Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế – xã hội và giáo dục của huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội Huyện Ba Bể
- Địa bàn Huyện Ba Bể là Huyện miện núi, có điều kiện kinh tế rất khó khăn
- Tổng diện tích (ha): 412
- Dân số toàn huyện khoảng 000 người với 10.025 hộ dân, bao gồm 5 dân tộc chính sinh sống trên địa bàn là: Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng. Mật độ dân số trung bình 69 người/km2 . Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 0,8%.
2.1.2. Khái quát về giáo dục huyện Ba Bể Tỉnh Bắc Kạn
Trong nhiều năm qua quy mô giáo dục của huyện tiếp tục ổn định và phát triển, chất lượng được giữ vựng và từng bước phát triển. Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường của các lớp đầu cấp tăng cao, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình và tốt nghiệp các lớp cuối cấp tăng, bên cạnh đó có các học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp Tỉnh hàng năm.
Giáo dục trong toàn Huyện thực hiện tốt các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thông qua các diễn đàn, lồng ghép vào các chủ đề trong chương trình giảng dạy và gắn với cuộc vận động xây dựng nhà trường văn hóa – nhà giáo mẫu mực – học sinh thanh lịch” và “Dân chủ , kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”….
Tiếp tục thực hiện công tác quản lý với phương châm “Kỷ cương nghiêm, chất lượng thực, hiệu quả cao”. Từng cấp học đã có nhiều giải pháp trong chỉ đạo, điều hành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
2.2. Thực trạng phát triển của các trường THPT huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
2.2.1. Quy mô phát triển trường lớp
Trong hệ thống giáo dục THPT, huyện Ba Bể có 2 trường THPT hệ công lập đó là trường THPT Ba Bể thành lập từ năm 1966, trường THPT Quảng Khê thành lập từ năm 2015.
Năm học 2026 – 2027 với quy mô phát triển là:
- Tổng số lớp: 31; trong đó khối 10 gồm 10; khối 11 gồm 11 lớp và lớp 12 gồm 10 lớp.
- Tổng số HS: 1145.
Tháng 11 năm 1966 theo đề nghị của Uỷ ban hành chính huyện Ba Bể và Ty Giáo dục tỉnh, Uỷ ban hành chính tỉnh Bắc Kạn ra quyết định thành lập trường cấp 3 Cợ Rã (tiền thân của Trường THPT Ba Bể ngày nay). Ngày đầu mới thành lập, trường chỉ có một lớp 8 với 34 học sinh và 5 thầy giáo. Thầy Hiệu trưởng đầu tiên của trường là cố thầy giáo Dương Xuân Nghiêm. Khi ấy, do chưa có trường lớp riêng nên phải học nhờ địa điểm trường cấp 2 Chợ Rã tại Cốc Pục – Cầu Toòng – Thượng Giáo Trường THPT Quảng Khê được thành lập năm 2015, bao gồm hai cấp học THPT và THCS. Bắt đầu từ học kì 2 năm học 2020 – 2021 Trường chuyển đến cơ sở mới với quy mô lớp học khang trang và đầy đủ hơn đáp ứng cơ bản nguyện vọng học tập của con em nhân dân địa phương.
Cả hai Trường liên tục đạt danh hiệu tập thể lao động tiên tiến, chi bộ Đảng, Công đoàn luôn được công nhận là tổ chức cơ sở vững mạnh, đơn vị tiên tiến về thể dục thể thao.
Hàng năm hai trường trên địa bàn Huyện Ba Bể tham gia các cuộc thi học sinh giỏi các môn văn hóa, học sinh giỏi giải toán trên máy tính cầm tay cấp Tỉnh đều có giải, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp luôn đạt trên 90%. Trong hội thi giáo viên dạy giỏi hằng năm hai trường đều đạt tỉ lệ giải cao so với mặt bằng chung của Tỉnh.
Năm học 2025 – 2026 em Nguyễn Quốc Khánh – Trường THPT Ba Bể đạt giải ba quốc gia trong cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các bài toán thực tiễn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Thành tích trên là kết quả phấn đấu không mệt mỏi của các thầy cô giáo, của các em học sinh; là sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, nhạy bén của Sở GD & ĐT Bắc Kạn, của Huyện uỷ, UBND huyện Ba Bể; sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với Hội cha mẹ học sinh và các địa phương trong huyện.
Trong nhiều năm phấn đấu và trưởng thành, hai trường THPT trên địa bàn Huyện Ba Bể đã đạt được những thành tích lớn lao, là địa chỉ tin cậy để nhân dân địa phương tiếp tục gửi gắm con em mình. Có được thành tích ấy là nhờ sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của Sở GD & ĐT Bắc Kạn; của Huyện uỷ, UBND huyện. Trường đã thực hiện thành công đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó trường luôn là một khối đoàn kết thống nhất từ BGH, Chi bộ, các đoàn thể, các tổ nhóm chuyên môn.
Số lớp và số học sinh trong 4 năm học gần đây như sau:
- Bảng 2.1: Số lớp và số học sinh THPT của Huyện theo năm học
2.2.2. Chất lượng giáo dục THPT Huyện Ba Bể
Trên địa bàn huyện Ba Bể bao gồm hai trường THPT Ba Bể và THPT Quảng Khê, trường THPT Ba Bể đóng trên địa bàn thị trấn, trường THPT Quảng Khê đóng tại Xã Quảng Khê thuộc xã đặc biệt khó khăn của huyện mặc dù vậy chất lượng giáo dục của hai trường là tương đương nhau, đại đa số học sinh là con em dân tộc thiểu số ít người, đời sống nhân dân đa phần còn gặp nhiều khó khăn chưa chú trọng đến học tập của con cái. Trước thực trạng đó, thầy và trò đã đồng cam cộng khổ phấn đấu dạy tốt, học tốt để ngôi trường thực sự trở thành địa chỉ tin cậy của nhân dân địa phương. Đến nay, chất lượng giáo dục toàn diện đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ HS khá giỏi, đỗ tốt nghiệp, chuyên nghiệp trong các kỳ thi ngày một cải thiện hơn. Về mặt hạnh kiểm, đa số HS đều ngoan ngoãn, có nề nếp tốt nên chất lượng đạo đức tương đối ổn định, tỷ lệ hạnh kiểm khá, tốt có phần được nâng lên.
- Bảng 2.2: Kết quả xếp loại 2 mặt của HS và kết quả tốt nghiệp của hai trường 3 năm gần đây
- Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số liệu HS trúng tuyển Đại học, Cao đẳng(NV1), Trung cấp chuyên nghiệp từ năm 2023 đến năm 2026
Số lượng thống kê, chất lượng giáo dục toàn diện của hai trường trong những năm qua được nâng lên rõ rệt, tuy nhiên vẫn còn một số những hạn chế làm ảnh hưởng chung tới chất lượng phát triển toàn diện của nhà trường, đó là chất lượng mũi nhọn chưa vững chắc và đồng đều. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Nguyên nhân: Một số giáo viên chưa thật sự đầu tư nghiên cứu chuyên sâu bồi dưỡng đội tuyển, giáo viên ôn luyện chưa nhiệt tình, trình độ giáo viên có chuyên môn vững vàng còn quá ít, phương pháp giảng dạy còn lúng túng thiếu tính năng động, sáng tạo, chưa bám sát vào chuẩn kiến thức kỹ năng, thụ động trong việc truyền thụ và lĩnh hội kiến thức. Mặt khác, do đời sống kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó khăn, đa số HS là con em xuất thân từ nhà nông nghèo, thu nhập chính bằng nông nghiệp, HS là thành phần lao động chính trong gia đình nên nhiều khi các em phải nghỉ học để phụ giúp công việc gia đình, đồ dùng học tập thiếu, cha mẹ chưa quan tâm sâu sát đến việc học của các em, thậm chí còn khuyên các em nghỉ học để làm kinh tế gia đình, hoặc có học cũng không có điều kiện để tham dự thi các trường chuyên nghiệp. Chất lượng tuyển sinh đầu vào còn chưa đồng đều. Những nguyên nhân trên cũng một phần dẫn đến chất lượng giáo dục toàn diện còn nhiều mặt hạn chế.
2.2.3. Đội ngũ cán bộ quản lý
Đội ngũ cán bộ quản lý hai Trường THPT Huyện Ba Bể có những nhà giáo có kinh nghiệm lâu năm trong công tác giảng dạy và quản lý bên cạnh đó cũng có thầy giáo trẻ chưa nhiều kinh nghiệm, tận tụy với HS, tâm huyết với nghề nghiệp, đồng tâm hiệp lực bổ trợ lẫn nhau để lãnh đạo nhà trường. Về trình độ chuyên môn, đạt 100% trình độ Đại học và trên Đại học, 100% có trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên, 100% CBQL là Đảng viên, có bề dày kinh nghiệm trong công tác quản lý.
2.2.4. Đội ngũ giáo viên
Về số lượng đội ngũ: Trong những năm gần đây hoạt động giáo dục của hai Trường THPT Huyện Ba Bể có nhiều bước chuyển biến rõ rệt về hoạt động dạy và học. Trong đó nhân tố cơ bản quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường là giáo viên. Tuy nhiên số lượng đội ngũ GV trong nhà trường còn thiếu ở một số bộ môn và hạn chế về trình độ, nghiệp vụ sư phạm, cơ cấu đội ngũ không đồng đều, một số môn học còn thiếu GV như: Toán, Sinh, Vật lí, GDCD có những GV phải dạy 20 tiết trên tuần.
Theo biên chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo định mức biên chế GV trên lớp (2,25 GV/lớp), nhưng trong thực tế tỷ lệ GV trên lớp chưa đạt 2.17 (năm học 2025-2026). Do cơ cấu GV không đồng đều dẫn đến một phần không nhỏ ảnh hưởng tới chất lượng dạy và học trong nhà trường.
- Về số lượng, chất lượng:
- Bảng 2.4: Kết quả thanh tra chuyên môn theo định kỳ của hai Trường THPT Huyện Ba Bể
2.2.5. Đội ngũ giáo viên Toán Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
- Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:
Phẩm chất chính trị và đạo đức của ĐNGV các trường THPT Huyện Ba Bể được đánh giá là: Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, hiểu và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của ngành, của trường.
Đội ngũ GV tâm huyết với nghề, có trách nhiệm cao với công việc được giao, luôn tận tụy với HS. Lối sống giản dị, gần gũi với đồng nghiệp, với HS, có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong công tác và trong cuộc sống. Thương yêu, quý mến, tôn trọng các em HS, cảm thông với HS những khó khăn về kinh tế, đường sá xa xôi. Thực hiện nghiêm túc các cuộc vận động và phong trào thi đua: “Hai không”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Các thầy giáo, cô giáo không chỉ dạy HS kiến thức mà còn luôn chăm lo đến giáo dục HS lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái,….
- Về trình độ đào tạo của Đội ngũ giáo viên Toán
- Bảng 2.5. Về trình độ đào tạo của Đội ngũ giáo viên Toán
Bảng thống kê cho thấy 100% GV các nhà trường có trình độ đại học (đạt chuẩn về trình độ), GV có trình độ Thạc sĩ (trên chuẩn) tăng dần sau từng năm, nhất là trong vài năm gần đây. Hiện nay nhà trường đang xây dựng phong trào thi đua vượt qua khó khăn để đi học Cao học. Hàng năm nhà trường có từ 1 đến 2 GV đi học Cao học. Tuy nhiên do địa bàn ở xa thủ đô Hà Nội, việc đi lại khó khăn, cùng với điều kiện kinh tế của đa số GV còn nhiều hạn chế nên số lượng GV đi học Cao học chưa được nhiều so với nhiều trường THPT trong cả nước. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
- Kết quả thanh tra chuyên môn theo định kỳ của hai Trường THPT Huyện Ba Bể (môn Toán)
- Bảng 2.6. Kết quả thanh tra môn Toán định kì của hai trường THPT Huyện Ba Bể
Bảng 2.4, 2.5, 2.6 cho thấy, chất lượng đội ngũ GV nói chung, giáo viên toán nói riêng ngày một nâng cao. Việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những chuyển biến mạnh. Công tác thanh tra, kiểm tra được tiến hành thường xuyên, liên tục và có nhiều đổi mới để nâng cao hiệu quả dạy học. Đại đa số các GV đã tích cực đổi mới PPDH để phù hợp với môi trường, thực tế nhà trường, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo viên cao niên chưa tích cực đổi mới trong giảng dạy. Việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá được triển khai thực hiện nghiêm túc, các giải pháp bồi dưỡng HS yếu kém, duy trì nề nếp học tập ở các lớp học được chỉ đạo chặt chẽ, triển khai quyết liệt, việc giảng dạy và học tập thực chất đã đi dần vào ý thức của từng cán bộ trong nhà trường . Công tác thi đua khen thưởng đã đi vào nề nếp góp phần thúc đẩy các tập thể, cá nhân hăng hái thi đua dạy tốt, học tốt, quản lý tốt. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh, chất lượng đội ngũ GV trong nhà trường bộ môn Toán vẫn còn tồn tại một số hạn chế:
- Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ và kết quả đạt được chưa đồng đều giữa các tổ. Chất lượng giáo dục của một số GV còn thấp, một số GV chưa thật tâm huyết với nghề, chưa say sưa tìm tòi, khám phá tri thức, việc tự trau dồi chuyên môn chưa được thường xuyên.
- Đội ngũ GV trẻ nhiều, thiếu kinh nghiệm trong dạy học; một số GV có tuổi còn ngại đổi mới phương pháp, trình độ tin học còn quá nhiều hạn chế.
- Chất lượng mũi nhọn của nhà trường đã được quan tâm, nhưng thiếu về nhân tài, nguồn lực, dẫn đến số lượng giải GV giỏi và GV giỏi các cấp chưa
Cùng với những mặt mạnh và hạn chế trên, nhà trường đã tăng cường đổi mới công tác quản lý, công tác thi đua khen thưởng, công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát huy được trí tuệ, khơi dậy ý thức trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp và nâng cao năng lực của đội ngũ để nhà trường đạt được sứ mệnh của mình.
- Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Bảng 2.7: Tỷ lệ đánh giá, xếp loại GV dạy toán theo quy định “Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông”
Qua bảng 2.7 ta thấy hầu hết GV toán của hai trường xếp loại xuất sắc và khá khi đánh giá theo quy định chuẩn nghề nghiệp, trong đó loại khá chiếm khoảng hơn 70%. Tuy nhiên việc đánh giá xếp loại trong các năm qua của nhà trường còn một phần mang tính chất động viên khích lệ đối với GV. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Đội ngũ giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua các cấp của nhà trường chiếm tỉ lệ khoảng 30%, còn lại là GV đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ xếp loại khá, hầu như không còn GV đạt trình độ trung bình.
Về trình độ ngoại ngữ của GV nói chung còn nhiều hạn chế. GV ngoại ngữ kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ chưa tốt, một số GV ngoại ngữ phải thi lại từ 1 đến 2 lần mới đạt được chứng chỉ C1 theo quy định về trình độ chuẩn của môn ngoại ngữ. GV các bộ môn khác hầu như ít dùng ngoại ngữ trong công việc.
Về trình độ tin học: Số GV có trình độ đại học, có chứng chỉ tin học là rất ít nhưng tỷ lệ GV sử dụng tin học trong giảng dạy lại cao.
Việc triển khai ứng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn do trình độ tin học và tiếng Anh của GV nhà trường còn nhiều hạn chế. Song hằng năm nhà trường thường tổ chức bồi dưỡng tin học cho GV vào đầu năm học để phục vụ giảng dạy.
2.2.6. Cơ sở vật chất
Nhìn chung, cơ sở vật chất của hai trường đã được đầu tư để đáp ứng nhu cầu dạy và học. Số lượng phòng đáp ứng đủ cho học đại trà, ôn thi học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Phòng học bộ môn nhưng không được sử dụng thường xuyên. Tư năm học 2020-2021 là năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhưng số máy của nhà trường có phòng máy là không đủ đáp ứng cho việc dạy và học, phải tháo lắp tại các phòng học không chức năng để dạy…Tuy nhiên, nhà trường đã khắc phục những khó khăn trước mắt để quản lý, tu sửa thường xuyên để thiết bị dạy học được sử dụng một cách có hiệu quả nhất, nhằm đáp ứng tối ưu trong công tác dạy và học
2.3. Thực trạng quản lý bồi dưỡng phương pháp dạy học môn Toán ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.3.1. Quản lý thực hiện mục tiêu và nội dung bồi dưỡng pháp dạy học môn Toán ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trong các năm học qua các nhà trường đã khá quan tâm tới việc BDGV toán:
- Bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học môn toán.
- Bồi dưỡng về đổi mới kiểm tra đánh giá HS.
- Bồi dưỡng kỹ năng sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin.
- Bồi dưỡng về kiến thức bộ môn toán thông qua báo cáo chuyên đề, sáng kiến kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Hình thức và phương pháp bồi dưỡng thường được tiến hành đó là:
- Học tập trung 2-3 ngày tại Sở GD&ĐT nghe hướng dẫn kết hợp thảo luận
- Tổ chức học tập bồi dưỡng tại trường theo đơn vị trường hoặc theo đơn vị tổ chuyên môn thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn.
- Tự bồi dưỡng: thông qua hoạt động dự giờ đồng nghiệp, tự nghiên cứu tài liệu, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy, giáo dục đạo đức HS,…
Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng cho ĐNGV của nhà trường còn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Việc đào tạo trên chuẩn chưa được chú trọng đúng mức, chưa có các điều kiện thuận lợi để thực hiện.
- Công tác tự bồi dưỡng thường xuyên, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của GV còn hình thức nên hiệu quả không cao.
- Công tác bồi dưỡng dạy học theo hướng tích hợp và liên môn còn mơ hồ chưa có sự định hướng rõ ràng.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong công tác bồi dưỡng đó là:
- Ý thức tự học bồi dưỡng của một bộ phận GV còn hạn chế.
- Không tạo được nguồn kinh phí hỗ trợ cho công tác bồi dưỡng.
- Chưa phát huy tối đa vai trò của tổ bộ môn và các cá nhân tích cực trong công tác bồi dưỡng.
- Chưa đa dạng hóa được nội dung cũng như phương thức bồi dưỡng.
- Chưa có kế hoạch cụ thể, rõ ràng về quản lý công tác bồi dưỡng ĐNGV của nhà trường.
- Chỉ đạo, tuyên truyền chưa thường xuyên công tác bồi dưỡng tại đơn vị.
Bảng 2.8.Kết quả điều tra về mục tiêu BD của 10 GV toán Huyện Ba Bể
Kết quả bảng 2.8 cho thấy mục tiêu BD của GV chủ yếu là đổi mới phương pháp và nâng cao kiến thức bộ môn toán, với ý kiến nhất trí ở mức độ rất phù hợp chiếm 50%, phù hợp chiếm 40%, chưa phù hợp la 10%. Đối với giáo viên dạy toán trên địa bàn Huyện Ba Bể nơi có điều kiện khó khăn về kinh tế, học sinh đa số là người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đi học xa nhà tìm ra được những phương pháp dạy học toán phù hợp với đối tượng học sinh là rất cần thiết, tính hiệu quả phụ thuộc chủ yếu vào kiến thức của người giáo viên và vận dụng phương pháp với đối tượng học sinh của mình. Mức độ phù hợp tiếp theo được giáo viên chọn là bồi dưỡng Đổi mới kiểm tra, đánh giá với ý kiến rất phù hợp là 40%, phù hợp là 40%, chưa phù hợp là 20%. Cuối cùng là bồi dưỡng Kĩ năng sử dụng đồ dùng học tập, máy tính, đa số giáo viên cho là chưa phù hợp và chưa cần thiết với ý kiến lựa chọn là 40%. Với môn toán là môn sử dụng khá ít đồ dùng, nên giáo viên phần lớn dành nhiều thời gian vào việc luyện tập, luyện đề, luyện thành thạo kĩ năng tính toán cơ bản, những dạng toán nâng cao, vận dụng máy tính, đồ dùng minh họa đa số giáo viên đưa ra rất ít.
2.3.2. Quản lý hình thức bồi dưỡng phương pháp dạy học môn Toán ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Trong những năm qua ĐNGV Toán Huyện Ba Bể luôn tham gia các chương trình bồi dưỡng của Sở GD&ĐT Bắc Kạn thông qua các đợt tập huấn, các hội thảo, hội thi, sinh hoạt chuyên môn với nhiều nội dung như xây dựng chương trình ôn thi trung học phổ thông Quốc gia, xây dựng ma trận đề kiểm tra, thành lập hệ thống bài tập chương trình Toán THPT chung của cả Tỉnh, sinh hoạt chuyên môn môn toán theo cụm trường, sinh hoạt tổ chuyên môn và thu được kết quả rõ rệt
Qua thăm dò ý kiến 10 GV Toán (Phụ lục 2) của cả 2 trường ở huyện Ba Bể có kết quả sau:
- Bảng 2.9: Kết quả điều tra về hình thức BD phương pháp dạy học môn toán của 10 GV
Kết quả bảng 2.9 cho thấy trong 6 hình thức bồi dưỡng trên những GV được hỏi cho rằng những hình thức Bồi dưỡng qua sinh hoạt tổ bộ môn là phù hợp nhất đạt 70% ý kiến cho là rất phù hợp. Tiếp theo là các hình thức Bồi dưỡng theo hình thức tự học với tỉ lệ ý kiến rất phù hợp la 40%. Hình thức bồi dưỡng Đào tạo bồi dưỡng nâng cao (Tiến sĩ, thạc sĩ) được đánh giá là ít phù hợp hơn. Sự đánh giá này có thể xuất phát từ thực tiễn. Sinh hoạt Tổ chuyên môn thường là các giáo viên cùng một trường khi gặp một vấn đề nào đó GV có thể nhanh chóng thảo luận và nhanh có kết quả, con hình thức bồi dưỡng nâng cao (Tiến sĩ, thạc sĩ) có lẽ do giáo viên dạy môn toán trên địa bàn Huyện Ba Bể còn tiếp xúc với đa số học sinh dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn nên chương trình nâng cao chưa phải là lựa chọn hàng đầu hoặc chưa được học sinh quan tâm nhiều, chủ yếu GV vận dụng kiến thức cơ bản nên hình thức này đa số GV cho là chưa phù hợp.
2.3.3. Quản lý phương pháp bồi dưỡng giáo viên
Để thực hiện những nội dung bồi dưỡng do Sở và nhà trường quy định, hàng năm tùy thuộc vào tình hình cụ thể về đội ngũ của mỗi trường, các trường THPT đã vận dụng các phương pháp bồi dưỡng sau:
- Phương pháp bồi dưỡng trực tiếp
- Phương pháp bồi dưỡng gián tiếp
- Phương pháp bồi dưỡng giao việc
- Phương pháp phân công GV giỏi giúp đỡ GV mới
Qua thăm dò ý kiến 10 GV(Phụ lục 3) của 2 trường ở huyện Ba Bể có kết quả sau:
- Bảng 2.10: Kết quả điều tra về phương pháp BDGV Toán
Từ bảng 2.10 Kết quả điều tra về phương pháp BDGV toán Huyện Ba Bể có thể thấy Phương pháp phân công GV giỏi giúp đỡ GV mới được cho là phù hợp với ý kiến đồng ý la 80%, các phương pháp bồi dưỡng trực tiếp, gián tiếp, giao việc với mức đọ rất phù hợp được giáo viên nhất trí la thấp. Đa số giáo viên chưa cảm thấy phù hợp.
Mặc dù đã nêu ra những phương pháp bồi dưỡng trên song thực tế chỉ đạo và quản lý các phương pháp bồi dưỡng của các trường còn hạn chế. Trong quá trình bồi dưỡng phần lớn sử dụng những phương pháp truyền thống, thiếu vắng những phương pháp phát huy tính chủ động, tích cực của người học. Việc kiểm tra đánh giá quá trình học tập, thảo luận của GV trong quá trình bồi dưỡng còn mang tính hình thức nên đã hạn chế đến hiệu quả bồi dưỡng.
2.3.4. Quản lý việc kiểm tra và đánh giá kết quả bồi dưỡng giáo viên Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
- Bảng 2.11.Thống kê số lần kiểm tra và đánh giá chuyên môn GV Toán Huyện Ba Bể
Từ bảng kết quả 2.11 ta thấy số lần kiểm tra thường xuyên và định kì đã được nhà trường lập kế hoạch từ đầu năm học, việc kiểm tra đột xuất có thể do Ban giám hiệu hoặc SGD&ĐT thống nhất.
Việc đánh giá, xếp loại GV được các nhà trường tiến hành thường xuyên trong năm học theo Quy chế hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT, Việc đánh giá GV hiện nay chủ yếu thực hiện theo quy định “Chuẩn nghề nghiệp GV THPT”, đánh giá theo 6 tiêu chuẩn với 24 tiêu chí (Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; Năng lực dạy học; Năng lực giáo dục; Năng lực hoạt động chính trị, xã hội; Năng lực phát triển nghề nghiệp).
Trong thực tế, nội dung được các nhà trường kiểm tra, đánh giá, xếp loại thường xuyên trong năm học là việc thực hiện quy chế nề nếp chuyên môn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV, Việc đánh giá trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm hai nội dung chính: Trình độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công về giảng dạy, giáo dục HS; Kết quả đánh giá tiết dạy của GV trên lớp.
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy chế, nề nếp chuyên môn của GV bao gồm các nội dung:
- Thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục.
- Soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp.
- Thực hiện nề nếp giảng dạy hàng ngày.
- Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS.
- Việc đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Việc tự học tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
- Xây dựng hồ sơ chuyên môn cá nhân: kế hoạch giảng dạy bộ môn, giáo án, sổ điểm cá nhân, sổ báo giảng, sổ dự giờ, sổ công tác, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,… Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Kiểm tra, đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV thông qua dự giờ độ xuất của BGH và tổ trưởng đánh giá tiết dạy, thông qua chất lượng của lớp dạy trong các kỳ kiểm tra chất lượng tập trung, thông qua kết quả thi HS giỏi các cấp, thông qua sự thừa nhận, tôn vinh của đồng nghiệp và thông qua phiếu đánh giá GV của HS vào cuối học kì 1 và cuối năm học.
Việc kiểm tra thường được tiến hành dưới hai hình thức định kỳ và đột xuất, Kiểm tra định kỳ có thông báo trước, bao gồm: Kiểm tra hồ sơ chuyên môn 4 lần/ năm ứng với 4 đợt thi đua trong năm học; thanh tra, kiểm tra chuyên đề hoạt động sư phạm của GV. Kiểm tra đột xuất thường được tiến hành với mục đích xem xét đánh giá việc thực hiện chương trình giảng dạy, soạn giảng, lên lớp, kiểm tra việc chấm trả bài, vào điểm,…
Lực lượng kiểm tra bao gồm ban giám hiệu (BGH), tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, ban thanh tra nhân dân và các GV có năng lực, uy tín cốt cán của trường. Đặc biệt việc dự giờ của GV chỉ được thông báo vào đầu buổi học.
Kết quả kiểm tra được thông báo cho toàn thể hội đồng và tập hợp đánh giá xếp loại GV theo quy định “Chuẩn nghề nghiệp” vào cuối năm học.
Việc tổ chức đánh giá xếp loại GV được tiến hành theo quy trình:
- Cá nhân tự đánh giá, xếp loại vào cuối năm học theo mẫu quy định.
- Tổ chuyên môn đánh giá, xếp loại GV trên cơ sở tự đánh giá của GV và hệ thống minh chứng của GV.
- Ban thi đua căn cứ vào tiêu chí thi đua đã xây dựng từ đầu năm học và ra quyết định.
Từ thực trạng việc kiểm tra đánh giá ĐNGV hàng năm của nhà trường, có thể rút ra một số nhận xét:
Việc đánh giá, xếp loại GV của các nhà trường về cơ bản đảm bảo khách quan, công khai, dân chủ, phản ánh đúng năng lực và phẩm chất của GV; làm rõ được ưu khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực và hiệu quả công tác, khả năng phát triển của GV, Thông qua đó giúp Hiệu trưởng nhà trường bố trí sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, sàng lọc và thực hiện chế độ chính sách đối với GV một cách tương đối hợp lý và có hiệu quả.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra đánh giá ĐNGV còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế:
- Các tiêu chuẩn, tiêu chí chung để đánh giá GV thực tế còn nhiều điều bất cập, nặng về định tính, ít định lượng.
- Việc đánh giá đôi chỗ còn mang tính hình thức, nâng đỡ, động viên nên chưa phản ánh đúng năng lực và phẩm chất của GV. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
2.3.5. Quản lý việc thực hiện các chính sách đãi ngộ đội ngũ giáo viên toán
Bảng 2.12.Kết quả điều tra về mức độ phù hợp các chế độ đãi ngộ đội ngũ GV toán Huyện Ba Bể
- Thực trạng thực hiện chính sách về lương và các chế độ đãi ngộ
- Đối với những GV và cán bộ quản lý nhà trường là viên chức, công chức nhà nước được hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước và theo quy định chung cứ 3 năm lại tăng bậc lương 1 lần, các cán bộ QL, GV đạt được thành tích cao đột xuất trong năm học được đề nghị với Sở GD&ĐT xét đề tăng lương sớm 6 tháng, 9 tháng hay 12 tháng; đồng thời họ cũng được hưởng mọi chế độ như: phụ cấp ưu đãi, nâng lương, chế độ nghỉ an dưỡng, ốm đau, chế độ nghỉ hưu theo đúng quy định. Bên cạnh đó các chế độ biểu dương khen thưởng ĐNGV được ngành giáo dục thực hiện đầy đủ, đề nghị nhà nước tặng các danh hiệu: Huy chương vì sự nghiệp giáo dục; Nhà giáo ưu tú; Chiến sĩ thi đua các cấp; GV dạy giỏi các cấp…
- Đối với GV hợp đồng, thỉnh giảng thì nhà trường hợp đồng chi trả lương theo tháng; có trường hợp lại chi trả theo tiết thực tế dạy.
- Chế độ chính sách cho GV đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho công tác nâng chuẩn cho ĐNGV: Vì nhà trường còn thiếu GV nên khi GV xin đi học Cao học thì vẫn phải công tác tại trường và đi học vào ngày thứ Bảy và Chủ nhật hàng tuần.
- Thực trạng về tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt thuận lợi cho ĐNGV
- Cơ sở vật chất của các nhà trường được quan tâm đầu tư xây dựng, đáp ứng được phần nào nhu cầu giảng dạy và bồi dưỡng phát triển ĐNGV. Hai trường THPT trong huyện đã xây dựng được hệ thống các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm thực hành; nhiều lớp học có máy tính, máy chiếu; thư viện, có khá đầy đủ sách báo và tài liệu tham khảo.
- Nhà trường và chính quyền địa phương chưa có cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV giỏi, GV đầu đàn nên hiện tượng GV giỏi xin chuyển công tác đến môi trường làm việc, đãi ngộ tốt hơn là việc vẫn còn xảy ra ở trường.
2.4. Đánh giá chung về quản lý bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán cho giáo viên của các trường trung học phổ thông huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
2.4.1. Những mặt mạnh
Các trường THPT trong huyện đã chú trọng công tác tuyển mới, từng bước bổ sung ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, công tác tuyển dụng được diễn ra theo đúng quy trình, đảm bảo sự khách quan, dân chủ.
- Việc bố trí, sử dụng ĐNGV về cơ bản là hợp lý, phù hợp với năng lực của GV và hoàn cảnh thực tế của nhà trường.
- Nhà trường đã chú ý đến việc nâng cao chất lượng cho ĐNGV như cử đi học tập trên chuẩn, chú trọng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho ĐNGV.
- Việc kiểm tra đánh giá ĐNGV được tiến hành thường xuyên đã góp phần tác động vào ý thức nghề nghiệp của GV.
- Hiệu trưởng nhà trường đã đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động BDGV để phục vụ cho từng năm học: lập kế hoạch; tuyển chọn; bố trí sử dụng; kiểm tra đánh giá ĐNGV,… Tuy nhiên, các biện pháp quản lý đã đưa ra còn là các giải pháp tình thế, giải quyết được những yêu cầu trước mắt, ngắn hạn trong việc quản lý hoạt động BDGV của nhà trường.
2.4.2. Những hạn chế
Các trường THPT trong huyện chưa xây dựng được quy hoạch, kế hoạch chiến lược trung hạn và dài hạn. Việc lập kế hoạch của nhà trường hiện nay chỉ đảm bảo nhu cầu trước mắt đủ về số lượng; chưa chú trọng được nhiều tới chất lượng và cơ cấu; chưa tính được đến tương lai xa, dẫn đến hiện tượng thiếu GV và thiếu cân đối trong ĐNGV của nhà trường hiện nay.
Việc tuyển chọn ĐNGV như hiện nay mới đảm bảo tính khách quan, dân chủ nhưng còn bộc lộ nhiều bất cập đó là: Nhà trường là nơi sử dụng trực tiếp ĐNGV nhưng lại có quyền rất hạn chế trong công tác tuyển chọn Việc tuyển chọn như hiện nay chỉ dựa vào hồ sơ và 1- 2 tiết thuyết trình bài giảng, trả lời phỏng vấn, chưa đánh giá đúng thực chất, năng lực của GV. Sau đó việc bố trí công tác của GV cũng chưa thực sự hợp lý gây khó khăn cho GV trong quá trình công tác.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV còn nhiều mặt hạn chế:
Cách thức tổ chức vẫn còn mang nặng tính hình thức; chưa thực sự đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức học tập, bồi dưỡng nên chưa thực sự gây hứng thú và tạo ra ý thức chủ động, sáng tạo của người học; chưa gắn BDGV với công tác đánh giá – khen thưởng, đề bạt,…đối với GV; các điều kiện phục vụ cho bồi dưỡng thường xuyên như tài liệu, kinh phí, cơ sở vật chất còn hạn chế. Công tác bồi dưỡng thường xuyên hiện nay gần như khoán trắng cho cơ sở, dẫn tới kém hiệu quả và mang tính hình thức. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Công tác bồi dưỡng tại trường, tự bồi dưỡng của GV còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa đóng vai trò nòng cốt trong việc BDGV.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn, bồi dưỡng về các nội dung mới cho ĐNGV, nhà trường chưa có điều kiện chú trọng đúng mức.
Công tác bồi dưỡng dạy học theo hướng tích hợp và liên môn còn mơ hồ chưa có sự định hướng rõ ràng. ĐNGV hiện nay chủ yếu được đào tạo theo chương trình sư phạm đơn môn, chưa được trang bị về cơ sở lý luận dạy học tích hợp liên môn một cách chính thống, khoa học nên khi thực hiện thì phần lớn là do GV tự mày mò, tự tìm hiểu không tránh khỏi việc hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về mục đích, ý nghĩa cũng như cách thức tổ chức dạy học tích hợp liên môn. Phần lớn GV đã quen với việc dạy học đơn môn là chính nên GV các môn “liên quan” ít có sự trao đổi chuyên môn do vậy khi dạy học tích hợp liên môn chưa có sự thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian tổ chức các nội dung, chủ đề dạy học tích hợp liên môn của các môn “liên quan”; do chương trình giáo dục đã trải qua nhiều lần cải cách nên nhiều GV khác môn chưa thực sự nắm rõ về cấu trúc chương trình, chưa cập nhật kịp thời những kiến thức mới và chưa được trang bị về “phương pháp sư phạm” đặc trưng của các môn học “liên quan” nên cho dù đã xác định được kiến thức, mức độ cần liên môn ở mỗi nội dung, chủ đề thì việc lựa chọn phương pháp tổ chức đôi khi còn chưa phù hợp, thậm chí không mang lại hiệu quả. Do đó khi tiến hành dạy học tích hợp liên môn kết quả đạt được mới ở mức tích hợp; chưa tận dụng, phát huy được việc vận dụng kiến thức ở các môn “liên quan” làm công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học bộ môn, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các môn “liên quan” trong dạy học các chủ đề tích hợp liên môn và cũng chưa thực sự giảm tải được…
Công tác kiểm tra đánh giá ĐNGV còn mang tính hình thức. Việc đánh giá GV hàng năm là để xếp loại, mang tính thi đua là chủ yếu chứ không phải nhằm mục đích phát triển năng lực nghề nghiệp cho mỗi Tuy việc đánh giá, xếp loại GV có theo các tiêu chuẩn nhưng còn nặng về định tính, nhẹ về định lượng, do đó khó phân định được các mức độ, dễ dẫn đến tình trạng thiếu khách quan và thiếu chính xác.
Chế độ chính sách, môi trường làm việc còn nhiều hạn chế, nên chưa động viên khuyến khích được ĐNGV yên tâm công tác, làm việc hết mình, phát huy hết khả năng của họ, không khuyến khích được GV đi học để nâng chuẩn.
Việc xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động BDGV của Hiệu trưởng nhà trường chưa được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, thiếu tầm chiến lược, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý còn có mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới quản lý trường THPT.
2.4.3. Thuận lợi Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Các trường THPT trong huyện được sự lãnh đạo và quan tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội nhất là sự lãnh đạo trực tiếp của Sở GD&ĐT và sự quan tâm, giúp đỡ của các nhà hảo tâm, của phụ huynh, các thế hệ HS và nhân dân.
- Nhà trường có nề nếp dạy và học, có truyền thống Dạy tốt – Học tốt so với mặt bằng chung của Tỉnh
- Tập thể cán bộ, công chức, viên chức của nhà trường là một tập thể đoàn kết, thống nhất ý chí hành động, tâm huyết với nghề, hết lòng vì HS thân yêu.
- Các HS nhà trường luôn nỗ lực phấn đấu.
- Sự lãnh đạo sát sao của Chi bộ Đảng, sự điều hành của BGH, hoạt động phong trào của Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cha mẹ HS của nhà trường đều đạt hiệu quả cao.
- Cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng được trang bị đầy đủ theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, hiện đại hóa, phục vụ dạy và học.
2.4.4. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, các trường THPT trên địa bàn huyện cũng gặp những khó khăn như:
- Những tiêu cực bên ngoài nhà trường tác động ảnh hưởng đến HS.
- Giáo viên trẻ kiến thức tốt nhưng kinh nghiệm còn hạn chế trong công tác giảng dạy, giáo dục đạo đức HS.
- Tư tưởng ngại đổi mới còn phổ biến trong một bộ phận GV, nhân viên.
2.4.5. Nguyên nhân của những hạn chế
Nguyên nhân khách quan:
- kinh tế – xã hội: nghèo nàn lạc hậu nên ít có điều kiện đầu tư cho sự phát triển GD&ĐT nói chung.
- Bản thân ngành giáo dục đào tạo còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, như:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển quy mô và điều kiện còn thiếu.
- Mâu thuẫn giữa chương trình và trình độ dạy của GV, nhận thức của HS.
- Mâu thuẫn giữa sức lực và khả năng, thời lượng với khối lượng và chất lượng công việc.
- Mâu thuẫn giữa chế độ đãi ngộ GV và những yêu cầu cấp thiết của đời sống GV
Trước sự đổi mới giáo dục phổ thông công tác quản lý hoạt động BDGV còn nhiều hạn chế nhất là trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và bồi dưỡng chuyên môn cho GV. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Do cơ chế chính sách về lương, chế độ đãi ngộ như hiện nay chưa động viên, khuyến khích được GV cố gắng làm việc và học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Do địa bàn huyện ở vùng nông thôn xa trung tâm thành phố, thu nhập thấp nên các giáo sinh tốt nghiệp loại giỏi, các GV có trình độ cao, không muốn về công tác tại trường gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục.
- Nguyên nhân chủ quan
Do năng lực và trình độ của một vài CBQL còn hạn chế, chưa tích cực học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực quản lý, nên chưa đáp ứng kịp yêu cầu của đổi mới.
Công tác tuyên truyền các văn bản chỉ đạo về đổi mới giáo dục của nhà trường còn mang tính hình thức, chưa thường xuyên.
Nhà trường chưa chú ý đúng mức đến việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho GV đặc biệt là bồi dưỡng trên chuẩn, chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với các GV giỏi nên không giữ chân được các GV giỏi ở lại trường và thu hút được các GV giỏi từ nơi khác.
Còn một bộ phận GV chưa nhận thức được đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng, mục tiêu của công tác bồi dưỡng, coi việc học tập bồi dưỡng là yêu cầu bắt buộc của các cấp quản lý chứ không phải là nhu cầu tự thân cần học tập để bổ sung, cập nhật kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá ĐNGV chưa thật chặt chẽ và chưa được coi trọng đúng mức.
2.5. Kết quả của các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác quản lý bồi dưỡng PPDH môn Toán THPT Huyện Ba Bể
- Bảng 2.13. Kết quả điều tra về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý bồi dưỡng PPDH môn Toán THPT Huyện Ba Bể
Qua bảng 2.13 cho ta thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đều rất cao, cao nhất là yếu tố Kinh tế xã hội, đa số các GV Toán cho rằng điều kiện kinh tế xã hội phát triển kém dẫn đến sự tụt lùi về giáo dục, tiếp theo là yếu tố Điều kiện đảm bảo chất lượng có 6/10 GV chọn với mức ảnh hưởng cao đến công tác quản lý bồi dưỡng PPDH môn Toán, các yếu tố còn lại đều được GV lựa chọn với mức độ ảnh hưởng cao là từ 50% trở lên. Cụ thể như sau:
2.5.1. Kinh tế xã hội Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Theo quy định tai Nghị quyết số 30a/2017/NQ-CP ngày 27/12/2017 của chính phủ,Huyện Ba Bể là một trong 56 huyện nghèo trong cả nước có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn phần nào đã ảnh hưởng chung đến nền GD của Huyện, điều kiện cuộc sống khó khăn của Học sinh, điều kiện đi lại khó khăn của giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thiếu thốn,… nên môn toán THPT thường xuyên đạt kết quả thấp so với mặt bằng chung của tỉnh.
2.5.2. Các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục THPT hiện nay theo tinh thần của Nghị quyết 29-NQ/TW là một quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện dạy học, đặc biệt đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng đánh giá năng lực người học, đa số GV toán còn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, còn lúng túng trong việc đổi mới, vận dụng các phương pháp dạy học mới, học sinh còn thụ động tiếp thu theo phương pháp mới,…đã dẫn đến kết quả về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ GV toán còn ở mức độ thấp.
2.5.3. Các yếu tố về phát triển quy mô trường lớp
Được sự quan tâm của Sở GD&ĐT Bắc Kạn trong những năm qua quy mô trường lớp của hai trường trung học phổ thông trên địa bàn Huyện Ba Bể ngày càng phát triển và đầy đủ hơn, cụ thể Trường THPT Ba Bể chuyển từ học chính khóa 2 ca sang học 1 ca nên đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho GV lên lớp, điều kiện về trang thiết bị phục vụ dạy học cũng đầy đủ hơn, học sinh lưu ban, bỏ học giảm đi nhiều,… Trường trung học phổ thông Quảng Khê chuyển sang học tại cơ sở hoàn toàn mới có đủ lớp học, phòng thiết bị, thư viện, phòng họp,… mặc dù vậy hai trường THPT vẫn còn thiếu nhiều trang thiết bị, phòng máy chiếu,… nên các phương pháp dạy vẫn chưa đạt hiệu quả cao.
2.5.4. Điều kiện đảm bảo chất lượng
Nguồn kinh phí dành cho các đơn vị sự nghiệp công lập là theo định mức và hai trường nằm trên thuộc vùng đặc biệt khó khăn nên không có nguồn thu ngoài ngân sách, trong nguồn inh phí được phân bổ chủ yếu dùng để ch trả tiền lương nên số kinh phí chi cho bồi dưỡng giáo viên còn thấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của nhà trường vẫn còn thiếu nhiều hạng mục nên việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho GV dạy toán còn chưa đạt hiệu quả cao.
2.5.5. Các yếu tố về chính sách quản lý Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
Chính sách đãi ngộ GV còn chưa thỏa đáng, qua khảo sát cho thấy đa số giáo viên cho rằng lương vẫn còn thấp, chưa đảm bảo cuộc sống, các chế độ đãi ngộ từ các nguồn ngân sách cho giáo viên có thành tích cao chưa thỏa đáng, thậm chí là chưa có, quá trình đào tạo bồi dưỡng còn nhiều bất hợp lý, xu thế toàn cầu hóa yêu cầu với GV về trình độ tin học, ngoại ngữ, trình độ năng lực của cán bộ quản lý,… đã phần nào làm cho kết quả BD phương pháp cho giáo viên chưa cao.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Qua nghiên cứu, khảo sát thực trạng về công tác quản lý BD phương pháp dạy học môn toán cho GV các trường THPT huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tác giả nhận thấy rằng:
- Số lượng GV tương đối đủ, đa số giáo viên Toán đã được bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy theo định kì, theo kế hoạch của trường, của Sở nhưng các phương pháp mà giáo viên đã vận dụng có hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được theo chương trình phổ thông mới.
- Các phương pháp giảng dạy môn toán mới như tổ chức cho HS hoạt động nhóm, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, dạy học tích hợp,… hiện nay đòi hỏi về sự đáp ứng cơ sở vật chất tương đối cao nên đa số GV Toán chưa phát huy được hiệu quả cao khi lựa chọn những phương pháp dạy học.
- Cơ chế quản lý, các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc, cơ sở vật chất nhà trường đã được cải thiện hơn nhiều, song vẫn còn nhiều bất cập. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng phương pháp dạy học môn toán […]