Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: cơ sở thực tiễn phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng kinh tế – kỹ thuật miền nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Đặc điểm giáo dục – đào tạo của Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam

2.1.1. Quá trình thành lập trường

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam ra đời, theo quyết định số 4188/QĐ-BGDĐT ngày 28/07/2021 của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT.

  • Cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam

Hình 2.1 – Sơ đồ cơ cấu tổ chức

  • Quy mô và lĩnh vực giáo dục – đào tạo của Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam

Các loại hình đào tạo của trường rất đa dạng như: chính quy, liên  thông, vừa làm vừa học. Trường kiên trì thực hiện đa dạng hóa loại hình đào tạo, đa cấp, đa ngành và liên thông trong đào tạo.

Bậc cao đẳng nhà trường đang đào tạo các ngành sau: Ngành kế toán; ngành tài chính – ngân hàng; ngành quản trị kinh doanh; ngành tin học ứng dụng; ngành công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng; ngành quản lý đất đai; ngành điều dưỡng và ngành dược. Ở bậc Trung cấp chuyên nghiệp nhà trường đang đào tạo các ngành như: Ngành thiết kế và quản trị web; ngành bảo dưỡng kỹ thuật máy tính và mạng máy tính; ngành tài chính – ngân hàng; ngành kế toán doanh nghiệp dịch vụ, thương mại; ngành quản trị văn phòng; ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp; ngành quản lý đô thị ngành; ngành địa chính; ngành luật; ngành điều dưỡng; ngành dược sĩ trung cấp và ngành y sĩ trung cấp.

  • Kết quả số lượng tuyển sinh đầu vào và Học sinh sinh viên tốt nghiệp ra trường

Năm học 2026 – 2014, năm đầu tiên thực hiện Thông tư 55/2025/TT-BGDĐT quy định về liên thông trình độ cao đẳng, đại học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 25/12/2025, nhiều cơ sở giáo dục có hệ trung cấp và cao đẳng trong cả nước gặp rất nhiều khó khăn trong tuyển sinh, tuy vậy, trường đã tuyển vào hơn 1000 Học sinh sinh viên, đạt hơn 80% so với chỉ tiêu Bộ GD – ĐT giao. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

  • Bảng thống kê 2.1 – Số lượng tuyển sinh từ năm 2021 – 2025

Số lượng tuyển sinh đầu vào và chất lượng Học sinh sinh viên đầu ra của trường cũng phần nào phản ánh chất lượng của đội ngũ giảng viên trường. Trường đã tổ chức thi tốt nghiệp ra trường cho 03 khoá Trung cấp chuyên nghiệp và 02 khoá cao đẳng chính quy với số lượng đầu ra là 1.582 Học sinh sinh viên (chưa thống kê số lượng năm 2026).

  • Bảng thống kê 2.2 – Chất lượng Học sinh sinh viên hệ chính quy tốt nghiệp ra trường

Về chất lượng đào tạo, theo thống kê, tỷ lệ Học sinh sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, giỏi chưa cao; tỷ lệ khá, trung bình – khá hàng năm không giao động nhiểu và duy trì ở mức chấp nhận được. Điều đó đã khẳng định được sự đánh giá nghiêm túc về chất lượng đào của nhà trường.

  • Liên kết đào tạo

Trường đã và đang liên kết với Trường Đại học Luật Hà Nội, đào tạo cử nhân luật hệ vừa học vừa làm gồm 01 lớp 53 học viên; Về quan hệ quốc tế hiện nay chưa có, nhưng là mục tiêu chiến lược trong hoạch định phát triển của nhà trường trong những năm sắp tới.

  • Cơ sở vật chất

Trường đặt cơ sở tại 64/2B Cây Trâm (số mới: 416 Đường số 10, Tổ 38, KP6), P9, Q.Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh) với diện tích sàn xây dựng hơn 5.000 m2, là nơi đang tổ chức tất cả các hoạt động của trường. Các công trình và trang thiết bị hiện có gồm: Dãy phòng học 06 tầng kiên cố, với 18 phòng học với sức chứa từ 60 đến 120 chỗ ngồi, đều được trang bị hệ thống âm thanh hiện đại và công cụ thiết bị hỗ trợ dạy và học; 01 giảng đường – hội trường; 01 khu Hiệu bộ và 01 phòng Hội đồng sư phạm; 03 phòng máy vi tính; 01 phòng Lab;  01 thư viện; Phòng thực hành hoá sinh cho Học sinh sinh viên ngành y dược và phòng thực tập điều dưỡng cho Học sinh sinh viên ngành điều dưỡng; Nhiều trang thiết bị hiện đại và tương đối đầy đủ khác…. đáp ứng cho các hoạt động và nhu cầu đào tạo của nhà trường.

2.1.2. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu cho sự phát triển giáo dục – đào tạo của nhà trường Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Chính phủ đã ban hành Quyết định số1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2024 về “Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2024-2030”. Theo đó, Bộ GD&ĐT cũng đã cụ thể hóa quy hoạch phát triển nhân lực ngành Giáo dục giai đoạn 2024-2030 bằng Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT ngày 29/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển giáo dục 2024- 2030 của Việt Nam tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2025. Chiến lược này đã đánh giá rất đúng các thành tựu và những yếu kém của GD – ĐT nước nhà trong giai đoạn thực hiện Chiến lược giáo dục 2014-2023, và đề ra kế hoạch chiến lược bảo đảm tính khoa học và khả thi cho sự phát triển GD – ĐT của nước nhà trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI. Chỉ tiêu phát triển nhân lực của Chiến lược quốc gia đã đề ra: “Đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350-400; … 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng, 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sĩ trở lên; 100% giảng viên cao đẳng, đại học sử dụng thành thạo một ngoại ngữ; Phát triển giáo dục thường xuyên tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình; bước đầu hình thành xã hội học tập” [8].

Trong phạm vi nhà trường, mục tiêu phát triển Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam đã đề ra chia thành 03 giai đoạn. Cụ thể: mục tiêu ngắn hạn là hình thành thương hiệu; mục tiêu trung hạn là phát triển thương hiệu; mục tiêu dài hạn là đến năm 2030 thành Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam, đào tạo về các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, trong đó có một số chuyên ngành đào tạo đạt đẳng cấp quốc tế.

Để đội ngũ giảng viên cơ hữu Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam có thể thực hiện tốt chức năng, trách nhiệm xã hội của mình, thì yêu cầu đối với mỗi người giảng viên cơ hữu là phải hội tụ đầy đủ ba thành tố đó là kiến thức, kỹ năng, thái độ, trong đó kiến thức là thành tố cơ bản nhất. Tố chất tự giác, nỗ lực và khát vọng tự hoàn thiện mình trong mỗi cá nhân giảng viên là không thể thiếu. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Kiến thức chuyên môn vững vàng là tiền đề đầu tiên để đảm bảo hiệu quả hoạt động của giảng viên trong cả giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Cùng với kiến thức chuyên môn, người giảng viên cần phải nắm  được các kiến thức về môi trường hoạt động của mình là nhà trường cao đẳng, nắm bắt được các chức năng, nhiệm vụ và các quy định của nó, đồng thời người giảng viên cần phải có những hiểu biết về tâm lý, về xã hội, sư phạm… để hoạt động dạy học của mình phù hợp với Học sinh sinh viên nhằm kích thích nhu cầu, động cơ và khả năng nhận thức của họ.

Kiến thức là cơ sở cho năng lực hoạt động của giảng viên, nhưng bản thân kiến thức không thể mang lại kết quả mong muốn nếu người giảng viên không nắm được các kỹ năng cần thiết. Thông qua kỹ năng, kiến thức và thái độ mới biến thành kết quả hoạt động. Kỹ năng cơ bản nhất của giảng viên là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng thiết bị và kỹ năng cập nhật kiến thức. Các kỹ năng này không phải tự nhiên có được mà phải được trau dồi qua hoạt động thực tiễn, tự học, tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu.

Hiệu quả hoạt động của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng mà còn phụ thuộc vào giá trị, niềm tin, thái độ và sự tận tuỵ của đội ngũ giảng viên cơ hữu. Các phẩm chất, năng lực này cần có một thời gian dài mới được hình thành và củng cố; đồng thời chịu tác động bởi các yếu tố khách quan khác, trong đó ảnh hưởng không nhỏ từ cách thức tổ chức, quản lý hoạt động, chủ trương chính sách của nhà trường.

2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên cơ hữu Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

2.2.1. Chất lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu

Dưới đây là bảng thống kê số lượng giảng viên cơ hữu và hiện trạng số lượng giảng viên cơ hữu được bố trí công tác giảng dạy ở các khoa hiện nay, xét trên các mặt giới tính, tuổi đời, trình độ học vấn, chính trị.

  • Bảng thống kê 2.3 – Thực trạng đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường

Số lượng: Hiện tại Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam có tổng số nhân sự là: 96 người gồm Cán bộ quản lý, giảng viên cơ hữu và nhân viên phục vụ các phòng chức năng (chưa tính giảng viên thỉnh giảng khoảng 80 người); trong đó có 65 giảng viên cơ hữu đang trực tiếp tham gia giảng dạy tại 05 khoa của nhà trường.

Cơ cấu giới, độ tuổi đội ngũ giảng viên cơ hữu: Cơ cấu về độ tuổi của đội ngũ cũng liên quan đến chất lượng hoạt động chuyên môn và chiến lược phát triển sự nghiệp đào tạo của nhà trường. Cơ cấu về giới tính của đội ngũ giảng viên nhà trường được cân đối và giữ sự ổn định, tuy nhiên việc phân bố giảng dạy về chuyên môn ở các khoa hiện tại chưa được hợp lý.

Về giới tính, tâm lý: Nhìn chung tỷ lệ giữa nam (49.3%) và nữ (50.7%) của nhà trường là tương đối cân bằng. Tuy nhiên xét riêng đối với từng bộ môn thì lại chưa cân đối; có những bộ môn quá nhiều nam; có những bộ môn quá nhiều nữ.

Về độ tuổi: Đội ngũ giảng viên của nhà trường có tuổi đời khá trẻ; đội ngũ giảng viên ở độ tuổi từ 23 – 30 tuổi chiếm 67.7%; từ 31 – 45 tuổi chiếm: 21. 5%; trên 45 chiếm:10.8%.

Có thể nói đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam là một đội ngũ trẻ, khoảng 67.7%  giảng viên có độ tuổi dưới 30. Số lượng giảng viên có trình độ thạc sĩ nhiều nhất ở độ tuổi từ 30 đến 45 và độ tuổi dưới 30. Đây là độ tuổi năng động và có nhiều khả năng thích ứng với sự đổi mới. Ưu thế của đội ngũ trẻ là năng động, sáng tạo, dễ tiếp thu khoa học công nghệ, phương pháp giảng dạy mới. Đội ngũ trẻ có chí tiến thủ, có khả năng sớm đạt được học vị, học hàm cao trong tương lai. Do đó, nhà trường cần có cơ chế phù hợp để phát huy tiềm năng của đội ngũ này trong việc học tập nâng cao trình độ. Tuy nhiên, nhược điểm của đội ngũ trẻ là thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp. Để khắc phục nhược điểm này, nhà trường cần có kế hoạch phân công những giảng viên có thâm niên, giàu kinh nghiệm bồi dưỡng, giúp đỡ họ.

2.2.2. Phẩm chất đội ngũ giảng viên cơ hữu trường Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Phẩm chất chính trị: Số lượng đội ngũ giảng viên – đoàn viên rất đông  (67.7%), số lượng đội ngũ giảng viên – đảng viên là 16.9%. Nhìn chung tỷ lệ giảng viên đảng viên còn thấp và phân chia chưa đồng đều.

Theo thống kê của Phòng Tổ chức – Hành chính đa số giảng viên nhà trường được đào tạo qua các trường đại học chính quy đúng với các chuyên ngành mà nhà trường đào tạo. Số giảng viên có tuổi đời từ 30 trở lên chiếm tỉ lệ tương đối, họ là những người từng trải qua thời kỳ khó khăn của đất nước mới đổi mới nên đã nhận thức rất sâu sắc về giá trị, thành quả của cuộc đổi mới đất nước. Theo nhận xét của Đảng ủy và Ban giám hiệu hầu hết giảng viên nhà trường đều có phẩm chất chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng và chấp hành nghiêm chỉnh những chủ trương đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.

Phẩm chất đạo đức: Đội ngũ giảng viên cơ hữu đều nhiệt tình, năng động, sáng tạo và có trách nhiêm; gương mẫu trong giảng dạy và sinh hoạt; nghiêm chỉnh chấp hành mọi nội quy của nhà trường đề ra; có ý chí phấn đấu; có lối sống lành mạnh, giản dị, đoàn kết, chân thành và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong công tác cũng như trong cuộc sống.

Cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý cấp phòng – khoa đến đội ngũ giảng viên nhà trường luôn là những người tận tụy với nghề nghiệp, có trách nhiệm với công việc được giao, đa số họ thể hiện là những “tấm gương sáng cho học sinh, sinh viên noi theo”. Trong công tác luôn thực hiện “kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, biết phối hợp cộng đồng trách nhiệm trong xây dựng, hoàn thiện môi trường giáo dục lành mạnh tại nhà trường.

2.2.3. Trình độ đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường

Trình độ của giảng viên trường cao đẳng vừa là yếu tố phản ánh khả năng trí tuệ vừa là điều kiện cần thiết để thực hiện giảng dạy và Nghiên cứu khoa học. Trình độ của giảng viên cũng phản ánh tiềm lực trí tuệ của trường cao đẳng, là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nhà trường.

Trình độ của Đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng dạy nói riêng, chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung. Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì trước hết cần phải quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên nhà trường. Đối với Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam, trình độ Đội ngũ giảng viên còn thấp so với mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Đội ngũ giảng viên cơ hữu có học hàm, học vị còn khiêm tốn (tính đến ngày 31/5/2026): phó giáo sư 01 (1.5%), tiến sỹ 04 (6,2%),  thạc sỹ: 13 (20,%). Về chức danh, toàn trường chỉ có 01 giảng viên đạt tiêu chuẩn giảng viên chính, giảng viên cao cấp trường chưa có. Trường không bố trí những người có trình độ cao đẳng, trung cấp tham gia công tác giảng dạy.

2.2.4. Năng lực của đội ngũ giảng viên cơ hữu

Năng lực sư phạm: Năng lực sư phạm của đội ngũ giảng viên cơ hữu vẫn còn bị hạn chế vì hầu hết chưa qua nghiệp vụ sư phạm một cách bài bản, hơn nữa lại còn rất trẻ cả về tuổi đời, cả về trình độ, nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy. Một số giảng viên có kỹ năng sư phạm khá vững vàng, thể hiện qua công tác giảng dạy, hướng dẫn thực tập, công tác nghiên cứu khoa học. Kết quả đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất lượng học tập của Học sinh sinh viên được tăng lên hàng năm. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ thì những năm tới cần phải bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên đặc biệt là số giảng viên trẻ. Qua đợt lấy phiếu khảo sát tháng 5/2026 có 30 phiếu khảo sát dành cho giảng viên cơ hữu thì có 10 phiếu tự nhận là có đủ trình độ kiến thức và sư phạm để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, 05 phiếu cho rằng cần phải bồi dưỡng thêm về chuyên môn, 15 phiếu cần bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm.

Năng lực giáo dục: Trong nhà trường, công tác quản lý giáo dục và công tác chủ nhiệm lớp rất quan trọng, nó góp phần quan trọng cho việc hoàn thiện nhân cách Học sinh sinh viên, nâng cao chất lượng hiệu quả của quá trình đào tạo. Để hoàn thành nhiệm vụ này đòi hỏi người cán bộ giảng viên nói chung và giáo viên chủ nhiệm nói riêng phải có năng lực tổ chức quản lý nhất định, dành nhiều thời gian, công sức để luôn theo dõi sâu sát đối với Học sinh sinh viên. Tìm hiểu rõ đặc điểm, tâm tư, tình cảm của đối tượng giáo dục để có biện pháp giáo dục phù hợp. Qua khảo sát thực tế tháng 5/2026 cho thấy đội ngũ giảng viên nhà trường đã có nhiều cố gắng và hoàn thành tốt vai trò nhiệm vụ giáo dục Học sinh sinh viên, có một số kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý giáo dục được đặt ra bàn thảo rút kinh nghiệm trong các cuộc họp cấp khoa, trường. Tuy nhiên, một số giảng viên trẻ vẫn còn hạn chế kỹ năng quản lý giáo dục Học sinh sinh viên.

Nghiên cứu khoa học: Hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên cơ hữu chưa mạnh mẽ, chưa đi vào nề nếp, chưa có động lực thúc đẩy và còn nhiều bất cập. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường, mỗi cán bộ giảng viên phải tham gia nghiên cứu khoa học để không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của mình. Tuy nhiên trong thực tế hiện tại vẫn còn một số cán bộ giảng viên lúng túng về phương pháp và năng lực nghiên cứu khoa học còn yếu.

Đối với nhà trường, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên. Vì vậy số đề tài khoa học được nghiên cứu ngày càng nhiều. Qua báo cáo về tình hình nghiên cứu khoa học của Phòng Đào tạo cho thấy hàng năm nhà trường đều tổ chức Hội đồng đánh giá, nghiệm thu các đề tài. Song các đề tài chủ yếu ở cấp trường, phạm vi ứng dụng hẹp, chưa có đề tài cấp Bộ. Nhìn chung, công tác nghiên Nghiên cứu khoa học của nhà trường còn mang tính phong trào, nhiều giảng viên chưa nắm chắc cơ sở, phương pháp nghiên cứu khoa học, mục tiêu nghiên cứu chưa được xác định rõ ràng, nội dung còn đơn điệu, giá trị nghiên cứu mang lại chưa cao. Chính vì vậy, việc hướng dẫn Học sinh sinh viên nghiên cứu khoa học còn gặp nhiều khó khăn.

Năng lực tự học: Các giảng viên cơ hữu của nhà trường, sau khi được tuyển dụng, ngoài việc được nhà trường tạo điều kiện cho đi học cao học, tham gia các lớp học, khoá học bồi dượng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ do nhà trường tổ chức, còn rất tích cực học tập, tự mình tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, bổ sung kiến thức.

Qua phỏng vấn Ban giám hiệu và kiểm tra cụ thể đã xác định rằng: Ngoài việc thực hiện kế hoạch đào tạo tập trung, vừa học vừa làm thì việc tự học, tự bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ giảng viên là rất quan trọng, cần thiết. Từ đó, ý thức và năng lực tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên được nâng lên một bước đáng kể. Cùng với sự giúp đỡ của các tổ chuyên môn, sự khuyến khích, tạo điều kiện của nhà trường, mỗi cán bộ giảng viên có sự quan tâm đến công tác tự bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giảng dạy vì sự phát triển của nhà trường, vì sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, qua tham khảo ý kiến của chính các giảng viên cơ hữu, thì hầu hết các giảng viên cho rằng, việc tự bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên cơ hữu nhà trường vẫn chưa có sự tổ chức quản lý chặt chẽ, chưa có một cơ chế, chính sách cụ thể nhằm khuyến khích động viên tất cả đội ngũ sư phạm tham gia nên năng lực tự bồi dưỡng của giảng viên nhà trường còn thấp, hiệu quả còn hạn chế.

Chất lượng giảng dạy, phẩm chất đạo đức, thái độ làm việc của đội ngũ giảng viên cơ hữu được phản ánh phần nào qua kết quả xét thi đua theo năm học. Hàng năm nhà trường dựa vào kết quả đánh giá xếp loại giảng viên ở các tổ chuyên môn của từng khoa và xét công nhận thành tích thi đua hoàn thành nhiệm vụ công tác của hội đồng thi đua nhà trường để đánh giá cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên cơ hữu theo từng năm học. Kết quả như sau:

  • Bảng thống kê 2.4 – Xếp loại thi đua GV cơ hữu từ năm 2024 đến 2026

Tuy ý kiến đánh giá của 15 Cán bộ quản lý về chất lượng Đội ngũ giảng viên cơ hữu; cũng như từ sự tự đáng giá mình theo các tiêu chí của 30 giảng viên cơ hữu  trong phiếu điều tra (như phụ lục) có phần chủ quan, nhưng nó cũng phản ánh lên một thực trạng rằng, năng lực Nghiên cứu khoa học và năng lực sư phạm của Đội ngũ giảng viên cơ hữu Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam còn nhiều hạn chế, cần được thúc đẩy hơn nữa thông qua cơ chế, chính sách rõ ràng, cụ thể và cấp thiết từ cấp quản lý nhà trường. Căn cứ phiếu khảo sát, thăm dò ý kiến tới 15 cán bộ quản lý chủ chốt đánh giá chung về chất lượng Đội ngũ giảng viên cơ hữu (65 GV), chúng tôi thu được kết quả dưới đây:

  • Bảng thống kê 2.5 – Ý kiến đánh giá của Cán bộ quản lý về chất lượng Đội ngũ giảng viên cơ hữu

2.2.5. Đánh giá kết quả thực trạng đội ngũ giảng viên cơ hữu nhà trường Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

  • Những ưu điểm và nguyên nhân

Qua phân tích thực trạng đội ngũ giảng viên của nhà trường, nhận thấy có một số mặt mạnh sau:

Về nhận thức, đa số giảng viên nhà trường đã xác định được yêu cầu nhiệm vụ, nên đã tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường. Nhận thức về yêu cầu học tập nâng cao trình độ của đội ngũ Cán bộ quản lý, giảng viên cơ hữu đã được nâng lên một bước đáng kể trước yêu cầu nhiệm vụ mới của nhà trường thể hiện bằng hành động cụ thể trong việc tham gia vào quá trình thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường trong từng năm qua.

Đội ngũ giảng viên rất đa dạng về chuyên môn ngành nghề, trong đó giảng viên cơ hữu chiếm số đông, giảng viên mời thỉnh giảng chiếm tỷ lệ thấp. Cơ cấu đội ngũ giảng viên cơ hữu tương đối hợp lý. Đây là điều kiện thuận lợi để nhà trường chủ động trong việc phân công kế hoạch công tác cho Đội ngũ giảng viên.

Hầu hết giảng viên nhà trường có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nhất định, có tinh thần trách nhiệm gắn bó với chuyên môn nghề nghiệp, nhiều giảng viên có bề dày kinh nghiệm trong hoạt động chuyên môn, phát huy tác dụng tốt trong đội ngũ.

Nguyên nhân là, với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhà trường chủ động hoàn toàn trong công tác xây dựng phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu “có chất lượng” riêng của mình, cụ thể như sau:

Trong 05 năm qua, lãnh đạo nhà trường rất chú trọng đến công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên cơ hữu cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, xem đây là điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ nhà trường. Từ đó, đội ngũ giảng viên cơ hữu nhà trường không ngừng được củng cố và phát triển. Trên thực tế, có một số trường, cơ sở liên kết giáo dục ngoài công lập chỉ chuyên đi mời giảng viên đạt chuẩn về dạy thỉnh giảng vì chi phí cho việc đầu tư xây dựng và phát triển lực lượng giảng viên cơ hữu cho một trường thường tốn kém hơn nhiều.

Hàng năm, trường chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; kiểm tra, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ Cán bộ quản lý và Đội ngũ giảng viên cơ hữu, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của nhà trường. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Một số chế độ, chính sách “trải thảm”, khuyến khích, động viên tuy có chừng mực, nhưng cũng đã thu hút được nhiều người tài qua tuổi làm việc ở các đơn vị cơ sở nhà nước về công tác tại trường. Tục ngữ có câu, “kép trẻ, thầy già” và thực tế rằng, ai đã gắn bó với nghề giáo, thì đó là cái duyên, cái nợ, là nguồn vui sống, sự đam mê suốt đời; với cơ chế thoáng của mình, nhà trường đã mời được những thầy cô, những nhà khoa học vừa đến tuổi về hưu nhưng vẫn còn sức khoẻ và tâm huyết, tiếp tục tham gia cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”. Đây là nguồn tài sản quý báu của nhà trường, họ vừa tạo nên uy tín, thanh danh cho bộ mặt nhà trường, vừa là tấm gương cho tất cả Học sinh sinh viên cũng như những cán bộ, giảng viên trẻ tràn trề ước vọng và sáng tạo noi theo, kế thừa.

Bên cạnh đó nhờ sự đầu tư Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học khá tốt, văn hoá nhà trường lành mạnh đã tạo được niềm tin và ước mong gắn bó lâu dài của đội ngũ Cán bộ quản lý và Đội ngũ giảng viên cơ hữu. Đây là môi trường thuận lợi cho sự phát triển đội ngũ cơ hữu mà không phải nơi nào cũng có được.

  • Những hạn chế và nguyên nhân

Vì là một trường ngoài công lập mới ra đời và chưa có quy mô lớn mạnh, phải xây dựng tất cả từ đầu, vừa làm vừa điều chỉnh và hoàn thiện, những hạn chế, thiếu sót là tất yếu. Có thể thấy các hạn chế như sau:

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu, Cán bộ quản lý của nhà trường tuy có sự quan tâm từ các chủ thể quản lý song vẫn còn lúng túng trong chỉ đạo thực hiện, hiệu quả đạt được chưa cao.

Trình độ được đào tạo của đội ngũ giảng viên cơ hữu chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của nhà trường là đến năm 2030 phấn đấu trở thành Trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam, hiện tại còn thiếu nhiều giảng viên có kinh nghiệm và có trình độ cao. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Việc thực hiện công tác tuyển dụng và bố trí nhân sự theo kế hoạch hàng năm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của nhà trường, hiện tượng vừa thừa vừa thiếu đội ngũ giảng viên cơ hữu luôn diễn ra trong các năm qua mà vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để khắc phục. Cơ cấu đội ngũ giảng viên chưa đồng đều, bố trí sử dụng chưa thật sự cân đối giữa các ngành nghề chuyên môn.

Năng lực nghiên cứu khoa học của Đội ngũ giảng viên còn thấp, chất lượng công trình nghiên cứu chưa cao. Công tác nghiên cứu khoa học chưa được thực hiện đều khắp trong Đội ngũ giảng viên nhà trường, chất lượng chưa thực sự đi vào chiều sâu, kết quả các đề tài nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn chưa nhiều.

Trong quá trình công tác, một bộ phận giảng viên còn biểu hiện thiếu năng động, sáng tạo, chậm đổi mới nội dung và phương pháp sư phạm, năng lực tổ chức quản lý còn yếu, hiệu quả giảng dạy thấp.

Công tác quản lý chuyên môn chưa được quan tâm đúng mức, việc tổ chức đánh giá chất lượng công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của đội ngũ chưa đi vào thực chất nội dung chất lượng còn mang nặng hình thức.

Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm có xây dựng nhưng thực hiện chưa đến nơi đến chốn, nội dung thiếu tính khả thi, đề ra nhiều nhưng kết quả không đạt được theo yêu cầu kế hoạch.

  • Nguyên nhân của những hạn chế trên là do:

Công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên: Nhà trường chỉ mới tiến hành tuyển chọn đội ngũ giảng viên đảm bảo về mặt số lượng và nhu cầu về nguồn nhân lực của từng bộ môn, của ngành nghề đào tạo hàng năm; chưa chú ý đến sự cân đối, đồng bộ về mặt cơ cấu Đội ngũ giảng viên cơ hữu cho lâu dài. Hiện nay nhà trường đã tuyển chọn được một Đội ngũ giảng viên cơ hữu khá đông. Tuy nhiên việc sử dụng nguồn nhân lực vốn chưa hiệu quả, có phần tự phát và cảm tính. Đến nay, nhà trường vẫn chưa xây dựng thành kế hoạch mang tính chiến lược để định hướng cho công tác xây dựng và phát triển Đội ngũ giảng viên cơ hữu  nhằm đảm bảo cho sự phát triển cân đối, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng.

Công tác đào tạo – bồi dưỡng: Việc lập kế hoạch và xác định nội dung đào tạo – bồi dưỡng chưa hợp lý. Chính sách động viên, khuyến khích chưa đúng mức, chưa kịp thời để các đối tượng trong và ngoài diện quy hoạch đều tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ, năng lực. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Điều kiện, môi trường phát triển: Khá thuận lợi, tuy nhiên là một trường chưa có bề dày lịch sử, nên một số chế độ chính sách chưa được hoàn thiện. Là trường ngoài công lập mới mẻ nên điều kiện Cơ sở vật chất chưa đủ tốt cho giảng viên giảng dạy và tác nghiệp thực hành so với các trường công lập lâu đời hoặc như các trường tư thục mạnh về tài chính khác. Mặc nữa, công tác quản lý đội ngũ giảng viên cơ hữu vẫn còn một số bất cập; đặc biệt là đội ngũ quản lý: kinh nghiệm quản lý chưa có nhiều, còn quá trẻ nên năng lực quản lý ít nhiều còn bị hạn chế.

Công tác kiểm tra đánh giá đội ngũ giảng viên cơ hữu: Vẫn còn chung chung, chưa hiệu quả. Công tác kiểm tra, đánh giá sau khi đào tạo chưa được quan tâm đúng mức từ các Cán bộ quản lý, lãnh đạo trong nhà trường.

Ý thức hệ của giảng viên cơ hữu: Một bộ phận giảng viên cơ hữu của nhà trường nhưng cũng đồng thời là giảng viên biên chế của một đơn vị trường học khác (một số do thiếu nhân lực cầm cán nên nhà trường chủ động mời về kiêm nhiệm; một số do tự giảng viên xoay xở) dẫn đến việc không toàn tâm toàn sức với nhà trường. Ngoài ra do cơ chế thoáng về quy định người giảng viên hiện nay, có những giảng viên chưa thực sự tâm huyết với ngành giáo dục – đào tạo, xem việc dạy học là một nghề tạm thời, phụ thêm; hoặc xem nhà trường là “trạm dừng chân” để giải quyết cuộc sống hiện tại và để học hỏi thêm kinh nghiệm. Hệ quả này mang tính tiêu cực và có tác động không tốt đến nhà trường, Học sinh sinh viên; mà trách nhiệm và nguyên nhân chính là ở từ hai phía: ý thức hệ của người giảng viên và cách thức tổ chức, quản lý nhân sự của nhà trường.

2.3. Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu của Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam

Qua điều tra thực tế, cho thấy rằng công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên đã được lãnh đạo và CBGV nhà trường nhận thức đúng đắn về sự cần thiết, tầm quan trọng nên đã tích cực tổ chức thực hiện theo nhiệm vụ kế hoạch từng năm học. Lãnh đạo và các đoàn thể trong nhà trường luôn xác định công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm chuẩn hóa đội ngũ là nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm cho hoạt động ổn định và phát triển nhà trường.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà trường chưa đề ra những biện pháp đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tiễn để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường. Nội dung hoạt động chuyên môn chưa đi vào chất lượng phương pháp chậm đổi mới, còn mang tính hình thức, thiếu sáng tạo. Vì vậy chưa thu hút sự quan tâm đúng mức của Đội ngũ giảng viên, hiệu quả tác dụng còn thấp. Cơ chế, chính sách khuyến khích động viên cán bộ giảng viên tham gia học tập, nghiên cứu khoa học còn hạn chế, chưa kịp thời, chưa đủ sức tạo động lực cho họ tích cực phấn đấu. Các điều kiện bảo đảm cho Đội ngũ giảng viên thực hiện các hoạt động chuyên môn cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cho việc đổi mới nội dung và phương pháp.

2.3.1. Về công tác tuyển dụng Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

Qua ý kiến nhận xét của cán bộ chủ chốt và phòng tổ chức, cán bộ nhà trường đều xác định rằng công tác tuyển dụng và điều động cán bộ là việc làm thường xuyên và rất quan trọng nhằm tăng cường cho đội ngũ đảm bảo đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý đồng thời tạo động lực kích thích tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ CBGV, là điều kiện để duy trì có chất lượng và hiệu quả sự nghiệp đào tạo của nhà trường.

Đối với công tác tuyển dụng, hàng năm nhà trường căn cứ vào yêu cầu quy hoạch và định hướng phát triển ngành nghề chuyên môn để xây dựng chỉ tiêu biên chế và xác định nhu cầu tuyển dụng. Đối tượng tuyển dụng từ nhiều nguồn như: Cán bộ từ các ngành chuyên môn kỹ thuật có trình độ, năng lực phù hợp với nhiệm vụ đào tạo của nhà trường, sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học có thành tích học tập tốt, có chuyên môn phù hợp.

Quy trình tuyển dụng được tiến hành theo quy định rất chặt chẽ, từ thông báo rộng rãi, liên hệ với các ngành liên quan, tiếp nhận hồ sơ, thực hiện các bước phỏng vấn, sơ tuyển, trình các cấp lãnh đạo xem xét quyết định.

2.3.2. Về công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho Đội ngũ giảng viên cơ hữu

Đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường được đặt dưới sự quản lý của các bộ môn, mà người trực tiếp quản lý là các chủ nhiệm bộ môn, phó chủ nhiệm bộ môn. Chức năng và nhiệm vụ của các chủ nhiệm, phó chủ nhiệm bộ môn, đội ngũ giảng viên cơ hữu được quy định riêng.

Trong 03 năm qua, nhà trường đã khuyến khích, hỗ trợ một phần kinh phí, xếp đặt thời gian công tác thuận lợi cho những Cán bộ quản lý – giảng viên cơ hữu có nguyện vọng vừa tham gia công tác, vừa chủ động tích cực đi học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, để gắn bó làm việc lâu dài cho trường về sau. Theo thống kê sau:

  • Bảng thống kê 2.6 – Số lượng GV cơ hữu được tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí học tập

Muốn nâng cao chất lượng đào tạo, thì vấn đề đào tạo giảng viên ở những cơ sở đào tạo có uy tín trong và ngoài nước cần phải được quan tâm. Các khoa, tổ chuyên môn có trách nhiệm định hướng cho giảng viên thuộc khoa, tổ chuyên môn của mình lựa chọn cơ sở đào tạo sao phù hợp với hướng phát triển của đơn vị mình và của bản thân giảng viên.

Công tác đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ đạt được kết quả như trên, ngoài sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo nhà trường, còn có sự nỗ lực cố gắng của bản thân người giảng viên. Để có được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của Đội ngũ giảng viên, các cán bộ quản lý đã không ngừng tác động giúp cho mỗi thành viên hiểu rõ đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình trước yêu cầu nhiệm vụ mới vì mục tiêu đào tạo và sự phát triển của nhà trường.

Tuy nhiên, do nhà trường chưa có kế hoạch chiến lược về phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu nên kế hoạch đào tạo thường bị động, có lúc tập trung đi học nhiều ở một số bộ môn làm ảnh hưởng đến kế hoạch giảng dạy, có trường hợp không chọn lựa kỹ nên dẫn đến sự bất cập so với yêu cầu thực tế, là nguyên nhân của tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu.

Chế độ, chính sách hiện hành chưa động viên đúng mức sự nỗ lực cố gắng của Cán bộ quản lý và Đội ngũ giảng viên cơ hữu tích cực tham gia học tập; Việc theo dõi, đánh giá kết quả sau đào tạo chưa được trường xây dựng thành những quy định cụ thể.

2.3.3. Về công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho Đội ngũ giảng viên cơ hữu

Việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, chính trị, ngoại ngữ, tin học cho Đội ngũ giảng viên cơ hữu cũng đã được nhà trường quan tâm. Kết quả trình độ ngoại ngữ và tin học của Đội ngũ giảng viên cơ hữu (65 người) hiện nay được thể hiện qua bảng thống kê sau: Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

  • Bảng thống kê 2.7 – Trình độ ngoại ngữ, tin học của giảng viên cơ hữu

Năm học 2025 – 2026 nhà trường đã đứng ra ký hợp đồng với Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh tổ chức lớp học đào tạo chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho tất cả giảng viên của nhà trường, thành phần học viên tham gia gồm các giảng viên tốt nghiệp đại học, sau đại học không thuộc chuyên ngành sư phạm và chưa có chứng chỉ dạy học. Kết thúc khoá đào tạo, có 27 học viên là giảng viên cơ hữu của nhà trường được cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm.

Kết quả trên đã góp phần nâng cao trình độ năng lực cho đội ngũ kể cả trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, nhà trường chưa có kế hoạch và biện pháp thật cụ thể, chính sách chưa rõ ràng, phần nhiều dựa vào sự tự nguyện, tự giác của Cán bộ quản lý & giảng viên cơ hữu nên hiệu quả chưa cao, chưa động viên đều khắp đội ngũ tham gia. Giảng viên được cử tham gia các lớp bồi dưỡng chưa tích cực học tập, có biểu hiện tập trung nhiều vào các lĩnh vực chuyên môn, xem nhẹ các môn chính trị, ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ sư phạm.

Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam được thành lập và đi vào hoạt động 05 năm qua, có thể nói là một trường còn chập chững và non trẻ. Tuy đã đạt được một số thành tựu trong công tác tuyển sinh, công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cho xã hội, nhưng để nhà trường phát triển bền vững, tạo nên thương hiệu và uy tín cho mình thì cần phải có những biện pháp cụ thể và dài hơi hơn nữa trong công tác tổ chức điều hành, nâng cấp và mở rộng cơ sở, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đội ngũ giảng viên cơ hữu của nhà trường.

Qua nghiên cứu về thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Miền Nam cho thấy rằng quá trình quản lý phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu có nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động. Ngoài những thuận lợi rất cơ bản cũng còn không ít khó khăn nhất định. Những biện pháp quản lý đã được tiến hành như: tuyển dụng, sắp xếp, bố trí, đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ, kiểm tra, đánh giá đã mang lại một số kết quả cụ thể là đã nâng cao một bước về chất lượng, hoàn thiện về cơ cấu đội ngũ giảng viên cơ hữu.

Tuy nhiên, công tác phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu của nhà trường thời gian vừa qua chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ còn một số tồn tại cần khắc phục như: Nhà trường chưa xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch đội ngũ sư phạm, công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được tiến hành theo kế hoạch vĩ mô, việc theo dõi nhận xét, đánh giá quá trình thực hiện còn mang tính hình thức, chế chính sách đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu cũng chưa được quan tâm đúng mực.

Để tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu, nhà trường cần tiến hành đồng bộ một số biện pháp phù hợp hơn, đây còn là vấn đề quan trọng mang tính chiến lược trong kế hoạch xây dựng và phát triển nhà trường trong tương lai lâu dài. Luận văn: Thực tiễn đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp đội ngũ giảng viên cơ hữu trường cao đẳng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993