Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn này với mục đích tìm ra những yếu tố tài chính hành vi ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu của các nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của chúng.
Luận văn được viết dựa trên cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi trên thế giới. Tác giả sử dụng phương pháp khảo sát online thông qua ứng dụng Google Forms để tổng hợp dữ liệu từ 206 nhà đầu tư cá nhân độ tuổi từ 18 trở lên, có tài khoản chứng khoán và đang đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong nghiên cứu tác giả thiết kế bảng câu hỏi khảo sát sử dụng thang đo Likert để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu của các nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Sau đó, luận văn sử dụng kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá sự phù hợp của thang đo và loại bỏ những biến không phù hợp. Thông qua phân tích nhân tố EFA để đánh giá mức độ tin cậy và tính chính xác của mô hình. Phân tích tương quan Pearson để kiểm tra mối tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập. Cuối cùng là phân tích và mô hình hoá mối quan hệ giữa các biến đó thông qua hồi qui đa biến trên phần mềm SPSS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy năm yếu tố tài chính hành vi: Tâm lý bầy đàn, Hiệu ứng ngược vị thế, Tự tin quá mức, Thiên vị nội địa và Neo quyết định đều có mối liên hệ cùng chiều và đều tác động tới quyết định đầu tư cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong đó tâm lý bầy đàn tác động mạnh nhất và Neo quyết định tác động yếu nhất so với các yếu tố còn lại.
Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn trực quan hơn cho các nhà đầu tư cổ phiếu ở Việt Nam về những ảnh hưởng của tài chính hành vi đến việc ra quyết định đầu tư của họ. Kết quả của nghiên cứu này có thể cung cấp những khuyến nghị cho các nhà đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam giúp ra quyết định đầu tư đúng đắn hơn, giảm thiểu thiệt hại do tài chính hành vi mang lại.
Từ khoá: Tài chính hành vi, quyết định đầu tư, thị trường chứng khoán.
ABSTRACT Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
This thesis aims to identify the behavioral finance factors that influence stock investment decision-making among individual investors in the Vietnamese stock market, as well as the extent of the impact.
The thesis is based on global theoretical frameworks of behavioral finance. The author employed an online servey method using Google Forms to collect data from 206 individual investor aged 18 and above, who have securities accounts and are actively investing in Vietnamese stock market. In the study, the author designed a questionnaire using the Likert scale to measure the level of influence of behavioral factors on stock investment decision-making by individual investors in the Vietnamese stock market.
The thesis first uses the Cronbach’s Alpha reliability test to evaluate the scale’s suitability and eliminate any unsuitable variables. Next, Exploratory Factor Analysis (EFA) is performed to assess the model’s reliability and validity. Pearson correlation analysis is then used to check for a strong linear correlation between the dependent and independent variables. Finally, the relationships among these variables are analyzed and modeled using multiple regression analysis in SPSS.
The research findings reveal that five behavioral finance factors: Herding, Disposition Effect, Overconfidence, Home Bias, and Anchoring are all positively related and impact stock investment decisions in the Vietnamese stock market. Among these factors, Herding has the strongest impact, while Anchoring has the weakest impact.
The research provides a clearer perspective for stock investor in Vietnam regarding how behavioral finance affects their investment decisions. The results of this study can offer recommendations to Vietnamese stock investors to help them make more informed investment decisions and minimize losses caused by behavioral biases.
Keywords: Behavioral finance, Investment decision, Stock market.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Đặt vấn đề
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi qua 27 năm hình thành phát triển với không ít khó khăn, thách thức và hiện tại, nó đã trở thành một phần quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế. Qua việc vốn hoá thị trường và số lượng tài khoản chứng khoán tăng mạnh trong những năm gần đây (Bảng 6.1 Phụ lục 2) có thể thấy TTCK VN đang dần có sức hút và dành được sự quan tâm, chú ý từ các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước.
Trong khu vực Đông Nam Á, TTCK VN xét về qui mô vốn hoá đang xếp sau Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và hiên đang cạnh tranh vị trí top 5 với Philippine. So với khu vực Châu Á, các TTCK hàng đầu như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông, Đài Loan thì TTCK Việt Nam vẫn còn nằm trong giai đoạn sơ khai cả về qui mô, độ sâu thị trường lẫn sự đa dạng của các nhà đầu tư tổ chức lớn. Mặc dù TTCK VN so với Thế giới xét về qui mô thì vẫn còn rất nhỏ, thanh khoản thấp, tiềm ẩn nhiều rủi ro và khả năng tiếp cận với nguồn vốn từ các nhà đầu tư lớn nước ngoài còn nhiều hạn chế, tuy nhiên chúng ta cũng có những ưu điểm nổi bật thu hút các nhà đầu tư nước ngoài như: chính trị ổn định, dân số trẻ, và tốc độ tăng trưởng GDP cao. Bằng những nổ lực của Chính phủ Việt Nam trong những năm gần đây như: triển khai thành công hệ thống giao dịch KRX, hoàn thiện khung pháp lý, gỡ bỏ quy định ký quỹ 100% cho nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy công bố thông tin bằng tiếng Anh, nâng cao tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp đang thể hiện sự quyết tâm cao độ trong việc cải thiện chất lượng TTCK trong nước. Ghi nhận những nổ lực đó, đầu tháng 10 năm 2025 tổ chức FTSE Russell (Anh) đã chính thức nâng hạng TTCK VN từ thị trường Cận biên lên thị trường Mới nổi Thứ cấp. Cùng với sự kỳ vọng TTCK VN phát triển mạnh mẽ sau khi được nâng hạng thì việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu của các nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN ngày càng trở nên quan trọng. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Các Lý thuyết Tài chính Truyền thống giả định rằng các nhà đầu tư cá nhân luôn ra quyết định hoàn toàn lý trí. Họ luôn thu thập tất cả thông tin thị trường và thực hiện phân tích khả năng sinh lời, rủi ro đi kèm, bỏ qua các yếu tố cảm tính và chi phí để đưa ra lựa chọn tối ưu rồi mới ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên trên thực tiễn giao dịch trên TTCK VN, đặc biệt là giai đoạn biến động mạnh cho thấy các NĐT thường có những hành vi không hoàn toàn lý trí. Sự sai lệch đó có thể đến từ nhiều yếu tố như: sự bất cân xứng thông tin, hành vi thao túng thị trường và một phần đến từ có những sai số và lệch lạc đến từ hành vi tài chính của các nhà đầu tư. Chúng ta là con người nên hầu hết các hành vi của mình đều chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: khả năng nhận thức (Benjamin, Sebastian và Jesse, 2013), độ tuổi (Goetzmann, William và Alok , 2008), giới tính (Barber và Odean, 2001), tâm trạng (Lucey, Brian và Michael, 2005), cảm xúc cá nhân (Shefrin, Hersh, 2002). Kể cả những người đã nghiên cứu, đã được học về tài chính cũng có lúc không thể tránh khỏi việc ra quyết định cảm tính mà đầu tư sai lầm. Chính sự đa dạng của các cá nhân tham gia tạo nên thị trường chứng khoán sôi động và khó đoán. Vì vậy tôi thực hiện đề tài này để nâng cao sự hiểu biết về tài chính hành vi giúp định hình cách các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường chứng khoán. Từ đó tối ưu hóa lợi nhuận và giảm rủi ro, bảo vệ các nhà đầu tư cá nhân, góp phần bảo vệ sự phát triển ổn định, bền vững của thị chứng khoán khoán Việt Nam.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán trên thế giới đã ra đời từ đầu thể kỷ XVII trong khi Việt Nam chỉ mới đi qua 27 năm hình thành và phát triển. So với Thế giới thì TTCK VN còn rất non trẻ. Việc các tổ chức uy tín quốc tế công nhận là thị trường mới nổi sẽ mở rộng cánh cửa đón dòng vốn khổng lồ từ các nhiều nhà đầu tư, các quỹ lớn nước ngoài phân bổ vào thị trường Việt Nam, mang tới nhiều cơ hội và thách thức. Phấn đấu để được nâng hạng đã khó, việc duy trì và phát triển sau khi đạt được mục tiêu mới thực sự là thách thức lớn. Để làm được điều đó đòi hỏi không chỉ nổ lực của nhà nước, các cơ quan quản lý, các công ty niêm yết, các định chế tài chính mà còn có sự đóng góp không nhỏ đến từ các nhà đầu tư. Đây có thể được xem như bài kiểm tra năng lực, sự chuyên nghiệp của cộng đồng nhà đầu tư Việt Nam. Do đó việc học hỏi trau dồi kiến thức tài chính, phân tích, quản trị rủi ro, cũng như nghiên cứu về tài chính hành vi để có các quyết định đầu tư đúng đắn, tránh các hành vi giao dịch cảm tính phong trào, theo đám đông là vô cùng cần thiết, góp phần vào sự phát triển bền vững của TTCK VN.
Những năm gần đây, sự gia tăng nhanh chóng về mặt số lượng tài khoản chứng khoán mở mới với sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã thể hiện sự quan tâm, niềm tin vào một TTCK VN phát triển. Tuy nhiên, việc tăng nhanh và mạnh đó cần đi đôi với chất lượng mới thực sự bền vững. Theo số liệu của VSDC, tính đến ngày 30/6/2025 TTCK VN có hơn 10,22 triệu tài khoản giao dịch. Trong đó nhà đầu tư cá nhân chiếm 99,82%, nước ngoài chỉ chiếm khoản 0,48%. NĐT cá nhân chiếm trên 80% giá trị giao dịch toàn thị trường. Điều này giúp gia tăng dòng vốn mới vào TTCK VN, cải thiện tính thanh khoản nhưng bên cạnh đó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các NĐT cá nhân mới (F0)-những người dễ bị tổn thương do sự bất cân xứng thông tin với các nhà đầu tư tổ chức, họ chưa đủ kiến thức, kinh nghiệm, chưa có nhận thức đầy đủ về tài chính hành vi nên dễ bị chi phối về mặt cảm xúc mà đưa ra các quyết định cảm tính. Theo bà Nguyễn Ngọc Linh – Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán DNSE thì 95% nhà đầu tư bị thua lỗ và rời bỏ thị trường sau 2 năm. Theo Chủ tịch Hội đồng thành viên VSDC – Nguyễn Sơn phân tích, trong tổng số hơn 10 triệu tài khoản chứng khoán nêu trên thì số tài khoản thực sự hoạt động chỉ chiếm khoảng gần 50%. Sẽ rất đáng tiếc cho những nổ lực của Chính phủ để tạo một TTCK VN phát triển với nhiều cơ hội gia tăng thu nhập thụ động cho các nhà đầu tư mà ở đó nhà đầu tư cá nhân chiếm ưu thế nhưng lại không bền vững. Tỷ lệ rời bỏ thị trường cao như vậy nói lên thực trạng xu hướng thích đầu tư cá nhân, nhưng lại hạn chế về khả năng phân tích và quản trị rủi ro dẫn đến thua lỗ và mất niềm tin vào thị trường, việc này làm cản trở việc hình thành một lớp nhà đầu tư chuyên nghiệp và bền vững. Điều này cho thấy việc trang bị đầy đủ kiến thức cả về phân tích kỹ thuật lẫn tâm lý hành vi sẽ là lá chắn bảo vệ trước rủi ro, giúp các nhà đầu tư mới tự tin hơn, vững vàng hơn trước những cơn sóng đầu cơ và rung lắc của thị trường. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Tài chính hành vi còn khá mới trên thế giới, lĩnh vực này chỉ mới được giới khoa học công nhận và trao giải Nobel vào năm 2017 cho Richard Thaler. Tài chính hành vi ở Việt Nam cũng mới được biết đến và được đem vào chương trình giảng dạy ở các trường Đại học gần đây nên cũng chưa nhiều các nghiên cứu thực nghiệm liên quan.
Nếu tài chính truyền thống thiên về tối ưu hữu dụng kỳ vọng qua các công thức toán học, lí trí hoá cách mà con người nên làm khi đưa ra quyết định thì tài chính hành vi sẽ cho thấy cách các nhà đầu tư thực sự làm khi phải đối diện với những rủi ro trong điều kiện bị giới hạn bởi thời gian và chi phí. Những năm gần đây các nghiên cứu về tài chính hành vi đang ngày càng dành được sự quan tâm và chú ý của các nhà đầu tư tài chính. Các nghiên cứu ấy đã được thực hiện ở trong thời gian, địa điểm và bối cảnh khác nhau và tuỳ thuộc vào mục đích thì kết quả cũng có phần khác nhau. Chính vì bối cảnh mỗi thời kỳ và từng địa phương mỗi khác nên việc cập nhật các nghiên cứu về tài chính hành vi để bắt kịp với những tiến bộ xã hội và phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế toàn cầu là vô cùng cần thiết.
Tóm lại nghiên cứu về tài chính hành vi và tác động của nó đến quyết định đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán là một đề tài quan trọng và cấp thiết bởi:
- Nghiên cứu này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn các yếu tố tài chính hành vi nào có thể tác động đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam.
- Nghiên cứu tìm hiểu mức độ tác động của yếu tố tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam giúp người đầu tư tăng cường hiểu biết và nâng cao khả năng dự đoán thị trường.
- Thị trường chứng khoán thường biến đổi nhanh chóng và phức tạp, việc hiểu rõ tài chính hành vi có thể giúp người đầu tư cá nhân tối ưu hóa việc ra quyết định đầu tư của mình nhằm phòng tránh rủi ro. Điều này có thể giúp họ giảm thiểu các thua lỗ tiềm năng và tăng cường khả năng sinh lời và giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển bền vững hơn.
1.3. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
1.3.1. Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu này nhằm phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của tài chính hành vi đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam.
1.3.2. Mục tiêu cụ thể:
Dựa vào mục tiêu tổng quát ở trên, nghiên cứu đưa ra những mục tiêu cụ thể sau đây:
- Xác định các yếu tố tài chính hành vi tác động đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tài chính hành vi đến việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam.
- Đưa ra những khuyến nghị cho các nhà đầu tư nhận thức rõ hơn về các yếu tố tâm lý để đưa ra những quyết định đầu tư sáng suốt, hiệu quả hơn. Ngoài ra các khuyến nghị này còn hỗ trợ cơ quan quản lý xây dựng chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của tài chính hành vi lên thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.3.3. Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu, đề tài được triển khai theo các câu hỏi nghiên cứu sau :
- Những yếu tố tài chính hành vi nào ảnh hưởng đến việc ra quyết định của các nhà đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam?
- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tài chính hành vi đến quyết định các nhà đầu tư cá nhân?
- Cần khuyến nghị gì cho các nhà đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam giúp ra quyết định đầu tư đúng đắn hơn, giảm thiểu thiệt hại do tài chính hành vi mang lại.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là :
- Tài chính hành vi của các nhà đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam
- Các tác động của tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 năm 2025 đến tháng 8 năm Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy từ hai nguồn sơ cấp và thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp qua khảo sát Google forms từ tháng 07/2025 đến tháng 8/2025. Dữ liệu thứ cấp được thu thập trên các bài báo, tạp chí, các bài nghiên cứu và sách có nội dung liên quan chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
- Không gian nghiên cứu: tại Việt
- Phạm vi đối tượng khảo sát: các nhà đầu tư cá nhân đang đầu tư cổ phiếu độ tuổi từ 18 trở lên.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: thu thập khảo sát online (Google form) với thang đo Likert 5 mức độ để đo lường các thiên kiến hành vi và quyết định đầu tư.
- Sử dụng SPSS để đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi qui đa biến để xác định tác động của từng biến thiên kiến hành vi lên quyết định đầu tư.
1.6. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu này có thể giúp :
- Hiểu rõ hơn về tài chính hành vi của các nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam và cách họ đưa ra quyết định đầu tư cổ phiếu.
- Giúp nhà đầu tư cá nhân dự đoán và đối phó với các biến động thị trường, đặc biệt là trong những tình huống không ổn định hoặc khủng hoảng tài chính. Giúp các nhà đầu tư tránh những sai lầm thông thường và tối ưu hóa hiệu suất đầu tư của mình.
- Thúc đẩy sự phát triển của các công cụ và chiến lược đầu tư mới dựa trên những hiểu biết về tâm lý và hành vi của các nhà đầu tư.
1.7. Kết cấu của đề tài
Để tiến hành nghiên cứu tác giả đã bố cục đề tài nghiên cứu thành 5 phần lớn với các mục tiêu cụ thể cho từng đề tài:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài
Giới thiệu tổng quan về đề tài, chương này bao gồm các nội dung chính như lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vị và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Chương này trình bày các lý thuyết cơ bản về tài chính hành vi và tầm quan trọng của nó trong lĩnh vực chứng khoán. Nó cung cấp cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu và xác định các khía cạnh quan trọng của tài chính hành vi và thị trường chứng khoán.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Chương này bao gồm các nội dung chính như trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết, xứ lý, phân tích số liệu và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương này giúp đảm bảo tính tin cậy và hiệu quả của phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chính của chương này là trình bày kết quả nghiên cứu: kết quả thống kê mô tả, kết quả nghiên cứu định lượng. Chương này giúp đọc giả hiểu rõ về nghiên cứu cung cấp cơ sở cho phần kết luận.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương này tổng hợp lại những gì đã tìm hiểu ở những chương trên. Dựa vào kết quả của mô hình nghiên cứu, đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho việc phân tích đầu tư tài chính hiệu quả.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, tác giả muốn điểm qua về những hạn chế và tiềm năng của Thị trường Chứng khoán Việt Nam ở thời điểm hiện tại so với các nước trong khu vực và trên Thế giới. Tại sao nó vẫn là kênh đầu tư hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư trong hiện tại và tương lai. Thông qua đó thấy được sự cần thiết của các nghiên cứu tài chính hành vi tác động tới việc ra quyết định đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.
Tác giả xác định mục tiêu cụ thể và tổng quát, cùng với các câu hỏi nghiên cứu để thực hiện việc khám phá mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính hành vi với việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu.
Tác giả cũng giới hạn phạm vi, đối tượng nghiên cứu trong khu vực Việt Nam, tập trung vào các cá nhân đang tham gia đầu tư cổ phiếu. Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu về phương pháp nghiên cứu và từ đó tìm ra tác động của tài chính hành vi lên quyết định của các nhà đầu tư, đóng góp một phần vào lĩnh vực tài chính hành vi tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là những cá nhân hoặc tổ chức có nguồn tiền muốn tham gia thị trường chứng khoán với mục đích kiếm được lợi nhuận trong tương lai nhờ biến động giá hoặc cổ tức. Có hai nhóm nhà đầu tư chính là nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư chuyên nghiệp. Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia thị trường với quy mô nhỏ, sử dụng tiền cá nhân, thường là để tìm kiếm cơ hội sinh lời hoặc tích lũy tài sản dài hạn, họ có thể là nhân viên văn phòng, người kinh doanh tự do hoặc sinh viên mới bắt đầu tìm hiểu về tài chính. Trong khi đó, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp có thể là các tổ chức tài chính, công ty quản lý quỹ hoặc những cá nhân đã có kinh nghiệm sâu rộng, có vốn lớn kèm chứng chỉ hành nghề và đáp ứng đủ điều kiện giao dịch tối thiểu theo quy định của luật chứng khoán Việt Nam. Họ hoạt động bài bản, có chiến lược rõ ràng, sử dụng các công cụ phân tích nâng cao và quản trị rủi ro chuyên sâu. Hai nhóm này khác nhau bởi phong cách giao dịch, kỳ vọng lợi nhuận và mức độ chấp nhận rủi ro. Một nhà đầu tư chứng khoán cá nhân thường cần thời gian học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, trong khi nhà đầu tư chuyên nghiệp thường hành động nhanh chóng dựa trên dữ liệu và mô hình phân tích định lượng.
Nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam được phân theo hai loại dựa trên mức độ chuyên môn, kinh nghiệm, mục tiêu đầu tư và cơ sở pháp lý… Dưới đây là những đặc điểm của NĐT cá nhân tại Việt Nam.
- Bảng 2. 1 Bảng so sánh đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân thông thường và chuyên nghiệp
2.1.2. Một số khái niệm về hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Hành vi (Behavior) là những hành động và cách cư xử, phản ứng của cá nhân, một tổ chức với chính họ hoặc môi trường xung quanh. Hành vi có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, và có thể là tự nguyện hoặc không tự nguyện trong quá trình hoạt động hàng ngày nhằm hướng đến mục đích nhất định phục vu nhu cầu cho chính bản thân người đó (Elizabeth A. Minton, Lynn R. Khale, 2013).
Tài chính hành vi (Behavioral Finance) là một nhánh thuộc kinh tế học hành vi, đây là một lĩnh vực nghiên cứu kết hợp giữa tâm lý học và tài chính để giải thích những hành vi phi lý trí của con người trong quá trình ra quyết định tài chính. Lĩnh vực này tập trung nghiên cứu vào cách các tác động tâm lý của những người tham gia đầu tư có thể ảnh hưởng đến kết quả thị trường, phân tích cách cảm xúc, thiên kiến nhận thức và các yếu tố tâm lý khác ảnh hưởng đến quyết định tài chính của họ.
Hành vi NĐT cá nhân trên TTCK là chuỗi hành động trước những kích thích của môi trường bên ngoài của NĐT có liên quan đến TTCK và các yếu tố bên trong thuộc về NĐT (Hiển, 2012). Hành vi đầu tư là hành vi một cá nhân sẵn sàng bỏ ra nguồn lực chắc chắn ở hiện tại để mong muốn đạt được lợi ích không chắc chắn trong tương lai (Hưng và An, 2024). Như vậy có thể hiểu ngắn gọn: Hành vi đầu tư là hành vi một cá nhân bị kích thích bởi các yếu tố bên ngoài và bên trong của NĐT để sẳn sàng bỏ một phần tài sản ở hiện tại với mong muốn có được sự gia tăng tài sản trong tương lai.
Quyết định là một lựa chọn đưa ra sau khi suy nghĩ về một số khả năng (Cambridge Dictionary, 2025). Quyết định là quá trình một cá nhân, nhóm hay tổ chức đi đến kết luận về những hành động cần thực hiện trong tương lai dựa trên một loạt các mục tiêu và giới hạn về nguồn lực hiện có (Schoemaker và Russo, 2016).
Đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực hiện tại (tiền bạc, thời gian, năng lượng) với mục đích đạt được các nguồn lực tốt và nhiều hơn trong tương lai (Laopodis, 2020).
Quyết định đầu tư là lựa chọn cách tốt nhất để đạt được mục tiêu thu lợi nhuận trong tương lai với nguồn lực tài chính hạn chế (Heny, Tony và Ulil, 2022). Quá trình ra quyết định lần lượt là xác định vấn đề, thu thập thông tin, cân nhắc lựa chọn rồi ra quyết định và đánh giá. tất cả các giai đoạn này đều liên hệ mật thiết với nhận thức và tâm lý con người (Hadnagy và Fincher, 2015).
Như vậy có thể hiểu quyết định đầu tư cổ phiếu là quá trình một nhà đầu tư cá nhân hoặc tổ chức không chỉ lựa chọn mua, bán hoặc nắm giữ một loại cổ phiếu cụ thể mà còn lựa chọn số lượng, mức giá và thời gian phù hợp với kỳ vọng thu được lợi nhuận trong tương lai. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Thiên kiến (Bias) là thiên vị và định kiến trong suy nghĩ của một người, đây là xu hướng hay khuynh hướng nghiêng về một phía, một quan điểm, hoặc một đối tượng nào đó, thường là một cách không công bằng khách quan, hoặc không chính xác.
Tự nghiệm (Heuristic) là thuật ngữ trong tâm lý học để diễn tả kinh nghiệm của bản thân, hay lối tắt tinh thần (Tversky và Kahneman, 2008). Có hai dạng tự nghiệm là Tự nghiệm Phản thân (tự trị, không nhận thức, tiết kiệm chi phí) – khi cần sự nhanh chóng đưa ra quyết định hay số tiền đặt cược không đáng kể và Tự nghiệm Nhận thức – nếu số tiền đặt cược lớn thì cần nhiều nỗ lực hơn.
Bong bóng đầu cơ là hiện tượng trong thị trường tài chính khi giá của một loại tài sản tăng lên quá nhanh vượt xa giá trị thực của nó một cách phi lý. Hiện nay do tâm lý đám đông nhà đầu tư mua tài sản không phải vì đầu tư lâu dài vào nó mà kỳ vọng bán lại cho người khác ở mức giá cao hơn.
Nhận thức là quá trình não bộ xử lý thông tin từ môi trường bên ngoài và bên trong cơ thể để tạo ra sự hiểu biết, suy nghĩ và phản ứng. Đó là cách chúng ta tiếp cận, hiểu biết và cảm nhận về thế giới xung quanh ta.
Trí nhớ là khả năng của bộ não để mã hoá, lưu trữ, truy xuất thông tin, kinh nghiệm trong quá khứ. Trí nhớ là sự phản ảnh của nhận thức trong quá khứ của một người. Trí nhớ là hình thức tái tạo lại những việc đã qua của một người một cách chủ quan.
2.1.3. Các nhân tố tác động đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân
- Các nhân tố tác động đến hành vi của NĐT bao gồm hai nhóm:
2.1.3.1. Nhóm nhân tố thuộc về bản thân bên trong cá nhân nhà đầu tư
Độ tuổi ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận rủi ro, NĐT lớn tuổi khó tham gia các hoạt động đầu tư mạo hiểm và nắm giữ danh mục ít tập trung hơn trên thị trường chứng khoán hơn (Goetzmann, William và Alok , 2008), trong khi đó NĐT trẻ tuổi có mức độ tự tin cao hơn lớn tuổi, đặc biệt là sau một chuổi thắng lợi ban đầu, họ có xu hướng giao dịch thường xuyên hơn (Barber and Odean, 2001).
Giới tính: Đàn ông có xu hướng quá tự tin hơn phụ nữ trong đầu tư, và sự quá tự tin này dẫn đến giao dịch quá mức, từ đó làm giảm lợi nhuận ròng của họ, thường thì nam giới thích đầu tư vào các cổ phiếu rủi ro hơn. Trong khi đó phụ nữ thường thận trọng, tự tin vừa phải và tần số giao dịch thấp hơn nên chi phí ít hơn nên lợi nhuận ròng của phụ nữ thường có xu hướng cao hơn nam giới (Barber và Odean, 2001). Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Cảm xúc không chỉ là những phản ứng của con người trước sự vật, hiện tượng bên ngoài mà còn là cơ chế giúp não bộ xử lý thông tin một cách hiệu quả và ưu tiên những gì quan trọng (Brosch, Scherer, Grandjean, Sander, 2013), góp phần hình thành và củng cố ký ức. Từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến cách con người suy nghĩ, ghi nhớ và hành động. Các nghiên cứu khoa học về thần kinh đã kết luận rằng cảm xúc có ảnh hưởng quan trọng đến lý trí: Cảm xúc giúp chúng ta ra các quyết định tốt hơn. Cảm xúc tích cực góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cập thông tin trong bộ não, tăng tính sáng tạo giải quyết vấn đề và đàm phán. Khi được cung cấp nhiều hướng hành động thì cảm xúc giúp chúng ta xúc tiến việc lựa chọn phương án tối ưu (Elster, 1998) (Hermalin và Isen, 2000). Cảm xúc thúc đẩy việc thực hiện khi con người đưa ra các quyết định có ý nghĩa then chốt. Giữa quá nhiều sự lựa chọn, cảm xúc giúp chúng ta tập trung vào một khía cạnh then chốt của một quyết định để không bị các chi tiết làm rối (Damasio, 1994) (LeDoux, 1996). Một số nghiên cứu cho thấy cảm xúc ảnh hưởng đến quyết định đầu tư như cảm xúc bị chi phối bởi thông tin, khi thông tin xấu sẽ dẫn đến sự căng thẳng và lo lắng ngược lại đối với thông tin tốt thì sẽ dẫn đến sự vui vẻ phấn khích (Shefrin, Hersh, 2002), sợ hãi và tham lam chi phối việc ra quyết định, sự né tránh thua lỗ (sợ mất tiền hơn là mong muốn kiếm lời), hay hiệu ứng ngược vị thế (chốt lãi quá sớm hay chần chừ cắt lỗ)…
Về khả năng nhận thức thì những người thông minh thường có xu hướng tham gia thị trường chứng khoán nhiều hơn (Benjamin, Sebastian và Jesse, 2013), con người thường nhìn thấy những gì mà họ mong muốn được thấy bởi vì họ thường cảm thấy an toàn với suy nghĩ ấy. Thông tin được tiếp nhận được chọn lọc theo hướng tập trung vào bằng chứng ủng hộ niềm tin của mình, cố tình bỏ qua hoặc đánh giá thấp thông tin phản bác lại nó nên đôi khi nhận thức bị bóp méo bởi ý muốn của bản thân-Thiên kiến xác nhận (Confirmation Bias) (Wason, P.C., 1960).
2.1.3.2. Nhóm nhân tố bên ngoài tác động đến việc ra quyết định của NĐT
- Nhóm các nhân tố bên ngoài tác động đến việc ra quyết định của NĐT:
Thị trường là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý và phản ứng tức thời của NĐT cá nhân. Nhân tố Thị trường bao gồm thanh khoản thị trường, thông tin thị trường, biến động giá và hiệu ứng đám đông. Thanh khoản Thị trường thấp có thể khiến NĐT ngần ngại tham gia hoặc buộc họ phải bán tài sản với giá thấp hơn khi thị trường hoảng loạn, ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ hoặc rút vốn; NĐT cá nhân dễ bị quá tải thông tin hoặc dựa vào Thông tin sẵn có tức là đánh giá quá cao các thông tin dễ tiếp cận hoặc được truyền thông mạnh; Mức độ thay đổi của giá chứng khoán trong một khoảng thời gian, biến động cao tạo ra cảm giác sợ hãi khi giá giảm và tham lam khi giá tăng, kích hoạt các quyết định cảm tính như bán tháo hoặc mua đuổi giá; Hiệu ứng Đám đông: xu hướng NĐT hành động theo số đông, sao chép quyết định của người khác (đặc biệt là các tổ chức lớn hoặc nhà đầu tư thành công). Làm tăng sự bất ổn và tạo ra các bong bóng hoặc sự sụp đổ giá không dựa trên cơ sở nội tại của tài sản. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Kinh tế vĩ mô và chính trị là yếu tố này tạo ra bối cảnh kinh tế tổng thể và định hình kỳ vọng dài hạn của NĐT bao gồm lãi suất, lạm phát, chính sách tiền tệ và tài khoá, tình hình kinh tế toàn cầu. Lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn cho doanh nghiệp và làm giảm giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai, thường khiến NĐT rút tiền khỏi cổ phiếu (đặc biệt là cổ phiếu tăng trưởng) và chuyển sang tiền gửi/trái phiếu (kênh ít rủi ro hơn); Lạm phát cao làm giảm sức mua và tạo ra sự không chắc chắn về lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp, thúc đẩy NĐT tìm kiếm các tài sản phòng ngừa lạm phát; Chính sách Tiền tệ và Tài khoá: Các quyết định của Ngân hàng Trung ương (về cung tiền) và Chính phủ (về chi tiêu và thuế). Chính sách nới lỏng (giảm lãi suất, kích thích chi tiêu) thường kích thích thị trường chứng khoán; chính sách thắt chặt (tăng lãi suất, giảm chi tiêu) thường gây áp lực lên thị trường; Tình hình Kinh tế Toàn cầu: Các sự kiện quốc tế lớn (khủng hoảng, chiến tranh thương mại, đại dịch) gây ra hiệu ứng lan truyền ảnh hưởng đến tâm lý và dòng vốn nước ngoài trên thị trường trong nước.
Xã hội và văn hoá định hình thói quen, mức độ chấp nhận rủi ro và các chuẩn mực đầu tư trong một cộng đồng như mức độ phổ biến của đầu tư, khuyến nghị chuyên gia, văn hoá tiết kiệm. Mức độ Phổ biến của Đầu tư: Số lượng người tham gia thị trường, sự xuất hiện của các cộng đồng và nhóm thảo luận. Khi đầu tư trở nên phổ biến, NĐT mới thường vào thị trường vì tâm lý Sợ bỏ lỡ, dẫn đến hành vi đầu cơ; Khuyến nghị Chuyên gia/Tư vấn: Lời khuyên từ công ty chứng khoán, nhà phân tích, hoặc các nhà tư vấn tài chính cá nhân. NĐT cá nhân thường dựa vào uy tín của chuyên gia thay vì tự phân tích, đặc biệt do Thiên kiến Quyền lực; Văn hoá Tiết kiệm: Quan niệm ưu tiên tài sản an toàn (vàng, bất động sản, tiết kiệm) hơn chứng khoán. Ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận rủi ro chung của dân số, khiến NĐT duy trì tỷ trọng lớn trong các tài sản kém thanh khoản hơn.
Bối cảnh hay cách trình bày chính là lí do quan trọng ảnh hưởng tới nhận thức và trí nhớ (Godden, Baddeley, 1975). Con người có xu hướng ưa thích các tình huống với các thông tin được diễn đạt dễ hiểu, dễ dàng xử lý (Kahneman, 2011). Chúng ta còn có xu hướng tin rằng những thông tin được trình bày dễ hiểu thường là thông tin có độ tin cậy cao, ít rủi ro hơn (Song và Schwarz, 2008). Những thông tin dễ hiểu thường được cho là chắc chắn đúng khiến con người dễ ra quyết định. Ngược lại những thông tin nào trình bày rườm rà, gây quá tải thông tin sẽ khiến con người rơi vào tình trạng bối rối, né tránh đưa ra quyết định.
2.1.4. Tổng quan về các nền tảng tài chính liên quan Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
2.1.4.1 Các nền tảng tài chính truyền thống
Trước khi giới thiệu về lý thuyết tài chính hành vi, tác giả muốn tóm lược một số lý thuyết tài chính truyền thống có thể được xem là đối trọng lớn và cũng là nguyên nhân mà tài chính hành vi ra đời. Dưới đây là một số điểm chính, quan trọng của lý thuyết tài chính truyền thống:
Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory–EUT) bằng cách tính toán và đánh giá xác suất của các kết quả có thể xảy ra mà cá nhân có thể ra quyết định hợp lý nhằm tối đa hoá giá trị kỳ vọng, lợi ích mà họ có thể nhận được dưới điều kiện rủi ro và không chắc chắn (John von Neumann và Oskar Morgenstern, 1944).
Lý thuyết Danh mục Đầu tư Hiện đại (Modern Portfolio Theory-MPT) chỉ ra cách xây dựng một danh mục đầu tư tối ưu và giảm thiểu rủi ro bằng việc đa dạng hoá các tài sản không tương quan để giảm thiểu rủi ro tổng thể. MPT giả định các NĐT e ngại rủi ro nên với một mức lợi nhuận nhất định thì NĐT sẽ thích danh mục đầu tư của mình ít rủi ro hơn (Harry M. Markowitz, 1952).
Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis-EMH) giả định người tham gia thị trường đều hành động lý trí, tất cả thông tin trên thị trường đều được công khai, miễn phí, mọi người bình đẳng trong việc tiếp cận và mỗi thông tin mới đưa ra sẽ được hấp thụ trực tiếp vào giá cổ phiếu ngay lập tức (Fama, 1970), giá cổ phiếu trong tương lai là hoàn toàn ngẫu nghiên và không thể dự đoán, phân tích kỹ thuật dựa trên dữ liệu quá khứ không thể mang lại lợi nhuận vượt trội lâu dài nhất quán được (Fama, 1965).
Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Pricing Model) được xây dựng dựa trên EUT, EMH và MPT. CAPM cung cấp một công thức rõ ràng với mục đích xác định tỷ suất sinh lời kỳ vọng của một tài sản dựa trên mức độ rủi ro hệ thống của nó, giúp định giá tài sản chính xác hơn so với mô hình không tính đến rủi ro. Mô hình này hoạt động dựa trên giả định NĐT lý trí và ác cảm với rủi ro, thị trường hiệu quả không phí không thuế và có thể vay với mức lãi suất phi rủi ro (William F. Sharpe, 1964) (John Lintner, 1965) (Jan Mossin, 1966)
2.1.4.2. Các thách thức và tình huống thực tế phản bác lại các lý thuyết tài chính truyền thống
Các lý thuyết tài chính truyền thống được xây dựng trên một điều kiện quá hoàn hảo nên có phần chưa sát với thực tế và chưa thực sự giải thích được những câu hỏi mà thị trường đặt ra như:
- Con người có thực sự hành động có lý trí khi ra quyết định đầu tư không?
- Có phải lúc nào con người cũng dựa vào mục đích tối đa hoá lợi nhuận để ra quyết định đầu tư không?
- Con người có thể kiếm lợi nhuận vượt trội lâu dài trên thị trường không?
- Thông tin trên thị trường có phản ánh ngay vào giá như Fama đã đề cập không? giá cổ phiếu có tuân theo những bước đi ngẫu nhiên (random walk) và không thể dự đoán trước được không?
Một số tình huống thực tế đi ngược lại với lý thuyết tài chính truyền thống mà chúng ta có thể hoàn toàn gặp phải trên thị trường như: Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Có nhiều NĐT bán cổ phiếu có lời quá sớm và giữ lại cổ phiếu bị thua lỗ khá lâu (Shefrin và Statman, 1985). Hành động này trái với EUT vì ra quyết định không hoàn toàn lý trí để thu tối đa hoá lợi nhuận.
Một số người chỉ gửi tiết kiệm chứ từ chối tham gia đầu tư chứng khoán vì quá lo sợ rủi ro mất tiền. Hay việc một người vừa mua bảo hiểm vừa mua vé số. Cả hai việc làm này xác suất để nhận tiền là rất thấp. Việc mua vé số có thể xem là hành động chủ động trả một mức phí nhỏ tìm kiếm rủi ro (rủi ro cao, phần thưởng lại lớn). Còn việc mua bảo hiểm có thể xem là sự e ngại rủi ro (rủi ro thấp nhưng hậu quả lớn nếu thực sự xảy ra). Các quyết định đầu tư trên đều trái với EUT vì con người cũng có lúc ra quyết định đầu tư mà không nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.
Hay hiện tượng đầu tư theo tâm lý bầy đàn vào giữa thập niên 1990 khiến giá của cổ phiếu nhiều công ty Internet liên tục tăng, nhiều công ty chưa hề có lợi nhuận thậm chí mô hình kinh doanh chưa rõ ràng mà định giá thị trường hàng tỷ USD dẫn đến hiện tượng bong bóng dot-com khiến giá chứng khoán đạt đỉnh và vỡ, kéo theo khủng khoảng kinh tế năm 2000 (Shiller, 2000). Đây là biểu hiện của việc các NĐT ra quyết định không hoàn toàn dựa trên lý trí như EMH.
Trên thực tế vẫn có các nhà đầu tư kiếm lợi vượt trội lâu dài một cách nhất quán trên thị trường như Benjamin Graham, Warren Buffet, David Dodd, Charlie Munger, Walter Schloss và điểm chung của họ là đầu tư dựa trên triết lý đầu tư giá trị (Warren Buffett, 1984). Điều này đã chứng minh rằng có người có thể đánh bại được thị trường và không phải lúc nào thị trường cũng hiệu quả như Fama đã đề cập.
TTCK VN vẫn tồn tại một số cá nhân làm nhiễu thông tin, tung các tin đồn thất thiệt nhằm thao túng giá chứng khoán. Điển hình như vụ Chủ tịch Công ty CP Tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết (năm 2022) cùng người thân kết hợp với công ty CP Chứng khoán BOS và các công ty con để đẩy giá cổ phiếu (FLC, ROS) lên cao với mục đích thu thời bất chính hàng trăm tỷ đồng (Sơn T. , 30/03/2022). Vụ việc trên đã làm giá cổ phiếu được đẩy thần tốc lên cao rồi lao dốc không phanh, mất giá trị gần như hoàn toàn. Đây là biểu hiện sự bất cân xứng thông tin và giá cả không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu, giao dịch theo tâm lý bày đàn dẫn đến việc ra quyết định phi lý trí của NĐT khi tham gia thị trường.
2.1.4.3. Sơ lược lịch sử ra đời tài chính hành vi Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Chúng ta không thể phủ nhận những ưu điểm mà các lý thuyết tài chính truyền thống mang lại trong việc đưa ra các mô hình toán học và đồ thị để phân tích các vấn đề về kinh tế, các hành vi tiêu dùng cá nhân đến việc tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp. Nó giúp cân bằng cung cầu thị trường và giải thích các hiện tượng kinh tế một cách có hệ thống. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng nên nhìn nhận một cách khách quan những nhược điểm mà các lý thuyết tài chính truyền thống đang tồn tại như con người luôn ra quyết định có lý trí, các giả định được xây dựng quá lý tưởng: một thị trường mà mọi thông tin đều được công khai, miễn phí, và bình đẳng trong việc tiếp cận. Rõ ràng chúng ta có thể thấy lý thuyết tài chính truyền thống chưa phản ánh được sự phức tạp trong hành vi con người khi ra quyết định và đây được xem là tiền đề cho các lý thuyết tài chính hành vi ra đời.
Tài chính hành vi bắt đầu được nghiên cứu và phát triển từ những năm 1970. Lĩnh vực này có nguồn gốc từ các nghiên cứu tâm lý học và kinh tế học hành vi, chủ yếu tại Hoa Kỳ. Khởi nguồn từ những nghiên cứu của hai nhà toán học và tâm lý học người Mỹ Daniel Kahneman và Amos Tversky. Hai ông đã đem tới góc nhìn mới về “Tâm lý học ra quyết định”, chứng minh con người không hoàn toàn hành động một cách có lý trí. Kinh tế học hành vi cho thấy con người không thực sự đánh giá tiền bạc theo cùng một cách. Việc tiền bạc được kiếm ra hay mất đi còn phụ thuộc vào cách mà con người nhìn nhận giá trị của nó. Hai ông được xem là những người đặt nền móng cho tài chính hành vi thông qua Lý thuyết Triển vọng (Prospect Theory) phát triển vào năm 1979. Tài chính hành vi được giới khoa học đánh giá cao và thực sự công nhận bằng sự kiện trao giải Nobel kinh tế năm 2002 cho Giáo sư Daniel Kahneman về những đóng góp của ông trong việc tích hợp những hiểu biết sâu sắc từ nghiên cứu tâm lý vào khoa học kinh tế đặc biệt liên quan tới khả năng phán đoán và ra quyết định của con người trong điều kiện không chắc chắn (The Nobel Prize, 2002). Việc một nhà tâm lý được nhận giải Nobel kinh tế đã phá vỡ rào cản tồn tại giữa hai lĩnh vực và buộc các nhà kinh tế và tài chính trên thế giới phải thừa nhận tầm quan trọng của các yếu tố tâm lý trong việc giải thích các hiện tượng bất thường đang tồn tại trên thị trường. Giáo sư kinh tế Richard Thaler đã là cầu nối mang những nghiên cứu tâm lý học của Kehnaman và Tversky để giải thích các hiện tượng bất thường mà lý thuyết truyền thống không thể giải thích được. Đây được xem là bước ngoặc lớn, chính thức tạo ra lĩnh vực mới là Tài chính hành vi (Behavioral Finance). Nếu như các lý thuyết truyền thống cung cấp các mô hình để định giá tài sản, và cách để tối ưu danh mục đầu tư thì tài chính hành vi giúp nhà đầu tư hiểu được những sai lệch tâm lý, từ đó điều chỉnh hành vi để tránh những quyết định không hợp lý. Lý thuyết tài chính truyền thống chỉ ra những gì nhà đầu tư nên làm còn lý thuyết tài chính hành vi mô tả lại cách con người thực sự làm khi phải đối diện với rủi ro và sự không chắc chắn của thị trường. Trong thực tế, nhà đầu tư cần kết hợp cả hai cách tiếp cận để đưa ra quyết định đầu tư thông minh, trọn vẹn hơn.
Năm 2017, Richard Thaler được trao giải Nobel kinh tế về những đóng góp về kinh tế học hành vi. Ông là một trong những nhà kinh tế học tiên phong trong việc kết hợp tâm lý học vào tài chính, giúp phát triển tài chính hành vi thành một lĩnh vực độc lập (The Nobel Prize, 2017). Ngoài Kehneman, Tversky và Thaler còn có một số nhà nghiên cứu khác cũng có các đóng góp quan trọng cho lĩnh vực tài chính hành vi như: Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Tiến sĩ Robert Shiller – Người từng đạt giải Nobel Kinh tế năm 2013 (The Nobel Prize, 2013), ông nổi tiếng với cuốn sách Irrational Exuberance ( Hưng phấn bất hợp lý) về tâm lý đám đông, hiệu ứng bầy đàn, sự hưng phấn và phản ứng thái quá của nhà đầu tư dẫn đến biến động giá bất hợp lý trên thị trường bất động sản và tài chính. Chính ông cũng là người dự báo đúng về hiện tượng bong bóng dot-com trên TTCK, sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu và khủng khoảng suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2000 (Shiller, 2000).
Jegadeesh và Titman thì phát hiện ra và làm rõ sự tồn tại của hiệu ứng quán tính (Momentum effect), những cổ phiếu có hiệu suất tốt trong 3 đến 12 tháng gần nhất thì có xu hướng tiếp tục tăng (cổ phiếu thắng) và ngược lại các cổ phiếu hiệu suất kém thì sẽ tiếp tục xu hướng giảm (cổ phiếu thua). Hai ông đã chứng minh một chiến lược tạo lợi nhuận vượt trội so với thị trường nhờ mua cổ phiếu thắng, bán cổ phiếu thua (Jegadeesh và Titman, 1993). Từ đó chứng minh bước đi về giá của cổ phiếu là có thể dự đoán được và không theo bước đi ngẫu nhiên (random walk) mà Fama đã đề cập trong EMH.
Terrance Odean và Brad Barber cũng có nhiều nghiên cứu về sự tự tin thái quá dẫn đến việc giao dịch quá nhiều làm giảm lợi nhuận, hay nam giới tự tin thái quá hơn nữ giới, họ giao dịch thường xuyên hơn nhưng lợi nhuận kiếm được lại giảm so với nữ giới (Barber và Odean, 2001).
2.1.4.4. Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory)
Lý thuyết triển vọng do hai nhà tâm lý học, toán học Daniel Kahneman và Amos Tversky cùng xây dựng. Với mục đích nghiên cứu về tâm lý học con người khi đưa ra quyết định dựa trên những gì mà con người thực sự làm và xây dựng mô hình theo cơ sở các quan sát đó. Lý thuyết triển vọng chỉ ra rằng con người cũng có lúc hành xử phi lý trí thay vì hoàn toàn lý trí như EUT, nó giúp ta giải thích con người thường đưa ra những lựa chọn phi lý khi phân tích logic.
Lý thuyết triển vọng trình bày ba khía cạnh quan trọng của hành vi được quan sát thấy (Lucy và Richard, 2018):
Khía cạnh 1: Tuỳ thuộc vào bản chất của triển vọng mà con người thể hiện sự e ngại/né tránh rủi ro khi nói đến lợi nhuận hay tìm kiếm rủi ro khi đối mặt với thua lỗ. Đây có thể được xem là ranh giới của sự e ngại và tìm kiếm rủi ro. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra con người quan tâm tới “được” và “mất” hơn là mức của tài sản. Khác với EUT ở chỗ EUT sử dụng mức tài sản là một biến quan trọng trong hàm hữu dụng và không có ranh giới giữ sự e ngại và tìm kiếm rủi ro.
Cũng có nghiên cứu cho thấy sự e ngại rủi ro đối với các khoản lỗ và tìm kiếm rủi ro đối với các khoản lời với điều kiện xác suất xảy ra rất thấp (Tversky và Kehneman, 1992)
Khía cạnh 2: Con người đánh giá các triển vọng dựa trên việc được (lời) hoặc mất mát (lỗ) so với điểm tham chiếu (thường là trạng thái hiện tại).
Khía cạnh 3: Con người có khuynh hướng ngại mất mát/ sợ thua lỗ. Cảm giác mất mát/ thua lỗ tác động mạnh đến cảm xúc của họ hơn cảm giác được (lời). Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
2.1.5. Hành vi của nhà đầu tư cá nhân tiếp cận theo tài chính hành vi
2.1.5.1 Cảm xúc và thiên lệch về cảm xúc
Cảm xúc không chỉ là những phản ứng của con người trước sự vật, hiện tượng bên ngoài mà còn là cơ chế giúp não bộ xử lý thông tin một cách hiệu quả và ưu tiên những gì quan trọng (Brosch, Scherer, Grandjean, Sander, 2013), góp phần hình thành và củng cố ký ức. Từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến cách con người suy nghĩ, ghi nhớ và hành động. Các nghiên cứu khoa học về thần kinh đã kết luận rằng cảm xúc có ảnh hưởng quan trọng đến lý trí:
Cảm xúc giúp chúng ta ra các quyết định tốt hơn. Cảm xúc tích cực góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cập thông tin trong bộ não, tăng tính sáng tạo giải quyết vấn đề và đàm phán. Khi được cung cấp nhiều hướng hành động thì cảm xúc giúp chúng ta xúc tiến việc lựa chọn phương án tối ưu (Elster, 1998) (Hermalin và Isen, 2000) .
Cảm xúc thúc đẩy việc thực hiện khi con người đưa ra các quyết định có ý nghĩa then chốt. Giữa quá nhiều sự lựa chọn, cảm xúc giúp chúng ta tập trung vào một khía cạnh then chốt của một quyết định để không bị các chi tiết làm rối (Damasio, 1994) (LeDoux, 1996)
Cả ba yếu tố cảm xúc, nhận thức và trí nhớ đều có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cảm xúc quyết định cách con người nhận thức thế giới xung quanh, xây dựng và cách chúng ta ghi nhớ và đưa ra quyết định. Cảm xúc không phải là trở ngại mà là một phần không thể thiếu trong quá trình ra quyết định (Brosch và ctg., 2013). Cảm xúc có thể sai lệch khi chúng ta chú ý quá vào mối đe doạ trong lo lắng, hoặc trí nhớ ưu tiên cho các sự kiện tiêu cực trong trầm cảm.
Bằng chứng rõ nét cho sự tác động của cảm xúc đến việc ra quyết định của NĐT là hiệu ứng ngược vị thế.
Hiệu ứng ngược vị thế (Disposotion Effect) hay còn gọi là Hiệu ứng xu hướng bán. NĐT có xu hướng chốt lời quá sớm (bán các cổ phiếu đang tăng giá) và cắt lỗ quá muộn (giữ các cổ phiếu đang giảm giá quá lâu). NĐT sợ hãi với việc lợi nhuận tan biến nên bán sớm, hành động này ngược lại với vị thế tối ưu là giữ cổ phiếu tốt để tối đa hóa tăng trưởng và ngược lại NĐT giữ cổ phiếu lỗ để tránh cảm giác hối tiếc (Regret Aversion) khi hiện thực hóa thua lỗ. Hành động này ngược lại với vị thế tối ưu là cắt lỗ nhanh chóng và tái đầu tư vào cổ phiếu tiềm năng hơn. Hành vi này dẫn đến Giảm lợi nhuận ròng tổng thể vì NĐT giữ lại những tài sản tồi và bán đi những tài sản tốt. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
2.1.5.2. Nhận thức và thiên lệch về nhận thức
Các mô hình tài chính truyền thống như MPT, EUT được xây dựng trên điều kiện lý tưởng, khi đưa ra quyết định thì chắc hẳn nhà đầu tư đã thu thập, tổng hợp và phân tích hết tất cả thông tin tài chính liên quan rồi. Mô hình định giá tài sản vốn của William Sharpe và các cộng sự là một ví dụ: các nhà đầu tư phải giỏi, nhanh nhẹn và có chuyên môn tài chính, có khả năng nắm bắt đầy đủ các thông tin về tất cả cổ phiếu trên thị trường. Sau đó mới bắt đầu tính tỷ suất sinh lợi mong đợi, phương sai chứng khoán các hệ số tương quan,… để cuối cùng đưa ra các quyết định tối ưu nhất cho danh mục đầu tư của mình. Đó là mô hình tài chính lý tưởng mà nhà đầu tư được khuyên nên làm theo, nhưng trên thực tế, cách mà nhà đầu tư thực sự làm khi đưa ra quyết định lại có sự khác biệt so với mô hình lý thuyết truyền thống khuyên làm. Vì trên thực tế thật sự rất khó để thực hiện theo các mô hình lý thuyết truyền thống một cách rập khuôn.
Đầy biến động, không chắc chắn, phức tạp và mơ hồ là bốn cụm từ có thể diễn tả về một thế giới bất định mà chúng ta đang sống hiện nay. Ai cũng có thể tự do trình bày những quan điểm, những phân tích của mình ra thế giới. Trong điều kiện lượng thông tin trên thị trường là rất lớn, được cập nhật thường xuyên và nhanh chóng, bên cạnh những thông tin chính thống còn có những thông tin dưới dạng tin đồn. Không phải tất cả các nhà đầu tư đều có đủ khả năng tiếp cận đầy đủ thông tin một cách kịp thời và chính xác. Khả năng ghi nhớ, tổng hợp, năng lực xử lý thông tin của mỗi người cũng khác nhau, đòi hỏi không ít thời gian, công sức, chi phí. Bên cạnh đó khả năng phản ứng lại thị trường sau khi tiếp nhận những thông tin đó của mỗi người cũng khác nhau nên việc đưa ra quyết định đầu tư cũng sẽ có phần không đồng đều giữa các cá nhân khi tham gia vào thị trường.
Trong một thế giới không chắc chắn, khi vừa bị giới hạn về mặt thời gian vừa phải đối mặt với các vấn đề phức tạp của thông tin, vừa phải tiết kiệm chi phí trong khi đó khả năng nhận thức và bộ nhớ của con người cũng có giới hạn nên đã dẫn đến sự khó khăn trong việc đánh giá thông tin. Những lúc đó con người có khuynh hướng sử dụng tự nghiệm khi đưa ra quyết định để tiết kiệm năng lượng (Lucy và Richard, 2018), hay tối thiểu hoá thời gian kiến thức và sự tính toán nhằm tạo ra các lựa chọn thích nghi trong thế giới thực (Gigerenzer và Todd , 1999) Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
- Tversky và Kahneman cũng đã đưa ra ba loại tự nghiệm:
Tự nghiệm tình huống điển hình (Representativeness Heuristics): khi ta đánh giá xác suất một sự kiện bằng cách so sánh nó với một tình huống khuôn mẫu đã có trong tâm trí. Dựa vào mức độ đại diện hay tương đồng của một sự vật hiện tượng hoặc con người so với một mẫu cụ thể thay vì dựa vào thống kê.
Tự nghiệm sẵn có (Availability Heuristics): chúng ta đánh giá tần suất hoặc xác suất của một sự kiện dựa trên mức độ dễ dàng mà chúng ta có thể gợi nhớ những ví dụ về nó. Nếu một sự kiện dễ dàng xuất hiện trong trí nhớ, chúng ta có xu hướng cho rằng nó phổ biến hoặc nó khả năng xảy ra cao hơn.
Tự nghiệm neo quyết định và điều chỉnh (Anchoring and Adjustment Heuristics) chúng ta thường bắt đầu với một điểm “móc neo” ban đầu, và điều chỉnh phán đoán sao cho hợp lý. Có hai nguyên nhân được nêu ra cho tự nghiệm này. Một là không chắc chắn về giá trị đúng nên con người đã điều chính câu trả lời của mình đến một vùng giá trị hợp lý, nếu vùng này càng lớn thì càng thiếu chính xác. Hai là thiếu nổ lực hay lười biếng nhận thức, con người cảm thấy khó khăn hơn với việc di chuyển xa khỏi mốc neo nên thường dừng điều chỉnh quá sớm.
- Ngoài ra còn có các loại tự nghiệm liên quan khác như:
Tự nghiệm quen thuộc: con người thường cảm thấy an tâm với những điều quen thuộc, không thích sự mơ hồ, tìm cách né tránh rủi ro không được bù đắp. Con người có xu hướng gắn liền những gì họ biết thay vì lựa chọn khác và có xu hướng lảng tránh tiếp nhận những sáng tạo mới dù nó có thể rất đáng giá.
Tự nghiệm đa dạng hoá (Diversification heuristic): con người thường ít cố gắng khi đứng trước các lựa chọn không loại trừ lẫn nhau một phần vì ưa thích sự đa dạng, mới mẻ, một phần vì sự không chắc chắn sở thích trong tương lai, một phần là làm cho sự lựa chọn trở nên đơn giản hơn, tiết kiệm thời gian ra quyết định. Ví dụ đi tiệc buffet thì người ta thường lựa chọn ăn nhiều món khác nhau hơn là chỉ ăn một hai món do sợ chọn sai món không ngon hoặc bỏ sót món ngon. Hay nhà đầu tư giải ngân vào nhiều chứng khoán khác nhau nhằm giảm rủi ro và cho danh mục được đa dạng hoá.
Không thích sự thay đổi (Status quo bias): con người tìm kiếm cảm giác an toàn từ việc giữ nguyên tình trạng hiện tại và có xu hướng chống lại sự thay đổi muốn tiếp tục nắm giữ cái đang có hay coi trọng hàng hoá sở hữu ( endownment effect)
Chung qui lại các loại tự nghiêm trên đều tìm kiếm cảm giác an toàn, thoải mái. Khi bị hạn chế cả về nguồn thông tin lẫn thời gian thì con người hay đưa ra quyết định dựa trên những thông tin trong quá khứ. Nhưng chúng trong thời điểm hiện tại chưa chắc còn phù hợp. việc sử dụng những theo lối mòn quá khứ mà không kiểm chứng lại rất dễ dẫn tới những sai lầm đặc biệt là trong lĩnh vực chứng khoán, Dưới đây là các lệch lạc bắt nguồn từ tự nghiệm:
- Sự tự tin quá mức ( Overconfidence) Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Sự tự tin là cảm giác tin tưởng vào khả năng, phẩm chất và phán đoán của bản thân. Điều này mang lại nhiều lợi ích tích cực như giúp con người tập trung năng lượng vào xử lý công việc, dám đối mặt với thử thách, không ngại thất bại, dễ phục hồi sau những khó khăn. Tự tin là tốt, mang lại nhiều điều tích cực, tuy nhiên sự tự tin quá mức lại mang lại một số tác động tiêu cực như: Nhà đầu tư quá tự tin tin rằng họ có kỹ năng vượt trội trong việc chọn cổ phiếu và xác định thời điểm thị trường họ giao dịch liên tục làm tăng đáng kể chi phí giao dịch dẫn đến giảm lợi nhuận ròng. Và việc giao dịch thường xuyên khiến nhà đầu tư ít dành thời gian cho phân tích kỹ lưỡng, dẫn đến nhiều quyết định sai lầm hơn. NĐT quá tự tin thường nắm giữ một danh mục ít đa dạng hóa (chỉ tập trung vào một vài cổ phiếu hoặc ngành), vì họ nghĩ rằng đã chọn được “người chiến thắng” và không cần đa dạng hóa để giảm rủi ro. Điều này làm tăng rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Dễ chấp nhận các loại cổ phiếu đầu cơ, có tính biến động cao hoặc sử dụng đòn bẩy tài chính (margin) quá mức so với khả năng chịu đựng của họ. Bên cạnh đó việc quá tự tin sẽ dẫn đến việc khi cổ phiếu bắt đầu đi xuống, NĐT quá tự tin từ chối tin rằng họ đã sai. Họ giữ cổ phiếu với hy vọng giá sẽ phục hồi, dẫn đến thua lỗ lớn hơn, NĐT phản ứng chậm với các thay đổi vĩ mô hoặc thông tin tiêu cực về doanh nghiệp, vì họ tin vào phân tích ban đầu của mình hơn là thực tế thị trường.
- Lệch lạc thiên vị nội địa
Lệch lạc thiên vị nội địa bắt nguồn từ sự quen thuộc, đây là xu hướng của các nhà đầu tư nắm giữ một tỷ trọng không cân xứng lớn các cổ phiếu của quốc gia nước mình (thị trường nội địa) trong danh mục đầu tư của họ, thay vì phân bổ rủi ro hay đa dạng hoá danh mục đầu tư rộng ra các nước khác, bỏ qua các cơ hội đầu tư và lợi ích đa dạng hóa từ các thị trường nước ngoài. Nếu thị trường nội địa gặp khủng hoảng (ví dụ: suy thoái kinh tế, bất ổn chính trị), toàn bộ danh mục đầu tư trở nên quá nhạy cảm với các cú sốc vĩ mô của riêng quốc gia đó như thay đổi chính sách tiền tệ, rủi ro chính trị, lạm phát nội địa. Ngoài ra thiên vị nội địa giới hạn phạm vi tìm kiếm tài sản, NĐT chỉ tiếp xúc với tiềm năng tăng trưởng của các công ty trong nước. Họ bỏ lỡ các công ty dẫn đầu toàn cầu hoặc các thị trường mới nổi đang có tốc độ phát triển nhanh hơn. Trong những thị trường nhỏ, dòng vốn nội địa quá lớn (do thiên vị) có thể đẩy giá tài sản lên cao hơn giá trị nội tại, khiến lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai bị giảm xuống. Trong trường hợp khủng hoảng lớn, thanh khoản trên thị trường nội địa có thể bị đóng băng hoặc giảm mạnh, khiến nhà đầu tư khó khăn trong việc bán tài sản. Nếu có tài sản đa dạng hóa ở thị trường nước ngoài, họ vẫn có thể duy trì khả năng thanh khoản tổng thể. Toàn bộ tài sản ròng của nhà đầu tư (cả thu nhập và tài sản đầu tư) đều bằng đồng nội tệ. Nếu đồng tiền này mất giá nghiêm trọng do lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế, sức mua tài sản của nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Đa dạng hóa quốc tế giúp bảo hiểm rủi ro này. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
- Lệch lạc Neo quyết định (Anchoring)
Lệch lạc Neo quyết định bắt nguồn từ sự bám chắc và phụ thuộc quá nhiều vào giá trị hoặc một thông tin ban đầu. Lấy đó làm chuẩn (còn gọi là “điểm neo” trong nhận thức). Mọi giá trị hay thông tin về vấn đề đó trong tương lai đều được so sánh với giá trị hoặc thông tin chuẩn ban đầu. Nhà đầu tư sử dụng giá mua ban đầu làm mốc neo. Khi giá cổ phiếu giảm xuống dưới mức giá mua, họ từ chối bán (cắt lỗ) với hy vọng giá sẽ tăng trở lại mức neo đó nên NĐT có thể bỏ lỡ cơ hội tái đầu tư số tiền còn lại vào các tài sản tốt hơn và chấp nhận thua lỗ lớn hơn nếu giá tiếp tục giảm, vì quyết định của họ dựa trên cảm xúc (muốn đạt được “điểm hòa vốn”) thay vì phân tích cơ bản hiện tại và ngược lại khi giá cổ phiếu tăng lên một mức nào đó (ví dụ: một tỷ lệ tăng trưởng dự kiến ban đầu hoặc một mức giá lịch sử gần đây), NĐT sử dụng mức giá đó làm neo và quyết định chốt lời. Điều này khiến họ thường bán đi những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng lớn trong dài hạn. Họ bị “neo” vào lợi nhuận ngắn hạn thay vì giữ cổ phiếu dựa trên triển vọng dài hạn của công ty. Khi xem xét mua một cổ phiếu, NĐT có thể bị neo vào giá cao nhất mà cổ phiếu đó từng đạt được hoặc giá khuyến nghị từ một nguồn tin tức cụ thể. Họ có thể cho rằng một cổ phiếu đang “rẻ” chỉ vì giá hiện tại thấp hơn nhiều so với giá cao nhất lịch sử (neo vào giá cũ), mà không quan tâm đến việc giá đã giảm vì các yếu tố cơ bản của công ty đã thay đổi. Họ mua cổ phiếu ở mức giá phi lý với niềm tin rằng cổ phiếu “phải” quay lại mức neo cao hơn.
2.1.5.3. Ảnh hưởng của xã hội
Theo thiên kiến xác nhận được trình bày ở trên thì con người có xu hướng tìm kiếm và chấp nhận những thông tin ủng hộ với niềm tin của mình, cố tình bỏ qua hoặc đánh giá thấp thông tin phản bác lại nó. Biểu hiện của thiên kiến xác nhận trong đầu tư là nếu NĐT có ý định tham gia cổ phiếu nào là họ sẽ tìm và lắng nghe ý kiến tích cực về của những người cùng quan điểm. Hiện nay internet phát triển, các diễn đàn về đầu tư, các hội nhóm khuyến nghị cũng mọc lên rất nhiều. Nơi đây những ý kiến đồng thuận được khuyến thích phát huy và lan truyền rộng, những ý kiến trái chiều bị bác bỏ và loại khỏi hội. Trong môi trường đầu tư, những thông tin đa số mọi người tiếp nhận trường là không đủ và thiếu tính chắc chắn và khi phải đối mặt với việc ra quyết định quan trọng thì con người hay tìm hiểu, hỏi thăm, nghe ngóng bạn bè, những người xung quanh, những người nổi tiếng hay những chuyên gia nghĩ gì để làm bằng chứng chứng minh sự đúng đắn trong quyết định của mình. Điều này củng cố vô tình khiến NĐT nghĩ rằng mình đang đi đúng hướng, không bị cô đơn, đi theo đám đông mới an toàn.
Khi bối cảnh thị trường đang tích cực thì điều này mang lại lợi ích rất tốt về sự gia tăng tài sản, những câu chuyện về lợi nhuận liên tục được chia sẽ, đầu tư trong thời gian ngắn mua được nhà, được xe, đi du lịch khắp nơi. Điều này kích thích, thúc đẩy lòng tham, sự hưng phấn của những người khác chưa được như vậy lao vào, đẩy giá cổ phiếu lên cao, dù biết là bất hợp lý nhưng NĐT vẫn cứ mua bất chấp. Đến khi thị trường ra những tin tức tiêu cực, thì nỗi sợ hãi mất tiền lây lan nhanh chóng, những đợt bán tháo xảy ra nhanh chóng, hàng loạt nối đuôi nhau làm vỡ bong bóng thị trường như hiện tượng bong bóng dot com mà Shiller đã trình bày trong cuốn Irrational Exuberance (2000)
Một dẫn chứng điển hình của ảnh hưởng xã hội đến quyết định đầu tư cổ phiếu là hiệu ứng tâm lý bầy đàn trong đầu tư chứng khoán. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Hiệu ứng Tâm lý bầy đàn (Herding Effect): trong thị trường chứng khoán, hiệu ứng bầy đàn là hiện tượng nhà đầu tư đưa ra quyết định mua bán dựa trên những ảnh hưởng từ số đông, thay vì tự phân tích thì họ phải có kiến thức, mất thời gian và công sức tìm kiếm thông tin. Trong một số trường hợp, nếu hành vi bầy đàn dựa trên thông tin chính xác mà một nhóm NĐT chuyên nghiệp đã phát hiện, nó có thể giúp thông tin mới được phản ánh vào giá nhanh hơn. Khi có sự đồng thuận mua bán lớn, thanh khoản thị trường tăng lên, giúp NĐT dễ dàng mua và bán tài sản hơn. Trong các thị trường mới nổi hoặc các sản phẩm mới, hành vi bầy đàn ban đầu có thể giúp thu hút sự chú ý và vốn, thúc đẩy sự phát triển của thị trường đó. Ngoài những mặt tích cực vừa nêu thì tâm lý bầy đàn còn tồn tại những khía cạnh tiêu cực như làm giảm hiệu quả đầu tư của cá nhân và tăng rủi ro: NĐT mua khi thị trường tăng nóng và bán tháo khi thị trường giảm (vì sợ hãi), thường là ở thời điểm giá không tối ưu thay vì phân bổ vốn dựa trên rủi ro và lợi nhuận, NĐT tập trung vào các tài sản “hot” mà đám đông đang theo đuổi, làm tăng rủi ro danh mục. Việc mua cao và bán thấp thường xuyên, cùng với chi phí giao dịch tăng, làm giảm đáng kể lợi nhuận ròng trong dài hạn. Khi tâm lý bầy đàn lan rộng, nó có thể gây ra sự bất ổn về giá cả trên quy mô lớn: Tâm lý bầy đàn là động lực chính thúc đẩy sự hình thành bong bóng giá (khi đám đông liên tục mua, đẩy giá lên mức phi lý) và các đợt sụp đổ nhanh chóng (khi đám đông đồng loạt bán tháo); Hành động bầy đàn khiến giá tài sản bị lệch khỏi giá trị nội tại cơ bản của chúng. Giá bị chi phối bởi dòng chảy vốn hơn là các yếu tố kinh tế và tài chính; Hành vi giao dịch đồng loạt làm tăng đột ngột khối lượng giao dịch và sự biến động giá, khiến thị trường trở nên khó dự đoán và rủi ro hơn.
2.1.6. Các nghiên cứu trong nước về các yếu tố tài chính hành vi ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Nghiên cứu của Hiển, Huệ, Duy và Trâm (2012) đã sử dụng nền tảng là tài chính hành vi để khám phá những lệch lạc về hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK VN. Thông qua kiểm kịnh kết quả giao dịch thực của 1093 tài khoản được lấy ngẫu nhiên từ 23/04/2007 đến 15/03/2011 (969 ngày) sau khi loại bỏ tài khoản có số dư chứng khoán nắm giữ âm và 51529 lệnh giao dịch thành công của các NĐT cá nhân nhóm đã kết luận NĐT cá nhân trên TTCK VN thường có những quyết định đầu tư không hiệu quả một cách có hệ thống do những kỳ vọng thiên lệch về tương lai giá cổ phiếu. Họ hay mắc những sai lầm như mua cổ phiếu khi đang trên đà tăng giá, bán cổ phiếu ngay khi vừa mới lên giá dù suất sinh lời của cổ phiếu mua thấp hơn cổ phiếu bán, hay nắm giữ những cổ phiếu xuống giá quá lâu do kỳ vọng tương lai (Hiển và ctg, 2012).
Nghiên cứu của Tuấn và Phương (2017) sử dụng nguồn dữ liệu giá chứng khoán được cung cấp bởi hai sàn HOSE và HNX và các chỉ số đặc trưng của từng loại chứng khoán được cung cấp bởi công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam từ 01/06/2007 đến 30/11/2015 gồm 40 công ty tại HOSE và 30 công ty tại HNX có điều kiện dữ liệu liên tục tương ứng với 2116 quan sát. Thông qua việc kết hợp hai phương pháp định lượng nổi bật của (Christie và Huang, 1995) và (Chang và ctg, 2000), sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên độ phân tán tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán so với tỷ suất sinh lợi thị trường để xác định sự tồn tại hành vi bầy đàn của NĐT thông qua đo lường biến động suất sinh lợi trên hai sàn HOSE và HNX, bên cạnh đó sử dụng mô hình ước lượng OLS có kết hợp phương pháp Newey-West để phát hiện ra trong xu hướng thị trường giảm điểm hành vi bầy đàn biểu hiện mạnh hơn lúc thị trường tăng điểm (Tuấn và Phương, 2017). Nghiên cứu của Định (2023) và Hiển và ctg. (2012) cũng cho ra kết quả tương tự bên cạnh đó tác giả còn thấy được khi thị trường đi xuống, các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và các doanh nghiệp thuộc nhóm cổ phiếu tăng trưởng thể hiện mức độ hành vi đám đông rõ rệt hơn so với các doanh nghiệp có qui mô lớn hoặc trong nhóm cổ phiếu giá trị (Định, 2023).
Nghiên cứu của Huế (2019) sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định KMO và Bartlett’s, phân tích hồi quy để định lượng và xác định các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn đầu tư của NĐT cá nhân. Thông qua bảng khảo sát 330 nhà đầu tư có sự am hiểu về kiến thức đầu tư tài chính và đã có ít nhất 6 tháng kinh nghiệm trên thị trường chứng khoán Việt Nam và đang còn tham gia đầu tư tại thời điểm đang hỏi. Kết quả phát hiện ra năm yếu tố tâm lý tồn tại khá phổ biến ở NĐT trên TTCK VN và có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư là: tâm lý quá tự tin, neo quyết định, tâm lý bi quan, hiệu ứng đám đông và tính đại diện. Trong đó ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định đầu tư cá nhân là yếu tố tâm lý quá tự tin và thấp nhất là tính đại diện. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc phát hiện các yếu tố tâm lý chứ chưa tìm hiểu và phân tích tác động bất lợi đối với NĐT khi bị tâm lý chi phối (Huế, 2019).
Nghiên cứu của Hiếu, Phước và Vương (2020) cũng cho ra cùng kết quả với Huế (2019). Nghiên cứu này được thực hiện với đối tượng là 411 NĐT cá nhân giao dịch tại sàn HOSE thông qua việc sử dụng phân tích hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, sử dụng hệ số tương quan Pearson, phân tích hồi quy cho ra kết quả năm yếu tố như: Neo quyết định, Sự quá tự tin, Khuynh hướng sẵn có, Hiệu ứng đám đông, Tình huống điển hình có ảnh hưởng tích cực tới quyết định đầu tư của NĐT cá nhân, tuy nhiên quyết định đầu tư mà được thúc đẩy bởi những nhân tố này sẽ gây hậu quả tiêu cực đến hiệu quả đầu tư. Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện ra nam giới có xu hướng tham gia TTCK nhiều hơn nữ giới, các NĐT cá nhân có độ tuổi tham gia TTCK đa phần là trẻ ( khoảng từ 26-35 tuổi), hiệu quả đầu tư NĐT lớn tuổi thấp hơn NĐT trẻ tuổi, và các NĐT nam có kinh nghiệm sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn các NĐT nữ ít kinh nghiệm (Hiếu và ctg, 2020). Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Nghiên cứu của Trang và Linh (2024) đã tổng hợp dữ liệu thông qua khảo sát 210 NĐT cá nhân đang giao dịch trên TTCK VN, với việc sử dụng phương pháp hồi qui đa biến (OLS), cấu trúc tuyến tính (SEM) và thứ tự Logit, đã cho thấy sự tự tin thái quá hay thiếu tự tin về kiến thức tài chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cổ phiếu. Cụ thể là ảnh hưởng trực tiếp đến tần suất giao dịch và và gián tiếp đến việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Tự tin thái quá và thiếu tự tin đều dẫn đến những quyết định mạo hiểm, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế suy thoái, việc sử dụng đòn bẩy tài chính mà không có kỹ năng quản lý thì rất dễ xảy ra tình trạng vỡ nợ hoặc phá sản do đó khuyên các NĐT nên kiểm soát mức độ tự tin về kiến thức tài chính của mình. Ngoài ra nghiên cứu cũng còn tồn tại một số điểm hạn chế như chưa tìm ra bằng chứng về mối liên hệ trực tiếp giữa sự tự tin thái quá với việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Cũng chưa tìm ra sự ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu học như: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn chưa ảnh hưởng đến tần suất giao dịch (Trang và Linh, 2024).
2.1.7. Các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố tài chính hành vi ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư cổ phiếu
Nghiên cứu của Shefrin và Statman (1985) dựa trên lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky (1979) kết hợp với các bằng chứng gián tiếp từ NĐT và các thực nghiệm trước đó để giải thích hành vi. Nghiên cứu này thiên về lý thuyết và mô hình hoá hành vi. Nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect) bán sớm cổ phiếu đang sinh lời để chốt lời và cảm thấy tự hào đồng thời nắm giữ quá lâu các cổ phiếu đang thua lỗ vì sợ phải hiện thực hoá khoản lỗ, tránh cảm giác hối tiếc. Cho thấy quyết định đầu tư của các NĐT không chỉ phụ thuộc vào thông tin tài chính mà còn bị chi phối mạnh mẽ bởi cảm xúc và tâm lý. Điều này chứng minh hành vi đầu tư của con người là phi lý trí, điều này dẫn đến việc quản lý danh mục kém hiệu quả do hiệu ứng ngược vị thế (Shefrin và Statman, 1985).
Nghiên cứu của Odean (1999) lấy dữ liệu nghiên cứu từ 10.000 tài khoản khách hàng được chọn ngẫu nhiên tại một công ty môi giới chiết khấu tại Hoa Kỳ trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1987 đến tháng 12 năm 1993, nghiên cứu đưa ra kết luận rằng các chứng khoán mà nhà đầu tư mua vào không chỉ không có hiệu suất vượt trội so với các chứng khoán họ bán đi để bù đắp chi phí giao dịch, mà trung bình còn có hiệu suất kém hơn. Điều này đúng ngay cả khi giao dịch không phải vì nhu cầu thanh khoản, bán để lỗ thuế, tái cân bằng danh mục đầu tư hay chuyển sang chứng khoán rủi ro thấp hơn. Kết quả này cho thấy sự tự tin thái quá trong việc đánh giá độ chính xác của thông tin là chưa đủ để giải thích (Odean, 1999). Nghiên cứu còn kết luận rằng khối lượng giao dịch của nhóm nhà đầu tư có tài khoản môi giới chiết khấu là quá mức. Các nhà đầu tư không tạo ra lợi nhuận từ việc giao dịch, vì lợi nhuận từ các cổ phiếu họ mua vào không đủ để trang trải chi phí giao dịch.
Nghiên cứu của Barber và Odean (2001) sử dụng dữ liệu tài khoản của 35.000 hộ gia đình từ một công ty môi giới chứng khoán chiết khấu lớn, phân tích các khoản đầu tư cổ phiếu phổ thông của nam giới và nữ giới riêng từ tháng 2/1991 đến tháng 1 năm 1997 rồi kiểm chứng giả thuyết liệu NĐT có quá tự tin mà giao dịch quá mức không? Kết quả nghiên cứu cho ra tỷ lệ quay vòng khá cao 76% trên Sở giao dịch chứng khoán New York năm 1998 đã cho thấy sự tự tin thái quá của các NĐT. Nghiên cứu còn cho thấy trong các lĩnh vực tài chính, nam giới thường tự tin thái quá và giao dịch nhiều hơn nữ giới 45% nhưng lợi nhuận ròng lại thấp hơn so với nữ giới (Barber và Odean, 2001). Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Nghiên cứu của Huberman (2001) lấy dữ liệu nghiên cứu từ công ty vận hành chuông khu vực (RBOC) về số lượng chủ tài khoản và cổ phiếu nắm giữ tại mỗi tiểu bang vào cuối năm 1996, dữ liệu từ 48 tiểu bang để điều tra về hành vi thiên vị quen thuộc/ thiên vị nội đia. Kết luận Sự phân bố địa lý của các cổ đông RBOC thường sống trong khu vực mà công ty phục vụ, và khách hàng của RBOC thường nắm giữ cổ phiếu của công ty này hơn là cổ phiếu của các RBOC khác. Xu hướng địa lý của các nhà đầu tư RBOC có liên quan chặt chẽ đến xu hướng chung của danh mục đầu tư hộ gia đình là tập trung, xu hướng sở hữu cổ phiếu của công ty trong tài khoản hưu trí của người lao động, và xu hướng thiên vị quốc gia trên trường quốc tế. Kết luận cho thấy xu hướng đầu tư vào các thực thể quen thuộc, trái ngược với lời khuyên đa dạng hóa trong lý thuyết danh mục đầu tư, xu hướng thiên về những điều đã biết hơn là những điều chưa biết bổ sung một khía cạnh phi tài chính vào cân bằng rủi ro-lợi nhuận trong các quyết định danh mục đầu tư (Huberman, 2001).
Nghiên cứu của Baker và Nofsinger (2002) đã sử dụng các quy tắc kinh nghiệm hay phương pháp tìm kiếm khác nhau để tổng hợp và chỉ ra những sai lầm phổ biến và lỗi hệ thống của NĐT do yếu điểm về nhận thức và cảm xúc gây ra và nhóm những sai lầm này thành 2 loại: đầu tiên là 10 lệch lạc về tâm lý và lỗi hệ thống mà các nhà đầu tư suy nghĩ là: Sự thiên vị về tính đại diện (Representativeness bias), Sự bất hòa nhận thức (Cognitive dissonance), Sự thiên vị quen thuộc (Familiarity bias), Tâm trạng và sự lạc quan (Mood and optimism), Sự quá tự tin (Overconfidence), Hiệu ứng tài trợ (Endowment effect), Khuynh hướng hiện trạng (Status quo bias), Điểm tham chiếu và neo đậu (Reference points and anchoring), Luật số nhỏ (Law of small numbers), Kế toán tinh thần (Mental accounting). Tiếp theo là 3 cách mà nhà đầu tư cảm nhận: Hiệu ứng bố trí (Disposition effect), Sự thiên vị gắn bó (Attachment bias), Thay đổi sở thích rủi ro (Changing risk preferences), đồng thời tác giả cũng đề xuất 5 bước NĐT có thể thực hiện để khắc phục các sai lầm phổ biến (hiểu và tránh những thành kiến về mặt tâm lý, xác định mục tiêu đầu tư và những hạn chế, xây dựng các tiêu chí đầu tư định lượng, đa dạng hoá danh mục đầu tư giữa các loại tài sản khác nhau, rà soát và phân bổ lại tài sản) (Baker và Nofsinger, 2002) Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Nghiên cứu của Waweru, Munyoli, Uliana (2008) đã sử dụng mẫu gồm 23 NĐT tổ chức tại Sở Giao dịch Chứng khoán Nairobi (NSE)-thuộc Kenya, để tìm hiểu vai trò của tài chính hành vi và tâm lý NĐT trong việc ra quyết định đầu tư), đặc biệt là các NĐT tổ chức. Nghiên cứu đã xác định rằng các yếu tố hành vi như tính đại diện, tự tin thái quá, neo giá, ngụy biện con bạc, thiên kiến sẵn có, ác cảm thua lỗ, ác cảm hối tiếc và kế toán tinh thần đã ảnh hưởng đến quyết định của các NĐT tổ chức hoạt động tại NSE ở nhiều mức độ khác nhau. Hơn nữa, các nhà đầu tư này cũng tham khảo hoạt động giao dịch của các nhà đầu tư tổ chức khác và thường thể hiện hành vi bầy đàn trong quá trình ra quyết định đầu tư. Hầu hết các phát hiện đều phù hợp với kết quả của các nghiên cứu được thực hiện tại các nền kinh tế lớn. Các yếu tố như khác biệt văn hóa, các vấn đề xung quanh các nền kinh tế mới nổi, mức độ quản trị khác nhau và quy mô thị trường có thể được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến những phát hiện này. Ở nghiên cứu này còn hạn chế ở điểm chỉ tập trung nghiên cứu hành vi của NĐT tổ chức chưa chú trọng các NĐT cá nhân trong khi NĐT cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triên TTCK Kenya (Waweru và ctg., 2008)
Nghiên cứu của Salman, Rehman và Hunjra (2012) đã khảo sát 327 nhà quản lý quỹ cổ phiếu tại các công ty bảo hiểm, ngân hàng, thương mại và công ty đầu tư vốn cổ phần ở Pakistan nhằm tìm hiểu tác động của các yếu tố hành vi: phán đoán dựa trên kinh nghiệm, tâm lý e ngại rủi ro, sử dụng công cụ tài chính và quản trị công ty ở cấp độ doanh nghiệp đến việc ra quyết định của các nhà quản lý quỹ đầu tư. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng để thu thập dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa 4 yếu tố hành vi trên với việc ra quyết định đầu tư và quản trị công ty ở cấp độ doanh nghiệp đóng vai trò then chốt và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư. Bên cạnh đó còn phát hiện ra các nhà quản lý quỹ đầu tư cổ phần có tâm lý e ngại rủi ro và việc áp dụng phương pháp kinh nghiệm và các công cụ tài chính trong quá trình xây dựng quyết định. Nghiên cứu cũng tồn tại một số hạn chế như chỉ tập trung khảo sát các nhà quản lý quỹ tại Pakistan do đó kết quả sẻ không khách quan và áp dụng vào các thị trường khác (Salman và ctg., 2012).
Nghiên cứu của Huang, Lin, Yang (2015) sử dụng mô hình CSSD và CSAD để điều tra tác động của biến động đặc thù lên hành vi đầu tư của những người tham gia thị trường chứng khoán Đài Loan. Kết quả thực nghiệm cho thấy hành vi bầy đàn tồn tại trên thị trường chứng khoán này, và hành vi bầy đàn thể hiện các mô hình riêng biệt trong các danh mục đầu tư khác nhau tùy theo biến động đặc thù. Đúng như trực giác, cuộc khủng hoảng tài chính 2007–2008 đã thúc đẩy hành vi bầy đàn, đặc biệt là các danh mục đầu tư có biến động đặc thù lớn hơn. Phản ứng bất đối xứng với tin tức không phải là đặc trưng trong các giai đoạn căng thẳng thị trường trên các danh mục đầu tư chứng khoán có mức độ biến động đặc thù khác nhau. Kết quả về ngành tài chính và ngân hàng cho thấy sự tương phản thú vị với các ngành khác. Cuối cùng, kết quả cho thấy các hành vi bầy đàn khác nhau phản ánh bản chất của ngành cụ thể đó (Huang và ctg., 2015).
Nghiên cứu của Bakar và Yi (2016) lấy dữ liệu từ 200 NĐT gồm giảng viên, sinh viên ngành tài chính, cán hộ ngân hàng, giám đốc điều hành và quản lý đang tham gia vào TTCK Malaysia với độ tuổi từ 18-60. sử dụng bảng câu hỏi và thang đo likert 5 điểm để yêu cầu NĐT đánh giá mức độ đồng ý của họ với tác động của các yếu tố hành vi đến quyết định đầu tư của họ. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: thiên kiến sẵn có, bảo thủ và tự tin thái quá có tác động đáng kể đến việc ra quyết định của NĐT trong khi đó tâm lý bầy đàn lại không tác động đáng kể tới việc ra quyết định với các NĐT nơi đây. Ngoài ra nghiên cứu còn thấy rằng các yếu tố tâm lý phụ thuộc vào giới tính của cá nhân. Nghiên cứu này tồn tại hạn chế là số lượng khảo sát chỉ có 200 NĐT, tuy qui mô mẫu đủ với phương pháp thống kê nhưng cũng hơi ít để nói lên tổng thể. Bên cạnh đó, khu vực khảo sát nghiên cứu gói gọn ở Thung lũng Klang và Pahang của Malaysia, nên mở rộng thêm ra các khu vực khác để có cái nhìn khách quan hơn (Bakar và Yi, 2016). Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Nghiên cứu của Longjie và Anfeng (2017) thu thập dữ liệu mẫu từ báo cáo tài chính của cổ phiếu loại A của các công ty phi tài chính niêm yết tại Thượng Hải, Trung Quốc giai đoạn từ năm 2009-2011 để đo lường sự tự tin thái quá của nhà quản lý, tác giả sử dụng mô hình Tobin Q cận biên, mô hình Vogt, mô hình Richardson và mô hình Wurgler và phương pháp hồi qui để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tích cực giữa sự tự tin thái quá của nhà đầu tư và mức độ đầu tư của công ty niêm yết, khi các nhà quản lý thể hiện sự tự tin thái quá, họ có xu hướng thực hiện các dự án đầu tư thiếu hiệu quả hoặc đầu tư quá mức cần thiết. Hạn chế của nghiên cứu là mẫu không mang tính đại diện toàn diện vì chỉ sử dụng dữ liệu từ cổ phiếu loại A của các công ty niêm yết phi tài chính ở Trung Quốc (Longjie và Anfeng, 2017).
Nghiên cứu của Giannetti, Laeven (2016) cung cấp bằng chứng vi mô cho thấy sự gần gũi về mặt địa lý giữa nhà đầu tư và công ty đóng vai trò quan trọng trong việc định giá tài sản, đặc biệt là trong thời kỳ thị trường khủng hoảng. Nghiên cứu Sử dụng Danh mục Đầu tư Quỹ tương hỗ để đo lường “quyền sở hữu địa phương” của từng cổ phiếu. Nghiên cứu sử dụng sự thay đổi trong biến động tổng thể của thị trường làm yếu tố kích hoạt để xem xét hành vi thanh lý của nhà đầu tư. Các tác giả hồi quy lợi suất cổ phiếu và tỷ lệ thanh lý theo khoảng cách địa lý, có tương tác với mức độ biến động thị trường. Kết luận NĐT có xu hướng thanh lý các khoản đầu tư có vị trí địa lý xa xôi nhiều hơn một cách có hệ thống khi sự biến động tổng thể của thị trường tăng cao, định giá của các cổ phiếu có tỷ lệ sở hữu địa phương thấp sẽ sụt giảm mạnh hơn khi biến động thị trường tăng, lợi suất của các cổ phiếu có chủ sở hữu ở xa có mức độ tiếp xúc cao hơn với những thay đổi trong biến động tổng thể của thị trường, cho thấy chúng mang rủi ro hệ thống cao hơn đối với nhà đầu tư ở xa. Nghiên cứu tồn tại những hạn chế như: Nghiên cứu sử dụng khoảng cách địa lý như một biến đại diện cho sự bất đối xứng thông tin hoặc sự quen thuộc. Mối liên hệ này có thể không hoàn hảo; khoảng cách địa lý có thể không nắm bắt được tất cả các khía cạnh của rào cản thông tin, nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu của các quỹ tương hỗ Hoa Kỳ. , có thể bỏ qua các ma sát và rào cản quốc tế phức tạp hơn (như rào cản pháp lý, tỷ giá hối đoái,…) mà “thiên kiến nội địa” quốc tế phải đối mặt (Giannetti và Laeven, 2016).
Dưới đây là tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động các yếu tố tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu.
Bảng 2. 2 Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động các yếu tố tài chính hành vi đến quyết định đầu tư cổ phiếu.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này tác giả tổng hợp các khái niệm đặc điểm của các NĐT tại TTCK VN. Đồng thời tác giả cũng trình bày tổng quan về các nền tảng tài chính liên quan như nền tảng tài chính truyền thống (EUT, MPT, CAPM, EMH, Nghịch lý Allais) và tài chính hành vi (Lý thuyết triển vọng). Giới thiệu về trọng tâm nghiên cứu của lĩnh vực tài chính hành vi.
Bên cạnh đó tác giả còn tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản về tài chính hành vi, cách thức mà con người ra quyết định cũng như các yếu tố tâm lý, xã hội ảnh hưởng đến việc ra quyết định của NĐT. Thông qua đó thấy được những lệch lạc trong tâm lý của NĐT dẫn đến những quyết định sai lầm khi tham gia đầu tư cổ phiếu.
Ngoài ra chương này điểm qua một chút về những nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới đề tài nhằm kế thừa điểm mạnh và bổ sung những điểm còn thiếu sót ở những nghiên cứu trước. Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Tác động tài chính hành vi quyết định đầu tư cổ phiếu […]