Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Đề tài nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng Quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện nay, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL TBDH ở các trường THPT tại tỉnh Bình Dương. Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu, đó là phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được những quả sau:
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của việc QL TBDH ở các trường phổ thông. Khảo sát, đánh giá thực trạng về TBDH và công tác QL TBDH; thực trạng QL việc xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng và bảo quản TBDH.
Tìm ra được những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của những bất cập và hạn chế trong công tác QL TBDH ở các Trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Với các nguyên nhân cơ bản về thực trạng và công tác QL TBDH ở các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay để xây dựng các biện pháp QL TBDH có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm góp phần đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học trong bối cảnh giáo dục hiện nay.
Đề tài cũng khảo sát được thực trạng việc trang bị thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ cho hoạt động dạy học và việc sử dụng TBDH trong quá trình dạy học ở các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một để thực hiện các biện pháp và phương pháp quản lý TBDH phù hợp.đồng thời nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH để có một tầm nhìn bao quát và sâu sắc.
Đề tài nghiên cứu thực trạng TBDH, thực trạng quản lý TBDH các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để thấy được công tác quản lý TBDH mà các nhà trường đã và đang sử dụng nhưng hiệu quả và chất lượng quản lý chưa cao; kỹ năng sử dụng TBDH của GV, HS ở mức độ chưa tốt; tìm ra những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng trên. Từ đó đề ra các các biện pháp quản lý TBDH đồng bộ, thường xuyên, triệt để và vận dụng phù hợp giữa lý luận với thực tiễn cũng như đề xuất được các biện pháp quản lý TBDH của các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Tăng cường cơ sở vật chất (CSVC) cho các trường học là một yếu tố rất quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, từng bước áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và sử dụng các phương tiện hiện đại. Cần tạo điều kiện về thời gian cũng như phương tiện, sách báo để HS tự học. Ban hành các chuẩn Quốc gia về CSVC của các trường như: lớp học, bàn ghế, tủ sách, đồ dùng dạy học (ĐDDH) và trang bị thí nghiệm, thực hành tối thiểu…”
Nghị quyết số 40/2000/QH có nêu: “Đổi mới chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học (PPDH) phải thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới thiết bị dạy học (TBDH), tổ chức đánh giá, thi cử chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng GV và công tác quản lý giáo dục”.
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2017 – 2026 của Đảng xác định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế…”. Chiến lược còn xác định: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, PPDH ở tất cả các cấp và bậc học”.
Kế hoạch số 3614/KH-UBND ngày 22/10/2020 của UBND tỉnh Bình Dương cũng định hướng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” [30].
Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2021) có nêu tại Quyết định số 58/2021/QĐ-TTg ngày 17/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng máy móc, thiết bị của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập” [5].
Có thể nói rằng, Đảng ta đã có quyết tâm rất cao trong việc đổi mới sự nghiệp giáo dục nước nhà, do đó những người làm công tác giáo dục (GD), các nhà quản lý giáo dục (QLGD) phải suy nghĩ, phải tìm tòi hướng đi đúng sao cho nền GD nước nhà tiến kịp nền GD các nước tiên tiến trên thế giới. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), trong đó có đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học đang là mục tiêu hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đổi mới không chỉ nhằm nâng cao tính tích cực trong dạy và học một cách toàn diện, giúp người học chủ động trong lĩnh hội kiến thức mà còn gắn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đáp ứng sự phát triển văn hóa xã hội. Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan trong giáo dục, trong đó thiết bị dạy học là một thành tố quan trọng.
TBDH được hiểu là những dụng cụ, máy móc, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của học sinh (HS) được tốt hơn. Trong quá trình dạy học, các TBDH sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công việc của giáo viên (GV) và giúp cho HS tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi. Có được các thiết bị thích hợp, người GV sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của HS trở nên nhẹ nhàng và tập trung hơn, tạo ra cho HS những nhận thức tích cực với môn học, do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của HS là tăng dần theo các cấp độ của tri giác.
Mặt khác, khi đưa những TBDH mới hiện đại tham gia vào quá trình dạy học, GV có điều kiện để nâng cao tính tích cực, tính tư duy độc lập sáng tạo của HS, đồng thời HS sẽ nâng cao được hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Ngoài ra với các TBDH mới hiện đại, GV có thể rút ngắn được thời gian giảng giải thuyết trình để tập trung hơn vào rèn luyện phương pháp, kĩ năng cho HS.
Vì vậy, TBDH – một trong các thành tố cơ bản của quá trình dạy học đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu và dưới nhiều góc độ khác nhau.
Thực tế hiện nay ở các trường phổ thông trong tỉnh Bình Dương nói chung, tai thành phố Thủ Dầu Một nói riêng, TBDH đã được trang bị khá đầy đủ và hiện đại, đáp ứng tương đối nhu cầu dạy và học. Tuy nhiên việc sử dụng TBDH chưa hiệu quả do nhiều nguyên nhân, vấn đề đặt ra: Làm thế nào để sử dụng TBDH hiệu quả, góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học?
Trong thời gian qua, có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này và cũng có rất nhiều giải pháp được đưa ra, và một trong những giải pháp đó chính là: Công tác quản lý TBDH như thế nào cho hiệu quả? Ở Bình Dương nói chung, thành phố Thủ Dầu Một nói riêng thì chưa thấy có đề tài nghiên cứu nào về vấn đề này, đồng thời bản thân tôi nhận thấy thiết bị dạy học có một vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục ở trường phổ thông đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Đó là lý do vì sao tôi chọn đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện nay” làm chủ đề nghiên cứu của luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng việc quản lý TBDH ở trường trung học phổ thông (THPT) tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đề xuất một số biện pháp QLTBDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong bối cảnh hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Quản lý TBDH ở trường trung học phổ thông.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý TBDH ở các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác quản lý TBDH ở các Trường THPT tại TP Thủ Dầu Một đã đạt được kết quả nhất định, tuy nhiên còn có những hạn chế về nhận thức, về sử dụng và về thực hiện các chức năng QL TBDH. Nếu nghiên cứu đánh giá được đúng thực trạng quản lý TBDH thì đề tài sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý TBDH phù hợp, khả thi góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH của các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác QL TBDH ở trường
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLTBDH của các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Đề xuất các biện pháp QL TBDH ở các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện Khảo nghiệm các biện pháp đề xuất.
6. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý đối với TBDH dưới sự điều hành, lãnh đạo của Hiệu trưởng nhà trường THPT.
Về không gian: Đối tượng khảo sát của đề tài bao gồm 05 trường THPT công lập tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương gồm: Trường THPT Chuyên Hùng Vương, THPT Võ Minh Đức, THPT An Mỹ, THPT Nguyễn Đình Chiểu và THPT Bình Phú.
Về thời gian: Số liệu khảo sát được sử dụng từ năm học 2020 – 2021 đến năm học 2023-2024.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Quan điểm phương pháp luận
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Quan điểm này được vận dụng trong nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn của đề tài. Tiếp cận quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý TBDH với quản lý các hoạt động khác trong trường THPT, cũng như xem công tác quản lý nhà trường là một hệ thống, trong đó công tác quản lý TBDH là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành như: Chủ thể quản lý, chức năng quản lý, hình thức quản lý, nội dung quản lý, kết quả quản lý… Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý TBDH tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Quan điểm lịch sử – logic
Quan điểm lịch sử – logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo trình tự hợp logic.
Tiếp cận lịch sử – logic chúng tôi xem xét thực trạng quản lý TBDH tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong quá trình phát triển của nó, cụ thể từ năm học 2020 – 2021 đến năm học 2023 – 2024, từ đó phát hiện ra những mối liên hệ bản chất và đề xuất biện pháp phù hợp. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Quan điểm thực tiễn
Quan điểm thực tiễn đòi hỏi phải xem xét vấn đề trong tình hình thực tế khách quan, với tình hình phát triển khoa học công nghệ, với điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương cũng như thực tế trang bị TBDH và quản lý TBDH tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề ra những biện pháp mang tính khả thi, nhằm nâng cao chất lượng quản lý TBDH tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý nhà trường, quản lý TBDH; các văn bản chỉ đạo việc xây dựng và sử dụng TBDH trong trường phổ thông như Luật giáo dục, văn bản quy phạm pháp luật, các chỉ thị, thông tư, quy chế về các lĩnh vực giáo dục THPT; Các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm điều tra, đánh giá thực trạng TBDH hiện tại của nhà trường và thực trạng quản lý, sử dụng TBDH của nhà trường.
Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thu thập ý kiến của cán bộ, GV, HS khi sử dụng TBDH; tình hình TBDH hiện tại của từng nhà trường.
Phương pháp quan sát: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát kỹ năng sử dụng TBDH để thí nghiệm, thực hành của CB, GV, HS, từ đó đánh giá quản lý TBDH tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích các hồ sơ, tài liệu về TBDH của các trường THPT, về kế hoạch, bảng số liệu thống kê; các biên bản kiểm kê; các bản báo cáo sơ kết, tổng kết về tình hình TBDH của các trường THPT.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng chương trình SPSS 16.0 và phần mềm Microsoft Office Excel để tính các giá trị như sau: Tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tính % để mô tả kết quả thực trạng, vẽ biểu đồ…Trên cơ sở đó so sánh các giá trị thu được từ quá trình điều tra. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về QL TBDH ở trường THPT trong bối cảnh giáo dục hiện nay.
- Chương 2: Thực trạng QL TBDH ở trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Biện pháp QL TBDH ở trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện nay.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH GIÁO DỤC HIỆN NAY
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Ở nước ngoài
Trong hoạt động nhận thức, khi truyền thụ kinh nghiệm và dạy học, vai trò của trực quan là rất quan trọng. Thực tiễn nhận thức của loài người cho thấy, việc sử dụng TBDH có tác dụng đặc biệt quan trọng trong việc truyền thụ kinh nghiệm và đào tạo. Do đó việc nghiên cứu, tìm hiểu, quản lý và sử dụng TBDH trong nhà trường có cơ sở triết học sâu xa và được quan tâm từ rất sớm, trong đó phải kể đến nhà sư phạm lỗi lạc của thế giới người Tiệp Khắc Komensky (1592-1679) được công nhận là “Ông tổ của nền giáo dục cận đại”. Komensky chịu ảnh hưởng lớn quan điểm triết học của Bêcơn (Nhà duy vật người Anh thế kỷ XVII) cho rằng: “cảm giác là nguồn gốc của kiến thức”. Từ thực tiễn sư phạm trong thời kỳ đó, việc dạy học được bắt đầu từ việc quan sát sự vật hiện tượng đã đem đến hiệu quả rất lớn trong quá trình dạy học, Komensky đã thiết lập nên nguyên tắc dạy học trực quan, ông xem đây là nguyên tắc vàng ngọc “Lời nói không bao giờ đi trước sự vật”. Về sau cũng có các nhà nghiên cứu GD như J.H.Pestalossi (1746-1827); V.G.Bêlenxky (1811-1848); K.ĐUsinski (1824-1870) đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. V.I.Lê- Nin khi phân tích bản chất của quá trình nhận thức đã nêu rõ con đường biện chứng của nhận thức là: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Trong cuốn sách “Tổ chức lao động của hiệu trưởng” tác giả Zakharốp đã trình bày về yêu cầu, điều kiện và tác dụng của cơ sở vật chất – kỹ thuật (CSVC- KT) của trường học. [32, tr.268].
Dựa trên quan điểm của phép biện chứng duy vật lịch sử thì TBDH là những công cụ lao động là phương tiện trực quan trong hoạt động dạy học của thầy và trò. Nhờ có các TBDH mà “làm dài thêm” cơ quan cảm giác của con người (cách nói của F.Ănghen), cho phép con người đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giác của các giác quan thông thường.
Trong trường học, TBDH được xem là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nhằm cung cấp vốn tri thức mà loài người tích lũy được cho người học, đồng thời kích thích khả năng sáng tạo ứng dụng vào cuộc sống của người học. TBDH là phương tiện dạy học trực quan, có vai trò lớn trong quá trình nhận thức của học sinh.
- Ở trong nước
Trong những năm qua, Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu khoa học tiêu biểu đã phát triển và truyền bá về nguyên tắc dạy học trực quan như các tác giả: Tô Xuân Giáp – “Phương tiện dạy học”; Vũ Trọng Rỹ – “Quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở nhà trường phổ thông” [24]; Trần Kiểm – “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” [18]…
Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã xây dựng được một hệ thống lý luận về vị trí, vai trò, tác dụng và một số yêu cầu về nguyên tắc chế tạo, sử dụng TBDH trong nhà trường phổ thông hiện nay.
Gần đây, trong các luận văn thạc sĩ đã có một số công trình nghiên cứu của một số học viên cao học QLGD có nghiên cứu về quản lý TBDH ở các loại hình nhà trường, có thể kể đến một số công trình sau:
Tác giả Nguyễn Thị Cúc (2020), học viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục (năm 2020) với đề tài: “Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH của giáo viên trường THCS” [4].
Đặng Công Hầu (2014), “Các biện pháp QL việc sử dụng TBDH của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Tây Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện nay”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD, Trường ĐHSP Huế. [8] Ngô Đình Mẫn (2015) “Biện pháp QL TBDH của HT các trường THPT tỉnh Quãng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD, Trường Đại học Quy Nhơn.
Nguyễn Văn Tuấn (2018), “Biện pháp QL TBDH ở các trường THPT tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD, Trường ĐHSP Huế. [26]
Nguyễn Phục (2020), “Biện pháp QL TBDH của HT các trường THPT huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD, Trường ĐHSP Huế. [23] Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Ngô Quang Sơn đã bảo vệ thành công đề tài cấp Bộ (năm 2011) về đề tài: “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng”; [29]
Tác giả Nguyễn Thị Huế (năm 2012), đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ với đề tài: “Một số biện pháp quản lý CSVC và thiết bị trường học của hiệu trưởng các trường THCS huyện miền núi Sơn Dương, Tuyên Quang”.[17]
Năm 2014, tác giả Phan Kim Anh bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của hiệu trưởng các trường Tiểu học quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”; [1]
Tác giả Hồ Sỹ Nam Thắng (năm 2017) bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ luận văn với đề tài “Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của hiệu trưởng ở các trường trung học phổ thông công lập trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An”[28].
Tác giả Phạm Thị Hiền bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ luận văn (năm 2017): “Quản lý TBDH của hiệu trưởng các trường THPT công lập huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”[15].
Các công trình trên đã chỉ ra được thực trạng và đề xuất các biện pháp QL TBDH phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của các địa phương. Tuy nhiên khi xem xét cụ thể thì một số biện pháp còn chung chung, khó thực hiện nhất là trong việc phối hợp đồng bộ các biện pháp. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão, kinh tế nước ta phát triển nhanh và mạnh, ngành GD được Đảng và Nhà nước chăm lo, đầu tư thì việc QL TBDH trong trường phổ thông hiện nay còn nhiều vấn đề mới đặt ra. Ở tỉnh Bình Dương, do có những đặc điểm riêng về điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa – GD nên việc áp dụng những biện pháp mà các luận văn trên đưa ra là chưa thật sự phù hơp. Mặt khác trong những năm qua cũng chưa có đề tài nào đề cập đến “Quản lý TBDH ở các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh giáo dục hiện nay”.
1.2. Một số khái niệm liên quan đề tài. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
1.2.1. Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
- Quản lý
Quản Lý là một trong những hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại.
- Một số quan niệm về quản lý của các tác giả ở nước ngoài:
Theo Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân” [2, tr.27].
Frederich Wiliam Taylor (1856 – 1916), Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [7].
Harold Koontz (người Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗi lực cá nhân để đạt được mục đích của nhóm, mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm đối với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [9, tr.32].
Paul Hersey và Ken Blanchard: “Quản lý như quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” [21].
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Henri Fayol (Pháp), Max Weber (Đức) đều khẳng định: “Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội” [16, tr.334].
Thuật ngữ quản lý (QL) đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa QL từ các góc độ khác nhau: Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Theo từ điển giáo dục học, QL là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
- Một số quan niệm về quản lý của các tác giả ở trong nước:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung” [2, tr.16].
Theo các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [12, tr.12].
Như vậy theo định nghĩa của các tác giả như trên, thì QL là sự tác động của chủ thể QL đến khách thể QL một cách có định hướng, có chủ định nhằm làm cho tổ chức vận hành, đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Đó là một hoạt động tất yếu nảy sinh khi có hoạt động chung của nhiều người khi có cùng một mục tiêu. Quá trình tác động của chủ thể QL đến khách thể QL được miêu tả ở sơ đồ 1.1.
- Sơ đồ 1.1: Các yếu tố quản lý giáo dục
Từ khái niệm và mô hình QL trên, ta thấy QL bao gồm 3 yếu tố: Chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL. Ba yếu tố này luôn gắn bó hữu cơ với nhau. Chủ thể QL có thể là một hoặc nhiều người, khách thể QL có thể là cá nhân hoặc nhóm người, được biểu hiện với những dấu hiệu chủ yếu dưới đây:
Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; Hoạt động QL là những tác động có tính mục đích; Hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- Quản lý giáo dục
Khái niệm QLGD hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau:
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [2, tr.31].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể QL (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là QTDH- GD thế hệ trẻ, đưa hệ thống GD tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất. [10, tr.61]. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Tác giả Phạm Viết Vượng quan niệm: “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường [31].
Như vậy từ các tiếp cận của các tác giả thì, QLGD – QL nhà trường chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QL trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung.
Trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời lại phải đối mặt với ảnh hưởng của xã hội thông tin hóa và GD dịch vụ, đổi mới QLGD đang được coi là bước đột phá cho sự phát triển GD, đặc biệt là đổi mới QL nhà nước về giáo dục.
- Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường.
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại: Tác động của những chủ thể QL cấp trên và bên ngoài nhà trường.
Quản lý nhà trường là những tác động QL của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, GD của nhà trường.
Quản lý nhà trường bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của những thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp bên ngoài nhà trường như cộng đồng được đại diện bởi hình thức Hội đồng GD nhằm định hướng cho sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
Tác động của những chủ thể QL bên trong nhà trường: Quản lý nhà trường do chủ thể QL bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động như quản lý GV; QL HS; QL quá trình dạy học – giáo dục; QL vật chất trang thiết bị trường học; QL tài chính trường học; QL mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.
Nội dung và trách nhiệm QL nhà trường: Nội dung QL nhà trường tức là QL nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà trường mà Luật Giáo dục và các văn bản dưới luật đã qui định; Trách nhiệm QL nhà trường nhằm thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các nhiệm vụ của nhà trường, đòi hỏi các chủ thể QL phải thực hiện tốt nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, GV, HS và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đã được qui định trong Điều lệ trường trung học.
1.2.2. Khái niệm thiết bị dạy học Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Trong lịch sử phát triển của GD và nhà trường, hoạt động dạy học tồn tại như là một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động của con người, hoạt động dạy học của thầy và trò nhằm đạt tới những mục đích nhất định trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Muốn vậy, bất kỳ một hoạt động nào cũng phải xây dựng được nội dung, phương pháp, phương tiện hoạt động và chúng được thực hiện bởi các chủ thể nhất định.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về TBDH. Trong một số giáo trình GD học và lý luận dạy học, nhiều tác giả cho rằng: TBDH là những phương tiện vật chất – kỹ thuật giúp cho GV tổ chức quá trình dạy học có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ dạy học đề ra.Tùy theo mục đích sử dụng mà người ta dùng thuật ngữ với các nội hàm khác nhau.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ chỉ rõ:“Thiết bị dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS và đối với HS, đó là các nguồn tri thức phong phú, sinh động, là các phương tiện giúp cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng và kỹ xảo.”[13, tr. 24].
Tác giả Thái Duy Tuyên lại định nghĩa ngắn gọn: “Thiết bị dạy học là các công cụ mà các thầy giáo và HS sử dụng trong quá trình dạy học” [27, tr. 250].
Có thể thấy rằng, mặc dù cách diễn đạt khác nhau song các tác giả đã có sự thống nhất khái niệm về TBDH.TBDH có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, có những khả năng to lớn làm tăng chất lượng nhận thức của HS giúp GV tổ chức, điều khiển quá trình học tập của HS một cách tích cực, chủ động, đáp ứng được nhu cầu và hứng thú học tập của người học. Hiểu một cách khái quát thì TBDH là sự vật chất hóa nội dung và PPDH.
Ở trường THPT, TBDH là toàn bộ các công cụ mà GV, HS dùng để tham khảo, hướng dẫn, mô tả, quan sát, thí nghiệm…nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là hỗ trợ HS phát hiện và tiếp thu những tri thức cần thiết theo nội dung bài học trong chương trình.
1.2.3. Khái niệm về quản lý thiết bị dạy học
Quản lý TBDH là một nội dung quản lý trong quản lý nhà trường. Quản lý TBDH làm cho TBDH có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, với phương pháp dạy, với phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo đã vạch ra là khâu quan trọng nhất trong quản lý nhà trường. Quản lý TBDH là một phận của quản lý CSVC – KT trong nhà trường.
Quản lý TBDH là một lĩnh vực vừa mang đặc tính kinh tế – giáo dục vừa mang đặc tính khoa học – giáo dục nên quản lý TBDH một mặt vừa phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, khoa học vừa phải tuân theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục.
Từ những quan điểm trên, chúng tôi xin nêu khái niệm quản lý TBDH như sau: Quản lý TBDH là quá trình nhà quản lý giáo dục tác động có mục đích, có kế hoạch đến thiết bị dạy học nhằm khai thác tối ưu giá trị sử dụng của thiết bị dạy học để đạt được mục tiêu dạy học đã xác định.
1.3. Lý luận về TBDH ở trường THPT Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
1.3.1. Vị trí của TBDH trong quá trình dạy học
Trong quá trình lao động, con người sử dụng công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới. Theo thời gian, công cụ được sản xuất ngày càng nhiều và tinh vi, công cụ luôn gắn với các yếu tố khác nhằm đạt tới một mục đích nào đó.
Trong GD, TBDH là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy học trong nhà trường, thiếu điều kiện này thì quá trình đó không thể diễn ra ở dạng không hoàn thiện.
Quá trình dạy học cấu thành bởi nhiều yếu tố, liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau. Các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học, đó là: Mục tiêu, nội dung, phương pháp – TBDH, GV, HS và kết quả học tập. Các yếu tố cơ bản này tạo thành quá trình sư phạm hẹp (quá trình dạy học trên lớp). Nếu kể đến các yếu tố khác như điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường khoa học kỹ thuật – công nghệ (KHKT – CN) đó là quá trình sư phạm rộng, đầy đủ các yếu tố hơn. Song ở đây chúng tôi chỉ chủ yếu đề cập đến quá trình sư phạm hẹp và hệ thốngTBDH phục vụ cho quá trình này.
Trong nhà trường hàng ngày diễn ra các quá trình dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động và giao tiếp cho HS dưới sự điều khiển của GV, quá trình GD đó muốn đạt hiệu quả thì nhất thiết phải có TBDH.Để phù hợp với nội dung dạy học, hệ thống TBDH phải bao gồm nhiều thành phần, các thành phần phải tính tới đặc điểm của nội dung chương trình, phải thích ứng một cách tỉ mỉ với việc nghiên cứu mỗi vấn đề của chương trình môn học, phải thỏa mãn những yêu cầu về tính khoa học và giúp HS lĩnh hội tốt hơn các kiến thức đã học. Dạy học ngày nay không chỉ trang bị cho HS những kiến thức mà loài người đã tích lũy được và hệ thống hóa lại mà còn phải có nhiệm vụ phát triển năng lực sáng tạo của thế hệ trẻ và kỹ năng thường xuyên tự hoàn thiện tri thức của họ.
1.3.2. Vai trò của TBDH trong quá trình dạy học
- TBDH là một bộ phận của quá trình dạy học Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Lý luận dạy học đã khẳng định, quá trình dạy học là một quá trình trong đó hoạt động dạy và hoạt động học phải là những hoạt động khắng khít giữa các đối tượng xác định và có mục đích nhất định [22].
Để quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả cao, con người tìm ra và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau cho mục đích này và theo đó, TBDH phục vụ cho phương pháp dạy học cũng ra đời và phát triển. Và dĩ nhiên, các yếu tố của quản lý GD cũng xuất hiện.
Quá trình dạy học, giáo dục được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau đó là: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh, TBDH. Mối quan hệ đó được biểu diễn qua sơ đồ sau:
- Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học
Mối quan hệ trong sơ đồ cho thấy TBDH là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của quá trình dạy học, giáo dục. TBDH là cầu nối để giáo viên, học sinh cùng hành động tương hợp với nhau chiếm lĩnh nội dung đào tạo thực hiện mục tiêu đào tạo sử dụng phương pháp đào tạo. TBDH là một bộ phận của nội dung và phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng để nhận thức. TBDH cho phép thực hiện nguyên tắc trực quan trong dạy học góp phần đảm bảo chất lượng kiến thức theo những đặc trưng cơ bản (tính chính xác, khoa học; tính tổng quát; tính hệ thống; tính chuyển hoá; tính thực tiễn, vận dụng được; tính bền vững); dạy phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, làm việc; rèn luyện kĩ năng nhiều mặt cho người học.
- Vai trò của TBDH trong việc đổi mới phương pháp dạy học
Ngoài mối quan hệ với các thành tố trong quá trình dạy học thì TBDH còn có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố GV – người tổ chức, điều khiển và HS – chủ thể tự điểu khiển của quá trình dạy học tạo nên “vùng hợp tác sinh động” giữa những người tham gia quá trình sư phạm với các yếu tố khác của quá trình dạy học.
Việc dạy học theo cách truyền thụ một chiều đang dần được thay bằng cách dạy học coi người học là trung tâm của quá trình nhận thức. Hướng đổi mới tích cực này đã dựa trên một số thay đổi cơ bản có liên quan chặt chẽ đến TBDH: HS được chủ động hơn trong công việc, được tham gia tích cực vào quá trình học tập; HS được tổ chức hoạt động, được làm nhiều hơn và thông qua việc làm đó mà chiếm lĩnh tri thức. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Lưu ý rằng, khi sử dụng thuật ngữ “đổi mới phương pháp dạy học”. Cái cần đổi mới chỉ là cách thức, điều kiện, công nghệ mới nhằm thực hiện phương pháp đã có mà thôi. Ví dụ, có thể thực hiện các phương pháp thực nghiệm cổ điển bằng công nghệ rất hiện đại như tia sáng thường trong thí nghiệm quang học cổ điển được thay thế bằng tia Laser…Như vậy, TBDH góp phần nâng cao chất lượng của các phương pháp dạy học đã có mà không làm thay đổi bản chất của phương pháp này.
- Vai trò của TBDH với việc đảm bảo chất lượng dạy học
Xuất phát từ đặc trưng tư duy hình ảnh, tư duy cụ thể của con người, trong quá trình dạy học, sự trực quan đóng vai trò quan trọng đối với việc lĩnh hội kiến thức của người học.
Không ít nội dung học tập phức tạp cần đến sự hỗ trợ tích cực của phương tiện trực quan mới giải quyết được: Định luật, hiện tượng trừu tượng trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật chuyên ngành, tin học…HS rất cần được trực tiếp làm thực nghiệm, được lắp ráp, thao tác, quan sát, nhận xét bằng việc sử dụng các dụng cụ, phương tiện cụ thể. Nghĩa là học bằng thực hành [20].
Để học tập khoa học theo phương pháp được khám phá, chứng minh kiến thức, thể hiện tường minh phương pháp nghiên cứu và kỹ năng thì các phương tiện, dụng cụ, phòng thí nghiệm, phòng thực hành có vai trò và tiềm năng to lớn.
Yêu cầu trực quan cao trong việc quan sát, trình diễn, vận hành của cơ chế, cấu trúc, vận động, mô hình, mô phỏng thì phương tiện nghe – nhìn có ưu thế rõ rệt.
Những thiết bị như vậy cho phép khai thác sâu sắc nội dung sự vật, hiện tượng khoa học trong tài liệu học tập bằng các vật liệu cụ thể bởi người học. Như vậy, TBDH cho phép: Thực hiện nguyên tắc trực quan trong dạy học rất quan trọng đối với bài học thực hành; Góp phần bảo đảm chất lượng kiến thức theo những đặc trưng cơ bản: Tính chính xác, khoa học, tính hệ thống, tính chuyển hóa, tính thực tiễn, tính bền vững…; Dạy phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, làm việc – đây là bộ phận không tách rời của kiến thức; Rèn luyện kỹ năng nhiều mặt cho người học.
- Vai trò của TBDH trong việc năng cao khả năng sư phạm
Trong hệ thống TBDH hiện đại, phương tiện kỹ thuật dạy học có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc tạo khả năng xây dựng, hình thành, củng cố, hệ thống hóa, vận dụng kiến thức vào thức tiễn.
Phương tiện kỹ thuật dạy học gồm các máy chiếu quang học, máy khuyếch đại âm thanh, hình ảnh, máy lưu giữ và tái hiện thông tin, máy tính và công nghệ thông tin…vốn chứa đựng những tiềm năng sư phạm to lớn trong việc hỗ trợ tích cực cho giảng dạy, học tập.
Với những phương tiện hiện đại, người ta đã tổ chức được các hội thảo, hội nghị, các lớp học theo phương thức giáo dục từ xa, các lớp học trực tuyến…Hiện tại đã có nhiều phương tiện kỹ thuật mới được sử dụng trong dạy học, đặc biệt là ứng dụng tin học. Với sự tiến bộ nhanh chóng của KH&CN, phương tiện kỹ thuật được sử dụng trong trường học ngày càng nhiều sẽ làm thay đổi căn bản về phương pháp, làm cho quá trình dạy học sinh động và hiệu quả hơn.
TBDH chẳng những tạo điều kiện đi sâu vào các đề tài nghiên cứu mà còn cho phép trình bày các vấn đề trừu tượng một cách sinh động, do khả năng sư phạm to lớn hỗ trợ cho GV và HS như tăng tốc độ truyền tải thông tin mà không làm giảm chất lượng thông tin; thực hiện các phương pháp dạy học trực quan, thực nghiệm, tạo ra khả năng thực hành, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc, học tập, sự khéo léo chân tay, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tạo ra hứng thú, lôi cuốn khi học, tiết kiệm thời gian trên lớp, cải tiến các hình thức lao động sư phạm, tạo khả năng tổ chức một cách khoa học và điều khiển hoạt động dạy học.
1.3.3. Chức năng TBDH trong quá trình dạy học ở trường THPT Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Thiết bị dạy học có một số chức năng như sau: Hệ thống TBDH là công cụ đặc thù của lao động sư phạm; Hệ thống TBDH cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hiện tượng, đối tượng, quá trình nghiên cứu; Hệ thống TBDH nâng cao hiệu quả dạy học, tăng cường nhịp độ trình bày tài liệu và chuyển tải thông tin; Hệ thống TBDH làm thỏa mãn nhu cầu học tập, nghiên cứu của người dạy và người học; Hệ thống TBDH làm nhẹ cường độ lao động sư phạm của người dạy và người học; Hệ thống TBDH nâng cao tính trực quan trong quá trình dạy học.
1.3.4. Nội dung TBDH trong trường THPT
Cho đến nay, các nhà giáo dục vẫn có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về cách phân loại TBDH. Mỗi quan điểm phân loại đều do dựa trên tính chất, cấu tạo và mức độ sử dụng TBDH trong QTDH.
Cơ sở phân loại TBDH dựa trên các căn cứ chủ yếu như: Cơ sở khoa học về những con đường nhận thức của HS trong quá trình học tập; Chức năng của các loại hình TBDH; Yêu cầu về mặt sư phạm và khả năng trang bị, sử dụng chúng trong nhà trường hiện nay. Từ những cơ sở trên, đã có rất nhiều cách phân loại khác nhau về TBDH tiêu biểu là:
Mẫu vật, mô hình và hình mẫu, phương tiện đồ họa, thiết bị thí nghiệm và các phương tiện kỹ thuật dạy học như những phương tiện nghe nhìn, máy kiểm tra, máy vi tính… có thể phân loại nội dung TBDH trong trường THPT gồm những loại thiết bị như sau:
- Bản đồ, lược đồ, tranh ảnh.
Bản đồ, lược đồ là một phương tiện trực quan, một nguồn tri thức quan trọng. Qua bản đồ, lược đồ, HS có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt trái đất mà các em chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát và nó có chức năng như là công cụ trực quan cho các số liệu không gian.
Tranh ảnh cũng cung cấp cho GV phương tiện trực quan để hướng dẫn các HS thực hành bài học trên lớp. Trong bài giảng, dựa vào những tình tiết chính, GV đưa ra các tranh ảnh có liên quan đến nội dung bài giảng, giúp HS hiểu rõ, hiểu chính xác nội dung bài học. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Mô hình, mẫu vật thực hành, thí nghiệm
Sử dụng mô hình, mẫu vật, thực hành, thí nghiệm trong dạy học sẽ rèn luyện cho HS có được một cách học, cách suy nghĩ, tự làm việc trên những mẫu vật, thực hành, thí nghiệm… giúp HS sẽ tự mình có thể trình bày một ý kiến, ý tưởng, quan niệm khi giải quyết một vấn đề khoa học độc lập. Mô hình, mẫu vật thực hành, thí nghiệm có vai trò quan trọng trong việc tiếp thu tri thức của HS, đồng thời rèn luyện cho HS những kỹ năng thực hành.
- Dụng cụ thí nghiệm, thực hành
Dụng cụ thí nghiệm, thực hành thuỷ tinh, gốm sứ, kim loại, gỗ nhựa các loại, vật tư khoa học kỹ thuật khác, bao gồm:
Thiết bị, dụng cụ, và vật tư tiêu hao phòng thí nghiệm thực hành. Thực hành hóa học, sinh học, vật lý, toán học, công nghệ…; Thiết bị, dụng cụ hỗ trợ học tập các môn: Địa lý, ngoại ngữ, lịch sử, ngữ văn…; Dụng cụ môn học giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng; Thiết bị, dụng cụ bảo hộ lao động trong phòng thí nghiệm, đồng phục…
- Phần mềm
Phần mềm máy tính hay còn được gọi tắt là phần mềm (software) là một tập hợp các câu lệnh hoặc chỉ thị được viết bằng 1 hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trận tự xác định nhằm tạo ra một nhiệm vụ hay chức năng năng hoặc một vấn đề cụ thể nào đó. Phần mềm máy tính hoạt động bằng cách gửi trực tiếp các chỉ thị đến phần cứng hoặc bằng cách cung cấp dữ liệu để phục vụ các chương trình phần mềm khác thực hiện nhiệm vụ của mình.
Theo từ điển Giáo dục học: “Phần mềm là tập hợp những chương trình, quy trình, quy tắc và sự cung cấp tư liệu hỗ trợ, liên quan đến sự vận hành của một máy tính và liên quan đến những nhiệm vụ phải hoàn thành” [14, tr.315].
- Băng đĩa
Về cơ bản lưu trữ dữ liệu dạng đĩa trên máy tính được chia thành hai loại: ghi nhớ dữ liệu theo nguyên lý sử dụng từ tính và quang học. Với nguyên lý từ tính, chúng gồm các loại đĩa cứng, đĩa mềm. Với nguyên lý quang học, đại diện cho chúng là các đĩa CD, DVD và với các chuẩn mới ngày nay. Lưu trữ dựa trên từ tính rất thông dụng và xuất hiện trên hầu hết các máy tính với đặc điểm là dung lượng lớn, việc ghi dữ liệu thuận tiện. Băng đĩa được thiết kế nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học trong trường học. Tác dụng chính của băng đĩa là phương tiện góp phần đổi mới phương pháp dạy học; giúp HS nắm vững và ghi nhớ kiến thức bền lâu; hiểu được những nguyên tắc và khái niệm cơ bản cơ bản phát triển được kỹ năng phân tích, phán đoán; hình thành và nâng cao khả năng quan sát. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Hoá chất
Hóa chất là một dạng của vật chất mà có hợp chất và đặc tính hóa học không đổi. Sử dụng hóa chất thí nghiệm trong dạy học được coi là tích cực khi thí nghiệm được dùng làm nguồn kiến thức để học sinh khai thác, tìm tòi kiến thức hoặc dùng để kiểm chứng, kiểm tra những dự đoán, suy luận lý thuyết, hình thành khái niệm. Việc sử dụng có hiệu quả hóa chất thí nghiệm cần chú ý đến nội dung, vị trí bài dạy trong chương trình, tính phức tạp và độc hại của hoá chất, kỹ năng thí nghiệm đã có của HS. Với các thí nghiệm đơn giản, sử dụng hoá chất ít độc hại khó gây nguy hiểm cho HS, chúng ta có thể cho HS thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV.
- Thiết bị dùng chung (đầu đĩa, máy tính, projector….)
Máy tính, đầu đĩa, projecter là những thiết bị dùng chung cho GV và HS toàn trường sử dụng trong quá trình dạy học. Những thiết bị này có thể minh hoạ một cách tốt nhất mô hình tĩnh và mô hình động trong dạy học nhất là mô phỏng trên máy tính.
Các thiết bị dùng chung ngày càng trở nên hiện đại hơn, hợp lý hơn và càng gần với đối tượng nghiên cứu. Vì vậy cách thức GV và HS sử dụng các thiết bị dùng chung cũng vô cùng phong phú và đa dạng.
- Máy móc phục vụ nghiên cứu, thí nghiệm, thực hành
Các máy móc thiết bị khoa học, thiết bị phân tích, thiết bị đo lường cho các phòng thí nghiệm, thực hành. Các thiết bị, máy móc công nghệ, trong phòng thí nghiệm, ở cơ sở thực hành là nơi để GV, HS rèn luyện chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm ngay trong quá trình dạy học và nghiên cứu khoa học. Bởi đây là cầu nối giữa giáo dục và đào tạo với nhu cầu thực tế sản xuất ngoài xã hội, là yếu tố căn bản tạo nên môi trường tiếp cận đến nghiên cứu, sản xuất, giúp HS có cái nhìn trực quan hơn về nghề nghiệp của mình dự tính trong tương lai…
Máy móc phục vụ nghiên cứu, thí nghiệm, thực hành trong trường học có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện cho HS những kỹ năng thực hành và vận hành các máy móc, công nghệ, thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, nhất là các công nghệ mới.
- Tài liệu, sách nghiên cứu, sách tham khảo…
Tài liệu, sách nghiên cứu, sách tham khảo có ý nghĩa quan trọng trong dạy học, vì nó là nguồn tri thức vô hạn, đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn được trình bày chi tiết, lôgic, chặt chẽ. Trong tài liệu, sách nghiên cứu, sách tham khảo…nội dung học tập đã được lựa chọn, xây dựng một cách hệ thống khoa học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của hs. [22, tr.212]
Sử dụng tài liệu, sách nghiên cứu, sách tham khảo ở nhà để tự học, tự nghiên cứu, để bổ sung, đào sâu tri thức một cách có hệ thống, bồi dưỡng vốn ngữ pháp, óc phê phán và hướng thú học tập cho HS, bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu.
1.3.5. Bối cảnh giáo dục hiện nay Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển xã hội tri thức.Tốc độ và trình độ đổi mới và ứng dụng tri thức quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học – công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong các nhà trường, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ cao. Ngày nay, nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng 4.0 với những với nhiều hy vọng cho nhân loại toàn cầu song cũng đầy những thách thức và lo âu. Trong cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư, những yếu tố mà các nước như Việt Nam đã và đang tự coi là có ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, dồi dào sẽ không còn là thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng.
Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực và nhân tài cho sự phát triển khoa học và công nghệ, mặt khác sự phát triển khoa học và công nghệ lại tác động vào toàn bộ cơ cấu hệ thống giáo dục. Sự phát triển khoa học và công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế, cơ cấu nghề của nhân dân lao động trong xã hội, đòi hỏi sự giáo dục và đào tạo trong trường học cần nâng cao trình độ sao cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế xã hội.
Việc trang bị và quản lý TBDH phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ. Trường học phải ứng dụng những TBDH của cách mạng công nghiệp 4.0 trong việc tổ thức quá trình dạy học, quá trình giáo dục và quản lý TBDH trong nhà trường nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong giáo dục và đạo tạo ở trường học.
- Thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực học sinh, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Vì vậy việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo cần phải gắn kết chặt chẽ với việc quản lý TBDH trong trường phổ thông vì đòi hỏi học sinh phải được thực hành hiệu quả. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Quan điểm chỉ đạo thể hiện trong nghị quyết số 29, ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Ban chấp hành trung ương như sau:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội” [6].
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng”.
- Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Tính chủ động của người học là tiêu chí về phẩm chất quan trọng cần tập trung phát huy khi day học vì các quan điểm sư phạm như: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”; “Dạy học tương tác”, “Công nghệ dạy học”, … đã được các nhà sư phạm trên thế giới và ở nước ta bàn đến trong những năm gần đây, với mục tiêu là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập của người học.
Theo xu hướng dạy học tích cực, giáo viên giảng dạy đã hạn chế bớt phương pháp thuyết trình thông báo – tái hiện, tăng cường phương pháp thuyết trình giải quyết vấn đề. Đây là kiểu dạy học bằng cách giải các bài toán nhận thức, tạo ra sự chuyển hoá từ quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học vào tổ chức quá trình nhận thức trong học tập. Theo hình mẫu đặt và giải quyết vấn đề mà giáo viên trình bày, học sinh học được thói quen suy nghĩ lôgic, biết cách phát hiện vấn đề, đề xuất giả thuyết, thảo luận, điều tra, làm thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết nêu ra. Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học cần phải gắn kết chặt chẽ với việc quản lý TBDH trong nhà trường.
1.4. Lý luận về quản lý TBDH ở trường THPT trong bối cảnh giáo dục hiện nay
1.4.1. Tầm quan trọng của quản lý TBDH ở trường THPT
TBDH là công cụ lao động của người GV, là công cụ nhận thức của HS, là sự cụ thể hoá nội dung dạy học; vật chất hoá phương pháp đào tạo; tham gia vào thúc đẩy sự hiện thực hoá mục tiêu đào tạo góp phần làm cho quá trình giáo dục có chất lượng, hiệu quả. Để nâng cao chất lượng dạy và học đòi hỏi người GV phải sử dụng thành thạo các TBDH, các TBDH vừa là nguồn cung cấp tri thức vừa là phương tiện minh hoạ cho bài học, vừa là phương tiện để thực hiện các thao tác của quá trình dạy học. TBDH là nguồn kiến thức khi nó được dùng để khai thác kiến thức, là phương tiện minh hoạ khi nó chỉ được sử dụng để làm rõ nội dung đã được thông báo trước đó. Vì vậy, GV phải biết cách sử dụng một loại TBDH sao cho bài giảng đạt hiệu quả tối ưu nhất [29]. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Tầm quan trọng của quản lý TBDH là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống TBDH phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo. Quản lý TBDH là hoạt động quan trọng và cần thiết trong quản lý hoạt động dạy và học nó còn là một trong những công việc của người cán bộ quản lý, là đối tượng quản lý trong nhà trường. Quản lý TBDH làm cho TBDH có mối liên hệ chặt chẽ với giáo viên với học viên, với nội dung, với phương pháp dạy, với phương pháp học theo định hướng của mục tiêu đào tạo trong nhà trường.
Hoạt động quản lý TBDH được thực hiện thông qua các chức năng của quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra với các nội dung của quản lý TBDH như là quản lý trang bị và tái trang bị TBDH, quản lý việc sử dụng TBDH, quản lý việc bảo quản TBDH.
1.4.2. Nguyên tắc quản lý TBDH
Theo tác giả Bùi Minh Hiền quản lý TBDH trong nhà trường cần tuân thủ nghiêm ngặt bốn nguyên tắc sau [11]:
Nguyên tắc về tính mục đích: Khi quản lý TBDH nào đó phải xác định được nhiệm vụ của nó theo chương trình học. Nếu TBDH không có nhiệm vụ rõ ràng đối với bài học, đối với chương trình học đang đặt ra trong nhà trường thì không nên bố trí, sắp xếp nó ở chỗ nào hợp lý vì điều đó sẽ đem lại các hậu quả tiêu cực về mặt sư phạm.
Nguyên tắc về tính phù hợp: Bố trí, sắp xếp TBDH phải đúng lúc, đúng chỗ và đủ cường độ. Mỗi TBDH có vị trí xác định theo nội dung bài học, người giáo viên phải xác định được phương pháp sử dụng TBDH đó cho phù hợp với tiến trình bài học.
Nguyên tắc về tính kế thừa và phát triển: Các nhà trường cần có kế hoạch sửa chữa, tái trang bị TBDH nhằm tận dụng TBDH cho phù hợp với kế hoạch đào tạo của trường đó đồng thời cần khai thác tích cực các nguồn có thể có như vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước, vốn theo phương thức XHHGD, vốn tự có do thành quả lao động của mình để từng bước hiện đại hoá các TBDH và khuyến khích giáo viên, học sinh tự tạo TBDH để bổ sung thêm TBDH.
Nguyên tắc tuân thủ theo chu trình quản lý: Việc sử dụng TBDH trong nhà trường không chỉ là công việc của giáo viên mà nó liên quan đến người quản lý nhà trường vì vậy việc quản lý TBDH cần tuân thủ theo các bước của chu trình quản lý: Kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, điều hành (chỉ đạo), kiểm tra giám sát (điều chỉnh, phân tích, tổng kết, rút kinh nghiệm).
1.4.3. Nội dung quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Xây dựng kế hoạch quản lý TBDH
Chức năng quản lý phương tiện dạy học là Nâng cao kỹ năng QL; Nâng cao nhận thức lý luận và thực tiễn về QL TBDH; Tổ chức, chỉ đạo công tác QL TBDH và thực hiên tốt công tác kiểm tra đánh giá viêc thưc hiên QL TBD, từ đó chúng tôi xây dựng nội dung quản lý TBDH ở nhà trường theo từng kế hoạch cụ thể trong đó việc quản lý TBDH phải là kế hoạch được xây dựng để trang bị, mua sắm, sử dụng, bảo quảnsao cho phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường bao gồm:
Chiến lược phát triển của nhà trường trong những giai đoạn lịch sử cụ thể; Kế hoạch trang bị TBDH giai đoạn trung hạn 2 năm, 3 năm, 5 năm…; Kế hoạch mua sắm TBDH hàng năm của bộ môn và toàn trường; Kế hoạch mua sắm TBDH cụ thể về số lượng, giá cả, phục vụ cho từng bài học, môn học; Kế hoạch hoạt động của từng bộ môn, từng phòng thí nghiệm thực hành; Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CB, GV, nhân viên tham gia quản lý cho từng loại TBDH, từng ngành học; Kế hoạch về kinh phí; Kế hoạch về kiểm kê tài sản của nhà trường; Kế hoạch kiểm tra, giám sát của nhà trường….
- Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý TBDH
Tổ chức thực hiện việc quản lý TBDH là xây dựng cơ chế chính sách, bộ máy, phân công nhân lực quản lý, sử dụng, bảo quản hợp lý về TBDH của nhà trường. Nhà trường phải xây dựng cơ chế chính sách hoạt động cụ thể cho từng loại TBDH và đưa vào quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế thực hiện nhiệm vụ của nhà trường hàng năm.
Xây dựng bộ máy quản lý và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng CB, GV, nhân viên. Đề xuất viêc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ CB, GV, nhân viên tham gia quản lý.
Xây dựng nội qui, quy chế, quy trình sử dụng hợp lý về TBDH của nhà trường; Phối hợp với các đơn vị chức năng trong trường, ngoài trường, Đội bảo vệ, công an, dân quân địa phương, công an phòng cháy chữa cháy… xây dựng kế hoạch, thực hiện nghiêm túc việc bảo quản TBDH của nhà trường.
Xây dựng chế độ chính sách quản lý TBDH cụ thể rõ ràng, có quy định khen thưởng và xử lý kỷ luật đối với những cá nhân, tập thể; Tổ chức bồi dưỡng nâng cao ý thức trách nhiệm, kỹ năng sử dụng, bảo quản TBDH cho HS trong nhà trường.
- Chỉ đạo thực hiện quản lý TBDH Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Chỉ đạo thực hiện mua sắm, sử dụng, bảo quản TBDH phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, đồng thời phân công giám sát thực hiện. Lãnh đạo nhà trường phải có văn bản về quan điểm chỉ đạo chung về quản lý TBDH; văn bản chỉ đạo thực hiện mua sắm; văn bản chỉ đạo thực hiện sử dụng, bảo quản.
Chỉ đạo thực hiện việc quản lý TBDH phải trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, Chính phủ và của các bộ, ngành có liện quan.
Chỉ đạo thực hiện việc quản lý TBDH phải dựa vào các nghị quyết, quyết định, các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ban ngành trong tỉnh.
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch quản lý TBDH
Kiểm tra, đánh giá và động viên trong việc mua sắm, sử dụng, bảo quản TBDH. Đây là hoạt động thường xuyên trong quản lý TBDH.
Nhà trường phải thành lập Ban chỉ đạo và có kế hoạch tiến hành kiểm kê tài sản hàng năm.
Các đơn vị phòng ban chức năng, các bộ môn phải thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá về hiệu quả sử dụng TBDH, về việc bố trí sắp xếp TBDH; kiểm tra về phòng chống cháy nỗ; kiểm tra về tổ chức bộ máy quản lý; kiểm tra phân loại hóa chất, hạn sử dụng, bảo trì kỹ thuật…
Ngoài ra, việc quản lý TBDH phải được xây dựng, điều chỉnh, bổ sung thường xuyên để hình thành một hệ thống hoàn chỉnh hệ thống TBDH, chúng ta cần lưu ý:
Sử dụng tốt TBDH phải giải quyết tốt một số vấn đề về quản lý như đầu tư trang bị tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác, nâng cao trình độ nghiệp vụ kỹ thuật và kỹ năng cho GV cho cán bộ phụ trách thiết bị thí nghiệm. Thực hiện nghiêm túc các quy định về chuyên môn, kỹ thuật.
Xây dựng hệ thống TBDH hoàn chỉnh phục vụ cho dạy và học là việc làm lâu dài và tốn kém. Phải xây dựng từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến hiện đại, bám sát vào nội dung chương trình, mục tiêu giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học thì mới thực hiện được.
Tóm lại, quản lý TBDH là thực hiện các chức năng quản lý đối với các mặt cụ thể của công tác TBDH. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (cá nhân, tập thể), làm cho TBDH thật sự là thiết bị để đạt được mục tiêu dạy học.
- Quản lý việc trang bị và tự tạo TBDH Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Quản lý các nguồn lực: Nhân lực, tài lực và vật lực để trang bị TBDH; Xây dựng đội ngũ QL cho việc trang bị TBDH; QL các nguồn vốn, lập dự toán các nguồn vốn, phân bổ ngân sách hợp lý cho việc trang bị TBDH; QL CSVC – TBDH trong đó việc trang bị TBDH về chủng loại, tính đồng bộ, về số lượng, chất lượng TBDH phù hợp với điều kiện CSVC hiện có của nhà trường.
Quản lý trình tự, thủ tục mua sắm theo đúng qui định của Nhà nước: Hợp đồng, thanh lý hợp đồng, nghiệm thu TBDH, bàn giao cho các bộ phận đã được phân công QL TBDH, kế toán QL hồ sơ, sổ sách, chứng từ.
Quản lý các hoạt động, phong trào tự làm đồ dùng dạy học (ĐDDH): Tự làm ĐDDH đảm bảo sử dụng hiệu quả và tiết kiệm; hoạt động tự làm ĐDDH từ phong trào chuyển thành nhiệm vụ hàng năm của tổ bộ môn.
- Quản lý việc sử dụng TBDH
Xây dựng kế hoạch sử dụng TBDH trong nhà trường; Xây dựng cơ cấu tổ chức QL sử dụng TBDH trong nhà trường; Xây dựng quy chế khai thác, sử dụng TBTDH. Trong đó nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các bộ phận và cá nhân liên quan. Yêu cầu sử dụng TBDH đúng mục đích, nội dung chương trình dạy học, đảm bảo đúng nguyên tắc sử dụng TBDH.
Nâng cao nhận thức về vai trò của TBDH cho toàn thể HS trong nhà trường, giáo dục động cơ và thái độ học tập của HS trong việc sử dụng TBDH; Xây dựng các nội quy sử dụng TBDH của HS; Phân công và qui định rõ trách nhiệm các bộ phận và cá nhân liên quan trong việc QL học sinh sử dụng TBDH; Quản lý việc học tập ở trường và tự học ở nhà, có phương pháp học tập, rèn luyện kỹ năng thí nghiệm, thực hành, sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) phù hơp; Quản lý việc tự quản của HS trong các hoạt động học tập theo tổ, nhóm có sử dụng TBDH; Kiểm tra hiệu quả sử dụng TBDH của HS trong việc vận dụng lý thuyết vào trong thực hành và việc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình sử dụng; Đánh giá kết quả về việc sử dụng TBDH của HS để GV điều chỉnh kế hoạch giảng dạy phù hợp hơn.
- Quản lý việc việc sửa chữa, bảo quản TBDH
Xây dựng kế hoạch sửa chữa và bảo quản TBDH dựa trên các nội dung: Xây dựng các quy chế sửa chữa và bảo quản TBDH theo chế độ QL tài sản của Nhà nước. Thực hiện chế độ thủ trưởng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm; Xây dựng cơ cấu tổ chức, giao quyền, phân cấp, hệ thống thông tin. Trong đó, qui định rõ trách nhiệm bảo quản TBDH của các bộ phận và cá nhân chuyên trách; Xây dựng kế hoạch kiểm tra CSVC- TBDH trong mỗi năm học; Xây dựng hệ thống hồ sơ sổ sách theo dõi các TBDH thống kê và phân loại các TBDH về mức độ hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng; Xây dựng kế hoạch sửa chữa những TBDH hư hỏng ở mức độ nhẹ còn sử dụng được và lên kế hoạch thanh lý những TBDH không còn khả năng sử dụng theo qui định QL tài sản của Nhà nước.
1.4.4. Những yêu cầu quản lý TBDH trong bối cảnh giáo dục hiện nay Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp
Việc trang bị TBDH trong trường học, quản lý TBDH phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ. Nhà trường ứng dụng những TBDH của cách mạng công nghiệp 4.0 trong việc tổ thức quá trình dạy học, quá trình giáo dục và quản lý TBDH trong nhà trường nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong giáo dục và đạo tạo. Nắm vững cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học để chỉ đạo công tác quản lý TBDH;
Lập ra kế hoạch, biện pháp quản lý TBDH khoa học và hiệu quả; Lập hồ sơ, sổ sách theo dõi TBDH trên các mặt: Xây dựng, bảo quản, sử dụng; Chỉ đạo, tổ chức thực hiện những kế hoạch đã đề ra theo tuần, tháng, học kỳ, năm.
Kiểm tra việc thực hiên kế hoạch của nhân viên thiết bị, của giáo viên để kịp thời uốn nắn, nhắc nhở; Đánh giá việc triển khai, thực hiện kế hoạch. Rút ra kinh nghiệm để quản lý tốt hơn các năm học tiếp theo; Có những yêu cầu và biện pháp cụ thể để nâng cao nhận thức, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên phụ trách TBDH để họ quản lý một cách khoa học, bài bản đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
- Phù hợp với yêu cầu định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng
Đảng và Nhà nước ta luôn dự liệu trước những thách thức trong hoạt động giáo dục toàn diện cho thế hệ tương lai. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục của Nghị quyết là: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [6] . vì thế yêu cầu về quản lý TBDH trong bối cảnh giáo dục hiện nay là cần thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp, cách thức thực hiện sao cho phù hơp để tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới.
- Đáp ứng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa yêu cầu nền giáo dục tri thức cao với những đòi hỏi: Sự sáng tạo (sản xuất) ra tri thức diễn ra với tốc độ nhanh, quy mô lớn; Việc sử dụng kiến thức khoa học, công nghệ vào sản xuất trở thành nhu cầu thường nhật của xã hội; Việc xử lý chuyển giao kiến thức và thông tin diễn ra nhanh chóng, rộng khắp, nhờ vào sự phát triển vượt bậc của hệ thống công cụ hiện đại, trong đó công nghệ thông tin có vai trò quyết định. Điều này đòi hỏi ngành giáo dục nói chung và nhà quản lý trong cơ sở giáo dục với việc quản TBDH là cần đổi mới về tư duy, hướng người học về một xã hội học tập với nền kinh tế tri thức. Đồng thời, cần làm cho những quan niệm về văn hóa của người học thay đổi, chủ động hội nhập và đối thoại giữa các nền văn hóa, để có thể thích ứng với các giá trị văn hóa của cộng đồng khác như thành quả khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, y học, thể thao… nói chung là những thành tựu văn hóa của nhân loại, đòi hỏi con người phải học tập suốt đời mới thích nghi với nền văn hóa hiện đại của thế giới. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
1.4.5. Vai trò của hiệu trưởng trong việc quản lý TBDH
Nhiệm vụ của hiệu trưởng được xác định: Hiệu trưởng là chủ tài khoản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của cơ sở giáo dục; chịu trách nhiệm công khai, minh bạch về tài chính theo quy định của pháp luật; chấp hành các quy định về kế toán và kiểm toán.
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý toàn diện về cơ sở vật chất và TBDH. Vì vậy người hiệu trưởng phải có nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, vị trí và vai trò của TBDH trong quá trình sư phạm của nhà trường. Đồng thời quán triệt cho các thành viên trong nhà trường nhận thức rõ được vị trí, vai trò của TBDH trong mối quan hệ với phương pháp và chất lượng giáo dục.
Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển đã sản sinh ra nhiều TBDH máy móc thiết bị hiện đại. Đặc biệt trong tiến trình hội nhập WTO và khu vực, đòi hỏi hệ thống giáo dục Việt Nam không những đổi mới chương trình, nâng cao trình độ đội ngũ GV, không ngừng bổ sung TBDH, đổi mới phương pháp dạy học thì mới đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như những thách thức trong tiến trình hội nhập. Để làm được việc đó thì phải cải tiến công tác quản lý TBDH là môt viêc làm tất yếu của người hiệu trưởng.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý TBDH ở trường THPT
1.5.1. Các yếu tố khách quan
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho sự phát triển xã hội tri thức. Tốc độ và trình độ đổi mới và ứng dụng tri thức quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học – công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong các nhà trường, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ cao. Ngày nay, nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng 4.0 với những bước tiến mới, thành quả cao song cũng đầy những thách thức.
Việc trang bị TBDH trong trường phổ thông, quản lý TBDH phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ. Trường học phải ứng dụng những TBDH của cách mạng công nghiệp 4.0 trong việc tổ chức quá trình dạy học và quản lý TBDH trong nhà trường nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Kinh phí trang bị TBDH
Hiện nay, các trường THPTchỉ nhận kinh phí từ một nguồn là ngân sách nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy, mua sắm tài sản, TBDH còn kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu thì hầu như không có. Học phí, phúc lợi hay các loại phí khác thu được thì khó thực hiện cho việc mua sắm TBDH nên phần nào có ảnh hưởng rất nhiều đến công tác bảo quản, sử dụng, và mua sắm TBDH.
- Xu thế đổi mới phương pháp dạy học
Tính chủ động của người học là tiêu chí quan trọng cần tập trung phát huy khi dạy học ở bậc học phổ thông. Các quan điểm sư phạm như: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”; “Dạy học tương tác”, “Công nghệ dạy học”, … đã được các nhà sư phạm trên thế giới và ở nước ta bàn đến trong những năm gần đây, với mục tiêu là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập của người học.
Theo xu hướng dạy học tích cực, giáo viên hạn chế bớt phương pháp thuyết trình thông báo – tái hiện, tăng cường phương pháp thuyết trình giải quyết vấn đề. Đây là kiểu dạy học bằng cách giải các bài toán nhận thức, tạo ra sự chuyển hoá từ quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học vào tổ chức quá trình nhận thức trong học tập cách học này hiện nay các trường trường THPT tiên tiến đã áp dụng có hiệu quả (Hệ thống trường Đoàn Thị Điểm), đối với phương pháp này khi áp dụng đối với học sinh THPT sẽ rất tốt. Theo hình mẫu đặt và giải quyết vấn đề mà giáo viên trình bày, học sinh học được thói quen suy nghĩ lôgic, biết cách phát hiện vấn đề, đề xuất giả thuyết, thảo luận, điều tra, làm thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết nêu ra. Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học cần phải gắn kết chặt chẽ với việc quản lý TBDH trong nhà trường.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
- Năng lực quản lý của hiệu trưởng
Lãnh đạo và quản lý là một tiến trình xây dựng cầu nối giữa tầm nhìn và hành động. Trong nhà trường, điều này có nghĩa là quản lý TBDH phải có sự quan tâm lớn của lãnh đạo nhà trường, trách nhiệm của Ban giám hiệu là tổ chức lại hoạt động quản lý của nhà trường, chỉ đạo điều hành trang bị, mua sắm, sử dụng TBDH một cách hiệu quả nhất, để nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Như vậy, tổ chức sử dụng TBDH và quản lý TBDH trong nhà trường một cách có hiệu quả, đòi hỏi người hiệu trưởng phải có nhận thức đầy đủ, có phẩm chất đạo đức và năng lực quản lý thật sự. Hiệu trưởng phải là người sáng tạo và năng động, biết nhìn nhận tình huống xã hội xung quanh để đưa ra những quyết định phù hợp, thúc đẩy quá trình dạy học của trường đáp ứng yêu cầu thực tế.
- Nhận thức của CB, GV về quản lý TBDH
Thực hiện quản lý TBDH không chỉ đòi hỏi ở các cấp quản lý mà bản thân mỗi GV giảng dạy cần thấy rõ trách nhiệm của mình đối với công việc. Trong quá trình quản lý TBDH, bên cạnh việc phát triển về kinh nghiệm, thì việc tiếp thu những cái mới, nhận thức sâu sắc công việc quản lý TBDH là vấn đề trở ngại. Hiệu trưởng phải tạo mọi điều kiện cho GV được bồi dưỡng kiến thức, tiếp cận về chuyên môn, ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ tự giác bảo vệ tài sản của nhà trường nhằm nâng cao nhận thức của họ về quản lý TBDH.
- Ý thức trách nhiệm, kỹ năng sử dụng TBDH của học sinh
TBDH là một trong những điều kiện quan trọng góp phần thực hiện có hiệu quả việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, việc sử dụng TBDH phải đúng mục đích, đúng nội dung, HS phải có ý thức trách nhiệm trong việc bảo quản TBDH và kỹ năng sử dụng TBDH phù hợp.
Ý thức trách nhiệm của HS thể hiện trong việc bảo quản, giữ gìn TBDH, sử dụng TBDH đúng mục đích, đúng nội dung của từng loại TBDH cho từng môn học, tiết học và phù hợp với điều kiện thiết bị hiện có của nhà trường. Bên cạnh đó, từng loại TBDH có những chức năng, tác dụng riêng nên thao tác trong sử dụng phải phù hợp, HS cần phải có kỹ năng sử dụng TBDH thì có thể đạt hiệu quả cao trong quá trình học tập.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
Thiết bị dạy học là điều kiện quan trọng không thể thiếu của quá trình dạy học. Vai trò và những khả năng sư phạm của nó đã được lý luận dạy học khẳng định. Do vậy việc đầu tư mọi nguồn lực để xây dựng một hệ thống TBDH là việc làm cần thiết và cấp bách. Bên cạnh đó, việc sử dụng và QL việc sử dụng TBDH được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác QL hoạt động dạy học. Đối với người làm công tác QLcũng cần phải nhận thức sâu sắc các cơ sở lý luận của việc sử dụng TBDH, để làm cơ sở cho công tác QL, chỉ đạo và đề ra các quyết định QL cho sát với tình hình thực tế và phù hợp với các cơ sở lý luận, nhằm QL TBDH có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong trường THPT.
Qua nghiên cứu, luận văn làm sáng tỏ nhiều cơ sở lý luận nhằm giúp cho HT vững tin trong quá trình QL của mình, là nền tảng lý luận vững chắc khi áp dụng các biện pháp mới trong quá trình QL TBDH của đơn vị trong giai đoạn hiện nay.
Qua chương 1 chúng ta có thể khẳng định: Thiết bị dạy học là một bộ phận của nội dung dạy học và PPDH; TBDH góp phần vào việc đổi mới PPDH và góp phần nâng cao chất lượng dạy và học…chúng ta thấy TBDH có vị trí, vai trò rất quan trọng trong quá trình GD, là yếu tố dẫn dắt đến sự phát triển tư duy của học sinh.
Tuy nhiên, không phải lúc nào phương tiện kỹ thuật cũng có tác dụng tích cực đến hoạt động nhận thức của HS. vì nếu sử dụng không đúng với những yêu cầu sư phạm cụ thể, phương tiện kỹ thuật lại có tác dụng theo chiều tiêu cực, làm cho HS hoang mang, hiệu quả tiếp thu kém. Vì thế, khi sử dụng TBDH, người GV phải nắm vững những ưu, nhược điểm và các khả năng và yêu cầu của thiết bị, để từ đó có được hiệu quả dạy học một cách tốt nhất. Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tại Bình Dương […]