Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tỷ lệ đầu tư/GDP cao nhất trên thế giới, trong đó đầu tư công (ĐTC) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư, cao hơn hẳn FDI và đầu tư tư nhân. Thật vậy, trong những năm qua, tỷ trọng ĐTC trong tổng vốn đầu tư xã hội luôn ở mức trên, dưới 40%. Do ĐTC chiếm tỷ trọng lớn, nên bất kỳ sự thay đổi về tốc độ tăng trưởng ĐTC, đều ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng tổng mức đầu tư.
Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển đất nước không thể phủ nhận, ĐTC ở Việt Nam thường kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó, Chính phủ khóa XIII, giai đoạn 2011-2015 đã chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế với ba trụ cột: Thắt chặt ĐTC từ ngân sách nhà nước (NSNN), tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đồng Nai luôn giữ vững vị trí, vai trò của một tỉnh trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của khu vực phía Nam và của cả nước, với mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh luôn cao hơn mức bình quân của cả nước. Một trong những nhân tố quan trọng của những thành tựu nêu trên là những hoạt động ĐTC, trong đó có quản lý nhà nước (QLNN) trên lĩnh vực này. Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Tuy nhiên, cũng như các địa phương khác trên cả nước, QLNN về ĐTC tại Đồng Nai còn thiếu sót, yếu kém: Chất lượng một số quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; Kế hoạch bố trí vốn chưa thực sự hợp lý; Hiệu quả hoạt động thẩm định và quản lý dự án ĐTC chưa cao, dẫn đến lãng phí và thất thoát vốn đầu tư; Hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát đánh giá đầu tư còn mang tính hình thức.
Trong bối cảnh nền kinh tế cả nước nói chung và tại Đồng Nai nói riêng, đang đối diện với rất nhiều thách thức, khó khăn như áp lực lạm phát, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, sức ép cạnh tranh trong và ngoài nước… Muốn vượt qua được những thách thức này, Đồng Nai cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa chất lượng QLNN nói chung và hiệu quả công tác QLNN đối với ĐTC nói riêng. Thực tiễn đang đòi hỏi các cơ quan QLNN về ĐTC trong tỉnh phải có giải pháp phù hợp. Đồng thời khẩn trương và quyết liệt giải quyết để ĐTC thực sự là động lực quan trọng cho Đồng Nai sớm đạt mục tiêu là tỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai”. Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc thực hiện tốt và nâng cao hiệu quả QLNN về ĐTC tại tỉnh Đồng Nai, đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của địa phương.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Để chuẩn bị cho Luận văn cao học với đề tài “Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai”, học viên đã tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu liên quan đến vấn đề cần giải quyết. Xin giới thiệu một số tài liệu mà học viên tham khảo, vận dụng cụ thể là:
Để nhận thức sâu hơn về khái niệm, bản chất và hình thức, các quy định pháp lý, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả ĐTC, thực trạng ĐTC tại các quốc gia và kinh nghiệm tái cơ cấu ĐTC cho Việt Nam, tổng quan về ĐTC giai đoạn từ năm 2000 đến nay và đưa ra một số định hướng đổi mới ĐTC, trong đó có QLNN về ĐTC giai đoạn 2011-2020, không thể bỏ qua một số công trình, quyển sách, như: – TS.Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái, (2011), Đầu tư công thực trạng và tái cơ cấu, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội [3]; Nguyễn Đức Kiên (2014), Tái cơ cấu đầu tư công để phát triển bền vững, Nxb Giao thông vận tải [27]; GS.TS Vương Đình Huệ (2014), Thực hiện chủ trương cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, Tạp chí Cộng sản, tháng 10/2014 [24]; TS.Vũ Thành Tự Anh, Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công – Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright [4]; TS.Vũ Cương (2014), Tăng cường hiệu lực của hệ thống quản lý đầu tư công theo tinh thần Luật Đầu tư công tại Việt Nam, Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 206 tháng 8/2014 [11]; TS. Nguyễn Thị Phú Hà (2014), Tác động của Luật Đầu tư công, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 18/2014 [18].
Đây là các công trình nghiên cứu trong thời điểm ĐTC tại Việt Nam đã bộc lộ nhiều bất cập, do vậy các tác giả đã phân tích về thực trạng và đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả QLNN về ĐTC, nhất là sau khi Luật Đầu tư công có hiệu lực.
Trong đó, đáng chú ý như: (1) Nhóm giải pháp về điều chỉnh cơ cấu đầu tư; (2) Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng quy hoạch, tăng cường kỷ luật thực thi quy hoạch, đảm bảo gắn kết chiến lược với quy hoạch và kế hoạch phát triển KT-XH; (3) Nhóm giải pháp về tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, minh bạch thông tin, đánh giá và kiểm toán các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước; (4) Nhóm giải pháp về tăng cường hoàn thiện khung pháp lý về quản lý đầu tư.
Một số Luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về QLNN về ĐTC nói chung, là những tài liệu tham khảo quý báu giúp cho việc hoàn thành luận văn này. Tiêu biểu, như: Nguyễn Hoàng Anh (2008), Hiệu quả quản lý đầu tư công ở Thành phố Hồ Chí Minh: Vấn đề và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh[1]; Nguyễn Thụy Hải (2014), Quản lý đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Nam, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội [19]; Nguyễn Thị Ngọc Hân (2010), Vai trò của nhà nước đối với đầu tư công ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội [20]; Trần Thị Thanh Hương (2015), Quản lý nhà nước về đầu tư công của tỉnh Hà Giang, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội [26]; Huỳnh Quốc Thuấn (2015), Quản lý nhà nước về dự án đầu tư xây dựng tại huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh [47]; Thân Đăng Phong (2013), Quản lý nhà nước các dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN ở huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh [37]. Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Tuy nhiên, những công trình nêu trên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu QLNN về ĐTC tại Đồng Nai. Với cách tiếp cận của mình, đề tài “Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai” sẽ không trùng lắp với các công trình đã công bố.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp luận của việc QLNN về ĐTC tại tỉnh Đồng Nai, nhằm hướng tới mục tiêu đề xuất giải pháp để hoàn thiện QLNN về ĐTC tại tỉnh Đồng Nai.
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn thực hiện 03 nhiệm vụ cơ bản, đó là: (1) Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về ĐTC và QLNN cấp tỉnh về ĐTC; (2) Phân tích, đánh giá thực trạng ĐTC và QLNN về ĐTC tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015; (3) Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện QLNN về ĐTC tại tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, phân tích, luận giải những vấn đề liên quan đến nội dung, quy trình QLNN về ĐTC. Nhưng được giới hạn trong phạm vi QLNN đối với các dự án ĐTC sử dụng vốn NSNN, thuộc nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh quản lý, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, giai đoạn từ năm 2011-2015, định hướng, đề xuất giải pháp đến năm 2020.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về QLNN, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận biện chứng để nhìn nhận rõ hai mặt của vấn đề ĐTC từ nguồn vốn NSNN.
Về phương pháp nghiên cứu, tùy theo từng nội dung xác định, Luận văn tiến hành các phương pháp cụ thể như: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, thống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp kết hợp phương pháp chuyên gia thông qua việc tham khảo các ý kiến, báo cáo của chuyên gia trong ngành. Nguồn số liệu được tác giả thu thập các báo cáo, số liệu của Tổng cục Thống kê, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) Khu vực XIII, Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước (KBNN) tỉnh Đồng Nai.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Với kết quả nghiên cứu, Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng QLNN đối với ĐTC, qua đó giúp đưa ra các chính sách quản lý ĐTC một cách hiệu quả hơn, giúp duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao của tỉnh nhà trước các thách thức trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.
Luận văn cũng có thể góp phần làm giàu thêm cứ liệu khoa học cho việc hoạch định đường lối và chủ trương của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước trong nâng cao chất lượng QLNN về ĐTC ở cả nước nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về đầu tư công.
- Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
- Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
1.1. Tổng quan quản lý nhà nước về đầu tư công.
1.1.1. Một số khái niệm.
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa rộng, là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại: tiền vốn, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho chủ đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra, nhằm mục đích: phát triển bền vững, lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền KT-XH những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Qua đó, có thể định nghĩa: “Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế – xã hội”. Nếu phân theo khu vực kinh tế thì đầu tư có thể chia thành đầu tư tư nhân và đầu tư công.
1.1.1.2. Khái niệm đầu tư công. Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Có nhiều quan niệm về ĐTC, các khái niệm có nội hàm như sau: (1) ĐTC là đầu tư của Nhà nước vào khu vực công. ĐTC là đầu tư vì mục tiêu của chính sách công hoặc phục vụ những lợi ích công cộng; (2) ĐTC là quá trình Nhà nước sử dụng nguồn vốn NSNN đầu tư vào phát triển KT-XH; (3) ĐTC là việc sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KT-XH không có khả năng hoàn vốn trực tiếp, nói cách khác là không vì mục tiêu kinh doanh; (4) ĐTC là đầu tư của một chủ thể đặc biệt – đó là Nhà nước. Theo quan điểm này thì ĐTC được hiểu rất rộng, nếu một dự án đầu tư được thực hiện bởi Nhà nước thì dự án đó được quan niệm là ĐTC, không phân biệt nguồn vốn, mục đích đầu tư.
Ở Việt Nam, bước vào thời kỳ đổi mới khái niệm ĐTC đã được đặt ra, nhưng lại được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, chủ yếu là: ĐTC hay đầu tư của Nhà nước tại Việt Nam thường được hiểu bao gồm tất cả các khoản đầu tư do Chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành, bao gồm: (1) Đầu tư từ ngân sách; (2) Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu được thông qua trong kế hoạch ngân sách hằng năm; (3) Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định; (4) Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
Theo tác giả, việc đưa đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước vào phạm vi của ĐTC là không phù hợp với bản chất và chức năng chính của ĐTC. Bởi vì, ĐTC là đầu tư để phục vụ lợi ích chung, xây dựng nền tảng phát triển và tăng trưởng cho quốc gia hoặc địa phương. Mặt khác, ĐTC chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không thể hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, không nhằm mục đích kinh doanh.
Tác giả nhất trí với khái niệm ĐTC đã được xác định tại Luật Đầu tư công (2014), theo đó lĩnh vực ĐTC sẽ bao gồm: (1) Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng KT-XH; (2) Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; (3) Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; (4) Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công-tư.
Vốn ĐTC theo quy định hiện hành, bao gồm: vốn NSNN, vốn công trái quốc gia, vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Trái phiếu chính quyền địa phương, vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
Đây là định nghĩa đã được luật hóa và phản ánh được bản chất của ĐTC. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm ĐTC sẽ được sử dụng đúng theo Điều 4, Luật Đầu tư công: “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội”.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư công.
Quản lý nhà nước về đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước vào quá trình đầu tư công, do các cơ quan trong hệ thống hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công, ngăn chặn các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước; đảm bảo hoạt động đầu tư công phục vụ tốt nhất mục tiêu phát triển KT-XH với chi phí thấp nhất.
Theo khái niệm này, cần quan tâm các yếu tố: (1) Nhà nước quản lý ĐTC bằng quyền lực nhà nước theo pháp luật; (2) Chủ đầu tư chỉ là đại diện cho sở hữu nhà nước trong các dự án công; (3) QLNN về ĐTC nhằm đảm bảo cho hoạt động ĐTC phục vụ tốt nhất mục tiêu phát triển KT-XH với chi phí thấp nhất; (4) Chủ thể QLNN về ĐTC chủ yếu do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước thực hiện.
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư công, đặc điểm và tính tất yếu của quản lý nhà nước về đầu tư công.
1.1.2.1. Đặc điểm của đầu tư công.
ĐTC là loại hình đầu tư đặc thù, so với các loại hình đầu tư khác, ĐTC có những đặc điểm riêng, như sau:
Chủ thể ĐTC là Nhà nước. Luật Đầu tư công của Việt Nam quy định chủ đầu tư và cơ quan quản lý là các cơ quan, tổ chức nhà nước. Việc thực hiện dự án ĐTC và QLNN về ĐTC là trách nhiệm của Nhà nước, bao gồm các cấp, các ngành từ Quốc hội, Chính phủ, cơ quan cấp trung ương, cho đến chính quyền địa phương các cấp. Các cơ quan, tổ chức nhà nước quản lý toàn diện quá trình ĐTC với các chức năng từ ban hành chính sách, cơ chế quản lý, hướng dẫn, đến hỗ trợ, kiểm tra, giám sát.
ĐTC là khoản chi tích lũy NSNN. Chi ĐTC trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân; là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài và tạo động lực cho sự tăng trưởng.
Quy mô và cơ cấu chi ĐTC của NSNN không cố định. Nhà nước sẽ điều chỉnh quy mô và cơ cấu ĐTC cho phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH của Nhà nước và tình hình KT-XH trong từng thời kỳ.
Chi ĐTC phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để sữa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư. Sự gắn kết giữa hai nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác. Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
(5) Quá trình đầu tư cũng như kết quả và hiệu quả hoạt động ĐTC chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định theo thời gian và của điều kiện không gian tự nhiên, của tình hình KT-XH và thường phải trải qua thời gian dài mới có thể thấy rõ được hiệu quả của hoạt động ĐTC đó.
- Hoạt động ĐTC thường đòi hỏi một khối lượng tiền vốn, vật tư rất lớn và mang tính chất lâu dài.
- Nguồn vốn đầu tư cho hoạt động ĐTC là từ Nhà nước, kể cả vốn công trái quốc gia, vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn Trái phiếu chính quyền địa phương, vốn ODA…
- Mục tiêu của hoạt động ĐTC là các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển KT-XH, trong đó chủ yếu là theo đuổi các mục tiêu của chính sách công.
1.1.2.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về đầu tư công.
Ngoài đặc điểm chung của QLNN về kinh tế, QLNN về ĐTC còn có một số đặc điểm riêng, đó là: (1) QLNN về ĐTC phải được đặt trong chiến lược phát triển KT-XH, trong tổng thể phát triển kết cấu hạ tầng xã hội, cả về chính sách lẫn quy hoạch; (2) QLNN về ĐTC là lĩnh vực hết sức phong phú, rộng lớn và đa dạng với nhiều loại nguồn vốn, đầu tư cho nhiều loại công trình, dự án khác nhau, với những hình thức đầu tư khác nhau; (3) QLNN chỉ chủ động đối với nguồn vốn NSNN chi cho ĐTC, đối với các nguồn vốn khác, Nhà nước phải thông qua chính sách, cơ chế nhằm định hướng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và dân cư tham gia ĐTC; (4) QLNN về ĐTC gắn với điều kiện lịch sử, cụ thể của quốc gia, của địa phương, của ngành trong từng thời kỳ nhất định; (5) QLNN về ĐTC phải nhằm đạt hiệu quả cả về kinh tế và hiệu quả xã hội, ĐTC phải gắn với phát triển bền vững theo mục tiêu chiến lược đã định.
1.1.2.3. Tính tất yếu của quản lý nhà nước về đầu tư công.
Thực tiễn tại Việt Nam, cũng như trên thế giới đều cho thấy, hiệu quả ĐTC không phụ thuộc vào tỷ trọng vốn ĐTC so với tổng đầu tư xã hội, mà phụ thuộc vào sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với ĐTC. Nhà nước phải quản lý đối với hoạt động ĐTC bởi đó là vốn của nhà nước, do Nhà nước. Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Hệ thống văn bản quản lý về công tác thanh niên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về đầu tư công tại tỉnh Đồng Nai […]