Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở Trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới ngày nay đang có sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc về cả đời sống vật chất và tinh thần. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển với những bước tiến nhảy vọt đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển nền kinh tế tri thức. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển bảo vệ lợi ích quốc gia. Khoa học – công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn và nhanh chóng hơn. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học – công nghệ, là cơ sở đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Đại hội Đảng lần thứ XI xác định:“phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba nhiệm vụ chiến lược của nước ta”. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo là nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp thiết, là vấn đề sống còn của toàn ngành giáo dục. Phải đổi mới giáo dục và đào tạo theo xu hướng phát triển chung của thế giới trong đó quản lý giáo dục và đào tạo là khâu then chốt có tính chất quyết định chất lượng đào tạo của các nhà trường.
Hoà trong dòng chảy của hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo cũng phải chuyển mình thay đổi để đáp ứng được với những nhiệm vụ mới, yêu cầu mới của ngành mà điểm nhấn quan trọng nhất là trong quản lý giáo dục. Muốn vậy phải có những thay đổi về tư duy trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện cũng như lựa chọn phương thức và phương tiện trong hoạt động quản lý. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên các lĩnh vực thì việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) vào hoạt động quản lý giáo dục là một yêu cầu cần thiết và tất yếu phải thực hiện.
Trường Đại học Hùng Vương là một trường đại học công lập, đào tạo theo mô hình đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực với nhiều trình độ: Sau Đại học, Đại học, Cao đẳng, TCCN. Nhà trường hiện có gần 460 cán bộ, giảng viên công tác giảng dạy tại 12 khoa và 20 phòng, ban chức năng, trung tâm trực thuộc. Từ năm 2023, Trường Đại học Hùng Vương được Bộ Giáo dục và Đào tạo phép đào tạo 06 mã ngành sau đại học là Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán, Lý luận Văn học, Chăn nuôi thú y, Khoa học cây trồng, Thực vật học, Giáo dục học nâng tổng số ngành đào tạo của nhà trường lên 67 ngành (trong đó có: 6 ngành đào tạo sau đại học; 37 ngành đào tạo đại học; 22 ngành đào tạo cao đẳng; 2 ngành đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp). Hiện tại, quy mô đào tạo các hệ của nhà trường trên 7.500 sinh viên. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Trước cơ cấu tổ chức và chức năng đào tạo đó, đòi hỏi nhà trường phải hiện đại hóa công tác quản lý đào tạo bằng việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là Công nghệ thông tin & TT nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quản lý hoạt động đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường và của ngành giáo dục trong thời kỳ mới.
Thực tế hiện nay,việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào công tác quản lý đào tạo của nhà trường nói chung và quản lý kết quả học tập của sinh viên nói riêng đã được quan tâm vì thế đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vẫn còn gặp khó khăn, bất cập. Thời gian qua nhà trường đã quan tâm nghiên cứu đổi mới việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào quản lý như mua sắm máy tính, các phần mềm quản lý nhưng việc sử dụng các phần mềm này vào công tác quản lý lại chưa được khai thác triệt để,hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung của nhà trường để phục vụ cho công tác đào tạo chưa đồng bộ, còn phân tán, đó là mỗi một phòng chức năng lại có cơ sở dữ liệu riêng, các khoa chuyên môn thì chưa được sử dụng nguồn cơ sở dữ liệu của nhà trường để phục vụ cho công tác đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Xuất phát từ các lý do trên, tôi chọn đề tài “ Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở Trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra làm rõ thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động giáo dục của nhà trường, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT&TT trong hoạt động dạy học và quản lý đào tạo ở Trường Đại học Hùng Vương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở trường đại học.
- Đối tượng nghiên cứu:Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở Trường Đại học Hùng Vương.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và xác định cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở trường đại học.
- Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở Trường Đại học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở Trường Đại học Hùng Vương.
5. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Ứng dụng Công nghệ thông tin & TT vào quản lý đào tạo đã được triển khai ở Trường Đại học Hùng Vương từ nhiều năm học và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin & TT còn những khó khăn, bất cập vì thế hiệu quả chưa cao và chưa áp dụng rộng khắp trong các lĩnh vực hoạt động đào tạo của nhà trường. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi và áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào đào tạo thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước, các công trình khoa học về quản lý giáo dục trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo của Nhà trường. Từ đó phân tích và tổng hợp các vấn đề liên quan đến luận văn.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động của Cán bộ quản lý và các hoạt động đào tạo, quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ cho các kết quả khảo sát bằng phiếu hỏi. Kết quả quan sát cũng là nguồn thông tin cho các nhận xét định tính về công tác quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo của trường Đại học Hùng Vương.
Phương pháp điều tra viết: Sử dụng bảng hỏi để khảo sát ý kiến của các đối tượng: Cán bộ quản lý, CBGV và SV trường Đại học Hùng Vương về hoạt động ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo của nhà trường. Thông qua đó, đánh giá kết quả của công tác ứng dụng và những thành công, hạn chế trong quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông của nhà trường.
Phương pháp phỏng vấn:Phỏng vấn Cán bộ quản lý, CBGV phòng đào tạo và khoa chuyên môn về công tác ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo của nhà trường. Kết quả nghiên cứu này hỗ trợ, bổ sung cho các kết quả khảo sát để làm rõ thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo của trường Đại học Hùng Vương trong những năm qua.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia có uy tín, trình độ cao trong lĩnh vực đào tạo, quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo. Xin ý kiến đánh giá về các biện pháp mà tác giả đề xuất.
6.3. Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp thống kê trong toán:Sử dụng phương pháp thống kê trong toán đế xử lý và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được.
7. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu việc quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy học của phòng đào tạo và các khoa chuyên môn trực thuộc trường.
- Phạm vi thời gian:Luận văn nghiên cứu việc quản lý ứng dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động dạy học ở Trường Đại học Hùng Vương trong 3 năm học gần đây: 2022-2023, 2023-2024, 2024-2025.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục.
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở trường đại học.
- Chương 2: Thực trạng về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy học ở Trường Đại học Hùng Vương.
- Chương 3: Các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy học ở Trường Đại học Hùng Vương.
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo ở trường đại học
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Ở các nước trên thế giới
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến ứng dụng công nghệ thông tin như: Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ… Để có được ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông như ngày nay họ đã có một quá trình nghiên cứu và phát triển lâu dài cũng như đã trải qua rất nhiều các dự án, các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là sự ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trong các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục,…cụ thể:
Ở Australia vào tháng 3/2008, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin, đó là:
Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm Công nghệ thông tin và viễn thông, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của ngành công nghệ này đối với xã hội. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp Công nghệ thông tin và viễn thông vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của việc thực tập kinh doanh của họ”.
Tại Canada, gần đây việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematic) đã đem lại thành tích nổi bật cho những em học sinh lớp 9 trong kiến thức về toán học và những kỹ năng liên quan đến số học, mô hình và hình dạng so với những em học sinh sử dụng sách giáo khoa truyền thống. Một nghiên cứu gần đây của Canada cũng chỉ ra rằng những học sinh lớp 8 mà giáo viên có sử dụng máy vi tính để mô phỏng và ứng dụng đạt được những suy nghĩ có tổ chức hơn và biểu hiện tốt hơn so với những học sinh không được học trên máy tính.
Bên cạnh việc triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học, vấn đề quản lý việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông cũng được các quốc gia thực hiện một cách rất khoa học và bài bản. Có thể đề cập tới những biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục của một số quốc gia như sau:
Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung. Các dự án ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ thúc đẩy” Công nghệ thông tin và truyền thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý. Tương ứng là hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng thống.
Ở Singapore năm 1981 thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học. Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó.
Tại Nhật Bản, chương trình quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin – mục tiêu quốc gia đến năm 2008” đã được công bố từ những năm 1972.
Ở Mỹ và các nước châu Âu, những nghiên cứu về quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những thập niên 90.
Chính nhờ những bước đầu tư và quản lý đúng đắn về phát triển ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông mà những quốc gia nói trên đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục trong những thập kỷ qua.
1.1.2. Ở Việt Nam Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu. Các hội thảo, hội nghị, đề tài khoa học nghiên cứu về ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục và nâng cao chất lượng dạy học:
Hội thảo khoa học toàn quốc về Công nghệ thông tin “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng Công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học” Trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với Dự án giáo dục đại học tổ chức từ ngày 09-10/12/2014 tại trường ĐHSP Hà Nội. Những cuộc hội thảo này đều tập trung về vai trò của Công nghệ thông tin đối với giáo dục và các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học.
Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (ĐH Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức vào đầu tháng 3/2013 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.
Công trình nghiên cứu: “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam” [10] đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của việc sử dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đồng thời nêu lên được ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học hiện tại, tương lai.
Công trình nghiên cứu: “ Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng Công nghệ thông tin -xu thế của thời đại” [19] được báo cáo tại Hội thảo “Tin học trong quản lý ứng dụng trong nhà trường” đã nêu quan điểm dạy và học theo nghĩa Công nghệ thông tin và trình bày một số thử nghiệm bước đầu công nghệ dạy và học thực hiện tại trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ GD – ĐT.
Tác giả Đào Thái Lai cùng nhóm tác giả [6] đã tiến hành đánh giá “Mức độ ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học của giảng viên các trường ĐH” theo mức độ thường xuyên sử dụng thông qua các tiêu chí như: trình chiếu Power Point, khai thác thông tin trên mạng Internet vào dạy học, thiết kế bài giảng điện tử, quản lý hồ sơ giảng dạy bằng máy tính, sử dụng phần mềm dạy học, thi trực tuyến, dạy học qua mạng, làm phim video, sử dụng máy tính hỗ trợ thí nghiệm.
Hội thảo “Chính phủ điện tử ngành giáo dục và đào tạo” do Cục Công nghệ thông tin, Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 9/11/2025, tập trung thảo luận về dự thảo Kiến trúc Chính phủ điện tử và mô hình ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) các cấp: Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và các cơ sở GD&ĐT; giới thiệu một số giải pháp về ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục nhằm tăng cường công tác quản lý và khả năng kết nối thông tin giữa nhà trường và phụ huynh học sinh… Qua việc tổng hợp nghiên cứu vấn đề, tác giả nhận thấy rằng các hội thảo, các công trình về ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông từ trước đến nay đều khẳng định vai trò ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học và vai trò của các biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo là vô cùng quan trọng. Thực tế việc đưa Công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động dạy học và quản lý đào tạo còn tồn tại nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Trình độ tin học của đội ngũ giảng viên còn chưa đồng đều và gặp nhiều lúng túng khi thiết kế giáo án dạy học có ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông . Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Tác giả Nguyễn Thị Hằng với đề tài: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội[11]. Theo tác giả để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo thì việc nghiên cứu tìm biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Thanh Oai là vấn đề bức thiết.
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết với bài:Bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học cho giáo viên trung học cơ sở đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số đặc biệt năm 2024 [17]. Theo tác giả hiện nay năng lực ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông của nhiều GV còn yếu kém. Để ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học có hiệu quả các cơ quan quản lý giáo dục, các trường trung học cơ sở cần tổ chức bồi dưỡng theo định kỳ cho GV đề nâng cao năng lực ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong dạy học ở các trường trung học cơ sở.
Hiện nay, tại Trường Đại học Hùng Vương đã nghiên cứu và áp dụng nhiều các biện pháp quản lý trong dạy học và quản lý hoạt động đào tạo nhưng vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý hoạt động đào tạo. Chính vì lí do đó, việc đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong quản lý hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như công tác quản lý đào tạo, quản lý kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Hùng Vương là rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
1.2.1. Dạy học
1.2.1.1 Khái niệm
Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ: “Dạy học là một hiện tượng xã hội, được diễn ra trong một quá trình và được thực hiện chủ yếu trong các trường hợp, và cả trong những tổ chức và thể chế xã hội, được tồn tại bên cạnh các quá trình xã hội khác như chính trị – xã hội, hành chính, pháp chế, kế hoạch, tài chính, tư tưởng văn hóa giáo dục, đạo đức vv… và cũng được coi như đối tượng của công tác quản lí nhà trường”[26,tr10]. Song, trong thực tiễn của công tác giáo dục, dạy học cùng với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức là những quá trình cốt lõi thu hút sự quan tâm, nỗ lực của mọi lực lượng tham gia vào công tác giáo dục.
1.2.1.2. Quá trình dạy học
Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ: “Quá trình dạy học là một quá trình tương tác (hợp tác giữa thày và trò, trong đó thày chủ đạo như: hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học”[26,tr10].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh, là quá trình hoạt động của hai chủ thể, trong đó dưới sự tổ chức, hướng dẫn và điểu khiển của giáo viên, học sinh nhận thức lại nền văn minh nhân loại và rèn luyện hình thành kỹ năng hoạt động, tạo lập thái độ sống tốt đẹp”[22, tr58].
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau và sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo.
Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người: hoạt động dạy và hoạt động học. Các hoạt động này có mục tiêu rõ ràng, có nội dung nhất định, do các chủ thể thực hiện – đó là thầy và trò, với những phương pháp, phương tiện nhất định. Sau một chu trình vận động, các hoạt động dạy và hoạt động học phải đạt được những kết quả mong muốn.
Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, chúng ta có thể đi đến kết luận: Hoạt đông học, trong đó có hoạt động nhận thức của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học. Để hoạt động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên, giáo viên phải xuất phát từ logic của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng như học, đồng thời đảm bảo liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững. Vì vậy, muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học ở trường phổ thông thì người lãnh đạo, quản lý phải đặc biệt chú ý đến việc hoàn thiện hoạt động dạy của giáo viên; chuẩn bị cho họ có khả năng hình thành và phát triển ở học sinh các phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập. Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động học của học sinh. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Nếu xét quá trình dạy học như là một hệ thống thì trong đó, quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò thực chất là quan hệ điều khiển. Với tác động sư phạm của mình, thầy tổ chức điều khiển hoạt động của trò. Từ đó, chúng ta thấy công việc của người quản lý nhà trường là: hành động quản lý của hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy và trực tiếp đối với thầy; thông qua hoạt động dạy của thầy mà quản lý hoạt động học của trò.
1.2.1.3 Hoạt động dạy học
Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này luôn gắn bó với nhau, tồn tại trong một quá trình thống nhất.
Hoạt động dạy: là sự tổ chức, điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của học sinh, giúp học sinh hình thành kỹ năng, thái độ để tiếp nhận các kiến thức có hiệu quả. Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt, tiếp nhận thông tin ngược và điều khiển hoạt động học.
Hoạt động học: là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách. Vai trò tự điều khiển hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo dưới dự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của thầy. Khi chiếm lĩnh tri thức, học sinh đồng thời đạt được ba mục đích đó là: tiếp nhận tri thức khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và hình thành những phẩm chất, nhân cách. Hoạt động học có hai chức năng: lĩnh hội và điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức, các khái niệm một cách tự giác, tích cực. Nội dung hoạt động học bao gồm hệ thống khái niệm của môn học, phương pháp đặc trưng của môn học để biến tri thức của nhân loại hình thành những kiến thức của bản thân, hình thành và phát triển năng lực con người theo đúng mục tiêu giáo dục.
Như vậy, hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội, các chủ thể của hoạt động dạy học tiến hành các hoạt động khác nhau nhưng không đối lập nhau mà tồn tại và phát triển song song với nhau trong một quá trình thống nhất, cùng hướng tới mục tiêu chung, đó là sự biến đổi của người học về nhận thức, kỹ năng và thái độ. Kết quả của học sinh được đánh giá không chỉ là kết quả của quá trình học mà còn là kết quả của hoạt động dạy.
Tóm lại, dạy học là quá trình hoạt động cộng đồng hợp tác giữa thầy và trò, giữa học sinh với học sinh. Dạy tốt, học tốt là đảm bảo thống nhất của điều khiển, bị điều khiển, tự điều khiển và mối liên hệ ngược thường xuyên bền vững[22,tr58]. Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học.
1.2.2 Đào tạo đại học Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
1.2.2.1 Đào tạo
Đào tạo là một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo…một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Ðào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tuợng đào tạo cụ thể [9].
1.2.2.2. Trường đại học
Theo tác giả, Trường đại học (tiếng Anh: University) là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên. Trường ÐH cung cấp cho SV học vấn cao và cấp các bằng khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề. Các trường ÐH có thể cung cấp các chương trình cao đẳng, đại học và sau đại học.
Cơ sở GDÐH được phân tầng nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng luới phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển,nâng cao năng lực ÐT và NCKH của cơ sở GDÐH; thực hiện quản lý nhà nước. Cơ sở GDÐH được phân tầng thành: a) Cơ sở GDÐH định hướng nghiên cứu; Cơ sở GDÐH định hướng ứng dụng; c) Cơ sở GDÐH định hướng thực hành(Ðiều 9, Khoản 4,Luật GDÐH).
1.2.2.3. Ðào tạo đại học
- Khái niệm Ðào tạo đại học
Ðào tạo đại học là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, có năng lực tư duy, có khả năng sáng tạo. Trong hoạt động đào tạo ÐH cần triển khai đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, xây dựng danh mục ngành nghề đào tạo, hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng đào tạo ÐH, tiến tới hội nhập với cộng đồng GDÐH của các nước trong khu vực và thế giới.
Theo Luật GDÐH: Mục tiêu chung của GDÐH là đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; NCKH, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế[20].
- Nội dung đào tạo đại học Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Ðào tạo ÐH cùng với NCKH và dịch vụ phục vụ cộng đồng, là hoạt động đặc trưng của trường ÐH. Ðó là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho nguời học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước.
Xét từ góc độ chuyển giao kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế lao động cho nguời học, đào tạo ÐH được cấu thành bởi các thành tố cấu trúc gồm mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức các hoạt động đào tạo.
Quá trình chuyển giao năng lực nghề nghiệp được thực hiện trong hoạt động cùng nhau của thầy và trò trong một môi trường ĐH xác định. Xét từ góc độ này đào tạo ÐH bao gồm các thành tố: 1) hoạt động dạy của GV; 2) hoạt động học của SV; 3) môi trường ÐT (môi trường vật chất và môi trường tinh thần, môi trường văn hóa).
Xét từ góc độ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của nhà trường, đào tạo ÐH bao gồm các khâu: 1) đầu vào: đánh giá nhu cầu ÐT, xây dựng các CTÐT, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các CTÐT, tuyển sinh; 2) các hoạt động đào tạo (dạy học, thực tập, giáo dục, NCKH…; 3) đầu ra:kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và dạy học, xét học vụ và công nhận tốt nghiệp,cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo [14].
1.2.3 Quản lý, quản lý hoạt động dạy học và quản lý đào tạo
- Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý đã xuất hiện rất sớm. Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập chung sức để tự vệ hoặc lao động kiếm sống, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định được gọi là hoạt động quản lý.
- Khái niệm quản lý Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Quản lý là một khái niệm ghép gồm “Quản” và “lý”, “Quản” có nghĩa là cai quản, thống trị, giữ gìn, theo dõi…Theo góc độ điều khiển học “Quản” có thể hiểu là lái, điều khiển, chỉ huy, kiểm soát…“lý” nghĩa là khoa học khách quan và nâng cao hiệu quả của hoạt động “quản”.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, nhưng trong luận văn này tác giả chỉ nêu ra một số định nghĩa tiêu biểu đó là:
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn [7] cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”.
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn [18]: “Quản lý là quá trình tác động có chủ thể quản lý đến khách thể thông qua các công cụ, phương tiện để đạt được mục tiêu quản lý”.
Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”.
Quang hiên cứu các định nghĩa về quản lý, chúng ta có thể hiểu khái quát về quản lý như sau: Quản lý một đơn vị (cơ quan, trường học, cơ sở sản xuất…) với tư cách là một hệ thống, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Khái niệm quản lý trên cơ sở phương pháp tiếp cận hệ thống: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định”.
- Các chức năng quản lý
Có bốn chức năng quản lý cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Lập kế hoạch có các nội dung chủ yếu đó là: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó và tiến trình thực hiện các hoạt động đó như thế nào.
- Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, cùng cơ chế hoạt động để đảm bảo triển khai tốt các kế hoạch đưa tổ chức đạt đến mục tiêu.
- Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ, hướng dẫn họ, chỉ đạo họ thực hiện những nhiệm vụ nhất định để hoàn thành những mục tiêu của tổ chức.
- Kiểm tra là theo dõi, giám sát, đánh giá các thành quả hoạt động và tiến hành các hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết [14]. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Theo tác giả Nguyễn Đức Lợi, ngoài 4 chức năng quản lý trên, quản lý còn có thêm “chức năng điều chỉnh”: là quá trình khắc phục các sai sót, ách tắc, trì trệ, khơi thông môi trường nhằm duy trì các hoạt động bình thường ăn khớp nhau của tổ chức; mặt khác còn để xử lý những tình huống mới nảy sinh, tận dụng thời cơ, khai thác các tiềm năng chưa được sử dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức [13].
1.2.3.2. Quản lý đào tạo đại học
Quản lý đào tạo đại học là quá trình chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý để quản lý các yếu tố chủ đạo của Quá trình đào tạo: mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo đại học; GV và SV; hình thức tổ chức đào tạo; môi trường đào tạo.
Quản lý đào tạo trong trường đại học là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (gồm các cấp quản lý khác nhau từ Ban giám hiệu, các Phòng, Khoa, đến Tổ bộ môn và từng GV) lên các đối tượng quản lý (bao gồm GV, SV, cán bộ quản lý cấp dưới và cán bộ phục vụ ĐT) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường [16].
1.2.4. Công nghệ thông tin và truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
- Khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin. Như vậy, “CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,…của con người”.
CNTT được phát triển trên nền tảng của các công nghệ Tin học – điện tử -viễn thông và Tự động hóa. Công nghệ thông tin nghiêng về các khả năng và các giải pháp, tức là nghiêng về công nghệ theo nghĩa truyền thống. Khi nói “CNTT” là hàm ý muốn nói tới nghĩa kỹ thuật công nghệ. Còn tin học thì nghiên cứu về cấu trúc và tính chất, vì thế tin học gần gũi với cách hiểu là môn khoa học hay môn học. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ ký ngày 04/08/1993 về “Phát triển Công nghệ thông tin ở nước ta trong những năm 90”: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú trong gần hết mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
- Công nghệ thông tin & truyền thông:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin và truyền thông là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông tin (IT), nhưng thường là một thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông .
“Công nghệ thông tin và truyền thông” được sử dụng như là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép người dùng tạo, truy cập và thao tác với thông tin. Công nghệ thông tin và truyền thông là một sự kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Trong một thế giới ngày càng gắn kết với nhau, sự tương tác giữa các thiết bị, hệ thống và con người đang tăng lên đáng kể.
Trong một chừng mực nào đó có thể coi Công nghệ thông tin và truyền thông là sự giao nhau của ban ngành Điện tử + Tin học + Viễn thông. Khi thông tin, dữ liệu còn ít con người có thể tự mình xử lý và họ cảm thấy không có vấn đề gì. Song ngày nay, mọi mặt của đời sống xã hội đều phát triển nhanh chóng kéo theo sự bùng nổ của thông tin làm con người lúng túng, thậm chí nhiều lúc không thể xử lý nổi. Máy tính điện tử đã giúp con người xử lý thông tin một cách tự động và nhanh chóng, điều đó đã tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức của con người.
Từ đó nói lên rằng phương tiện truyền thông và Internet hiện nay trong giáo dục là hết sức cần thiết và cần phát triển nhanh chóng nhằm góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng và phong phú.
Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của Công nghệ thông tin và TT đặc biệt là mạng Internet hiện nay tạo ra một điều kiện hết sức thuận lợi cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với Bộ GD&ĐT nói chung và đối với mỗi nhà trường nói riêng. Mỗi nhà trường cần phải đổi mới mạnh mẽ theo hướng tích hợp và sử dụng một cách tối ưu những thế mạnh của Công nghệ thông tin và truyền thông mang lại vào trong dạy học và quản lý nhà trường.
1.2.4.2. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
CNTT và TT là ngành kinh tế mũi nhọn được Nhà nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển. Phát triển công nghiệp Công nghệ thông tin và TT góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cùng phát triển, tăng cường năng lực công nghệ quốc gia trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển công nghiệp nội dung thông tin và công nghiệp phần mềm, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hình thành và phát triển xã hội thông tin là hướng ưu tiên quan trọng được Nhà nước đặc biệt quan tâm.
CNTT và TT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin và truyền thông là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động.
Ngày nay, Công nghệ thông tin và TT càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong nhiều ngành, cụ thể như: từ ngành Nông nghiệp và Lâm nghiệp, Thuỷ sản, công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, xây dựng, tài chính, tín dụng, giáo dục và đào tạo, hoạt động văn hoá, thể thao,…
Hiện nay, thế giới đang trong giai đoạn bản lề của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (Cách mạng công nghiệp 4.0) với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật, rô-bốt, công nghệ na-nô, công nghệ sinh học… Đặc trưng cơ bản của Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự hợp nhất giữa các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật số, sinh học để giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội, sự kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực, các hệ thống kết nối internet.
Cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất và phương pháp quản trị “các nhà máy thông minh”, “công sở và thành phố thông minh” được kết nối internet, liên kết với nhau thành một hệ thống thay vì các dây chuyền sản xuất và phương pháp quản trị hành chính trước đây. Nhờ khả năng kết nối bằng máy tính, các thiết bị di động tiếp cận với các cơ sở dữ liệu lớn từ nhiều nguồn, những tính năng xử lý thông tin được nhân lên nhờ những đột phá về công nghệ bằng trí tuệ nhân tạo, người máy, công nghệ in 3D, công nghệ na-nô, công nghệ điện toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, công nghệ vật liệu mới,…
Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ mở ra kỷ nguyên mới của sự lựa chọn các phương án đầu tư kinh doanh, tối ưu hóa sử dụng các nguồn lực, thúc đẩy năng suất lao động và hiệu quả, tạo bước đột phá về tốc độ phát triển, phạm vi mức độ tác động làm biến đổi cơ bản hệ thống sản xuất và quản trị xã hội cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
1.2.5. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2014/QH11, ngày 29/6/2014: “Ứng dụng Công nghệ thông tin là việc sử dụng Công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”.
Ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong GD&ĐT là một yêu cầu đặt ra trong những chủ trương chung của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong giáo dục còn là một điều tất yếu của thời đại, như ông Peter Van Gils, chuyên gia dự án Công nghệ thông tin trong giáo dục và quản lý nhà trường (ICTEM) khẳng định:Chúng ta đang sống trong một xã hội mà ta gọi là một xã hội tri thức hay một xã hội thông tin. Điều này có nghĩa rằng những sản phẩm đầu ra mang tính công nghiệp cho xã hội của chúng ta đã mất đi cái tầm quan trọng của nó. Thay vào đó là những “dịch vụ” và “những sản phẩm tri thức”. Trong một xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hóa cực kỳ quan trọng. Máy vi tính và những vấn đề liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải thông tin và tri thức. Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ vào trong chương trình giảng dạy của mình. Một trường học mà không có Công nghệ thông tin là một nhà trường không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội.
Việc ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong đào tạo bao gồm hai lĩnh vực: ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo và ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học. Thực tiễn việc ứng dụng Công nghệ thông tin và TT trong hoạt động đào tạo hiện nay đã trở nên phổ biến. Điều kiện CSVC, hạ tầng Công nghệ thông tin và TT đang thay đổi một cách nhanh chóng là một cơ hội rất lớn cho một phương pháp giáo dục hiện đại, một nền giáo dục tiên tiến với vai trò nòng cốt của Công nghệ thông tin và truyền thông . Nó đòi hỏi công tác quản lý GDĐT phải có những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà Công nghệ thông tin và truyền thông mang lại cho việc dạy và học của chúng ta hiện nay.
- Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin & TT trong đào tạo ở các trường đại học
“Quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học là những tác động có tổ chức, có hướng đích của hiệu trưởng để thúc đẩy, tạo điều kiện cho việc sử dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học”. [27,tr5]
Ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào trong quá trình dạy học là một xu thế tất yếu của các trường học trên thế giới và ở Việt Nam. Việc ứng dụng nhiều phương tiện truyền thông còn gọi là đa phương tiện (Multimedia) sẽ nâng cao tính tích cực, tự lực nhận thức của HS. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Với sự tiến bộ của Công nghệ thông tin, chương trình phục vụ hoạt động quản lý đào tạo có thể xây dựng thành những sản phẩm phần mềm đóng gói, cài đặt trên từng máy tính riêng lẻ hoặc được thiết kế, xây dựng theo mô hình quản lý dữ liệu phân tán có sự phân cấp. Với mô hình này, dữ liệu về quản lý sẽ được xử lý trên máy chủ nhằm phục vụ thông tin cho công tác quản lý sinh viên một cách công khai, minh bạch, cụ thể, được chia sẻ trên mạng nội bộ của trường học.
Công tác kế hoạch, chiêu sinh, mở lớp, thi cử… được cập nhật từ bất kỳ một máy tính nào đã được kết nối trong hệ thống mạng trường học hoặc được khai thác từ các trường trực thuộc.
Về phương diện quản lý nhà nước: ứng dụng tiến bộ mới về Công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo tại trường học cho phép bao quát được toàn bộ hoạt động này của trường một cách kịp thời, chính xác; giúp cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm bắt đầy đủ, chi tiết, chính xác mọi thông tin cần thiết trong bất kỳ thời điểm nào với đối tượng được quản lý; tiết kiệm thời gian, nhân lực và vật lực, đồng thời giảm thiểu những phiền hà, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý đào tạo ở trường đại học Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
1.3.1. Sự cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý đào tạo
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới đã yêu cầu ngành giáo dục phải “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy – học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”. Công nghệ thông tin chính là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phát triển giáo dục.
Bill Gates, ông chủ tập đoàn Microsoft, đã khẳng định: “Một trong những điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của Internet. Chính Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san phẳng… Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều trường đại học trên thế giới đưa bài giảng lên Internet. Bạn có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập mà không phải trả tiền. Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục trong thời gian tới”. Với tác động của công nghệ thông tin, môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng, website và hạ tầng công nghệ thông tin đi kèm. Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy – học sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không chỉ đơn thuần là thầy giảng, trò nghe, thầy đọc, trò chép như hiện nay, sinh viên được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học. Nhờ vậy, chúng ta sẽ đào tạo ra một đội ngũ trí thức đủ năng lực thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hiện nay, các trường đại học, cao đẳng đã thực hiện phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Đặc điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là giảm đáng kể giờ lên lớp lý thuyết và tăng số giờ thảo luận, thí nghiệm, thực hành. Giờ tự học của sinh viên tăng gấp đôi so với đào tạo theo niên chế (1/1 trong đào tạo theo niên chế và 2/1 trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ). Điều này không phải là cắt xén nội dung của chương trình đào tạo, mà chuyển việc thực hiện các nội dung của chương trình đào tạo sang hướng tích cực, chủ động về phía sinh viên. Triển khai tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy – học; đó là chuyển từ cách dạy truyền thống thầy đọc – trò chép sang tích cực hoá quá trình dạy học, trong đó giảng viên phải truyền đạt được những kiến thức cốt lõi của học phần và hướng dẫn cho sinh viên phương pháp tự học. Do vậy, Công nghệ thông tin và truyền thông sẽ mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học cho sinh viên. Những phương pháp dạy học tích cực thường dùng như phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học kiến tạo, phương pháp hướng dẫn sinh viên tự học… càng có điều kiện để áp dụng. Các hình thức dạy học như dạy học tập thể, dạy học cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin. Sinh viên có thể tự làm việc với máy vi tính, tự tra cứu thông tin trên mạng.
Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin mà giảng viên và sinh viên có thể tự sử dụng nhiều phần mềm phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập. Nhờ có máy tính mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống. Việc sử dụng bài giảng điện tử với những hình ảnh, âm thanh sinh động làm cho người học dễ dàng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và tăng hứng thú học tập của sinh viên. Thông qua bài giảng điện tử, giảng viên có nhiều thời lượng để đặt các câu hỏi gợi mở, tạo điều kiện cho sinh viên hoạt động nhiều hơn trong giờ học. Đó là những tiền đề thuận lợi để sau khi ra trường, sinh viên sẽ tiếp thu và vận dụng sáng tạo những thành tựu của công nghệ thông tin trong quá trình học tập của mình.
1.3.2. Đặc điểm và vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý đào tạo ở trường đại học Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Hội nghị Thế giới về Giáo dục Đại học vào thế kỷ 21 – Tầm nhìn và Hành động của UNESCO được tổ chức tại Paris, Pháp ngày 5-9/10/2006 đã đưa ra Tuyên ngôn thế giới về Giáo dục đại học, trong đó đã chỉ rõ: “Cần phải tận dụng đầy đủ ưu thế của Công nghệ thông tin và truyền thông mới để đổi mới giáo dục đại học bằng cách mở rộng và đa dạng hoá cách chuyển tải và bằng cách làm cho kiến thức và thông tin sẵn sàng cho đại chúng rộng rãi có thể sử dụng”, UNESCO còn dự báo: Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỷ XXI. Trước tình hình phát triển của Công nghệ thông tin với giáo dục trên thế giới như vậy, Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII về giáo dục và đào tạo của Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học”. Điều này một lần nữa được khẳng định lại trong Thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/4/2017 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2028. Nhằm cụ thể hoá những nội dung của Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58/CT/TW ngày 17/10/2008, nội dung Chỉ thị có đoạn: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học của toàn xã hội”. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị số 29/CT-BGDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Giáo dục giai đoạn 2009 – 2013, Chỉ thị số 55/2016/CT- BGDĐT ngày 30/09/2016 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2016 – 2020. Trong bài phát biểu khai mạc Diễn đàn cấp cao về Công nghệ thông tin – Truyền thông ngày 20/06/2021 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định “Công nghệ thông tin là con đường ngắn nhất để phát triển đất nước”.
Như vậy, ứng dụng Công nghệ thông tin& TT vào giáo dục là một xu thế tất yếu của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai lâu dài. Điều này lại càng có ý nghĩa quan trọng ở bậc đào tạo đại học, việc ứng dụng Công nghệ thông tin phải được tiến hành toàn diện, mọi mặt từ hoạt động tuyển sinh, tổ chức giảng dạy, học tập đến hệ thống thư viện, quản lý quá trình đào tạo, tốt nghiệp cũng như quản lý cơ sở vật chất, hoạt động nghiên cứu khoa học… nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDĐT và hiệu quả trong quản lý giáo dục. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Trong quản lý đào tạo ở trường đại học, hoạt động ứng dụng Công nghệ thông tin &TT được thể hiện khái quát như sau;
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập: Thể hiện bằng việc đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật (máy tính, máy chiếu đa năng, bảng tương tác thông minh, hệ thống cơ sở hạ tầng mạng Internet, mạng cục bộ…); sử dụng các phần mềm soạn giáo án, bài giảng điện tử (Phần mềm Microsoft Word, Excel, PowerPoint) phục vụ giảng dạy, học tập; sử dụng hệ thống đào tạo trực tuyến E-learning để tổ chức các khoá học, quản lý học tập của học viện; sử dụng cổng thông tin điện tử trong đào tạo theo tín chỉ.
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo: Thể hiện rõ nhất là việc sử dụng phần mềm tuyển sinh, phần mềm quản lý đào tạo tín chỉ với phương thức quản lý tập trung đem lại hiệu suất cao.
Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, tổ chức, hành chính, văn thư: xây dựng và đưa vào hoạt động Trang tin điện tử của nhà trường. Trang tin điện tử nhằm phát huy rất tốt chức năng cung cấp thông tin, tuyên truyền, giới thiệu về các hoạt động của nhà trường, đặc biệt là chức năng thông báo kết quả thi tuyển sinh đại học được xã hội đánh giá cao.
1.3.3. Quy trình ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý đào tạo và hoạt động dạy học ở trường đại học
Nhà trường tổ chức những cuộc phát động phong trào thi đua học tập, bồi dưỡng, ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy học của toàn trường.
Thành lập ban Công nghệ thông tin và truyền thông trong nhà trường do Hiệu trưởng hoặc ủy quyền cho một đồng chí Phó hiệu trưởng làm trưởng ban để theo dõi, giúp đỡ các CBGV tích hợp và triển khai các hoạt động về ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong nhà trường, coi tiêu chí ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông là một tiêu chí thi đua trong nhà trường.
Kết nối mạng Internet phủ khắp toàn trường từ nhà điều hành đến các khu giảng đường, khu ký túc xá của SV để toàn thể CB,GV và SV nhà trường có thể khai thác thông tin phục vụ công việc của mình ở mọi nơi, mọi lúc.
Phát động Cán bộ quản lý, GV nhất là các GV chuyên ngành Công nghệ thông tin tích cực tham gia các cuộc thi do Bộ GD&ĐT, trường tổ chức nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn.Tổ chức tập huấn, chia sẻ các nguồn tài nguyên hiện có.
Nhà trường đẩy mạnh việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục, dạy học theo hướng tin học hóa quản lý giáo dục và sử dụng Công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới phương pháp quản lý dạy học như: Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Khai thác tốt các phần mềm quản lý đang thực hiện trong nhà trường: Phần mềm Edusoft cho quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ, quản lý thời khóa biểu, chương trình đào tạo, niên lịch đào tạo, kết quả học tập…; phần mềm quản lý thư viện Dlib, phần mềm kế toán Misamimosa.NET, phần mềm quản lý KTX; các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, công tác khảo thí;
Chỉ đạo, khuyến khích giáo viên tăng cường khai thác, sử dụng có hiệu quả các phần mềm như: phần mềm mô tả, mô phỏng, minh họa, chứng minh, vẽ hình học,… để đổi mới nội dung và phương pháp dạy học và sử dụng tốt các phần mềm thiết kế bài giảng.
Cung cấp các trang thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT trên website của nhà trường để giúp cán bộ, giảng viên, nhân viên nắm bắt được các thông tin, hoạt động của ngành nhanh chóng và chính xác.
Thông tin về các hoạt động của nhà trường, lịch công tác tuần, các văn bản chỉ đạo của nhà trường đều được cập nhật hàng ngày trên website. Các kế hoạch năm học, kế hoạch đào tạo, chương trình đào tạo, kế hoạch đăng ký môn học, kết quả học tập của sinh viên đều được đăng tải trên trang website của nhà trường, tạo được thói quen cho CB,GV và SV cập nhật thông Giảng viên nào không cập nhật sẽ không nắm bắt được kế hoạch cho nên đó cũng là điều kiện buộc người giảng viên phải thay đổi nếp nghĩ, nếp tư duy, từ đó có sự đầu tư mua máy tính, kết nối mạng tại gia đình để đáp ứng yêu cầu công việc.
Tăng cường khai thác thông tin trên mạng internet để tra cứu, tải các thông tin, phần mềm phục vụ công tác chuyên môn và đổi mới phương pháp ở nhà trường và đây cũng là môi trường thuận lợi giúp các nhà giáo khai khác nhanh nhất các nguồn thông tin hiện đại trên thế giới.
Hiện này Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, các trường ĐH, CĐ đều có website và có sự kết nối. Việc bồi dưỡng Công nghệ thông tin và truyền thông đã được triển khai và ứng dụng trong quản lý và dạy học. Tuy nhiên, ứng dụng trong giảng dạy vẫn mang tính hình thức, còn nhiều giáo viên sử dụng không thành thạo dẫn đến ngại áp dụng, ngại chia sẻ.
Để giáo viên thành thạo trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong giảng dạy thì Hiệu trưởng cần ra quyết định thành lập bộ máy tổ chức – nhân sự gồm: Nhóm hỗ trợ; nhóm điều hành; nhóm điều phối; nhóm thực hiện, với mục đích tư vấn cho hiệu trưởng cách thức triển khai và quản lý tốt việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học; tư vấn cho giảng viên phương pháp và hình thức khai thác Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy – học có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
1.4. Nội dung quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
1.4.1. Xây dựng kế hoạch quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo
Theo Harold Knoozt thì “Xây dựng kế hoạch là lựa chọn một trong những phương án hành động tương lai cho toàn bộ và từng bộ phận trong một cơ sở. Nó bao gồm sự lựa chọn các mục tiêu của cơ sở và của từng bộ phận, xác định các phương thức để đạt được mục tiêu”[8].Việc xây dựng kế hoạch quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin & TT trong đào tạo sẽ được tiến hành thông qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: chuẩn bị cho việc lập kế hoạch bao gồm: xác định trạng thái xuất phát của nhà trường trước khi bước vào một năm học mới: số phòng học được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ ứng dụng Công nghệ thông tin &TT, trình độ ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông của đội ngũ xác định hướng phát triển cơ bản, đề xuất hệ thống các vấn đề sẽ đưa vào kế hoạch; phác thảo hệ thống mục tiêu, hệ thống các biện pháp lớn, sơ thảo bản kế hoạch “thô” để lấy ý kiến trong lãnh đạo và cốt cán, xin ý kiến cấp trên về những vấn đề mang tính chiến lược.
Giai đoạn thứ hai: lập kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin & TT bao gồm các bước: dự báo hệ thống mục tiêu ứng dụng Công nghệ thông tin &TT đã được phác thảo ở giai đoạn trước, phân loại ưu tiên cho từng môn học, ngành học, lập cây mục tiêu, định hướng chuẩn đánh giá; lựa chọn hệ thống biện pháp tối ưu nhằm huy động toàn bộ nguồn lực trong nhà trường tham gia; mô hình hóa quá trình phát triển của hệ thống quản lý từ trạng thái xuất phát qua trạng thái trung gian đến trạng thái kết thúc như mong đợi; chương trình hóa hành động của hệ thống trong suốt năm học, đưa lịch thời gian cùng các bộ phận thực hiện vào nội dung kế hoạch; trình duyệt cấp trên, điều chỉnh và hoàn thành kế hoạch, xem như là văn bản pháp lý và mọi người trong nhà trường phải có nhiệm vụ thực hiện.
Để tạo điều kiện tốt cho đội ngũ giảng viên ứng dụng Công nghệ thông tin & TT vào giảng dạy một cách có hiệu quả, trong kế hoạch năm học nhà trường cần xây dựng các kế hoạch sau đây:
Kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ ứng dụng Công nghệ thông tin &TT vào giảng dạy.
Phải dự đoán trước số lượng thiết bị cần thiết cho phòng học ứng dụng CNTT: máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy chiếu, màn chiếu, mạng Internet, các phần mềm hỗ trợ…….. Những thiết bị này được lắp cố định hay di động, số lượng bao nhiêu là đủ. Ngoài ra còn phải dự đoán trước kinh phí mua sắm, lắp đặt cho phù hợp với nguồn kinh phí được cấp theo ngân sách. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
- Kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy gồm:
- Nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng việc sử dụng các phần mềm ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông và sử dụng thiết bị cho GV.
- Phòng đào tạo xây dựng kế hoạch dạy học, thời khóa biểu trên hệ thống phần mềm quản lý đào tạo nhằm đảm bảo tính chính xác.
- Kế hoạch huy động nguồn kinh phí:
Từ việc lập kế hoạch mua sắm, dự trù trước kinh phí để có thể xin ý kiến cấp trên chi từ nguồn kinh phí được cấp, xin bổ sung mua sắm thiết bị kịp thời.
- Kế hoạch bổ sung trang thiết bị và phương tiện phục vụ việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy.
Ngoài những kế hoạch trên cần lập kế hoạch dự trù bổ sung thay thế những trang thiết bị có sẵn, dự phòng các sự cố hỏng hóc hay sự cố xảy ra. Bên cạnh đó, phải tính toán đến nguồn kinh phí dành cho việc bảo quản, bảo trì thiết bị.
Tóm lại, để đạt được hiệu quả cao trong quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy ở trường đại học, nhà trường cần phải xây dựng kế hoạch thật cụ thể, phù hợp với đặc điểm của nhà trường.
1.4.2. Tổ chức, chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
Trong công tác tổ chức, chỉ đạo ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông nhà trường cần lưu ý các mặt sau:
Tổ chức, chỉ đạo việc soạn, giảng bài giảng có ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy.
Ứng dụng Công nghệ thông tin & TT trong dạy học cho đến nay không còn mới mẻ nhưng cũng chưa được rộng rãi. Nhiều GV còn e dè, ngại ngần hoặc sử dụng Công nghệ thông tin trong dạy học một cách máy móc thụ động. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều GV đã quen cách dạy học truyền thống, ngại đổi mới, bên cạnh đó trình độ tin học của GV còn chưa đồng đều, nhiều người chưa được đào tạo về tin học căn bản.
Để thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng Công nghệ thông tin & TT trong hoạt động đào tạo của nhà trường, trước hết mỗi giảng viên cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của đổi mới PPDH và vai trò của ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học, phải giúp giảng viên hiểu được thế nào là đổi mới dạy học và muốn đổi mới dạy học giảng viên cần làm gì. Đồng thời, nhà trường cũng phải tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại để việc thực hiện đổi mới dạy học của GV dễ thực hiện. Nhà trường cần tổ chức các hoạt động như: tổ chức hội thảo, chuyên đề, Sermina để hỗ trợ giảng viên nâng cao năng lực ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào đổi mới PPDH, từ việc nâng cao nhận thức của GV, hướng dẫn soạn giáo án đến việc tập huấn sử dụng các phần mềm, thao giảng theo chuyên đề.
Thứ nhất, nhà trường yêu cầu các khoa nghiên cứu, thảo luận và thống nhất mục đích, yêu cầu, nội dung cần đạt, phương pháp – phương tiện và hình thức tổ chức của từng tiết học theo phân phối chương trình và xác định những tiết nào, những nội dung nào có thể ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông . Đồng thời liệt kê các tư liệu điện tử cần thiết cho từng tiết, từng chương của môn học dựa vào việc sử dụng các tài liệu dùng cho dạy học: Giáo trình, sách GV, tài liệu tham khảo, các trang thiết bị hiện có, từ đó thống nhất được giáo án chung và riêng cho từng môn.
Thứ hai, nhà trường giao cho các khoa chuyên môn chỉ đạo bộ môn có trách nhiệm thu thập, tìm kiếm, thiết kế các tư liệu cần thiết phục vụ cho bộ môn của mình. Đây chính là kho tư liệu dùng chung cho cả bộ môn sau khi được biên tập, chỉnh sửa.
Thứ ba, nhà trường chỉ đạo các khoa tổ chức, lựa chọn các phần mềm phù hợp với từng môn học, ngành học.
Hiện nay, trong khi việc thiết kế bài giảng theo công nghệ E-learning chưa được sử dụng rộng rãi thì các bài giảng có ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông chủ yếu được thiết kế bằng phần mềm trình chiếu PowerPoint, phần mềm Camtasia Studio, Violet…Để có các bài giảng chất lượng cần phải có các tư liệu, các video clip, các thí nghiệm mô phỏng phù hợp. Do vậy cần phải hướng dẫn cho giảng viên cách tìm kiếm tư liệu trên mạng Internet, cách sử dụng các phần mềm dạy học với đặc thù từng môn học. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Thứ tư, nhà trường chỉ đạo các khoa tự tổ chức, hoặc mời các chuyên gia về bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông cho GV.
Cần triển khai tốt việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức tin học cho đội ngũ GV từ tin học cơ bản, soạn thảo văn bản đến cách thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng các phần mềm dạy học cho GV trong trường.
Thứ năm, nhà trường giao cho các khoa chuyên môn tổ chức các hoạt động chuyên đề, thảo luận trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học.
Trong nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua giảng dạy bằng phương tiện hiện đại có ứng dụng Công nghệ thông tin &TT nhằm tạo thêm khí thế sôi nổi và để các giảng viên còn e ngại có những bước đi mạnh dạn hơn, đặc biệt các giảng viên có tuổi và các giảng viên mới vào nghề. Đẩy mạnh tổ chức các hội thảo, trao đổi kinh nghiệm giữa các giảng viên, từ đó đề xuất với tổ chuyên môn những giải pháp góp phần nâng cao trình độ tin học cho giảng viên.
Tổ chức các điều kiện cho lớp học có ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học.
Các phương tiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hỗ trợ ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông bao gồm: phòng học, máy tính, máy chiếu, thiết bị Internet…Các phương tiện trên góp phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và giáo dục của nhà trường. Để đảm bảo thành công ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào trong giảng dạy của GV, nhà trường cần lưu ý:
- Bố trí số lượng phòng học đầy đủ trang thiết bị ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy theo yêu cầu của từng bộ môn, trên cơ sở điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường cho phép.
- Sắp xếp lịch dạy, thời khóa biểu của giảng viên có sử dụng các phòng học đa phương tiện, phòng học có ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.
- Tổ chức chỉ đạo tốt việc sử dụng phần mềm quản lý đào tạo của phòng đào tạo và các phòng chức năng.
Nắm vững và vận hành được phần mềm với nhiều modun quản lý như: Quản lý điểm, quản lý chương trình đào tạo, quản lý thời khóa biểu, quản lý giảng viên, quản lý sinh viên, quản lý phòng học, quản lý học bổng, học phí…đồng thời tích hợp toàn bộ dữ liệu từ phần mềm với hệ thống Website để cung cấp và hỗ trợ tra cứu thông tin trên mạng Internet.
- Nhà trường chỉ đạo việc quản lý phương tiện, thiết bị hỗ trợ ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học.
Những phương tiện thiết bị hỗ trợ như máy tính, máy chiếu, màn hình, các phần mềm hỗ trợ…là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào công tác quản lý đào tạo của nhà trường. Nhà trường giao cho phòng Quản trị đời sống phối hợp với các khoa chuyên môn có biện pháp sử dụng và quản lý tốt các phương tiện, thiết bị, giao cho bộ phận phụ trách bảo quản và kiểm tra định kỳ. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
1.4.3. Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quản lý kết quả đào tạo
Để quản lý tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá quản lý kết quả đào tạo, nhà trường cần xây dựng được các tiêu chí đánh giá việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông vào hoạt động dạy học của giảng viên. Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên đảm bảo tính khách quan, chính xác. Trong kiểm tra đánh giá cần có cơ chế khen thưởng nhằm động viên các giảng viên tích cực sử dụng giáo án dạy học có ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông đem lại hiệu quả cao trong đổi mới phương pháp dạy học.
Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động quản lý kết quả đào tạo ở cấp khoa chuyên môn. Cụ thể: Phân một số quyền cho các khoa trong việc sử dụng phần mềm quản lý đào tạo như: giáo vụ trực tiếp nhập điểm thi học phần, xét điều kiện lên lớp, xét điều kiện tốt nghiệp, xem và cập nhật danh sách sinh viên trên hệ thống quản lý đào tạo của nhà trường. Từ đó giúp phòng đào tạo và các phòng giảm bớt các công việc nhập số liệu mà chỉ tập trung vào việc quản lý.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo ở trường đại học
Để ứng dụng Công nghệ thông tin & TT trong đào tạo đạt được mục tiêu đề ra, thì các yếu tố vật chất, con người, tài chính và chính sách đều có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc đưa Công nghệ thông tin vào nhà trường.
1.5.1. Các yếu tố khách quan
Hạ tầng Công nghệ thông tin & TT là yếu tố khách quan có ảnh hưởng quan trọng tới việc sử dụng và quản lý sử dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo bên cạnh các yếu tố khác. GV và SV cần có máy tính kết nối mạng Internet, GV cần sở hữu các công cụ để thiết kế nội dung chương trình tự học, các phần mềm để tạo ra và xử lý các đối tượng đa phương tiện, các phần mềm quản lý.
Khả năng tài chính của nhà trường để đáp ứng được những yêu cầu trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin & TT vào hoạt động quản lý đào tạo.
Năng lực ứng dụng Công nghệ thông tin & TT của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên nhà trường cũng đóng vai trò rất quan trọng.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan
- Quan điểm ứng dụng Công nghệ thông tin & TT vào hoạt động quản lý đào tạo của nhà quản lý và đội ngũ cán bộ, giảng viên. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Quán triệt các văn bản hướng dẫn ứng dụng Công nghệ thông tin & TT của Bộ GD&ĐT và cần nhìn nhận rằng: Ứng dụng Công nghệ thông tin & TT vào hoạt động quản lý đào tạo là xu hướng tất yếu, sẽ giúp nâng cao tính tích cực trong hoạt động đào tạo một cách toàn diện hơn, sẽ làm thay đổi phương pháp giảng dạy, học tập của GV và SV. Tuy nhiên, máy tính dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của người thầy. Nó chỉ giúp phát huy hiệu quả hoạt động của GV trong quá trình dạy học. Sử dụng máy tính là phương tiện để nâng cao tính tích cực trong hoạt động dạy – học là một xu hướng của thời đại. Mỗi cán bộ GV cần phải nâng cao năng lực ứng dụng Công nghệ thông tin & TT của bản thân.
- Trình độ Công nghệ thông tin & TT của cán bộ quản lý, GV.
Kiến thức Công nghệ thông tin & TT của đội ngũ cán bộ quản lý, GV nhà trường là một yếu tố rất quan trọng thể hiện ở chức năng ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong giảng dạy, quản lý và mức độ sử dụng thành thạo máy tính như sử dụng phần mềm, mạng truyền thông, xử lý sự cố máy tính giản đơn,…đây là yếu tố quan trọng để ứng dụng thành công Công nghệ thông tin & TT vào hoạt động đào tạo của nhà trường.
Khả năng ứng dụng Công nghệ thông tin & TT của GV thể hiện ở chuẩn kiến thức đầu vào của GV theo 3 tiêu chí: Nội dung, phương pháp,công nghệ. Theo đó, biện pháp nâng cao trình độ, kỹ năng thông qua “tự học – học qua đồng nghiệp và học qua chương trình tập huấn bồi dưỡng của ngành giáo dục và của nhà trường hàng năm”.
Ngoài việc bồi dưỡng kiến thức Công nghệ thông tin & TT cho cán bộ quản lý, GV, nhà trường đại học cần khuyến khích GV chủ động ứng dụng Công nghệ thông tin & TT một cách tích cực, chủ động, sáng tạo và thiết thực. Mỗi cán bộ quản lý, GV chủ động khai thác ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông để đổi phương pháp dạy học nâng cao chất lượng và hiệu quả bài giảng của mình.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Qua việc nghiên cứu lịch sử vấn đề, một số khái niệm công cụ cơ bản, một số đặc trưng và nội dung quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo, dạy học ở trường đại học, có thể xác định cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo ở trường Đại học hiện nay và tập trung vào các vấn đề sau:
Ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động đào tạo là lời giải cho bài toán nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập thế giới công nghệ hiện đại; đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội; Giáo dục thực sự cần phải đổi mới mạnh mẽ.
Những mục tiêu phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay là phải nâng cao chất lượng giáo dục, vấn đề cần tập trung giải quyết của ngành là làm thế nào để đi đầu trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông ? Làm thế nào để có đội ngũ lao động có trình độ cao về công nghệ thông tin cung cấp cho các ngành nghề khác nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.
Để quản lý ứng dụng Công nghệ thông tin & TT trong hoạt động đào tạo nói chung và trong hoạt động dạy học nói riêng ở trường Đại học có hiệu quả thì người Hiệu trưởng trong nhà trường cần xây dựng kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin &TT trong hoạt động đào tạo, tổ chức thực hiện, chỉ đạo triển khai kế hoạch một cách đồng bộ cũng như tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch đã đề ra. Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông […]