Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: cơ sở thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố bạc liêu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Những yếu tố tác động và định hướng quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Bạc Liêu

2.1.1. Những yếu tố tác động

Thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như vũ bão; tài năng, trí tuệ, bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình đào tạo công phu có hệ thống. Vì vậy, cần nhìn nhận giáo dục là yếu tố bên trong, cấu thành của nền sản xuất xã hội; sản xuất không thể phát triển được nếu không coi trọng đầu tư cho nhân tố con người. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế, xã hội.

Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, xu thế hội nhập và hợp tác đang trở thành những yếu tố tác động ở mức độ khác nhau đến tất cả các mặt, các hoạt động của đời sống xã hội của mọi quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện để nhằm đào tạo con người có phẩm chất mới, không lặp lại những hạn chế của mục tiêu đào tạo trước đây như: biết thích ứng một cách có hiệu quả những thay đổi; luôn nêu cao tính sáng tạo, chủ động, nhạy bén; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần hợp tác. Những nhân tố tác động đến việc quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học ở thành phố Bạc Liêu được thể hiện trên các vấn đề chủ yếu sau đây:

  • Một là, xu thế về yêu cầu bảo đảm chất lượng giáo dục và quản lý giáo dục

Trong xu thế hội nhập quốc tế, giáo dục thành phố Bạc Liêu đang đi vào chiều sâu. Chất lượng giáo dục có chiều hướng tăng lên qua việc giảm tải chương trình các môn và tự xây dựng chương trình khung cho từng đơn vị trường học vừa không quá tải với học sinh, vừa đảm bảo được kiến thức và chất lượng giáo dục; đổi mới giáo dục được triển khai mạnh mẽ với những giải pháp đồng bộ như tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học (thông qua công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, dự giờ, thăm lớp của giáo viên), tổ chức hội thảo, chuyên đề (cấp trường, phòng); đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn theo liên trường, cụm trường để thảo luận về các chủ đề, nội dung giảng dạy, rút kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong giảng dạy; động viên giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, viết sáng kiến kinh nghiệm. Việc bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, việc đào tạo nguồn nhân lực cho công tác giảng dạy tại các trường được tỉnh quan tâm nhiều hơn. Mặt khác, các nhà trường tổ chức nhiều hoạt động tập thể bổ ích, thu hút nhiều học sinh tham gia với nhiều nội dung, hình thức hoạt động mới nhằm rèn luyện kỹ năng sống và tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Đảm bảo chất lượng giáo dục là một trong những quan tâm hàng đầu của người làm công tác quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục cần kết nối các hoạt động chất lượng giáo dục với mục đích, mục tiêu giáo dục đã được đề ra trong kế hoạch chiến lược và kế hoạch hành động của đơn vị đảm bảo khi ra khỏi trường các em phải có được các kiến thức và kỹ năng cơ bản, cần thiết để tiếp tục học lên. Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục ở các nhà trường cần sát với thực tế; quản lý chuyên môn cần đi vào chiều sâu, không mang tính phong trào, hành chính, hình thức.

  • Hai là, xu thế đổi mới giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học là một trong những nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển nguồn nhân lực của thành phố nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục

Phẩm chất đạo đức nhà giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín nghề nghiệp và tương lai con người; việc giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo là rất quan trọng. Việc lựa chọn, chăm bồi, phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay trên địa bàn thành phố Bạc Liêu là một vấn đề quan trọng, đầy khó khăn; bởi nguồn giáo viên đào tạo chính quy thiếu trầm trọng, lượng giáo viên “già” chiếm tỷ trọng cao, hàng năm số giáo viên tiểu học nghỉ hưu và nghỉ việc từ 10 đến 15 người. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Bên cạnh đó, để đảm bảo cho mọi người dân đều được đến trường thì cần phải mở rộng quy mô hệ thống trường lớp theo hướng đa dạng hoá, khuyến khích phát triển các loại hình giáo dục ngoài công lập phù hợp với từng vùng, hoàn chỉnh hệ thống giáo dục trên địa bàn thành phố (đảm bảo có đủ trường mầm non, mẫu giáo và tiểu học trên 10 đơn vị phường xã). Huy động hầu hết trẻ em trong độ tuổi đến trường gắn với việc tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả giáo dục; chú trọng chất lượng giáo dục vùng xã, vùng ven phường, chất lượng mũi nhọn theo hướng tiếp cận với trình độ khu vực đồng bằng sông Cửu Long và phù hợp với thực tiễn giáo dục Bạc Liêu thì việc phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo; nâng cao năng lực, hiệu quả bộ máy quản lý giáo dục nhà trường.

Phát huy nội lực để phát triển giáo dục, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, nghiên cứu khoa học.

  • Ba là, nhiệm vụ của giáo viên tiểu học có sự phát triển mới tác động đến phát triển đội ngũ, nâng cao chất lượng giáo dục.

Căn cứ vào điều 72. Nhiệm vụ của nhà giáo. Luật Giáo dục năm 2018. Quyết định số 14/2020/QĐ-BGDĐT ngày 04/05/2020 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học, để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay với tính đặc thù của bậc học là mỗi giáo viên chủ nhiệm một lớp và dạy đủ cả 9 môn học (chương trình 33 tuần, 6 môn học chương trình tiểu học mới) nên nhiệm vụ của người giáo viên rất nặng nề. Giáo viên được chủ động bố trí thời gian và nội dung hợp lý đối với các hoạt động dạy học và giáo dục để thực hiện chương trình và sách qui định cho mỗi lớp; thực hành kiến thức đã học và tổ chức cho học sinh đi tham quan các hoạt động thực tế tại địa phương, hướng dẫn học sinh tự học để hoàn thành yêu cầu học tập, bồi dưỡng học sinh năng khiếu, dạy học các môn học tự chọn, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa. Giáo viên không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng mũi nhọn, quan tâm giáo dục đạo đức, nhân cách, thẩm mỹ, kỹ năng sống cho học sinh. Để đạt được những nhiệm vụ trên đòi hỏi người giáo viên phải tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực phù hợp với điều kiện Bạc Liêu, chú trọng đến kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng hợp tác trong dạy học, kỹ năng giải quyết vấn đề, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào giảng dạy trong nhà trường. Thực hiện tốt nhiệm vụ trên, các cấp lãnh đạo cần quan tâm đến tiền lương và các chế độ, chính sách có liên quan tạo động lực để đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý chuyên tâm với nghề nghiệp, dành nhiều thời gian tự học, nghiên cứu khoa học, dành nhiều thời gian cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy và quản lý theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao.

Mục tiêu cần phải đạt: Nâng tỷ lệ học sinh có học lực giỏi lên từ 5% – 10% hàng năm, học lực khá đạt từ 55% – 65%, học lực yếu xuống còn 2 – 3%, không có học sinh có học lực kém; học sinh có hạnh kiểm thực hiện đầy đủ đạt từ trên 99%, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học xuống còn 0,5% – 1,0%, hiệu quả giáo dục tiểu học đạt 99% đến năm 2028.

  • Bốn là, môi trường công tác, học tập, rèn luyện thường xuyên tác động đến chất lượng đội ngũ giáo viên.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học có đặc thù riêng bởi mỗi giáo viên chủ nhiệm một lớp và dạy đủ cả 9 môn học. Do vậy, nhà trường là môi trường để giáo viên công tác, học tập và rèn luyện. Môi trường càng thuận lợi, văn hóa nhà trường được thực hiện tốt, quy trình quản lý của cán bộ quản lý khoa học là điều kiện tốt để góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Nếu ngược lại thì chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng xuống thấp do ảnh hưởng mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự phân tầng xã hội đã làm ảnh hưởng đến phẩm chất đạo đức nhà giáo, nét đẹp về lương tâm nhà giáo và truyền thống tôn sư, trọng đạo của dân tộc. Bởi vậy, người quản lý không chỉ có khả năng quản lý hoạt động dạy trong nhà trường mà còn phải có trình độ chuyên môn vững vàng để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục như:

  • Xây dựng hệ thống giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường đồng bộ và chuẩn hoá theo hướng chuyên sâu; tập trung đào tạo giáo viên còn yếu. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tự học, tự bồi dưỡng vì học là công việc suốt cả đời của bất kỳ ai. Việc khai thác thông tin từ Internet phải trở thành thói quen không thể từ bỏ được của mỗi giáo viên (tài liệu tham khảo, máy vi tính nối mạng…).
  • Tạo môi trường thân thiện, học hỏi, hợp tác lẫn nhau, biết cách giải quyết vấn đề chẳng những cần thiết cho giáo viên mà bản thân giáo viên rèn luyện lại cho các em học sinh (sinh hoạt tổ chuyên môn, sinh hoạt cụm liên trường, thành lập tổ tư vấn học đường, tổ chức các hội thi…).

Năm 2026 có đủ số lượng và đồng bộ về cơ cấu giáo viên, 100% giáo viên được chuẩn hoá trong đó trên chuẩn từ 59,82%; Nâng cao trình độ lý luận, năng lực lãnh đạo cho cán bộ quản lý, phấn đấu 100% cán bộ quản lý được học qua lớp bồi dưỡng quản lý giáo dục theo quy định của Bộ, được bồi dưỡng về lý luận chính trị, 100% các trường học có chi bộ, 38% giáo viên là Đảng viên. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục từng bước tạo điều kiện để học sinh được học tập, tham gia hoạt động cả ngày ở trường.

  • Năm là, động cơ, trách nhiệm trong tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện và trong thực hiện chức trách nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đến kết quả quản lý chất lượng giáo viên.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, sự bùng nổ về công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa ngành giáo dục đã tập trung sức lực, trí lực, tài lực nhằm tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng dạy học – giáo dục, trang bị kiến thức cần thiết và năng lực sáng tạo cho học sinh. Đây là động cơ, trách nhiệm, là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến kết quả tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện của người giáo viên, người cán bộ quản lý.

Khi động cơ, trách nhiệm của họ đúng đắn, họ sẽ quán triệt sâu sắc nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, luôn suy nghĩ, trăn trở, tìm tòi, sáng tạo những hình thức, phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh, biết hy sinh quyền lợi cá nhân, biết khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Ngược lại, động cơ không đúng đắn giáo viên ít dành thời gian tự học, nghiên cứu khoa học, chưa chuyên tâm cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy; cán bộ quản lý chậm đổi mới, nặng về chỉ đạo, quản lý theo kiểu hành chính, mệnh lệnh, tính chất xin – cho, ít phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ của nhà trường họ sẽ thiếu trách nhiệm trong việc giảng dạy, rèn luyện, học sinh lười học tập dễ dẫn đến vi phạm kỷ luật sẽ làm yếu đi chất lượng giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên.

2.1.2. Định hướng quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các yếu tố tác động, quản lý chất lượng giáo viên tiểu học thành phố Bạc Liêu cần thực hiện theo các định hướng cơ bản sau đây.

  • Đảm bảo về số lượng

Thực hiện đề án “Tiếp tục sắp xếp đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giai đoạn 2025 – 2028” của Ủy ban nhân dân tỉnh kèm theo Quyết định số 826/QĐ- UBND ngày 24/4/2026 nhằm đánh giá lại trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ quản lý, giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, đưa chất lượng giáo dục của tỉnh xếp thứ hạng trung bình khá của khu vực; đồng thời tránh tình trạng vừa thừa, vừa thiếu giáo viên một cách cục bộ gây lãng phí tiền của Nhà nước, phải đảm bảo kinh phí 20% chi cho hoạt động thường xuyên của nhà trường. Số giáo viên tiểu học dôi dư, giáo viên có năng lực tay nghề yếu trên địa bàn thành phố Bạc Liêu sẽ sắp xếp chuyển sang làm công tác khác hoặc cho nghỉ việc vì lý do sức khỏe (qua khảo sát của Ban chỉ đạo đề án có 12 giáo viên cần sắp xếp, chiếm 2,7%).

Bên cạnh đó, dựa vào quy mô dân số theo nhóm tuổi và tỷ lệ học sinh trong độ tuổi tăng từ 97% năm 2025 lên 99% năm 2028 và những năm tiếp theo số học sinh sẽ giảm từ 13.224 học sinh xuống còn khoảng 12.950 học sinh, số trường và điểm trường sẽ giảm từ 17 trường xuống còn 16 trường (năm 2026) và còn 22 điểm trường vào năm 2028, không còn trường tiểu học có quá 3 điểm trường.

Căn cứ vào Quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh Bạc Liêu từ năm 2025 đến năm 2030, định hướng đến năm 2030 thì tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ ngày đạt 30% – 40% (trong đó khu vực nội thị đạt 70%) vào năm 2028.

Ngành giáo dục thành phố Bạc Liêu cần căn cứ vào số lượng lớp trong từng năm học để tính toán đủ số giáo viên cần thiết phục vụ dạy học. Nâng tỷ lệ giáo viên/lớp là 1,22 đối với lớp 1 buổi/ ngày (thực tế dạy 7 buổi/ tuần) và 1,5 giáo viên/lớp đối với lớp bán trú, lớp dạy 2 buổi/ngày. Đảm bảo có 8% số giáo viên dự trữ thai sản. Đảm bảo các trường đều có đủ giáo viên bộ môn như nhạc, mỹ thuật, thể dục, tin học, tiếng Anh để 100% các trường trên địa bàn đều tham gia học ngoại ngữ và tin học, riêng đối với những trường có điều kiện khuyến khích dạy ngoại ngữ và tin học ở lớp 1 đầu cấp tạo nền tảng cho các năm tiếp theo. Các trường chất lượng cao, trường điểm hàng năm đều tổ chức thi tuyển sàn lọc tay nghề giáo viên khoảng 3% trong tổng số giáo viên của trường (tạo cơ hội cho giáo viên các trường có điều kiện phát huy năng lực của mình). Đảm bảo các trường tiểu học có đủ biên chế thư viện, thiết bị, chuyên trách Đội, phục vụ , văn thư, y tế trường học…

  • Đảm bảo về chất lượng đội ngũ Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Cùng với việc sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên thì việc quan tâm đến chế độ chính sách của Nhà nước, của ngành cũng là động lực để đội ngũ giáo viên tự ý thức phấn đấu vươn lên trong tự học, tự bồi dưỡng. Hàng năm có hàng trăm cán bộ quản lý và giáo viên tự học để nâng cao trình độ trên chuẩn của mình góp phần làm cho trình độ đội ngũ ngày càng đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (hè năm 2026 có 104 cán bộ quản lý, giáo viên tham gia học các lớp đại học do Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh liên kết với các trường Đại học hoặc đến các tỉnh bạn để dự học. Ngành giáo dục phối hợp với Ban tổ chức Thành ủy tổ chức bồi dưỡng trung cấp lý luận chính trị cho 100% cán bộ quản lý và giáo viên dự nguồn).

Đến năm 2028 có 100% giáo viên đạt chuẩn 12+2 trở lên (trừ trường hợp giáo viên do lớn tuổi). Trong đó có 75% có trình độ đại học, cao đẳng tiểu học. Đến năm 2030 có 95% giáo viên đạt trên chuẩn. 100% giáo viên đủ tư cách, đủ phẩm chất, đủ năng lực đảm nhiệm công việc được giao. Phấn đấu đến 2028 có 2% đạt chuẩn giáo viên tiểu học cao cấp, 5% đạt chuẩn giáo viên tiểu học chính. Nâng tỷ lệ giáo viên xếp loại tốt lên 85%, không có giáo viên xếp loại chưa đạt yêu cầu, 70% giáo viên tiểu học có trình độ A ngoại ngữ trở lên, 95% giáo viên tiểu học biết sử dụng thành thạo máy tính trong giảng dạy.

Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên dưới mọi hình thức như bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng theo chu kỳ, bồi dưỡng theo chương trình các dự án (SEQAP, VNEN). Tổ chức sinh hoạt cụm liên trường, liên môn. Tổ chức hội thảo, chuyên đề cấp Phòng, cấp trường… tạo mọi điều kiện để giáo viên giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

  • Đảm bảo ổn định cơ cấu

Để nhằm trẻ hóa đội ngũ cũng như tạo nguồn giáo viên cốt cán, giáo viên đầu đàn cho bậc tiểu học thì ngành giáo dục – đào tạo thành phố Bạc Liêu đã xây dựng kế hoạch chiến lược trung hạn (5 năm) trong việc bồi dưỡng, phát hiện nguồn lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển giáo dục của địa phương.

Xây dựng cơ chế để hàng năm tuyển dụng 0,5% tổng số giáo viên tiểu học hiện có là những giáo sinh tốt nghiệp Đại học sư phạm tiểu học chính quy bổ sung cho đội ngũ giáo viên tiểu học. Đồng thời sàng lọc, cho chuyển công tác khác (thư viện, văn thư… ) đối với 1,0% số giáo viên hiện có mà không đáp ứng yêu cầu giảng dạy, đảm bảo các trường đều có đủ nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý và giáo dục.

Năm 2026 số phòng học kiên cố chiếm 78%, phòng học cấp 4 chiếm 22%. Ưu tiên đầu tư xây dựng các trường đạt chuẩn Quốc gia, từng bước quan tâm đầu tư xây dựng khu hiệu bộ, phòng chức năng để tất cả các trường đều có đủ phòng chức năng phục vụ cho đổi mới phương pháp giảng dạy. Đảm bảo các trường đều có đủ cơ sở vật chất, các công trình phụ tối thiểu phục vụ cho công tác giảng dạy và sinh hoạt (sân chơi, bãi tập thể dục, nhà vệ sinh…).

2.2. Thực trạng quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Bạc Liêu hiện nay Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

2.2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Bạc Liêu là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh Bạc Liêu, nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và tiểu vùng bán đảo Cà Mau, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 phường, 3 xã. Diện tích thành phố quản lý bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông, có diện tích tự nhiên phần đất liền là 15.430,5 ha, bờ biển dài 12,5km, có cửa biển Nhà Mát thuận lợi cho xây dựng cảng cá và dịch vụ hậu cần nghề cá. Với vị trí địa lý nói trên là điều kiện thuận lợi để thành phố có thể thu hút được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển. Các dự án tạo vốn từ quỹ đất để xây dựng kết cấu hạ tầng được đẩy mạnh, các khu đô thị mới sẽ được mở rộng nhanh về phía Nam khu trung tâm hành chính thành phố (về phía biển). Đó là xu hướng hợp lý về tổ chức không gian, song cũng phải tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng đến vấn đề phát triển quy mô trường lớp. Khí hậu thành phố Bạc Liêu mang đặc thù chung của khí hậu gió mùa cận xích đạo vùng đồng bằng sông Cửu Long và những đặc trưng riêng khu vực bán đảo Cà Mau. Có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ bình quân cao đều trong năm, trung bình là 26,6oC, yếu tố nhiệt này ảnh hưởng đến việc đầu tư cơ sở vật chất trường lớp (chống nắng, quạt mát, phòng cháy chữa cháy…).

Dân số thành phố Bạc Liêu tính đến tháng 01/2024 là 153.178 người, chiếm 17,49% dân số của tỉnh, cấu trúc dân số trẻ. Thành phố Bạc Liêu có 3 dân tộc: Kinh (chiếm 78,98%), Hoa (chiếm 8,5%) và Khmer (chiếm 12,52%). Mật độ dân số đạt 856,45 người/km2. Theo số liệu thống kê, tốc độ tăng dân số của thành phố Bạc Liêu giảm qua các năm, năm 2018 là 1,22% đến năm 2022 giảm xuống còn 1,06%, năm 2024 còn 1,04%. Tỷ lệ sinh giảm từ 1,57% năm 2018 xuống còn 1,48% năm 2022 và 1,46% năm 2024. Mặc dù tình hình tăng dân số tự nhiên của thành phố có giảm, nhưng là thành phố tỉnh lỵ, việc di dân cơ giới đã tạo sức ép rất lớn đến ngành Giáo dục – Đào tạo thành phố về xây dựng cơ sở vật chất cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy.

Cơ cấu dân cư thành thị – nông thôn: dân cư thành thị có 119.782 người, chiếm tỷ lệ 78% và dân cư nông thôn có 33.396 người, chiếm 22%. Dân cư chủ yếu tập trung ở thành thị đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất trường lớp, việc nâng cao chất lượng một cách đồng bộ giữa các trường được thuận tiện. Nhưng cũng còn nhiều khó khăn cho việc mở rộng diện tích trường lớp, đảm bảo đủ sân chơi, bãi tập, đủ phòng học, phòng chức năng theo Điều lệ trường học. Ở vùng nông thôn, dân cư ít, tập quán sống rải rác trên đất nhà nên việc đi lại học hành của một số em khá xa, do đó số học sinh trên lớp ở một số điểm trường quá ít ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên địa bàn thành phố giai đoạn 2014 – 2018 là 15%, giai đoạn 2019 – 2023 là 13,8%, so với các huyện cao hơn 1,5 lần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2024 là 24,47% theo giá hiện hành (13,52% theo giá cố định năm 2007), cao hơn nhiều so với tiêu chí quy định. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng tăng tỷ trọng các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.

Bên cạnh cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu chuyên khu vực đang từng bước hình thành và phát triển theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của thành phố đến năm 2030. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

2.2.2. Vài nét về giáo dục và đào tạo thành phố Bạc Liêu

  • Khái quát chung

Cùng với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục – đào tạo cũng có nhiều chuyển biến tích cực, thành phố đã tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất trường lớp và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của các ngành học, cấp học. Đến nay, thành phố có hệ thống giáo dục khá đồng bộ và hợp lý, nhiều năm liền là một trong những đơn vị có các cấp học dẫn đầu ngành Giáo dục – Đào tạo của tỉnh Bạc Liêu.

Vào đầu năm học 2022 – 2023, tổng số học sinh toàn ngành là 28.241 em, trong đó có 4.800 trẻ học mẫu giáo; 11.942 học sinh tiểu học; 5.813 học sinh trung học cơ sở và 5.686 học sinh trung học phổ thông.

Đến năm học 2025 – 2026, tổng số học sinh toàn ngành là 30.359 em, trong đó có 5.125 trẻ học mẫu giáo; 13.303 học sinh tiểu học; 6.302 học sinh trung học cơ sở và 5.629 học sinh trung học phổ thông. So với năm học 2022 – 2023 thì số học sinh tăng 2.118 em và tăng nhiều ở ngành học mầm non, mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở.

Trên địa bàn thành phố Bạc Liêu hiện có 16 trường mầm non – mẫu giáo (trong đó có 4 trường tư thục), 18 trường tiểu học (trong đó có 1 trường tư thục), 8 trường trung học cơ sở, 4 trường trung học phổ thông (trong đó có 1 trường có nhiều cấp học). Hàng năm huy động trẻ vào lớp 1 đạt 99,9% (trong đó trẻ 6 tuổi đạt 100%), huy động vào nhà trẻ đạt trên 38%. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt trên 99%, hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,8%. Thành phố Bạc Liêu đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Hệ thống các trường giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề gồm: trường Đại học Bạc Liêu, trường Chính trị, trường Cao đẳng Y tế, trường Trung học Văn hóa – nghệ thuật, trường Trung học kinh tế – kỹ thuật, trường Cao đẳng dạy nghề, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề…

Trong những năm qua, thành phố đã tập trung các nguồn lực để đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo cả về vật chất và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên (100% giáo viên được chuẩn hóa, trong đó có trên 55% trên chuẩn). Năm 2025, 100% trường học đã và đang được xây dựng kiên cố, đầu tư nâng cấp về cơ sở vật chất khá khang trang, đảm đương được chức năng đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và tay nghề kỹ thuật cho lao động của cả tỉnh và thành phố. Ngoài việc tự tổ chức đào tạo tại chỗ, các trường và Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh hàng năm liên kết với các trường đại học ngoài tỉnh tổ chức đào tạo theo yêu cầu, nhằm phục vụ cho các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và thành phố.

  • Giáo dục tiểu học Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.
  • Mạng lưới trường, lớp, học sinh, giáo viên

Tổng số trường tiểu học trên địa bàn thành phố là 18 trường (trong đó có 01 trường tư thục).

Năm học 2025 – 2026, đã huy động được 13.303 em đến trường, chiếm 107,2% số dân trong độ tuổi. Bằng nhiều biện pháp thích hợp, các trường học đã phối hợp với chính quyền địa phương huy động trẻ vào lớp 1 được 2.851 em, so kế hoạch đạt 104,0 %, trong đó trẻ 6 tuồi hằng năm đều đạt 100%.

Từ năm 2022 đến nay, hệ thống trường tiểu học gần như ổn định, tất cả các phường, xã đều có trường tiểu học, bình quân có 1,8 trường / phường, xã. Số lớp và số học sinh tăng nhanh đã góp phần ổn định và bền vững trong việc thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi vào năm 2021.

Tổng số phòng học và phòng chức năng: 357 (phòng học: 265, phòng chức năng: 92); trong đó xây dựng kiên cố: 240 phòng, bán kiên cố: 117 phòng. Số phòng chức năng, phòng làm việc chỉ mới đáp ứng 51,11% so với Điều lệ trường tiểu học. Trong những năm gần đây, được sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ban ngành có liên quan và đặc biệt là sự quan tâm của Sở Giáo dục Đào tạo Bạc Liêu đã tạo điều kiện xây dựng kiên cố hóa trường, lớp học cho các trường tiểu học. Hiện nay, hầu hết các trường đều được lầu hóa. Từ năm 2022 đến nay đã và đang xây dựng 66 phòng học và phòng chức năng cho 5 trường tiểu học: Kim Đồng, Phường 2, Phường 8B, Hiệp Thành, Thuận Hòa 1 (chủ yếu là xây thay thế) nhưng vẫn không đảm bảo đủ phòng chức năng theo Điều lệ trường học. Bình quân số phòng học là 0,73 phòng / một lớp không đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện phương pháp giảng dạy mới của giáo viên vì thiếu phòng chức năng, phòng bộ môn và khu hiệu bộ ở một số trường (trường Kim Đồng, Phùng Ngọc Liêm, Phường 2, Phường 5, Phường 5A, Phường 8A, Phường 8B, Hiệp Thành 1, Thuận Hòa 4), nhất là việc thiếu phòng học để dạy 2 buổi/ ngày (toàn thành phố chỉ có 2 trường dạy được 2 buổi / ngày với 585 học sinh/ 14 lớp; chiếm 0,04% trong tổng số học sinh tiểu học), thiếu phòng học dành cho bồi dưỡng học sinh giỏi cũng như phụ đạo học sinh yếu kém, phòng dạy các môn tự chọn và phòng dạy Tiếng Anh theo chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu. Điều này là một khó khăn, thách thức lớn đối với ngành Giáo dục – Đào tạo thành phố trong việc xây dựng kế hoạch tuyển sinh hằng năm cho các trường – đặc biệt là các lớp đầu cấp tại các trường điểm cũng như việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và việc thực hiện tốt chỉ tiêu của Nghị quyết 03 đề ra là đến năm 2028 có 50% số trường dạy học 2 buổi/ ngày.

Thành phố Bạc Liêu có 17 trường tiểu học với 28 điểm trường (công lập), một vài trường có nhiều điểm trường lẻ tạo thuận lợi cho các em đến trường và việc đưa đón các em của cha mẹ học sinh. Song, bên cạnh đó đã ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập của cả giáo viên và học sinh vì các điểm này học sinh quá ít, việc đầu tư cơ sở vật chất đạt mức chất lượng tối thiểu cho dạy học còn hạn chế, chưa thực hiện đầy đủ, việc đi lại của giáo viên gặp khó khăn và việc kiểm tra, quản lý thường xuyên của Ban giám hiệu còn ít nên chất lượng giáo dục không cao cũng như việc quan tâm đến học tập của cha mẹ học sinh, của chính quyền địa phương gần như không có mà khoán trắng cho nhà trường, các em thường xuyên nghỉ học và bỏ học. Một số trường chỉ có 1 điểm trung tâm thuận lợi cho việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, việc nâng cao chất lượng giáo dục nhưng với đặc trưng là thành phố tỉnh lỵ, quỹ đất dành cho phát triển giáo dục rất ít một số trường không có đất để xây dựng thêm phòng học, phòng chức năng, thiếu sân chơi, bãi tập thể dục… Để 100% trường đạt chuẩn về cơ sở vật chất vào năm 2028 thì Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Bạc Liêu cần thêm 25.000m2 diện tích đất hoặc tăng thêm kinh phí khoảng 114 tỷ đồng cho xây dựng phòng học 3 tầng.

Căn cứ vào bảng 1 cho thấy số học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố Bạc Liêu hàng năm đều tăng nhưng việc xây dựng cơ sở vật chất phòng ốc chưa đáp ứng được yêu cầu, bình quân số học sinh trên một lớp học của toàn thành phố tăng cao so với Điều lệ trường tiểu học là 37,15 em / lớp (Điều lệ quy định 35 em / lớp). Đặc biệt có một số trường nằm trong nội ô thành phố thì số học sinh bình quân trên một lớp rất cao trên 40 em / lớp (trường Phùng Ngọc Liêm, Kim Đồng, Lê Văn Tám và Phường 7); ngược lại có những trường có nhiều điểm lẻ (3 điểm) hoặc vùng ven phường có số học sinh ít so với Điều lệ trường học, thậm chí có những điểm lẻ chỉ có 15 em / lớp ghép do các em học lớp 1 quá nhỏ và đường xa khi đến điểm trung tâm. Việc này đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục của các trường và của toàn thành phố, cũng là một trong những nguyên nhân tạo nên sự chênh lệch về chất lượng giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh giữa điểm trung tâm và điểm lẻ, giữa trường nội ô và trường vùng ven, vùng xã là rất lớn. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Đến nay, Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố Bạc Liêu chỉ có 03 trường đạt chuẩn Quốc gia. Trong đó, trường tiểu học Thuận Hòa đạt vào năm 2016 đang kiểm tra, bổ sung các tiêu chí để đề nghị công nhận lại, trường tiểu học Lê Văn Tám được công nhận vào năm 2025 và 01 trường đang đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu kiểm tra công nhận mới. So với các huyện, thành phố Bạc Liêu có số trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia ít nhất nguyên nhân là do thiếu về diện tích đất, số học sinh bình quân trên một lớp quá cao so với quy định của Điều lệ trường tiểu học.

Riêng đối với những trường có nhiều học sinh dân tộc Khmer (địa bàn xã Vĩnh Trạch và Vĩnh Trạch Đông) việc huy động các em đúng độ tuổi đến trường, vận động các em bỏ học trở lại lớp, tình trạng lưu ban, bỏ học gặp rất nhiều khó khăn. Đây là một thử thách lớn đối với các giáo viên công tác nơi này vì phần lớn các em vào học lớp 1 chưa nói rành tiếng Việt, không hiểu nghĩa chữ Việt cùng với hoàn cảnh gia đình khó khăn phải thường xuyên lao động phụ giúp gia đình nên việc học hành không được quan tâm. Một số học sinh lợi dụng chính sách ưu đãi đối với người dân tộc của Nhà nước và địa phương đã đem việc học ra “ mặc cả”… ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường, đến trình độ dân trí của địa phương.

  • Chất lượng giáo dục tiểu học

Được sự phối hợp chặt chẽ và khá đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đặc biệt là Hội đồng trường, Ban đại diện cha mẹ học sinh; sự kết hợp tốt các phong trào hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động xã hội được tổ chức thường xuyên, có chất lượng; sự kết hợp giáo dục văn hóa với giáo dục đạo đức, cách sống, tình yêu quê hương đất nước, dân tộc; thực hiện tốt việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong mỗi nhà trường từ đó học sinh ngoan hơn, lễ phép hơn, chăm học hơn và ý thức công dân ngày càng tốt hơn.

Qua bảng số 4, kết quả hạnh kiểm việc thực hiện đầy đủ tăng lên theo từng năm từ 99,97% (2022 -2023), lên 99,98% (2023- 2024) và 100% (2024 – 2025), tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm thực hiện chưa đầy đủ ngày càng giảm và không còn nữa.

Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục của cả nước cũng như của tỉnh Bạc Liêu, Nghị quyết số 04/2019/NQ – TU của Ban chấp hành Đảng bộ thị xã Bạc Liêu về giải quyết những vấn đề bức xúc của Giáo dục – Đào tạo; Nghị quyết số 02/2023/NQ-TU của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Bạc Liêu về phát triển toàn diện lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo trên địa thành phố Bạc Liêu, giai đoạn 2024 – 2028 đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục tiểu học thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, đổi mới cách đánh giá học sinh, tăng cường sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học, thí điểm và nhân rộng việc dạy học tiếng Anh, dạy tin học, dạy các môn tự chọn và dạy học 2 buổi / ngày…

Kết quả trong 3 năm học 2022 – 2023, 2023 – 2024 và 2024 – 2025, chất lượng học tập của các em có nhiều tiến bộ, số học sinh có học lực trung bình trở lên tăng hàng năm từ 93% lên 94,37% và đến 96,29%. Mặc dù tỷ lệ tăng khá khiêm tốn nhưng mang tính ổn định và bền vững; số học sinh xếp loại giỏi tăng từ 31,24% năm học 2022 – 2023 lên 37,52% năm học 2023 – 2024 và 38,94% năm học 2024 – 2025 nguyên nhân là do các trường tăng cường đầu tư cho chất lượng mũi nhọn việc bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu được đặc biệt quan tâm và tiến hành thường xuyên. Song, vẫn không quên việc đổi mới phương pháp dạy học, phụ đạo học sinh yếu kém nên số học sinh lên lớp cũng tăng theo hàng năm. Bên cạnh đó, số lượng học sinh lớp 5 đạt giải học sinh năng khiếu vòng thành phố, vòng tỉnh ngày càng tăng cao [xem bảng 2]

Tỷ lệ học sinh lên lớp, hiệu quả đào tạo và học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học hằng năm đều tăng lên rõ rệt năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học ngày càng giảm dần [xem bảng 3]

  • Biểu đồ 2.1 Kết quả học lực của học sinh tiểu học từ năm học 2022 – 2023 đến năm học 2024 – 2025

Chất lượng giáo dục trong 3 năm qua đã có sự chuyển biến rõ rệt ở các trường, một số trường điểm đã xây dựng được thương hiệu và thu hút sự quan tâm của cha mẹ học sinh, sinh ra hiện tượng quá tải trên mỗi lớp học – đặc biệt là những lớp bán trú. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục chưa đồng đều và có sự chênh lệch khá lớn giữa các trường trong phường với phường, phường với xã. Hiệu quả giáo dục ở một vài trường còn thấp, tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học vẫn còn cao chủ yếu là ở vùng xã có đông đồng bào dân tộc Khmer, các trường vùng ven có đời sống kinh tế khó khăn, cha mẹ ít quan tâm và việc học hành khoán trắng cho nhà trường. Công tác phổ cập giáo dục tuy có giữ vững nhưng một vài phường, xã tỷ lệ học sinh đúng tuổi đến trường chưa bền vững, cần phải có nhiều biện pháp thích hợp để duy trì sĩ số học sinh và vận động các em bỏ học trở lại lớp.

2.2.3. Thực trạng quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học và nguyên nhân chủ yếu Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

  • Xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học

Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò 34 cán bộ quản lý giáo dục cấp phòng và trường về công tác xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học [phụ lục 8]. Kết quả cho thấy, đa số các tiêu chí liên quan đến kế hoạch đều đạt điểm thấp. Điều đó chứng tỏ việc xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học đang gặp những bất cập. Kế hoạch xây dựng không mang tính lâu dài, thiếu tính khả thi, chưa sát với tình hình thực tế của địa phương.

Khi trao đổi trực tiếp với một số cán bộ quản lý trường học thì đều được nhận định chung: việc xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thiếu tầm nhìn chiến lược, chỉ giải quyết những vấn đề nhất thời, chưa chú ý đến hiệu quả lâu dài. Có thể minh chứng qua một số vấn đề:

Năm học 2015 – 2016 trường Trung học sư phạm (sau nâng cấp thành trường Cao đẳng sư phạm và hiện nay là trường Đại học Bạc Liêu) đào tạo ra 250 giáo viên tiểu học hệ 12+2, nhưng tại thời điểm đó nhu cầu giáo viên tiểu học của cả tỉnh chi cần 40 giáo viên tiểu học (nhu cầu của thành phố Bạc Liêu trong năm học đó chỉ cần 6 giáo viên) nên nhà trường phải liên kết với trường Cao đẳng sư phạm Đồng Tháp mở lớp chuyên tu kiến thức mới về nhạc, mỹ thuật thậm chí cả kiến thức của giáo dục mầm non để chuyển các giáo viên này về dạy các lớp theo nhu cầu của địa phương. Số giáo viên được đào tạo ra trường sẽ khó có khả năng xin được vào ngành. Đến năm học 2023 – 2024, trường Đại học Bạc Liêu mới đào tạo giáo viên tiểu học cho tỉnh. Trong thời gian dài Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố Bạc Liêu thiếu giáo viên, nguồn giáo viên được cung cấp chủ yếu dựa vào sự thuyên chuyển của giáo viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ, chất lượng giáo viên không cao. Hiện tại, giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu đang “già hóa” và chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu .

Như vậy, đầu tiên phải đề cập đến đó là công tác dự báo, lập kế hoạch phát triển giáo viên của nhà trường sư phạm chưa tốt, không khả thi, tính chính xác chưa cao. Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố Bạc Liêu chưa chủ động trong việc đào tạo nguồn giáo viên kế thừa dựa trên dự báo “già hóa” của đội ngũ giáo viên hiện có như đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh đào tạo nguồn giáo viên, liên kết với các trường sư phạm trong khu vực gởi đào tạo giáo viên theo địa chỉ. Năm 2019, thành phố Bạc Liêu xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục giai đoạn 2019 – 2023, trong đó chú ý đến nhu cầu về nguồn nhân lực cho các bậc học (đặc biệt là tiểu học), việc nâng chuẩn cho giáo viên nhưng chỉ chung chung, thiếu tính thuyết phục do thiếu nguồn giáo viên có trình độ năng lực cao, đào tạo chính quy. Hiện nay, thành phố Bạc Liêu đã xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục từ nay đến năm 2028 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó có giáo dục tiểu học. Sự phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan trong hoạch định chiến lược trên còn chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ (vì theo điều tra của Sở Giáo dục thì thành phố Bạc Liêu thừa giáo viên nhưng trên thực tế các trường lại thiếu giáo viên tiểu học…). Đội ngũ làm kế hoạch thay đổi, trình độ đáp ứng yêu cầu làm công tác này kém hiệu quả. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Có thể nói, công tác xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên tiểu học nói riêng của thành phố Bạc Liêu còn nhiều hạn chế, khó khăn. Các cơ quan quản lý còn thiếu tầm nhìn chiến lược trong việc đào tạo, tuyển dụng đội ngũ giáo viên. Điều đó thể hiện việc tuyển dụng giáo viên còn chấp vá, theo nhu cầu nhất thời.

  • Quản lý công tác tuyển chọn giáo viên tiểu học

Từ tổng hợp kết quả điều tra cho thấy năm học 2025 – 1013 bình quân số giáo viên trên lớp là 1,24 hệ số này vượt so với quy định (hệ số 1,2). Thực tế, số giáo viên không cân đối giữa các trường. Những trường vùng ven phường có hệ số giáo viên rất cao từ 1,3 trở lên chiếm 23,53%. Đối với những trường dạy 2 buổi/ ngày và có lớp bán trú thì hệ số này không đảm bảo theo quy định (là 1,5). Phần lớn cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học đều khẳng định nhu cầu giáo dục tiểu học của thành phố Bạc Liêu cần tuyển thêm giáo viên chuẩn và trên chuẩn chính qui. Đây là đội ngũ nòng cốt, yếu tố đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của thành phố trong giai đoạn mới.

Công tác tuyển dụng giáo viên tiểu học bổ sung vào biên chế đã được thực hiện theo đúng quy trình. Hội đồng xét tuyển giáo viên của thành phố được thành lập và Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố. Tuy nhiên, trong 3 năm trở lại đây, số giáo viên tiểu học được tuyển vào biên chế rất ít. Lý do của tình trạng trên là không có nguồn giáo viên do trường Đại học Bạc Liêu không chiêu sinh đào tạo. Tình trạng thiếu giáo viên vẫn tiếp tục diễn ra ở một số trường trên địa bàn thành phố.

  • Quản lý công tác sử dụng giáo viên tiểu học

Việc sử dụng đội ngũ giáo viên tiểu học 3 năm gần đây đã có bước chuyển biến tốt hơn: công tác điều động, luân chuyển giáo viên theo qui chế đã và đang thực hiện khá tốt. Công tác sắp xếp nhân sự, điều chuyển giáo viên yếu kém sang làm công tác khác hoặc động viên nghỉ hưởng chính sách được tiến hành. Tuy vậy, công tác này vẫn còn bộc lộ một số yếu kém nhất định, việc thực hiện qui chế luân chuyển vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao. Cụ thể: Công tác tuyên truyền vận động được thực hiện rộng khắp và đến từng giáo viên đạt 2,33/3 điểm, nhưng việc thực hiện luân chuyển chưa phù hợp với tình hình thực tế của từng trường, nhất là những trường vùng xã đạt 1,61/3 điểm (thường thiếu nguồn giáo viên cốt cán do luân chuyển về các trường nội ô vì hầu hết giáo viên nhà ở nội ô); tính công bằng trong luân chuyển chưa được thực hiện nghiêm túc.

Việc phân công, sử dụng đội ngũ giáo viên tiểu học trong các nhà trường cũng được thể hiện phần nào thông qua số liệu như tính hợp lý, phát huy được tính tích cực của giáo viên, tính công bằng (đạt 1,67/3 điểm) và tính hiệu quả (đạt 1,99/3 điểm). Cường độ lao động của giáo viên tiểu học rất cao, phải dạy đủ tất cả các môn, mặc dù một số môn chuyên như nhạc, mỹ thuật, thể dục đã có giáo viên bộ môn chuyên nhưng hiện nay việc phân công, sử dụng giáo viên tiểu học chưa hiệu quả, chất lượng công việc chưa cao, thời gian lớn giáo viên dành cho soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp ít (mặc dù có quy định ưu đãi cho một số đối tượng giáo viên được miễn soạn giáo án), giáo viên ít tham khảo thêm tài liệu, sách báo. Công tác quản lý giáo viên tiểu học ở một vài trường tiểu học còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong đánh giá thực chất tay nghề giáo viên, còn bao che những giáo viên yếu kém về phẩm chất và năng lực. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

  • Quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học

Trong thời gian qua, trình độ giáo viên tiểu học được nâng lên. Trường Đại học Bạc Liêu, Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh đã liên kết với các trường đại học trong khu vực và trong nước như Đại học Đồng Tháp, Đại học Cần Thơ, Đại học Huế, Đại học Sư phạm Hà Nội đã mở nhiều lớp tại chức, từ xa để tạo điều kiện cho giáo viên có thể tham gia học tập với điều kiện thuận lợi nhất. Kinh phí cho các lớp này chủ yếu là do học viên tự đóng góp.

Từ kết quả điều tra cho thấy công tác bồi dưỡng nâng chuẩn cho giáo viên tiểu học thời gian qua vừa bộc lộ một số hạn chế [ phụ lục 11]. Nội dung bồi dưỡng được đánh giá 1,55/3 điểm, hình thức bồi dưỡng 1,25/3 điểm, phương pháp bồi dưỡng 1,23/3 điểm, đội ngũ giảng viên 1,21/3 điểm. Như vậy, cho thấy công tác bồi dưỡng giáo viên hiện nay chất lượng đang ở mức thấp. Nội dung bồi dưỡng ít thiết thực, phương pháp và đội ngũ bồi dưỡng đơn điệu, thiếu sáng tạo và gây ra lãng phí, tốn kém cho ngân sách và cá nhân.

Với 12,52% dân số người dân tộc Khmer nhưng chỉ có 30 giáo viên là người dân tộc, còn lại là giáo viên không biết tiếng Khmer trong khi số học sinh dân tộc ở các trường tiểu học Thuận Hòa, Thuận Hòa 1, Thuận Hòa 2, Thuận Hòa 4 khá đông, ngôn ngữ thầy trò bất đồng, hiệu quả giờ dạy thấp.

Công tác giáo dục, nâng cao nhận thức của giáo viên về tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn chưa đi vào chiều sâu, thiếu sự quản lý thống nhất, chủ yếu mang tính tự phát. Phong trào chuyên môn của các nhà trường đang thiếu những nhân tố nòng cốt đó là những giáo viên có tâm huyết, có trình độ chuyên môn vững vàng. Kế hoạch bồi dưỡng nâng chuẩn thiếu thống nhất nên đã gây không ít khó khăn cho các trường trong việc phân công giáo viên dạy thay cho giáo viên đi học.

Qua khảo sát bằng phiếu hỏi cho thấy nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học là rất lớn. Việc cần thiết phải bồi dưỡng phương pháp dạy học mới theo hướng tích hợp, hướng rèn kỹ năng sống, phương pháp sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học [phụ lục 12].

Về hình thức đào tạo, bồi dưỡng tại bảng 12 thì hiệu quả của công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên trên địa bàn thành phố Bạc Liêu chưa cao, trong khi lượng kinh phí cho bồi dưỡng thường xuyên lại rất lớn. Việc nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ được giáo viên ngày càng quan tâm. Do thành phố Bạc Liêu được hưởng lợi từ các dự án SPED (dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn), dự án SEQAP (dự án Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học), dự án VNEN (dự án mô hình trường học mới Việt Nam) nên đội ngũ giáo viên tiểu học có cơ hội được học hỏi, nghiên cứu kỹ chương trình, phương pháp dạy học mới để nâng cao chất lượng giáo dục của từng trường cụ thể.

  • Quản lý việc thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên tiểu học

Thống kê ý kiến điều tra cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học về chế độ chính sách đối với giáo viên [phụ lục 14], kết quả như sau: Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Việc thực hiện nghỉ theo Nghị định 132 của giáo viên tiểu học thành phố Bạc Liêu rất hạn chế (chỉ có 9 trường hợp) bởi do sự ràng buộc qui định của Nghị định và thực tiễn của từng cá nhân nên số lượng giáo viên yếu, năng lực hạn chế, sức khỏe không đảm bảo cho công tác giảng dạy.

Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu đã ban hành nhiều văn bản khuyến khích việc tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên. Do thành phố tỉnh lỵ nên việc tuyển chọn giáo viên về công tác phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và thành phố nên việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của mỗi cá nhân giáo viên mang tính tự giác cao. Khoảng cách chênh lệch về chất lượng giữa các trường cũng được thu hẹp dần.

Bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế như nguồn nhân lực cho việc đào tạo giáo viên tiểu học còn ít, chưa có chính sách phù hợp cho giáo viên công tác vùng xã. Không được cấp kinh phí xây nhà công vụ cho giáo viên, phần lớn giáo viên dạy vùng xã đều có nhà trong nội ô, đi lại xa. Một số trường học dạy 2 buổi/ ngày, phụ đạo học sinh yếu kém trái buổi học chính nên khó khăn trong việc đi về.

Công tác thi đua khen thưởng đối với giáo viên còn nặng tính hình thức, chưa mang tính kịp thời, chưa kích thích được phong trào thi đua.

  • Tính hiệu quả việc phối hợp trong quản lý chất lượng giáo viên tiểu học

Qua bảng thống kê kết quả điều tra cho thấy sự chỉ đạo, lãnh đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu, của các phòng ban trực thuộc Sở đến chất lượng giáo viên tiểu học trong toàn tỉnh và trên địa bàn thành phố khá chặt chẽ, sâu sát. Tuy nhiên, trong từng lúc chưa tạo sự công bằng, thiếu khách quan trong đánh giá giáo dục tiểu học thành phố với các huyện khác trong tỉnh [phụ lục 15].

Ủy ban nhân dân các cấp và các ban ngành đoàn thể chỉ đạo, phối hợp với các đơn vị trường học trong xây dựng cơ bản, trong giáo dục học sinh cá biệt, tạo mọi điều kiện cho học sinh đến tuổi đều phải đến trường. Nhưng đôi khi lại khoán trắng cho Phòng Giáo dục – Đào tạo hoặc nhà trường, không tạo động lực cho ngành Giáo dục phát triển đáp ứng nhu cầu của thành phố tỉnh lỵ.

Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường đã hỗ trợ tích cực cho phong trào thi đua dạy tốt – học tốt đạt hiệu quả cao. Song, vẫn chưa phát huy hết năng lực của từng tổ chức, đoàn thể trong việc hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo viên tiểu học của từng trường. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Thực trạng quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu bên cạnh những ưu điểm còn nhiều hạn chế, bất cập đòi hỏi các cấp quản lý nghiên cứu giải quyết. Vẫn còn một vài cán bộ quản lý chủ quan, thờ ơ với công việc, chưa nhiệt tình trong công tác, không có tầm nhìn chiến lược cho đơn vị nên việc xây dựng mục tiêu nhà trường, việc quản lý chất lượng giáo viên không hiệu quả. Việc xác định và thống nhất nhận thức về năng lực giáo viên, trình độ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý lớp học, nhân cách sư phạm của người giáo viên trong nhà trường chưa cao. Công tác tự học, tự bồi dưỡng của cán bộ quản lý còn hạn chế, chiếu lệ. Tư tưởng xuê xoa, bao che, đánh giá chưa đúng thực chất, thiếu chính xác trình độ năng lực giáo viên vẫn còn. Khả năng vận dụng công nghệ thông tin và tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy không nhiều. Đôi khi sử dụng biện pháp quản lý còn quyền hành, thiếu tính động viên, khuyến khích; chưa phát huy, bồi dưỡng nguồn giáo viên giỏi cho trường. Sự thống nhất trong nhận thức của các cấp lãnh đạo chính quyền, ngành, các đoàn thể, xã hội về quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học đôi lúc chưa cao. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở cả hai tuyến: nhà trường và Phòng Giáo dục thực sự đang thiếu nhiều những con người toàn năng, vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa thành thạo kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà trường, nghiệp vụ tổ chức sư phạm, vừa thực hiện tốt sự liên nhân cách.

Giáo viên cũng còn hạn chế trong việc vận dụng những kiến thức truyền thụ lại cho học sinh theo phương pháp mới, chương trình mới, sử dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng, trong việc giáo dục đạo đức học sinh, rèn kỹ năng sống, cung cấp kiến thức phổ thông cho từng đối tượng học sinh. Ngoài ra, giáo viên còn bị ảnh hưởng bởi trình độ, năng lực, tuổi tác trong việc vận dụng công nghệ thông tin. Mức độ tiếp thu và trưởng thành của đội ngũ giáo viên tiểu học thông qua những hoạt động còn hạn chế.

  • Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học – Về số lượng giáo viên tiểu học

Năm học 2024 – 2025, đội ngũ giáo viên thành phố Bạc Liêu có 480 người bao gồm cán bộ quản lý, Tổng phụ trách Đội, chuyên trách phổ cập giáo dục và giáo viên. Trong đó giáo viên trực tiếp đứng lớp là 443 người (gồm giáo viên dạy và chủ nhiệm lớp: 365; giáo viên bộ môn nhạc: 22; mỹ thuật: 21; thể dục: 05; tiếng Anh: 10). Bình quân giáo viên/lớp là 1,24 đáp ứng cho việc dạy 1 buổi/ngày. Tuy nhiên, đối với những trường lớn trong nội ô, trường dạy 2 buổi/ ngày và dạy bán trú thì số giáo viên còn thiếu theo quy định.

  • Cơ cấu thành phần giáo viên tiểu học

Số giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu là 443 người (trong đó: nam: 101 người, chiếm 22,8%, nữ: 342 người, chiếm 77,2%). Do số lượng giáo viên nữ chiếm tỷ lệ cao nên khó khăn trong điều động, luân chuyển giáo viên đến vùng xã, việc giải quyết nghỉ hộ sản, khả năng tự phấn đấu vươn lên của bản thân, một số hoạt động của nhà trường…

Số giáo viên dân tộc Khmer là 30 người, chiếm 6,8% trong tổng số giáo viên. Hầu hết số giáo viên này đều lớn tuổi, đào tạo theo công đoạn, tại chức nên trình độ chuyên môn yếu, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế, việc đào tạo nguồn giáo viên người dân tộc cho địa phương chưa được chú trọng.

Đội ngũ giáo viên tiểu học thành phố Bạc Liêu năm học 2025 – 2026 có độ tuổi trung bình khá cao [phụ lục 6]. Độ tuổi này sẽ tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo. Nguyên nhân là do trong những năm tới, nhu cầu giáo viên cần khoảng 15 người/năm chủ yếu là nghỉ hưu, nghỉ việc, thuyên chuyển và nghỉ theo chính sách do sắp xếp tổ chức, cũng như bổ sung cho trường dạy bán trú, dạy 2 buổi/ngày. Cụ thể: 50 tuổi trở lên: 37 người; 40 đến 50 tuổi: 163 người; 30 đến 40 tuổi: 209 người; dưới 30 tuổi: 34 người. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Hiện tại, đội ngũ giáo viên của thành phố Bạc Liêu đang bị “già hóa” do nhiều năm liền trường Cao đẳng sư phạm Bạc Liêu nay đã được nâng cấp lên thành trường Đại học Bạc Liêu không đào tạo giáo viên dạy tiểu học. Số giáo viên hiện có được nhận về từ nơi khác do hoàn cảnh gia đình, do lớn tuổi… đã làm cho việc nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ gặp nhiều khó khăn.

  • Chất lượng giáo viên tiểu học

Trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên tiểu học thành phố Bạc Liêu có 100% đạt chuẩn, trong đó trên chuẩn chiếm 59,82%. Tuy nhiên, số giáo viên tốt nghiệp sư phạm chính quy rất ít, cụ thể như Đại học Sư phạm chỉ có 01 người (chiếm 0,23%), Cao đẳng sư phạm có 17 người (chiếm 3,84%), Trung học sư phạm 12+2 có 42 người (chiếm 9,48%). Số Đại học, Cao đẳng, Trung học còn lại chủ yếu qua hình thức đào tạo từ xa, tại chức, công đoạn. Một số giáo viên có chất lượng giảng dạy chưa thật sự tương xứng với bằng cấp. Giáo viên có trình độ 9+3 vẫn còn chiếm tỷ lệ không nhỏ (15,7%) đã ảnh hưởng lớn đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhất là việc sử dụng công nghệ thông tin trong việc soạn giảng.

Số giáo viên có trình độ trên chuẩn phần lớn tập trung ở những vùng nội ô, những trường điểm như: trường Kim Đồng, trường Phùng Ngọc Liêm, trường Lê Văn Tám. Các trường điểm mặc dù thiếu diện tích đất để đạt chuẩn quốc gia nhưng Phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố vẫn điều động giáo viên chuẩn cho các trường này để xây dựng trường chất lượng cao. Một nguyên nhân nữa là bản thân mỗi giáo viên tự ý thức về việc nâng cao trình độ của mình qua việc xếp lại ngạch bậc lương gắn liền với trình độ đào tạo, còn một số giáo viên không tự học là do lớn tuổi và hoàn cảnh gia đình, một số khác thì tự bằng lòng với trình độ của mình.

Về trình độ ngoại ngữ, số giáo viên có các loại chứng chỉ A,B,C và đại học chiếm tỷ lệ còn khiêm tốn (Đại học: 1,13%; các loại chứng chỉ: 27,31%). Về trình độ tin học, có trên 50% giáo viên biết sử dụng thành thạo máy vi tính, soạn giáo án và sử dụng trên tiết dạy.

Về chất lượng chuyên môn của giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Bạc Liêu, đa số giáo viên được đào tạo cơ bản và được bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ, theo yêu cầu của các dự án (Chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục trường học gọi tắt là dự án SEQAP; dự án mô hình trường học mới Việt Nam gọi tắt là dự án GPE-VNEN) để giáo viên cập nhật thêm kiến thức nên họ có kỹ năng chuẩn bị bài giảng và thực hiện các bài giảng trên lớp, có kỹ năng tổ chức giờ dạy trên lớp, nắm vững về đổi mới phương pháp giảng dạy. Hầu hết giáo viên có thái độ nghề nghiệp tốt, yêu thích gắn bó với nghề, hiểu biết về xã hội, có kiến thức phổ thông và kiến thức tâm lý, giáo dục học sinh tốt. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

Từ tổng hợp kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học thành phố Bạc Liêu của 3 năm học 2022 – 2023, 2023 – 2024 và 2024 – 2025 cho thấy chất lượng giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu ngày càng được nâng cao qua từng năm học. Tuy nhiên, ở lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống vẫn còn một vài giáo viên xếp loại trung bình và kém. Còn có giáo viên chưa thật sự làm gương sáng cho học sinh noi theo, chưa chuẩn mực mô phạm trong giao tiếp với đồng nghiệp, với học sinh, cha mẹ học sinh và quần chúng nhân dân. Một vài giáo viên chưa thực hiện tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.

Biểu đồ 2.2: Đánh giá về chuẩn giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu từ năm học 2022 – 2023 đến năm học 2024 – 2025

Về kiến thức phổ thông, kiến thức tâm lý được giáo viên quan tâm đầu tư nên kết quả hằng năm có tăng lên, số giáo viên đạt xuất sắc tương đối cao nhưng số giáo viên đạt khá và trung bình vẫn còn nhiều. Như vậy, chất lượng chuyên môn của giáo viên tiểu học thiếu bền vững. Một số ít giáo viên trình độ chuyên môn hạn chế, không phát huy hiệu quả việc áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng còn hạn chế, thiếu sáng tạo, ít đầu tư cho chuyên môn, chưa sử dụng tốt đồ dùng dạy học.

Biểu đồ 2.3: Đánh giá về chuẩn giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu từ năm học 2022 – 2023 đến năm học 2024 – 2025

Về kỹ năng sư phạm, tỷ lệ giáo viên đạt xuất sắc tương đối cao nhưng số giáo viên đạt khá và trung bình vẫn còn qua các năm. Cho thấy, chất lượng giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu còn nhiều hạn chế, bất cập. Một bộ phận giáo viên với nhiều lý do khách quan và chủ quan đã không theo kịp yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay. Việc dạy học theo hướng tích cực còn nặng về hình thức, kém hiệu quả. Giáo viên chưa có biện pháp thích hợp để phụ đạo học sinh yếu kém, chưa tạo sinh khí phấn khởi để các em thích học hơn.

Biểu đồ 2.4: Đánh giá về chuẩn giáo viên tiểu học của thành phố Bạc Liêu từ năm học 2022 – 2023 đến năm học 2024 – 2025

Qua phân tích các mặt nêu trên cho thấy thực trạng giáo viên tiểu học thành phố Bạc Liêu hiện nay có những ưu điểm và hạn chế như sau:

  • Về ưu điểm

Phần lớn giáo viên có phẩm chất chính trị tốt, tận tụy với công việc, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, nếp sống giản dị, lành mạnh. Nhiều giáo viên công tác lâu năm có kinh nghiệm, bản lĩnh, có ý thức gương mẫu và làm tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

Đại đa số giáo viên phát huy phẩm chất, năng lực, thể hiện tốt nghiệp vụ sư phạm được đào tạo, có trình độ chuyên môn vững vàng, có tâm huyết và đặc biệt có ý thức tự học, tự rèn luyện về mọi mặt.

Nguyên nhân là do công tác sử dụng giáo viên tiểu học đã nâng dần hiệu quả. Phong trào nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm được nhà trường và bản thân giáo viên đặc biệt quan tâm.

Công tác quy hoạch, tuyển chọn, điều động, luân chuyển giáo viên của Phòng Giáo dục – Đào tạo được thực hiện đúng quy định, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục của thành phố; trong đó đặc biệt chú ý đến chất lượng giáo dục mũi nhọn, giáo dục đại trà của thành phố, đến trường đạt chuẩn Quốc gia, hỗ trợ các trường chất lượng còn yếu, bổ sung những trường chưa đáp ứng nhu cầu giáo viên. Công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của nhà trường, của giáo viên được thực hiện có chất lượng, hiệu quả và tự giác hơn. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

  • Về hạn chế

Với độ tuổi trung bình tương đối cao và đang có xu hướng tăng lên sẽ khó khăn trong việc tuyển giáo viên trẻ được đào tạo chính quy, có năng lực cống hiến cho bậc tiểu học. Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn cho số giáo viên lớn tuổi gặp nhiều khó khăn và hiệu quả không cao.

Một số giáo viên chưa nhạy bén, thiếu sáng tạo trong công tác cũng như trong giảng dạy, chưa đầu tư nghiên cứu sâu bài dạy trước khi lên lớp, chưa vận dụng tốt việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, chủ yếu dạy học truyền thống, không sử dụng đồ dùng dạy học khi lên lớp. Một số giáo viên tiểu học sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn và thậm chí không sử dụng được máy vi tính; trình độ ngoại ngữ của giáo viên tiểu học còn hạn chế. Cơ cấu bố trí giáo viên chưa thật hợp lý ở một số trường và ngay cả trong nội bộ nhà trường.

Nguyên nhân của những hạn chế là do việc chuẩn bị đội ngũ giáo viên bậc tiểu học có chất lượng đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới được quan tâm chú trọng trong thời gian gần đây cho thấy việc dự báo, quy hoạch đã được đề cập song còn chậm và lúng túng, chưa bắt kịp nhịp độ phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Công tác tuyển dụng giáo viên thường giải quyết tình thế, chưa thực sự có sự đón đầu do thiếu nguồn nhân lực (nhiều năm liền trường sư phạm không đào tạo giáo viên tiểu học cho tỉnh).

Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học có kế hoạch, thực hiện thường xuyên nhưng không theo kịp những yêu cầu trong giai đoạn mới. Mặt khác, điều kiện cơ sở vật chất dành cho đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ còn hạn chế.

Công tác thanh tra, kiểm tra và các biện pháp xử lý khắc phục những hạn chế của đội ngũ giáo viên chưa kịp thời. Chế độ khen thưởng động viên giáo viên chưa được coi trọng và chưa tương xứng với công lao của đội ngũ giáo viên. Do đặc trưng là thành phố tỉnh lỵ, ngành Giáo dục – Đào tạo thành phố Bạc Liêu bị sức ép khá lớn về chất lượng giảng dạy, về qui mô trường lớp và trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm của giáo viên tiểu học. Trước những yếu tố khách quan trên, ngành Giáo dục thành phố Bạc Liêu gặp những khó khăn như đội ngũ giáo viên tiếp cận với công nghệ thông tin chậm, hiệu quả không cao; khoảng cách về chất lượng của giáo viên vùng xã, vùng ven với vùng nội ô sẽ tiếp tục xảy ra; tình trạng giáo viên thiếu do nghỉ hưu nhiều, nhu cầu học sinh phát triển, dạy học 2 buổi/ngày, nguồn nhân lực chính quy cung cấp cho các trường thì không có gây nên tình trạng mất cân đối về chất lượng giáo viên.

Quản lý chất lượng giáo viên tiểu học ở thành phố Bạc Liêu chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố cơ bản như: đảm bảo chất lượng giáo dục và quản lý giáo dục; đổi mới giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học là một trong những nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển nguồn nhân lực của thành phố nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục; nhiệm vụ giáo viên tiểu học có sự phát triển mới tác động đến phát triển đội ngũ, nâng cao chất lượng giáo dục; môi trường công tác, học tập, rèn luyện thường xuyên tác động đến chất lượng đội ngũ giáo viên; động cơ, trách nhiệm trong tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện và trong thực hiện chức trách nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đến kết quả quản lý chất lượng giáo viên. Đây là cơ sở thực tiễn cho chúng tôi đề xuất một số biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Bạc Liêu.

Thực trạng công tác quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Bạc Liêu bên cạnh những ưu điểm thì còn rất nhiều bất hợp lý đòi hỏi các cấp quản lý nghiên cứu giải quyết. Công tác xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục tiểu học trong đó có phát triển giáo viên tiểu học còn chậm, thiếu tầm nhìn xa. Tình trạng yếu kém, chấp vá, hiệu quả thấp của việc đào tạo giáo viên tiểu học diễn ra nhiều năm liền. Công tác đào tạo và tuyển dụng giáo viên tiểu học chất lượng cao chưa được chú trọng. Cơ cấu giáo viên chưa cân đối, tình trạng thiếu giáo viên vẫn còn tiếp tục xảy ra ở một số trường vùng xã, vùng ven mà chưa có giải pháp thiết thực. Công tác sử dụng đội ngũ giáo viên còn kém hiệu quả. Phong trào tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên tiểu học còn mang tính tự phát, chưa có chế độ hỗ trợ, khuyến khích hiệu quả. Một số chế độ, chính sách đối với giáo viên còn chậm, chưa thật sự công bằng cần được cải tiến. Luận văn: Thực tiễn quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993