Học sinh sinh viên diện chính sách, HSSV có hoàn cảnh khó khăn.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến Học sinh sinh viên; hướng dẫn Học sinh sinh viên chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế.
- Các khoa
Khoa là đơn vị quản lý chuyên môn của trường, có các nhiệm vụ sau đây:
Tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy chung của nhà trường;
Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên, sinh viên thuộc khoa theo phân cấp của Hiệu trưởng;
Tổ chức phát triển chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình môn học, tài liệu giảng dạy do Hiệu trưởng giao. Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học;
Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên và cán bộ nhân viên thuộc khoa.
- Giáo viên chủ nhiệm lớp
Là người được phân công giáo viên chủ nhiệm lớp Học sinh sinh viên để hướng dẫn các hoạt động của lớp, giáo viên chủ nhiệm lớp có nhiệm vụ:
Dựa vào tình hình thực tế, vạch kế hoạch giúp lớp tổ chức thực hiện chương trình đào tạo (học tập, rèn luyện) trong từng tháng, học kỳ và năm học. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Cùng cán bộ lớp theo dõi, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của lớp chủ nhiệm theo từng tháng, học kỳ và năm học; đồng thời báo cáo kết quả đó với Khoa với các phòng Công tác Học sinh sinh viên và phòng Đào tạo.
Liên hệ với gia đình Học sinh sinh viên để phối hợp giáo dục Học sinh sinh viên khi cần thiết. Ghi nhận xét, xác nhận các vấn đề thuộc về quản lý hành chính Nhà nước trong phạm vị hoạt động của lớp (như các đơn từ của Học sinh sinh viên, các báo cáo của lớp)
Kết thúc thời gian chủ nhiệm lớp phải bàn giao hồ sơ công tác chủ nhiệm lớp cho cán bộ quản lý Học sinh sinh viên Khoa và bàn giao tình hình lớp cho giáo viên chủ nhiệm mới.
Giáo viên chủ nhiệm lớp vừa làm công tác giảng dạy, vừa làm công tác theo dõi, hướng dẫn chỉ đạo đơn vị lớp do mình phụ trách. Giáo viên chủ nhiệm lớp là người am hiểu về tình hình học tập và rèn luyện cũng như các hoạt động phong trào của các SV trong lớp phụ trách.
- Ban quản lý ký túc xá.
Quản lý, đôn đốc Học sinh sinh viên thực hiện nội quy khu nội trú, giữ gìn an ninh, trật tự trong khu vực ký túc xá. Phối hợp với cơ quan an ninh, các cơ quan chức năng khác tuyên truyền, phổ biến cho Học sinh sinh viên nhằm phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động không lành mạnh khác. Quản lý cơ sở vật chất khu nội trú.
Phối hợp với các phòng ban chức năng nhà trường để nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của Học sinh sinh viên đang sinh sống tại Ký túc xá.
Tìm kiếm các nguồn học bổng, các nguồn hỗ trợ để trao cho các Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập.
Phối hợp với các phòng ban chức năng các lực lượng hỗ trợ tốt nhất theo dõi, quản lý, giám sát việc học tập và sinh hoạt của Học sinh sinh viên sống trong Ký túc xá.
- Tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Xây dựng phong trào thi đua học tập, rèn luyện trong đoàn viên – sinh viên; phát động mạnh mẽ phong trào SV tự quản; nắm bắt các nhu cầu nguyện vọng chính đáng của SV để kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết.
Tạo các diễn đàn, sân chơi trao đổi học thuật; bồi dưỡng ý thức tự học, tự rèn luyện; phối hợp tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học, các hoạt động ngoại khoá; xây dựng các gương điển hình vượt khó vươn lên trong học tập.
Việc quản lý Hoạt động tự học cho SV nội trú cần có sự vào cuộc và phối hợp nhịp nhàng của các bộ phận chức năng trong trường. Tuỳ theo tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận để có sự chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể các nhiệm vụ và biện pháp quản lý Hoạt động tự học cho phù hợp với từng thời điểm nhất định.
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú.
1.5.1 Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Môi trường học tập thay đổi: Khi ở gia đình và học ở trường phổ thông, họ có sự giám sát, quản lý chặt chẽ của cha mẹ, thầy cô giáo. Nhưng đến trường cao đẳng, đại học thì không còn khép kín như thế. Vì ở môi trường Cao đẳng, đại học sv có tính chủ động cao, cùng với sự trưởng thành về xã hội, về tâm- sinh lý; qua đó nhiều nhu cầu được khơi dậy và xuất hiện, phát triển theo hướng đa dạng, phong phú hơn như: nhu cầu tìm hiểu, mở rộng kiến thức tăng lên, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần (tình bạn, tình yêu….), nhu cầu được học tập, tự học, tự đào tạo, rèn luyện để bản thân tự khẳng định, hoàn thiện vị trí của mình (theo định hướng cho nghề nghiệp tương lai sau khi tốt nghiệp để vào đời).
Ở độ tuổi thanh niên: Đây là giai đoạn tâm – sinh lý của các em phát triển mạnh nên đại bộ phận sv còn nông nổi, thiếu kinh nghiệm cuộc sống xã hội, tò mò,….Do đó, sv đánh giá các hiện tượng đời sống xã hội một cách nông cạn nên dễ có thái độ cực đoan đối với các sự việc này. Nhận thức cũng chưa đầy đủ, dễ bị kích động và lôi kéo khi những gì vượt qua phạm vi của khái niệm khoa học hạn hẹp đã học. Đây là một trong những nhược điểm mà nhà trường, các nhà giáo dục cần lưu ý để khắc phục và hướng các em đi đúng mục tiêu đào tạo.
Sinh viên nội trú được nhà trường bố trí sắp xếp ở trong phòng chung. Trong mỗi phòng chung có thể là sv cùng lớp, cùng khóa, cùng khoa hoặc khác lóp, khác khóa, khác khoa; Có thể cùng hoặc khác chuyên ngành được đào tạo; cùng tuổi hoặc không cùng tuổi, khác nhau về thành phần xuất thân, về trình độ nhận thức và quan niệm sống… Song họ có chung một mục đích là học tập để trở thành những người có nghề nghiệp theo chuyên ngành được đào tạo.
- Sống và hoạt động theo nội qui Ký túc xá và qui chế Học sinh sinh viên nội trú.
- Sống và học trong môi trường tập thể vì vậy sv bắt buộc phải có mối quan hệ đoàn kết, chan hòa, yêu thương nhau.
Nhân cách của sv được hình thành, chịu tác động, ảnh hưởng một phần của nhiều yếu tố trong môi trường sống nội trú. Đó là những người sống xung quanh: thầy cô giáo, cán bộ nhân viên, bạn bè xung quanh khu nội trú…
1.5.2 Yếu tố chủ quan
- Xây dựng động cơ học tập của sinh viên
SV tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên. Bởi vì, sự thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu. Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tại đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải là những điểm số, những chứng chỉ… mà không có thực lực vì động cơ học tập chệch hướng. Có động cơ học tập tốt khiến cho SV luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
- Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, có thể tách thành hai nhóm cơ bản: Các động cơ hứng thú nhận thức.
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập.
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ và chứa nhiều những yếu tố gợi sự tò mò.
- Xây dựng kế hoạch học tập
Bất kì SV nào muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng. Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao. Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó. Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao. Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch. Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi.
- Tự mình nắm vững nội dung tri thức
Đây là vấn đề quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất. Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bề vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này. Nó bao gồm các hoạt động:
Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra. Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt.
Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được. Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh.
Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật. SV thường gặp rất nhiều khó khăn. Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được. Trong trường hợp này cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng. Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu. Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết.
Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức. Hoạt động này giúp SV có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học. Giúp SV chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trình học ở Cao đẳng và Đại học của SV. Tự học nhằm phát huy tính tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức của SV, tự học là điều kiện cần để thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở các trường Cao đẳng, Đại học là: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của sinh viên”. Do đó tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho các trường, đây là một việc làm mang tính cấp thiết, quyết định chất lượng đào tạo.
Quản lý hoạt động tự học của SV là việc làm thường xuyên của các nhà trường. Quản lý tốt hoạt động tự học sẽ góp phần nâng cao sự thống nhất hoạt động giữa thầy và trò, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động tự học rèn luyện của SV, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực, xây dựng được môi trường sư phạm tạo cơ hội cho SV thực hiện nhiệm vụ đào tạo.
Hoạt động tự học của SV là một hình thức tự học mà ở đó phát huy cao nhất vai trò chủ thể tích cực, độc lập nhận thức của SV nhưng không tách rời vai trò điều khiển của GV và của cán bộ quản lý. Do vậy trong hoạt động tự học của SV nội trú, bên cạnh tính tích cực, chủ động, tự giác của cá nhân SV thì cán bộ quản lý cần chú trọng đến việc quản lý kế hoạch, nội dung, phương pháp dạy học của GV và quản lý trang thiết bị, Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho việc dạy của GV và tự học của SV; người cán bộ quản lý cần đặc biệt chú trọng đến công tác kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của SV, nhất là đối với sinh viên nội trú. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc.
Những vấn đề nêu trên là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng quản lý Hoạt động tự học của SV nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của SV nội trú tại Ký túc xá Ngoại Ngữ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viên nội trú

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên nội trú tại ký túc […]