Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý phát triển chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường tiểu học Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế, xã hội”. Đúng vậy, giáo dục giữ một vai trò quan trọng trong việc phát huy tiềm năng con người, vì sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vì mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Giáo dục phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực và kinh tế xã hội của một quốc gia. Trong thời đại ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới đòi hỏi giáo dục phổ thông phải có những bước tiến mới mẻ, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, hình thành nhân cách toàn vẹn. Trong chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo giai đoạn 2021 – 2030 xác định rõ mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam là: “Đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”.
Trong bối cảnh hiện nay để hội nhập và phát triển đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng 4 trụ cột mà UNESCO đã đưa ra: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình”. Để thực hiện mục tiêu này, ngoài giờ dạy trên lớp, giáo viên còn phải có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tham gia vào các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao các kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn, trong cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng…
Như giáo sư Nguyễn Hữu Dũng đã viết: “ Cuộc sống trong những thập kỉ tới vừa chứa đựng đầy thử thách, vừa kèm theo những cơ hội hiếm có. Những thế hệ sắp tới cần được giáo dục tốt để có thể đương đầu với những thử thách mới và sử dụng được những thuận lợi cơ hội mới ”. Muốn vậy ngay từ bậc tiểu học chúng ta cần phải hình thành cho các em khả năng suy nghĩ độc lập và vận dụng những tư tưởng, tri thức mới một cách thường xuyên, sáng tạo.
Hoạt động giáo dục ở trường Tiểu học (TH) sau năm 2025 cần quán triệt tinh thần và mục tiêu của Nghị Quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nghĩa là cần tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường sự trải nghiệm, nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh (HS), tạo ra các môi trường khác nhau để học sinh được trải nghiệm nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồn sáng tạo, biến những ý tưởng sáng tạo của HS thành hiện thực để các em thể hiện hết khả năng sáng tạo của mình. Nói tới trải nghiệm sáng tạo là nói tới việc HS phải kinh qua thực tế, tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện nào đó và tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, cách giải quyết mới không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) nhằm định hướng, tạo điều kiện cho HS quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó tổ chức khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu, tìm ra những giải pháp mới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành ý thức, phẩm chất, kĩ năng sống và năng lực cho HS.
Tuy nhiên, trong thực tế việc quản lý các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường TH còn chưa được chú trọng và có nhiều bất cập. Đa số HS không hứng thú tham gia vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp, một số HS có năng lực học tập thì chỉ tập trung vào việc học các môn văn hóa. Một số HS khác thì lại dành nhiều thời gian cho việc chơi trò chơi điện tử, hay sống tự do, buông thả,…. từ đó các em có những biểu hiện thái độ, hành vi lệch chuẩn so với yêu cầu của xã hội. Thực tế trên dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ HS chỉ biết đến việc hưởng thụ, sống ích kỷ, không biết quan tâm tới người thân, xã hội,…
Có nhiều nguyên nhân cho thực trạng nêu trên: do xã hội đa dạng và phức tạp, do thiếu sự quan tâm của gia đình và cũng có thể do nhà trường chưa chú trọng hoặc chưa có hình thức giáo dục phù hợp.
Với cương vị đang công tác tại một trường TH, tôi nhận thấy tầm quan trọng của các vấn đề trên, do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Quản lý phát triển chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường tiểu học Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra một số biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh TH, đáp ứng yêu cầu đổi mới.
3. Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng công tác hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (tên gọi mới là Hoạt động trải nghiệm sáng tạo) đã thực sự đáp ứng yêu cầu mục tiêu hình thành phẩm chất đạo đức cho từng cá nhân học sinh chưa và đã thực sự cho học sinh trải nghiệm sáng tạo chưa? Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Lãnh đạo nhà trường đã có biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo phù hợp chưa? Có biện pháp quản lý nào để hoạt động này hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục?
4. Giả thuyết nghiên cứu:
Trong các trường TH, việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã có được những kết quả nhất định, tuy nhiên, các hoạt động đó chưa thực sự đáp ứng yêu cầu mục tiêu hình thành phẩm chất đạo đức cho từng cá nhân HS và chưa thực sự cho HS trải nghiệm sáng tạo. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp, khả thi thì có thể nâng cao chất lượng giáo dục HS và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh TH.
- Đánh giá thực trạng phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh TH.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
6.1. Khách thể nghiên cứu:
- Chương trình hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo.
6.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Quản lý phát triển chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
7.1 Giới hạn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
7.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Khảo sát các hoạt động giáo dục từ 2023 đến
- Các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nằm bên ngoài các môn học.
- Khách thể khảo sát:
Ban giám hiệu, giáo viên, Tổng phụ trách và HS của trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
8. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng kết các vấn đề lý luận về quản lý, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, xây dựng khung lý luận của vấn đề nghiên cứu.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra: điều tra khảo sát thực tiễn quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương trong giai đoạn hiện nay.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp chuyên
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, các báo cáo giáo dục.
8. 3. Phương pháp xử lý thông tin:
- Phương pháp thống kê số liệu: thống kê phân tích các số liệu đạt được
9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
9.1. Ý nghĩa lý luận:
Tổng kết lý luận về công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, xác lập cơ sở lý luận cho các biện pháp quản lý hoạt động này.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại các trường TH nói chung. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
10. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh TH.
- Chương 2: Thực trạng phát triển chương trình và quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hiện nay tại trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Các biện pháp quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan những công trình nghiên cứu về quản lý phát triển chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Các nghiên cứu về “Chương trình giáo dục, Chương trình môn học” như: “Phát triển chương trình giáo dục” – tác giả Nguyễn Đức Chính – Vũ Lan Hương (2025); tác giả Trần Khánh Đức với bài viết: “Phát triển và đánh giá chương trình đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại”… Công trình và bài viết đã đề cập đến các tiêu chí đánh giá, qui trình đánh giá chương trình giáo dục; đã phân tích các yêu cầu đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lượng chương trình giáo dục cho phù hợp.
Bên cạnh đó cũng đã có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói chung và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường nói riêng như: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam của tác giả Đỗ Ngọc Thống, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – Góc nhìn từ lý thuyết “học từ trải nghiệm” của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới – tác giả Lê Huy Hoàng, Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học – tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài. Trong bài nghiên cứu có nhan đề Mục tiêu năng lực, nội dung chương trình, cách đánh giá trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã chỉ ra để phát triển chương trình Hoạt động giáo dụcTNST cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra.
Tác giả Bùi Ngọc Diệp đã gợi ý các hình thức tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức được nhiều nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục trong bài Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông.
Tóm lại, đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về Chương trình giáo dục, phát triển chương trình giáo dục, quản lý phát triển chương trình giáo dục, cũng như Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tuy nhiên công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH vẫn chưa có tác giả nào xem xét, đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ để từ đó đưa ra hướng quản lý phát triển cho nó đáp ứng ngày một tốt hơn với nhu cầu xã hội.
1.2. Một số vấn đề trong lý luận quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
1.2.1. Quản lý giáo dục
- Quản lý
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Mỗi khuynh hướng trong lĩnh vực này đều cho ra đời những định nghĩa về quản lý dựa vào cách thức xâm nhập vào hệ thống quản lý, đường lối xử lý các vấn đề quản lý:
F.W.Taylor (Frederich Winslow Taylor: nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận ): xuất phát từ nhu cầu khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động, nhằm tăng năng suất lao động, cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật hiểu biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A.Fayon thì: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân tài, vật lực) của nó”.
Harold Koontz, người được gọi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại, đã viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
- Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống” [32].
- Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[28].
Qua tìm hiểu tôi thống nhất với quan điểm: Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống.
- Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Quản lý giáo dục là quản lý lĩnh vực xã hội. Lĩnh vực ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống; giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển. Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần. Quản lý giáo dục là điển hình nhất vì đây là quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách. Sự hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài.
Khái niệm “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “Giáo dục”. “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là hoạt động diễn ra ở ngoài xã hội. Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành giáo dục (từ Bộ giáo dục & đào tạo đến cơ sở trường học hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp & hướng nghiệp) thì “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường… Để hiểu một cách chính xác hơn về “Quản lý giáo dục”, ta xem xét quan niệm sau đây:
Theo M.I Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tập hợp nhũng biện pháp kế hoạch hóa nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng. Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến đến trạng thái mới về chất”.
Nói chung, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội. Thực chất của việc quản lý giáo dục là việc các ngành các cấp, từ trung ương tới địa phương hoạch định cơ chế, chính sách, chiến lược tạo điều kiện thuận lợi của các hoạt động nhà trường đạt được mục tiêu đề ra. Bản chất của việc quản lý hoạt động giáo dục tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới một mục tiêu giáo dục.
- Quản lý nhà trường
Trường học là tế bào chủ chốt trong hệ thống giáo dục. Một hệ thống giáo dục hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ mà xã hội giao phó khi các “tế bào trường học” vận hành tốt, đạt được mục tiêu đề ra. Công tác quản lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường và các hoạt động xã hội. Quản lý trường học như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố: Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Thành tố tinh thần: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, các kế hoạch, biện pháp giáo dục.
- Thành tố con người: cán bộ, GV, nhân viên và
- Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập.
Vấn đề đặt ra trong quá trình Quản lý nhà trường là vận hành để các thành tố trên có sự gắn bó, hỗ trợ, điều phối, bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu đặt ra.
Theo Phạm Minh Hạc: “QLNT là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đơn vị ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”.
Theo Phạm Viết Vượng thì “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác. Cũng như huy động tối đa các nguồn lực GD&ĐT trong nhà trường”.
Như vậy, Quản lý nhà trường phổ thông là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý giáo dục. Nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục. Trọng tâm của nó là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên trạng thái mới về vật chất. Do đó công tác Quản lý giáo dục nói chung, quản lý trường học nói riêng, gồm có quản lý các Hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau:
- Quản lý hoạt động dạy học.
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
- Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể.
- Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính.
Vì vậy, Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác, vì sản phẩm của giáo dục đó là tri thức, nhân cách của HS. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
QLNT là một hoạt động dựa trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng dựa vào nguyên lý giáo dục. Người đứng đầu trong nhà trường và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của nhà trường đó là hiệu trưởng. Để đạt được mục tiêu của giáo dục trong một cơ sở giáo dục là nhà trường, thì người quản lý cần phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường. Sản phẩm của nhà trường là tri thức, nhân cách của HS nên cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Vì thế Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện, thành công hay thất bại của cơ quan (đơn vị) nói chung và của trường học nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều vai trò của người quản lý.
- Hoạt động
Có nhiều định nghĩa về hoạt động. Theo A.N.Leontiev, hoạt động được hiểu là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể. Nói cách khác, hoạt động là mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể, bao gồm quá trình khách thể hóa chủ thể (tức là chuyển năng lực của con người vào sản phẩm của hoạt động, sản phẩm của lao động) và quá trình chủ thể hóa khách thể (nghĩa là trong quá trình đó con người phản ánh vật thể, phát hiện và tiếp thu đặc điểm của vật thể chuyển thành tâm lý, ý thức và năng lực của mình). Như vậy, các hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể, tri thức…(gọi chung lại là quá trình bên ngoài, trong đó có cả hành vi) và quá trình tinh thần, trí tuệ… (gọi chung là quá trình bên trong). Rõ ràng là trong hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý, công việc chân tay lẫn công việc trí não…
Từ khái niệm hoạt động nêu trên, ta có thể nói rằng hoạt động là phương thức tồn tại tích cực của con người trong xã hội, hoạt động là nơi nảy sinh tâm lý và cũng là nơi tâm lý vận hành. Cho nên, tâm lý, ý thức, nhân cách của con người là do con người tự tạo ra bằng hoạt động của chính mình, thông qua hai quá trình: quá trình chuyển từ ngoài vào trong và quá trình chuyển từ trong ra ngoài. Trong và bằng hoạt động, con người thiết lập, vận hành mối quan hệ của mình với thế giới đồ vật và với người khác. Hoạt động giúp “con người sáng tạo ra lịch sử và trong quá trình đó sáng tạo ra chính bản thân mình” (Mác). Hoạt động được xác định là cơ chế, là con đường để hình thành và phát triển năng lực, nhân cách, đạo đức … của cá nhân trong đó hoạt động giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Hoạt động giáo dục
HĐGD là hoạt động do người lớn tổ chức theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm. Điều này có nghĩa các chủ thể của Hoạt động giáo dục phải chịu trách nhiệm về Hoạt động giáo dục. Đó là các nhà giáo dục, GV và các chủ thể có liên quan khác nhau như: cha mẹ, HS, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ sở giáo dục. Hoạt động giáo dục là sự vận hành các yếu tố của giáo dục đã được nhận thức và kiểm soát. Hoạt động giáo dục cơ bản của xã hội được thực hiện bởi nhà trường và trong nhà trường.
HĐGD (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà giáo dục tới HS nhằm giúp HS hình thành và phát triển toàn diện nhân cách. Hoạt động giáo dục này bao gồm: hoạt động dạy học và Hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp. Hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp được hiểu là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, do nhà giáo dục định hướng, thiết kế, tổ chức trong và ngoài giờ học, trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục theo nghĩa hẹp, hình thành ý thức, phẩm chất, giá trị sống, hay các năng lực tâm lý xã hội…
- Chương trình giáo dục (curriculum – gọi tắt là Chương trình giáo dục): có rất nhiều quan niệm khác nhau về Chương trình giáo dục.
Thuật ngữ Chương trình giáo dục xuất hiện từ những năm 1820, tuy nhiên phải đến giữa thế kỷ 20, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ và một số nước có nền giáo dục phát triển. Chương trình giáo dục (Curriculum) có gốc Latinh là Currere, có nghĩa là “to run” (chạy, điều hành hoặc “to run a course” – điều hành một khóa học). Do vậy, định nghĩa truyền thống của Chương trình giáo dục là “một khóa học” (Course of Study)[17, tr. 41].
Hầu hết các nhà giáo dục ở giai đoạn đầu xem Chương trình giáo dục là một khóa học, một giáo trình – cái hình thành nên một khóa học.
- Chương trình học bao gồm các môn học thường xuyên như ngữ pháp, đọc, hùng biện và logic, toán học và những môn học tinh túy nhất của thế giới phương Tây.
- Chương trình học gồm các môn học chủ yếu trong năm lĩnh vực lớn như: tiếng mẹ đẻ và ngữ pháp, văn chương và viết; toán học; các môn khoa học; lịch sử; ngoại ngữ.
- Chương trình học gồm toàn bộ kiến thức của các môn học. Giáo dục được xem như một quá trình giúp người học nắm bắt các nội dung kiến thức cấu tạo nên các môn học.
- Chương trình học là một hệ thống các khóa học hay môn học cần phải có để được tốt nghiệp hoặc được chứng nhận đã học xong một ngành học. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo, yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, nhiều môn học mới được đưa thêm vào Chương trình giáo dục, sự khác biệt giữa người học đã trở nên rõ rệt hơn đối với GV và các nhà quản lý, định nghĩa về Chương trình giáo dục bắt đầu được mở rộng. Các chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế Chương trình giáo dục cho khối cơ bản, khối kỹ thuật, khối thực hành …
Thí dụ: Bobbitt đã viết vào năm 1924. “CTGD có thể được định nghĩa theo hai hướng:
- Đó là một loạt các hoạt động nhằm phát hiện khả năng của mỗi người học.
- Đó là một loạt các hoạt động có chủ định nhằm hoàn thiện người học”.
Năm 1935, Hollis và Doak Campbell cho rằng Chương trình giáo dục “bao gồm tất cả những hiểu biết và kinh nghiệm mà người học có được sự hướng dẫn của nhà trường” [17, tr. 43].
Còn theo K. Frey, Chương trình giáo dục được định nghĩa như sau: “CTGD là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy học được dự kiến trong một khoảng thời gian xác định mà sản phẩm của sự trình bày đó là một hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh giá một cách tối ưu việc dạy học”.
Mặc dù định nghĩa về Chương trình giáo dục luôn thay đổi do các tác động của xã hội với những bước tiến vĩ đại về khoa học kỹ thuật và công nghệ, Chương trình giáo dục hiện nay được xem như là tập hợp các mục tiêu và giá trị có thể được hình thành ở người học thông qua các hoạt động được kế hoạch hóa và tổ chức trong nhà trường, gắn liền với đời sống xã hội. Mức độ đạt các mục tiêu ấy là thể hiện tính hiệu quả của một Chương trình giáo dục. Mục đích của việc thiết kế một Chương trình giáo dục phụ thuộc vào đối tượng người học của Chương trình giáo dục đó.
Ngày nay, quan niệm về Chương trình giáo dục đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy. Chương trình vừa cần cụ thể hơn, bao quát hơn, vừa là một phức hợp bao gồm các bộ phận cấu thành:
- Mục tiêu học tập.
- Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập.
- Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập.
- Đánh giá kết quả học tập.
Như vậy, cấu trúc của Chương trình giáo dục bao gồm hai thành phần chính: (1) sự hình dung trước những thành tích mà người học sẽ đạt được sau một thời gian học tập, và (2) cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để mong muốn đó trở thành hiện thực. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Có thể xem định nghĩa sau đây đã bao hàm được những ý đó:
CTGD là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ Hoạt động giáo dục tại nhà trường. Nó bao gồm mục đích giáo dục, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung giáo dục (với độ rộng và sâu tương ứng với chuẩn đầu ra), phương thức giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học phù hợp), phương thức đánh giá kết quả giáo dục (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra của chương trình).
Đối với Chương trình giáo dục phổ thông, điều 29, luật Giáo dục 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 38/2015/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2015, viết: “CTGD phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông”.
- Phát triển chương trình giáo dục
Phát triển chương trình giáo dục là quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng Chương trình giáo dục.
Theo quan điểm này, Chương trình giáo dục là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tùy theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế – xã hội, của thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, và cũng là yêu cầu của thị trường sử dụng lao động.
Nói cách khác, khi mục tiêu của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì Chương trình giáo dục cũng phải thay đổi theo, mà đây là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình cũng phải không ngừng phát triển và hoàn thiện. Nhu cầu của xã hội thay đổi theo sự phát triển và vì vậy Chương trình giáo dục cũng phải liên tục cập nhật.
Nhũng mô hình phát triển chương trình giáo dục.
Hiện nay có một số mô hình về phát triển Chương trình giáo dục được trình bày dưới dạng khác nhau, như:
- Mô hình Tyler Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Tyler đề nghị rằng các nhà hoạch định chương trình nên xác định các mục tiêu tổng quát bằng cách tập hợp các dữ liệu từ ba nguồn: người học, cuộc sống đương thời diễn ra bên ngoài nhà trường và các vấn đề môn học. Sau khi xác định rất nhiều mục tiêu tổng quát, người làm hoạch định cải tiến chúng bằng cách gạn lọc thông qua hai tấm màn chắn: triết lí xã hội và giáo dục của nhà trường và tâm lí học của việc học tập. Các mục tiêu tổng quát nào vượt qua một cách thành công hai tấm màn chắn đó sẽ trở thành các mục tiêu giảng dạy cụ thể. Trong việc miêu tả các mục tiêu tổng quát, Tyler gọi chúng là “mục đích”, “các mục tiêu giáo dục”, và “các mục đích giáo dục”[17, tr. 73].
Sơ đồ 1.1. Mở rộng cơ sở chương trình của Tyler ”[17, tr. 80]
- Mô hình Taba
Theo bà chương trình học nên để GV thiết kế hơn là được cấp trên truyền xuống. Hơn thế, bà cảm thấy rằng GV cần phải bắt đầu quá trình bằng cách tạo ra các đơn vị dạy học cụ thể cho HS ở nhà trường của mình hơn là tham gia ban đầu vào việc lập ra một thiết kế chương trình chung. Do đó, Taba ủng hộ phương pháp quy nạp trong việc xây dựng chương trình, bắt đầu từ điều cụ thể và tiến đến xây dựng một thiết kế chung [17].
Trình tự 5 bước để hoàn tất việc thay đổi cách xây dựng chương trình học như sau:
- Đưa ra các đơn vị thử nghiệm tiêu biểu cho cấp độ lớp học hay lĩnh vực môn học
- Kiểm tra các đơn vị thực nghiệm
- Sửa chữa và củng cố
- Phát triển khuôn khổ
- Áp dụng và phổ biến các đơn vị mới
Mô hình Saylor, Alexander và Lewis
- Sơ đồ 1.2. Quan niệm của Saylor, Alexander và Lewis về quá trình hoạch định chương trình
- Sơ đồ 1.3. Mô hình xây dựng chương trình của Oliva
Tóm lại: Từ các mô hình trên ta có thể xem phát triển Chương trình giáo dục là một quá trình liên tục bao gồm các yếu tố sau:
- Phân tích nhu cầu
- Xác định mục đích và mục tiêu
- Thiết kế
- Thực thi
- Đánh giá
Năm yếu tố trên được bố trí thành một vòng tròn khép kín, biểu diễn sự phát triển Chương trình giáo dục như một quá trình liên tục: [17, tr. 109]
- Sơ đồ 1.4. Các bước phát triển Chương trình giáo dục
1.2.3. Phát triển chương trình nhà trường Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Skilbeck (1984, trích theo Mash và cộng sự, 1990, tr.48) đã định nghĩa về phát triển chương trình nhà trường như sau: “Phát triển chương trình nhà trường là việc một cơ sở giáo dục lập kế hoạch, thiết kế, thực thi và đánh giá chương trình học tập của HS trường mình”.
OECD định nghĩa về phát triển chương trình nhà trường như sau: “Phát triển chương trình nhà trường là một quá trình, trên cơ sở các hoạt động bên trong nhà trường, hoặc trên cơ sở nhu cầu của nhà trường trong việc thực thi chương trình giáo dục – nhằm tạo ra sự phân quyền, trách nhiệm và sự kiểm soát giữa chính quyền trung ương và địa phương, để nhà trường có được quyền tự chủ hợp pháp về hành chính, nghề nghiệp để có thể tự quản lý quá trình phát triển của trường mình” [17, tr. 95].
Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên, Brady (1992), đã nêu những đặc điểm cơ bản của phát triển chương trình nhà trường:
- Lôi cuốn sự tham gia của GV vào các quyết định liên quan đến phát triển và thực thi chương trình.
- Có thể liên quan đến một bộ phận GV chứ không phải toàn thể
- Đó có thể là một chương trình lựa chọn và điều chỉnh chứ không phải là một chương trình mới hoàn toàn.
- Đó chỉ bao gồm việc thay đổi vị trí trong trách nhiệm của nhà trường trong các quyết định liên quan đến chương trình chứ không đề cập tới các quan hệ khác của nhà trường với các cấp quản lí.
- Đây là một quá trình liên tục và năng động lôi cuốn GV, HS, cộng đồng tham gia.
- Thỏa mãn nhu cầu của nhiều cấu trúc hỗ trợ.
- Làm thay đổi vai trò truyền thống của
Một vài mô hình phát triển chương trình nhà trường.
Mô hình phát triển chương trình lấy chuyên gia là trung tâm Mô hình phát triển chương trình có tư vấn của các chuyên gia Mô hình phát triển chương trình có tư vấn từ bên trong.
Mô hình thoả thuận.
1.3. Phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường TH Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Trải nghiệm
Theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan. Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S. quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong các tài liệu sư phạm học, lý thuyết về trải nghiệm trở thành đối tượng nghiên cứu. Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau:
- Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy;
- Trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường…
- Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận cụ thể.
- Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đào tạo được
GV đúc kết và cải thiện dần trong quá trình làm việc thực tế của mình.
Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó.
- Học qua trải nghiệm Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Mỗi cá nhân sống trong môi trường xã hội luôn thực hiện việc học, bởi con người luôn tiếp nhận các kích thích từ môi trường để thích nghi và phát triển. Việc học này có thể tự phát hoặc tự giác. Hiệu quả của việc học phụ thuộc vào nhiều yếu tố: sự tích cực của cá nhân, môi trường giáo dục, người dạy, đặc điểm sinh học của cá nhân, phương pháp mà cá nhân thực hiện hay được hướng dẫn,…
Học qua trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm (theo Kolb, 1984). Học từ kinh nghiệm là quá trình xây dựng ý nghĩa trực tiếp từ kinh nghiệm. Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) luôn gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân.
Tóm lại, vận dụng lí thuyết học từ trải nghiệm của Kolb sẽ làm cho việc học trở nên hiệu quả hơn bởi ở đây là sự trải nghiệm có định hướng, có dẫn dắt chứ không phải sự trải nghiệm tự do, tự phát, thiếu định hướng. Với chu trình trải nghiệm, với việc xác định kiểu học trong môi trường trải nghiệm, việc tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục HS có định hướng sẽ quyết định việc đạt được mục tiêu chuẩn năng lực đầu ra [11, tr. 6-7].
- Sáng tạo
Khái niệm về “sáng tạo” hay còn gọi là năng lực sáng tạo (creativity) được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác như: sự sáng tạo (creation), tư duy hay óc sáng tạo (creative thinking), sản phẩm hay nhân cách sáng tạo (creative product or personality),… Các thuật ngữ này đều có liên quan đến một thuật ngữ gốc Latin “Creat” và mang một nghĩa chung là sự sản xuất, tạo ra, sinh ra một cái gì đó mà trước đây chưa hề có, chưa tồn tại.
Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới và muốn xác định được mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo.
Như vậy, sáng tạo là một thuộc tính nhân cách tồn tại như một tiềm năng ở con người. Tiềm năng sáng tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh sống cụ thể. Sáng tạo cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân cách cụ thể và là tiền đề của sáng tạo xã hội – điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của một xã hội, một nền văn hóa [11, tr. 17-18].
- Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Giáo dục phổ thông trang bị đầy đủ và toàn diện kiến thức của nhiều lĩnh vực và các kĩ năng thái độ sống cần có cho mỗi cá nhân để học có thể bước vào cuộc sống xã hội sau này. Những nội dung giáo dục này được thực hiện thông qua các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp). Hai hoạt động này luôn đi song song với nhau, “trong dạy có giáo, trong giáo có dạy”, không có việc dạy học kiến thức nào lại không đi với giáo dục phẩm chất con người; và cũng không có sự giáo dục đạo đức con người nào lại không có sự dạy trong đó. Tuy nhiên, đối với mỗi loại nội dung tri thức và tùy theo mục tiêu giáo dục mà nội dung giáo dục được chuyển tải nhiều hơn bằng con đường dạy học hay con đường giáo dục.
Hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) được hiểu là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, do nhà giáo dục định hướng, thiết kế, tổ chức trong và ngoài giờ học, trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục theo nghĩa hẹp, hình thành ý thức, phẩm chất, giá trị sống, hay các năng lực tâm lý xã hội,…
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, Hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) thực hiện các mục tiêu giáo dục trong các Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể, sinh hoạt Đoàn, Đội,… Trong Chương trình giáo dục phổ thông sắp tới, các mục tiêu của Hoạt động giáo dục được thực hiện chỉ trong một dạng hoạt động, đó là Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Như vậy, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ thực hiện tất cả các mục tiêu và nhiệm vụ của các Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể, sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp… và thêm vào đó là những mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của giai đoạn mới.
Như vậy, căn cứ vào định nghĩa về HĐNGLL trong các Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được định nghĩa như sau: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là Hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân [11, tr. 8-9].
Đặc điểm của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo:
- Nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp và phân hóa
- Hình thức học qua hoạt động trải nghiệm rất đa dạng.
- Học qua trải nghiệm là quá trình học tích cực và hiệu quả.
- Học qua trải nghiệm đòi hỏi khả năng phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
- Học qua trải nghiệm giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được [11].
Quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Chúng ta đã biết, Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của nhà Quản lý giáo dục tới khách thể giáo dục nhằm đạt tới mục tiêu quản lý. Nhà quản lý cùng với đông đảo đội ngũ GV, HS, các lực lượng xã hội… bằng hành động của mình biến mục tiêu đó thành hiện thực. Như vậy, quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất của HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố như: Mục tiêu, chương trình, nội dung, các hình thức và phương pháp tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, kiểm tra đánh giá Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS để điều chỉnh cho hiệu quả ngày càng tốt hơn. Quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Cụ thể hóa mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo qua các nhiệm vụ Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành những năng lực, phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội …; giúp HS tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình…
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- Quản lý việc tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV (xây dựng chương trình, soạn giáo án, chuẩn bị Cơ sở vật chất, tổ chức hoạt động…)
- Quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS (nề nếp, thái độ, kết quả Hoạt động trải nghiệm sáng tạo…)
- Quản lý Cơ sở vật chất phục vụ cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
1.3.1. Mục tiêu của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Mục tiêu chung
HĐTNST nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội,…; giúp HS tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Mục tiêu của giai đoạn cơ bản
Giai đoạn cơ bản kéo dài từ lớp 1 đến lớp 9. Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kĩ năng sống cơ bản. Đặc biệt, ở giai đoạn này, mỗi HS cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường, và chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm.
Ở bậc TH, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành những thói quen tự phục vụ, kĩ năng học tập, kĩ năng giao tiếp cơ bản; bắt đầu có các kĩ năng xã hội để tham gia các hoạt động xã hội [11, tr. 37].
1.3.2. Vị trí
HĐTNST được xếp vào nội dung tự chọn bắt buộc dành cho tất cả HS từ lớp 1 đến lớp 12, là hoạt động giúp HS vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.
HĐTNST được chia làm hai giai đoạn với hai nhóm mục tiêu; ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kĩ năng sống,… Thông qua Hoạt động trải nghiệm, HS được bước vào cuộc sống xã hội, được tham gia các đề án, dự án, các hoạt động thiện nguyện,… cũng như tham gia các loại hình câu lạc bộ khác nhau,… Bằng Hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi HS vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình nên HS không những biết cách tích cực hóa bản thân, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Đặc biệt, ở giai đoạn này, mỗi HS cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường, và chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm [11, tr. 36].
1.3.3. Yêu cầu
Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung đối với Hoạt động trải nghiệm sáng tạo:
- Yêu đất nước, con người
- Sống mẫu mực
- Sống trách nhiệm
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp
- Năng lực hợp tác
- Nănglực tính toán
- Năng lực CNTT và truyền thông
- Năng lực thẩm mĩ
- Năng lực thể chất
Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
- Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động
- Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống gia đình
- Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân
- Năng lực định hướng nghề nghiệp
- Năng lực khám phá và sáng tạo [11].
1.3.4. Xây dựng nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường TH:
Căn cứ xác định nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Căn cứ vào mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói riêng;
- Căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội mà HS có thể trải nghiệm;
- Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của nội dung các lĩnh vực hoạt động xã hội và nghề nghiệp;
- Căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông hiện hành;
- Căn cứ vào thực tế của nhà trường và địa phương, về các nguồn lực và điều kiện thực hiện [11, tr. 44].
Xây dựng chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở TH [11, 45-47].
1.3.5. Phương pháp và hình thức tổ chức Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
HĐTNST trong nhà trường phổ thông có hình thức tổ chức rất đa dạng và phong phú. Cùng một chủ đề, một nội dung giáo dục nhưng Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy theo lứa tuổi và nhu cầu của HS, tùy theo điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường, …
HĐTNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn,…, thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong nó những khả năng giáo dục nhất định. Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục HS được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng như nhu cầu, nguyện vọng của HS. Trong quá trình thiết kế, tổ chức thực hiện và đánh giá Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, cả GV lẫn HS đều có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chức hoạt động. Hình thức hoạt động: thực tiễn; nghệ thuật/ giải trí; khám phá/ nghiên cứu khoa học; diễn đàn.
1.3.6. Thiết kế Hoạt động trải nghiệm sáng tạo [11]
Xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể cho mỗi hoạt động, được gọi là thiết kế Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cụ thể. Cụ thể gồm các bước sau:
- Bước 1: Đặt tên cho hoạt động
- Bước 2: Xác định mục tiêu của hoạt động
Khi xác định mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:
- Hoạt động này có thể hình thành cho HS những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức)
- Những kĩ năng nào có thể được hình thành ở HS và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?
Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở HS sau hoạt động?
- Bước 3: Xác định nội dung và hình thức của hoạt động
- Bước 4: Chuẩn bị hoạt động Bước 5: Lập kế hoạch
- Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động
- Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động.
1.3.7. Đánh giá Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS tiểu học
Đánh giá theo năng lực là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, ra những quyết định sư phạm giúp HS học tập ngày càng tiến bộ.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả hoạt động không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá theo tiếp cận năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2021). Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Trong Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đánh giá HS và đánh giá chương trình TNST là vô cùng quan trọng. Kết quả này giúp GV đánh giá đúng được năng lực của HS, từ đó có thể hỗ trợ, thúc đẩy sự tiến bộ của từng cá nhân HS. Thông qua việc đánh giá chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhà trường có thể đánh giá kết quả thực hiện Chương trình giáo dục của trường, của lớp, xem xét kế hoạch thực hiện có mang tính thực tiễn không, nội dung thực hiện cũng như quá trình thực hiện có thích hợp không, hiệu quả thu được trên HS có cao không. Điều này giúp cải tiến, đổi mới phương pháp chỉ đạo thực hiện chương trình TNST trong nhà trường đạt hiệu quả cao hơn [11, tr. 73].
Có nhiều cách để đánh giá Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS như: trắc nghiệm khách quan, tự luận, vấn đáp, quan sát trong thực tế hoặc nghiên cứu hồ sơ quá trình hoạt động của HS hay thông qua đánh giá từ bạn bè, trải nghiệm/thể hiện trong thực tế cuộc sống…
Khi tiến hành đánh giá kết quả các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo GV cần lưu ý:
- Bám theo kế hoạch, GV kiểm tra đánh giá các nhiệm vụ đã giao cho HS thực hiện.
- Sử dụng các báo cáo tự đánh giá hoạt động của
- Đánh giá năng lực xã hội của HS thông qua các bài trắc nghiệm chuẩn hóa, các bài trắc nghiệm GV tự xây dựng.
- Đánh giá năng lực HS thông qua các tình huống giả định.
- Đánh giá thông qua nhận xét của các GV khác, của gia đình, của người xung quanh về những năng lực và phẩm chất cần hình thành.
- Đánh giá thông qua hoạt động thực tế trong cuộc sống [12, 103].
Nhà quản lý cần đánh giá thông qua các minh chứng sau:
- CTGD mà mỗi GV đã tích hợp, xây dựng đáp ứng yêu cầu và mục đích giáo dục.
- Kế hoạch Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV trong cả năm học cho một lớp học, kế hoạch Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đồng tâm cho một lớp trong toàn cấp học.
- Minh chứng xác nhận kế hoạch đã được thực hiện và phiếu phản hồi về hiệu quả của hoạt động đối với người học.
- Đánh giá thông qua quan sát, dự hoạt động.
- Hình thức và nội dung đánh giá có đánh giá được năng lực cần hình thành không [12, tr. 103].
Nhà quản lý và GV cần sử dụng kết quả đánh giá hiệu quả, có ý nghĩa thì quá trình giáo dục HS mới có ý nghĩa. Cụ thể là:
- GV thực hiện tốt Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần có động viên khen thưởng thích đáng.
- Kết quả học tập và kết quả rèn luyện cần được ứng xử như
- Các nội dung giáo dục cũng cần được đánh giá theo từng năng lực, giống như các môn học để trong bảng đánh giá HS người sử dụng biết HS có năng lực học ở môn gì cũng như năng lực xã hội nào là thế mạnh của HS.
- Kết quả giáo dục cần được sử dụng trong tuyển chọn theo các mục đích khác nhau [12, tr. 104].
1.4. Quản lý phát triển chương trình Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
1.4.1. Xác định nhu cầu giáo dục
Nhóm Phát triển chương trình giáo dục bắt đầu bằng việc xác định nhu cầu xã hội, nhà trường, sinh viên và nội dung môn học mà Chương trình giáo dục dự kiến sẽ đáp ứng được.
Hình thành mục đích: sau khi nhu cầu đã được chẩn đoán và được xác định, nhóm Phát triển chương trình giáo dục sẽ xác định những mục tiêu nhằm đạt được.
1.4.2. Tổ chức phát triển chương trình
- Lựa chọn và sắp xếp nội dung giáo dục
Lựa chọn nội dung:
- Nhóm chuyên gia Phát triển chương trình giáo dục và người sử dụng chương trình chọn nội dung Chương trình giáo dục phải nhất quán với những mục tiêu đã xác định.
- Điều đầu tiên cần đảm bảo là nội dung của chương trình phải cập nhật, mới nhất có thể, đáp ứng mục tiêu của Chương trình giáo dục đã được xác định.
- Nội dung các môn học phải đáp ứng được mục tiêu chung trong CTGD và mục tiêu cụ thể của từng môn học.
- Phát triển nội dung Chương trình giáo dục một môn học phải đảm bảo theo chương trình khung của Bộ GD&ĐT.
Sắp xếp nội dung: Nhằm xác định kế hoạch và tiến trình giáo dục toàn khóa học, xây dưng chương trình chi tiết các môn học.
Xác định các hình thức tổ chức dạy – học: Nhóm Phát triển chương trình giáo dục quyết định kết hợp những hoạt động học tập, sự phối hợp và trình tự thực hiện.
Căn cứ vào mục tiêu và nội dung đã được xác định, việc tìm kiếm các hình thức tổ chức dạy học phù hợp cũng là một khâu quan trọng tác động lớn tới hiệu quả dạy – học. Có 3 lựa chọn cơ bản:
- Lựa chọn về cấu trúc
- Lựa chọn qui trình
- Lựa chọn công nghệ (máy tính, các loại bảng, websitev).
Những hình thức tổ chức dạy học này sẽ qui định các phương pháp dạy – học tương ứng.
Xác định tiêu chí đánh giá, phương thức và phương tiện đánh giá: Nhóm Phát triển chương trình giáo dục sẽ xác định một số kỹ thuật, phương tiện thích hợp để đánh giá thành tích của HS và xác định liệu những mục tiêu của Chương trình giáo dục có đạt được hay không.
1.4.3. Tổ chức thẩm định chương trình Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Thông thường, trước khi thực thi một Chương trình giáo dục cần phải xem xét lại một lần cuối cùng, kiểm tra các thông số về điều kiện thực hiện Chương trình giáo dục, như sự sẵn sàng của GV, HS, các điều kiện về học liệu, địa điểm, thời gian và các vấn đề khác. Trong trường hợp cần thiết phải có những điều chỉnh cần thiết trong một số khâu của Chương trình giáo dục.
Nội dung này cần thông qua hội đồng thẩm định chương trình, bao gồm: các chuyên gia giáo dục, các chuyên gia phát triển chương trình, Phụ huynh học sinh, các nhà tài trợ, các nhà tuyển dụng lao động, GV, HS…
1.4.4. Tổ chức thực thi chương trình:
Là toàn bộ quá trình thực hiện nội dung chương trình thông qua những hình thức và phương pháp tổ chức dạy học để đạt được mục tiêu đề ra, theo bản thiết kế Chương trình giáo dục đã được xây dựng.
- Văn bản quan trọng nhất cần xây dựng khi bắt tay thực thi một chương trình môn học là đề cương môn học
- Xây dựng kế hoạch bài dạy
- Lập hồ sơ môn học
1.4.5. Định kỳ tổng hợp và đánh giá, cải tiến Chương trình giáo dục
“Đánh giá Chương trình giáo dục là một quá trình thu thập các dữ liệu để có thể quyết định, chấp thuận, sửa đổi hay loại bỏ Chương trình giáo dục đó”. (A.C. Orstein, F.D. Hunkins 1998). Đánh giá Chương trình giáo dục nhằm phát hiện xem Chương trình giáo dục được phát triển và thực hiện có tạo ra hay có thể tạo ra những sản phẩm mong muốn hay không? Đánh giá giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của Chương trình giáo dục trước khi đem ra thực hiện, hoặc để xác định hiệu quả của nó khi đã thực hiện qua một thời gian nhất định.
Tuỳ theo cách tiếp cận trong thiết kế Chương trình giáo dục, tuy nhiên mọi hoạt động đánh giá phải được căn cứ trên mục tiêu của Chương trình giáo dục và phải trả lời được 2 câu hỏi sau:
- CTGD có đạt mục tiêu đã xác định của nó hay không ? (kiến thức, kỹ năng, thái độ.)
- Làm thế nào để cải tiến Chương trình giáo dục?
Sơ đồ 1.5. Nội dung quản lý phát triển chương trình giáo dục
1.4.6. Quản lý phát triển chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS được tiến hành ngoài giờ lên lớp theo chương trình kế hoạch đã đề ra nhằm đạt mục tiêu giáo dục HS một cách toàn diện. Quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thực chất là quản lý về: mục tiêu giáo dục, phát triển nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các phương pháp và hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và về công tác phối hợp các lực lượng giáo dục thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- Quản lý mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Quản lý mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH là nhằm đảm bảo các quy định về chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ để hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất và năng lực chung, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự quản lí bản thân.
Quản lý việc thực hiện mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, góp phần thực hiện mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của bậc học. Người quản lý có nhiệm vụ chỉ đạo cho GV thể hiện được mục tiêu của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua các khâu chuẩn bị, tổ chức các hoạt động và kiểm tra đánh giá kết quả.
- Quản lý phát triển nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Đây là chức năng quan trọng trong công tác quản lý của hiệu trưởng định hướng cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại trường trong từng thời điểm của năm học. Quản lý phát triển nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là quản lý việc xây dựng phát triển chương trình khung tôn trọng tính hệ thống, đảm bảo sự nhất quán và không bị trùng lặp. Chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo phải thể hiện được nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và phải hướng tới mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo phải đảm bảo cân đối, phù hợp trong các hoạt động của nhà trường, nếu thời lượng quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến học văn hoá, ngược lại quá ít sẽ khó có được kết quả: hình thành được những phẩm chất đạo đức và kỹ năng cần thiết cho HS. Người quản lý phải chỉ đạo và kiểm tra người dạy thể hiện được các nội dung trong chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua việc xây dựng và phát triển chương trình, chuẩn bị, tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và đánh giá kết quả của người học.
- Quản lý các hình thức và phương pháp tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hình thức và phương pháp tổ chức có ý nghĩa quan trọng đến hiệu quả phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nó mang lại sự hấp dẫn của hoạt động, thu hút được nhiều HS tham gia nhiệt tình và có kết quả. Quản lý các hình thức và phương pháp tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nghĩa là phải hướng dẫn cho GV biết cách tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo; bố trí các hình thức và phương pháp trải nghiệm sáng tạo sao cho phù hợp với từng hoạt động, trong từng hoàn cảnh.
- Quản lý kiểm tra đánh giá phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường. Nó giúp chủ thể quản lý có thông tin phản hồi chính xác từ đối tượng quản lý, tạo nên sự liên thông cần thiết trong nhà trường giữa hoạt động giảng dạy của GV, hoạt động học tập của HS với các Cán bộ quản lý cũng như tạo ra mối liên kết giữa nhà trường với các cấp quản lý giáo dục và cộng đồng. Kiểm tra đánh giá việc phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo phải dựa trên chương trình kế hoạch, phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng loại hoạt động và phải được thực hiện hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Trong kiểm tra, đánh giá chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chủ yếu là động viên, khuyến khích HS và kết quả là đã đạt được năng lực chưa chứ không chấm điểm. Quản lý khâu kiểm tra đánh giá kết quả phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần quán triệt đặc điểm kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Quản lý kiểm tra đánh giá phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là:
- Nghiên cứu các quy định đánh giá kết quả Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của
- Xây dựng, hoàn thiện và định ra mức độ của từng tiêu chí đánh giá.
- Tiến hành đánh giá và so sánh kết quả đánh giá với từng mức độ trong các tiêu chí để có thể đưa ra các quyết định quản lý cần thiết. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- Quản lý GV thực hiện việc đánh giá kết quả thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS theo đúng các quy định của các cơ quan quản lý giáo dục.
- Tổ chức hoạt động đánh giá chất lượng và hiệu quả quá trình phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV.
- Tổ chức hoạt động tự đánh giá kết quả tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của GV và HS.
Sau khi kiểm tra đánh giá phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chủ thể quản lý Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có kết luận về các kết quả tự đánh giá đó và có các phương án điều chỉnh phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm nâng cao kết quả Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- Vai trò của các lực lượng bên ngoài với công tác phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Việc giáo dục HS không chỉ có nhà trường và gia đình mà phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Các lực lượng ngoài nhà trường cùng tham gia phối hợp bao gồm: Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Phụ huynh học sinh, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội Khuyến học, Đoàn phường, Công an, Y tế, Hội liên hiệp thanh niên, đơn vị kết nghĩa,… Mỗi lực lượng giáo dục đều có thế mạnh riêng vì vậy phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt công tác phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chính là thực hiện Xã hội hoá giáo dục, tạo nên môi trường giáo dục tốt nhất cho HS. Nhờ sự phối hợp mà nhà trường sẽ bớt đi những hạn chế và khó khăn nhất định như thiếu điều kiện cho hoạt động, nguồn thông tin, còn gia đình và xã hội sẽ nắm được những nhu cầu hoạt động của HS.
BGH nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch thống nhất cả về nội dung, phương thức tổ chức và cách thức phối hợp nhằm động viên và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường vào quá trình quản lí phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- a, Nhận thức của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên
Cán bộ quản lý và GV có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ắt sẽ tổ chức được nhiều hoạt động để HS tham gia, mỗi hoạt động đều có nội dung giáo dục riêng và góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy – học trong nhà trường. Vì nếu cán bộ, GV chưa nhìn nhận một cách đúng đắn vai trò của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thì trong quá trình tổ chức, chỉ đạo và quản lý các hoạt động sẽ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giáo dục. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
- b, Năng lực của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên
Là khả năng Cán bộ quản lý và đội ngũ GV đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể. Vì vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng/ năng lực tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho CB, GV là công việc cần thiết trong quản lý, chỉ đạo các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của hiệu trưởng. Cần dựa trên kế hoạch hoạt động chung của nhà trường, tổ chức các buổi tập huấn phù hợp với khả năng hiện có để đội ngũ này có điều kiện học tập, rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ trong việc tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- c, Điều kiện tổ chức hoạt động
Cơ sở vật chất: Muốn tổ chức tốt các hoạt động, điều kiện tiên quyết là phải chăm lo đến việc xây dựng Cơ sở vật chất trường học và xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Do đó nhà trường cần tranh thủ sự hỗ trợ của các lực lượng ngoài xã hội để tăng cường Cơ sở vật chất cho nhà trường, tạo mọi điều kiện tốt nhất để các lực lượng ngoài xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục HS.
- Môi trường giáo dục:
HĐTNST cần phải có môi trường và điều kiện hoạt động nhất định. Cần căn cứ vào đặc trưng về văn hóa, khí hậu, đặc điểm vùng miền, điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi địa phương, để các nhà trường lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục.
- Chính sách, quy định:
Để đạt được hiệu quả của Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thì nhất thiết cần phải có các văn bản mang tính pháp quy, quy định và thống nhất về nội dung chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Căn cứ vào đó, mỗi nhà trường phải xây dựng một chương trình hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện nhà trường, tình hình địa phương. Đồng thời, cũng cần có các chính sách chế độ kinh phí cho hoạt động, chế độ tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
1.5. Mối quan hệ giữa Hiệu trưởng – Giáo viên chủ nhiệm trong việc quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trong công tác quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò rất quan trọng bởi Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý giáo dục một tập thể HS, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về chất lượng giáo dục của lớp chủ nhiệm. Chính người Giáo viên chủ nhiệm có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc hình thành các phẩm chất, năng lực, nhân cách cho HS. Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò to lớn trong tập hợp đoàn kết HS trong tập thể, tổ chức mọi hoạt động của lớp nhằm giáo dục HS. Do đó, Giáo viên chủ nhiệm cần là người cố vấn, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động cho HS theo đúng mục tiêu giáo dục đề ra. Vai trò của Giáo viên chủ nhiệm rất đặc biệt trong việc cố vấn tâm lý tình cảm, là chỗ dựa cho HS trong các tình huống khó khăn, là người đưa ra lời khuyên hữu ích, đáng tin cậy nhất. Giáo viên chủ nhiệm cũng là chiếc cầu nối mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình HS. Giáo viên chủ nhiệm còn là người tiếp nhận các kế hoạch Hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ Hiệu trưởng đồng thời phải xây dựng được chương trình kế hoạch Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm thống nhất, khép kín quá trình hoạt động, không gian, thời gian tác động đến HS của lớp chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm là người phải có khả năng liên kết các lực lượng xã hội, phát huy tiềm năng của xã hội về mọi mặt đối với công tác Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Giáo viên chủ nhiệm còn là cầu nối giữa Hiệu trưởng (BGH), giữa các tổ chức trong trường, giữa các Giáo viên bộ môn với tập thể HS lớp chủ nhiệm. Nói một cách khác, Giáo viên chủ nhiệm là người đại diện hai phía, một mặt đại diện cho các lực lượng giáo dục của nhà trường, mặt khác đại diện cho tập thể HS. Với tư cách là nhà sư phạm, Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm truyền đạt tới HS của lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của nhà trường tới tập thể và từng HS của lớp chủ nhiệm không phải bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục, cảm hóa, bằng sự gương mẫu của người Giáo viên chủ nhiệm, để mục tiêu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được HS chấp nhận một cách tự giác, tự nguyện. Với kinh nghiệm sư phạm và uy tín của mình, Giáo viên chủ nhiệm có khả năng biến những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của mỗi HS, tổ chức phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành các phẩm chất và năng lực thực tiễn cho HS. Vì vậy Hiệu trưởng phải biết đánh giá đúng năng lực GV để lựa chọn, sắp xếp đội ngũ Giáo viên chủ nhiệm sao cho phù hợp, đảm nhiệm tốt được công việc đã được giao.
1.6. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh TH Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
Giáo dục chỉ có hiệu quả cao khi nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phù hợp với đặc điểm phát triển tâm, sinh lí lứa tuổi. Vì vậy, nội dung, phương pháp các hình thức tổ chức giáo dục phải căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi.
Học sinh TH là lứa tuổi từ 6-11 tuổi. Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường – trở thành HS và có hoạt động chủ đạo. Trẻ em lứa tuổi HS TH thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của HS TH. Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ nhiều điều mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được. Từ đó, cùng với sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựu phát triển tâm lí đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lí của mình, mà trước hết là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc, sự phản tỉnh – những cấu tạo tâm lí mới đặc trưng cho lứa tuổi này. Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi mới của cuộc sống. Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong môi trường “ trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó buộc không tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ. Trẻ chẳng những phải ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang các tính chất khác nhau. Trước những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy” được sự phát triển của mình lên một mức cao hơn.
Tuổi TH là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, HS TH lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của HS TH. Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên- lứa tuổi có xu thế vươn lên làm người lớn. Về việc này, N.X.Leytex đã khắc họa: “ Tuổi TH là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế. Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này – sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc.
Học sinh TH là lứa tuổi sống và phát triển trong nền văn minh nhà trường theo hai cấp độ. Cấp độ thứ nhất gồm lớp 1, lớp 2 và lớp 3, trong cấp độ này thì lớp 1 là đặc biệt-lớp đầu của Cấp tiểu học. Cấp độ thứ hai gồm lớp 4 và lớp 5-lớp đầu ra của Cấp tiểu học. Hai cấp độ này tuy có sự khác nhau về mức độ phát triển tâm lí và trình độ thực hiện hoạt động học tập, nhưng không có sự thay đổi đột biến, không có sự phát triển theo chiều hướng mới.
Như vậy, để định hướng tốt cho sự phát triển nhân cách của các em, các thầy cô giáo cần nghiên cứu thế giới nội tâm của các em, hiểu rõ nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lí để kịp điều chỉnh, uốn nắn, thúc đẩy, lôi cuốn HS vào các loại hoạt động. Nắm vững những đặc điểm về tâm sinh lý của HS TH là nền tảng quan trọng đối với các lực lượng giáo dục. Giáo dục nhà trường cần chú ý đến những đặc điểm trên để tổ chức các Hoạt động giáo dục cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi. Tổ chức các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nếu không chú ý đến các đặc điểm này sẽ không thể phát huy được tính tích cực, vai trò chủ thể sáng tạo của HS. Nắm vững những đặc điểm phát triển tâm sinh lý của HS TH, người GV mới có thể tổ chức tốt các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho các em. Đối với Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tính tích cực, vai trò chủ thể của HS là yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả giáo dục của loại hình hoạt động này. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
HĐTNST là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường, là việc tiếp nối các hoạt động trên lớp, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên những con người đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện.
Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Tuy nhiên, làm thế nào để việc thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang lại hiệu quả cao nhất, phát huy được hết tác dụng của mình đáp ứng nguồn nhân lực cho công cuộc đổi mới là điều hết sức cần thiết. Lứa tuổi HS TH bắt đầu phát triển về nhiều mặt: thể chất, trí tuệ, tình cảm, nhu cầu giao tiếp với bạn bè… Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có vai trò quan trọng và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển nhân cách của các em.
HĐTNST chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, nhận thức của các lực lượng giáo dục, năng lực người thực hiện chương trình, nội dung chương trình, sự đánh giá của các lực lượng giáo dục, nhận thức và năng lực của HS. Bởi vậy, cần có biện pháp quản lí việc thực hiện phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo một cách có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục HS TH.
Quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH là tác động của hiệu trưởng đến tập thể GV và các lực lượng giáo dục trong, ngoài nhà trường nhằm tổ chức thực hiện kế hoạch, nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo một cách có hiệu quả, hướng tới mục tiêu hình thành năng lực thực tiễn ở HS.
Nội dung và qui trình quản lý phát triển chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường TH bao gồm: Xác định rõ mục tiêu hoạt động; xây dựng nội dung, kế hoạch hoạt động theo mục tiêu đã xác định; tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động. Luận văn: Quản lý phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển chương trình trải nghiệm sáng tạo

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
