Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đánh giá điều kiện sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở á vùng nam bộ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tổng quan về á vùng nam bộ

Trong phân vùng lãnh thổ du lịch (Nguyễn Minh Tuệ và những người khác, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024, á vùng Nam Bộ trong phân vùng lãnh thổ du lịch thì á vùng Nam Bộ nằm trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Về mặt tự nhiên và hành chính thì á vùng Nam Bộ bao gồm 2 tiểu vùng: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (còn được gọi là Đồng bằng sông Cửu Long).

Hình 2.1: Lược đồ á vùng Nam Bộ

Lược đồ 2.1 cho ta thấy sự khác nhau rõ rệt giữa 2 tiểu vùng: Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Tiểu vùng Đông Nam Bộ có các địa hình: vùng núi, đồng bằng nội địa và cả địa hình miền biển; còn Đồng bằng sông Cửu Long thì địa hình tương đối đồng nhất (địa hình chủ yếu là đồng bằng, chỉ có rất ít một số ngọn núi sót ở An Giang). Chính sự phân hóa địa hình của vùng Nam Bộ sẽ dẫn đến sự phân hóa về điều kiện khí hậu và tài nguyên sinh khí hậu ở các tiểu vùng. Từ đó, sẽ dẫn đến sự phân hóa về mặt không gian cũng như tính mùa vụ (thời gian) của hoạt động du lịch ở 2 tiểu vùng trên.

Trong khả năng tiếp cận về số liệu, học viên chỉ có được số liệu trong khoảng 5 năm (2020-2024) của 10 trạm trong vùng Nam Bộ. Trong đó, tiểu vùng Đông Nam Bộ là 5 trạm (2 trạm khu vực núi: Phước Long – Bình Phước và Tây Ninh; 1 trạm trong khu vực nội địa: Tân Sơn Hòa – TP.Hồ Chí Minh và 2 trạm khu vực biển-đảo:

Vũng Tàu và Côn Đảo) và tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 5 trạm (3 trạm trong khu vực nội địa: Châu Đốc – An Giang; Cần Thơ và Sóc Trăng; 2 trạm khu vực biển-đảo: Cà Mau và Phú Quốc).

Bảng 2.1: Danh sách các trạm khí tượng, khí hậu Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Stt Tên trạm Kinh độ (Đông)  Vĩ độ (Bắc) Độ cao (m)
1 Bình Phước (Phước Long) 106059’ 11050’ 198
2 Tây Ninh 106004’ 11019’ 10
3 TP.Hồ  Chí Minh 106040’ 10049’ 9
4 Vũng Tàu 107005’ 10020’ 4
5 Côn Đảo 106036’ 8041’ 3
6 An Giang 105007’ 10042’ 9
7 Cần Thơ 105046’ 10001’ 1
8 Sóc Trăng 105058’ 9036’ 2,26
9 Cà Mau 105009’ 9011’ 1
10 Phú Quốc 103058’ 10013’ 3

Hình 2.2: Lược đồ vị trí các trạm khí tượng của khảo sát trong luận văn

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.1 Tổng quan về á vùng du lịch Nam Bộ

2.1.1.1. Khái quát về tiểu vùng Đông Nam Bộ

Tất cả các tỉnh, thành của vùng Đông Nam Bộ đều nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Vùng bao gồm 6 tỉnh thành phố: TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước với diện tích tự nhiên là 22 nghìn km2 chiếm 20,3% tổng diện tích đất tự nhiên Việt Nam; năm 2022, dân số vùng Đông Nam Bộ là 14.025.387 người, chiếm 16,34% dân số Việt Nam.

Về mặt địa giới, Đông Nam Bộ giáp với DHNTB phía Bắc; phía Nam giáp với ĐBSCL; phía Tây giáp Camphuchia; phía Đông giáp với biển Đông với chiều dài bờ biển khoảng hơn 200km, nơi có nhiều bãi biển đẹp như Vũng Tàu, Long Hải,… Với đặc điểm đa dạng phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch, bao gồm cả tài nguyên du lịch nhân văn trên nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Mạ, Chơ Ro, Chăm, Khmer,…và các di tích lịch sử văn hóa có giá trị như Trung ương cục, địa đạo Củ Chi,….ĐNB có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch như du lịch văn hóa, du lịch tham quan, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng (núi và biển), du lịch thể thao (núi và biển),….

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên

Trên nền những đặc điểm tự nhiên trên, tiềm năng du lịch tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ bao gồm:

  • Tài nguyên du lịch biển và hải đảo:

ĐNB là nơi có tiềm năng du lịch biển khá lớn. Trên chiều dài bờ biển hơn 200km của vùng có khoảng 72km bãi biển có khả năng phát triển du lịch biển, tiêu biểu là các bãi biển Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Tràm, Nước Ngọt, và các bãi tắm ở

Côn Đảo với lợi thế gần TP.Hồ Chí Minh, đã từ lâu được khai thác làm nơi nghỉ dưỡng, tắm biển nổi tiếng. Cùng với Vũng Tàu, các bãi biển Long Hải, Phước Hải và Côn Đảo hiện là nơi thu hút sự chú ý của du khách trong nước về nghỉ ngơi, giải trí, tắm biển và tham quan các di tích lịch sử.

Vùng biển Đông Nam Bộ có nhiều loại các quý và các loại hải sản quý hiếm khác như hải sâm, đồi mồi, rau câu…không chỉ là nguồn thực phẩm dồi dào mà còn là nguyên liệu tạo ra các hàng mỹ nghệ và đồ lưu niệm có giá trị cao.

  • Tài nguyên du lịch núi và cao nguyên

Tài nguyên du lịch núi ở Vùng khá đặc biệt so với các vùng khác trong cả nước. Mặc dù không có các vùng núi cao nhưng vùng lại có những địa hình “núi đảo” hết sức đặc sắc.  Một số “núi đảo” có nguồn gốc là núi lửa, một số đỉnh núi nhô lên thành những hình nón cân đối đẹp mắt như núi Gia Nam ở Long Khánh…, một số đã bị các hoạt động xâm thực phá hủy miệng núi chỉ còn trơ lại “chùy núi lửa” nổi lên như những chiếc cột khổng lồ như các núi lửa Định Quán…Những núi lửa này là tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị, đặc biệt đối với loại hình du lịch nghiên cứu.

Những “núi đảo” do đá thể nền batolit cấu tạo nên đứng cô lập giữa những vùng tương đối bằng phẳng, đỉnh núi nhô lên khá cao và có sườn dốc. Điển hình của địa hình này là núi Bà Đen (Tây Ninh), Bà Rá (Bình Phước), núi Dinh, Minh Đạm (Bà Rịa-Vũng Tàu). Các núi này tạo nên những cảnh quan độc đáo với khí hậu mát mẻ quanh năm, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách.

Các cao nguyên đất đỏ là những vùng đất phì nhiêu với các đồn điền cao su bạt ngàn tạo thành một cảnh quan nhân tạo đặc biệt với những hàng cây được trồng ngay hàng thẳng lối đều tăm tắp, những khu vườn cây ăn quả sum suê và những vùng cây công nghiệp với nhiều loại đa dạng và phong phú như cà phê, hồ tiêu, sắn, lạc, rau quả nhiệt đới và ôn đới,… Đây là những cảnh quan có sức hấp dẫn đối với du khách và là nguồn cung cấp rau quả và các sản phẩm khác cho du khách.

  • Tài nguyên du lịch về sông, hồ, suối nước nóng, nước khoáng

Sông, hồ, suối nước nóng và nước khoáng là nguồn tài nguyên du lịch phong phú và hấp dẫn của vùng đã và đang được khai thác cho mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, vui chơi giải trí và thể thao.

Hệ thống sông Đồng Nai khá phát triển và có mối liên hệ với hệ thống sông Mekong. Đây chính là điều kiện chủ yếu để hình thành các tuyến du lịch trên sông hấp dẫn của vùng. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Các hồ nước tự nhiên và nhân tạo cũng được khai thác phục vụ cho mục đích du lịch như hồ Dầu Tiếng (Tây Ninh), hồ Trị An (Đồng Nai),…

Nước khoáng của vùng này có giá trị cao đối với du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh. Các điểm nước khoáng Bình Châu, Phước Long,…nhất là suối khoáng nóng Bình Châu ở Bà Rịa-Vũng Tàu có nhiệt độ trung bình khoảng 800C. Điểm nước khoáng này đã được khai thác phục vụ cho điều dưỡng chữa bệnh.

  • Tài nguyên du lịch ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

Vùng có 6 khu rừng đặc dụng, trong đó có 4 VQG là Cát Tiên (Đồng Nai), Bù Gia Mập (Bình Phước), Lò Gò-Xa Mát (Tây Ninh), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu); 01 khu bảo tồn thiên nhiên là Bình Châu-Phước Bửu (Bà Rịa-Vũng Tà) và 2 khu rừng văn hóa-lịch sử là Núi Bà Đen (Tây Ninh) và Núi Bà Rá (Bình Phước). Rừng ngập mặn Cần Giờ và VQG Cát Tiên được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đây là những khu vực có tiềm năng du lịch sinh thái lớn có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch.

Các VQG ở vùng còn bảo tồn được diện tích rừng nguyên sinh khá lớn với nhiều loài động, thực vật nhiệt đới điển hình. Đây không chỉ là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn mà còn là nơi lưu giữ tốt nhất nguồn gen động, thực vật bảo tồn sinh thái và đa dạng sinh học phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục….

Tài nguyên du lịch nhân văn

  • Các di tích lịch sử văn hóa

Những đặc thù về lịch sử, văn hóa của vùng cũng đã được phản ánh trong sự đa dạng và phong phú của hệ thống các di tích lịch sử văn hóa ở đây. Vùng Đông Nam Bộ có 145 di tích được xếp hạng , bằng 5,9% số di tích xếp hạng của cả nước.

Trong số các di tích xếp hạng, có nhiều di tích đặc biệt quan trọng, có giá trị cao đối với du lịch. Vùng Đông Nam Bộ nói riêng và vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ nói chung  từ lâu đã nổi tiếng với các nền văn minh tiền sử và sơ sử. Tại Hàng Gòn-Xuân Lộc (Đồng Nai) các nhà khảo cổ đã phát hiện ra di tích của nền văn hóa thời đại đồ đá cũ cách ngày nay khoảng 3 vạn năm. Đặc biệt nhất là các di tích của nền văn minh Óc Eo-nền văn hóa vật chất Phù Nam- đã cho thấy sự phát triển cao về mặt văn hóa của vùng đất này vào đầu công nguyên. Mặt khác, cũng cho thấy những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, của đạo Bà La Môn đã xâm nhập khá sớm vào nước ta. Thể hiện rõ nhất ở các khu di tích Cát Tiên. Đây là khu thánh địa Bà La Môn giáo có quy mô khá lớn của Vương quốc cổ Phù Nam nằm trong địa phận 2 tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng. Các chuyên gia Nhật Bản đã đánh giá khu di tích này có giá trị ngang tầm với khu di tích Ăngkor Vát của Campuchia. Đáng tiếc là hiện nay khu di tích này đã và đang trở thành mục tiêu phá hoại của những kẻ tìm vàng.  Trong các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, đặc biệt quan trọng có các di tích liên quan đến cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh như khu bến cảng Nhà Rồng…và nhiều di tích gắn liền với cuộc chiến đấu chống Mỹ của quân dân Nam Bộ như khu căn cứ Trung ương cục ở Tây Ninh, địa đạo Củ Chi,…

  • Lễ hội văn hóa dân gian Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Ở vùng Đông Nam Bộ , những lễ hội dân gian của người Việt vẫn mang tính thống nhất từ Bắc vào Nam, vẫn những lễ hội gắn với các nhân vật lịch sử, gắn với sản xuất nông nghiệp như lễ cầu mưa, lễ hội rước các Ông,…với những tín ngưỡng tôn giáo như lễ hội núi Bà Đen thờ Linh Sơn Thánh mẫu….

Đáng chú ý là có những lễ hội trung tâm thu hút rất đông khách hành hương tới dự như lễ hội Núi Dinh ở Bà Rịa-Vũng Tàu, lễ hội Núi Bà Đen ở Tây Ninh….

  • Nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công ở vùng Đông Nam Bộ tuy không nhiều nhưng cũng khá độc đáo. Tiêu biểu là nghề gốm sứ Biên Hòa, Đồng Nai không chỉ được ưa chuộng ở thị trường trong nước mà cả nước ngoài; nghề khảm tranh sơn mài ở TP.Hồ Chí Minh cũng rất phát triển.

  • Bảo tàng và các cơ sở văn hóa nghệ thuật

Trên địa bàn vùng có một số bảo tàng quan trọng, là những điểm thu hút sự chú ý của khách tham quan như bảo tàng lịch sử, bảo tàng Quân đội,…ở TP.Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ở mỗi tỉnh, mỗi địa phương đều có bảo tàng riêng của mình theo hệ thống ngành dọc văn hóa. Một đặc điểm cần lưu ý là trên địa bàn vùng có một số khu di tích, danh thắng có ý nghĩa như các bảo tàng ngoài trời. Đó là những di tích khảo cổ quan trọng ở thánh địa Cát Tiên, các mộ cổ người Mạ…hay những di tích cách mạng như nhà tù Côn Đảo,…

2.1.1.2. Khái quát về tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL là đồng bằng lớn thứ 3 trong số 34 đồng bằng lớn của thế giới (sau đồng bằng Amazon và đồng bằng sông Hằng – Bramapur). Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất quan trọng và giàu có của nước ta, về địa lý kinh tế có vị trí thuận lợi cho giao lưu phát triển. Trên đất liền, từ Đồng bằng sông Cửu Long qua các đường giao thông thủy bộ có thể nối liền với các nước Lào, Campuchia ở phía Tây và Tây Bắc rồi từ đó qua Thái Lan; về phía Đông và Đông Bắc có thể nối liền với vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam. Phía Đông và Tây Nam của Đồng bằng sông Cửu Long được bao bọc bởi vùng biển Đông với các tuyến đường biển, đường không quan trọng nối liền với các khu vực ASEAN, Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương.

ĐBSCL có đường bờ biển dài trên 700km với hải phận bao trùm cả phần phía Nam biển Đông và biển Tây (vịnh Thái Lan), có biên giới đường bộ với Campuchia dài trên 400km lại nằm cạnh TP.Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của cả nước và là đầu mối giao thông quan trọng nhất của Việt Nam tại khu vực phía Nam. Với vị trí như vậy, Đồng bằng sông Cửu Long có ý nghĩa rất quan trọng không những trong giao lưu kinh tế mà cả đối với quan hệ quốc tế, gìn giữ hòa bình với các nước lân cận và ổn định trong khu vực. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên

Châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng phù sa rộng lớn và bằng phẳng; tuy nhiên, vùng cũng có vài dãy núi sót (An Giang, Phú Quốc), xuất hiện ở giữa đồng bằng rộng lớn; các dạng địa hình Karst (Hà Tiên) tạo nên cảnh quan độc đáo có sức hấp dẫn thu hút khách du lịch. Tạo điều kiện phát triển du lịch tham quan, khám phá và nghiên cứu.

Một dạng địa hình đáng chú ý nữa ở vùng này là các đảo lớn nhỏ ở các cửa sông. Dễ nhận thấy nhất là các đảo – cù lao, cồn như cù lao Dài (Vĩnh Long), cù lao Tròn, cù lao Nai (Sóc Trăng), cồn Lợi Quan (Tiền Giang),…Những đảo-cù lao lớn khó nhận ra hơn có phần đỉnh nằm ngay ở chỗ sông bắt đầu chia nhánh và đáy lồi ra phía biển như cù lao cực lớn giữa sông Tiền và sông Hậu là lãnh thổ của các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, một phần An Giang,…hay tỉnh Bến Tre là do 2 cù lao Minh, cù lao Bảo. Tạo điều kiện phát triển du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch homestay.

Với đường bờ biển dài khoảng 700km, vùng cũng có các bãi tắm khá đẹp như: Mũi Nai (Hà Tiên), Bãi Khem (Phú Quốc),…Tạo điều kiện phát triển du lịch tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng biển.

Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ở độ cao hơn 5000m rồi chảy qua các nước Trung Quốc, Myanma, Lào, Campuchia qua Việt Nam rồi đổ vào biển Đông. Đây là hệ thống thủy văn độc đáo và hiếm có trong khu vực và trên thế giới. Giữa các sông Tiền, sông Hậu, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Soài Rạp, sông Lòng Tàu có một hệ thống kênh rạch nối liền với nhau. Giữa các sông thiên nhiên còn có một hệ thống sông đào, thẳng góc với sông chính hợp thành mạng lưới đường thủy dày đặc, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có giá trị về du lịch vì có sưc hấp dẫn với du khách. Đây là những điều kiện để phát triển du lịch sông nước, du lịch khám phá và du lịch nghiên cứu.

Vùng có 2 khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ Kiên Giang và KDTSQ Cà Mau); 5 vườn quốc gia (VQG Mũi Cà Mau, VQG U Minh Thượng, VQG U Minh Hạ, VQG Tràm Chim và VQG Phú Quốc); 4 khu bảo tồn thiên nhiên, 3 khu bảo tồn loài, 7  khu bảo vệ sinh cảnh vầ 1 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học: trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập mặn Minh Hải (Cà Mau). Đây là những điều kiện để phát triển du lịch sinh thái, du lịch khám phá và du lịch nghiên cứu.

Tài nguyên du lịch nhân văn

  • Các di tích lịch sử văn hóa, hệ thống bảo tàng

Tuy Đồng bằng sông Cửu Long không có những di tích lịch sử tầm cỡ quốc tế như: Cố đô Huế, Hội An,…nhưng truyền thống văn hóa lâu đời tại khu vực cũng đã tạo dựng nên một di sản lớn lao, có giá trị khai thác du lịch.

Hiện toàn vùng có 120 di tích lích lịch sử-văn hóa-cách mạng được xếp hạng quốc gia.

Bên cạnh những di tích lịch sử cách mạng, những di tích văn hóa-tín ngưỡng cũng là những điểm thu hút khách mạnh mẽ của vùng. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy mức độ khai thác, phát triển du lịch văn hóa lịch sử vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của khu vực. Bởi bên cạnh những cơ hội và điều kiện thuận lợi, du lịch văn hóa lịch sử Đồng bằng sông Cửu Long còn phải đối mặt với những thách thức không nhỏ, đó là: Nhiều di sản văn hóa, cổ vật tồn tại hàng vạn năm đã và đang liên tục bị tác động bởi thời tiết, chiến tranh và các biến cố lịch sử, sự xâm hại của con người, hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hư hỏng, thất lạc, mất mát và sai lệch so với di tích gốc; Nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đang bị lãng quên, đội ngũ nghệ nhân dân gian đang bị mai một dần.

Bên cạnh đó, các điểm du lịch văn hóa lịch sử hầu như ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng giao thông chưa thuận lợi; hoạt động du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa còn mới nên chưa đồng bộ, hiệu quả thấp; quy hoạch một số điểm di tích trở nên lạc hậu, có nguy cơ bị phá vỡ và gây ô nhiễm môi trường; công tác quản lý di tích, văn hóa chưa phù hợp, chồng chéo, chưa có sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, chưa có kế hoạch phát triển đột biến…đã ảnh hưởng đến số lượng khách tham quan. Hiện nay, các doanh nghiệp du lịch đã chú trọng đầu tư vào loại hình văn hóa lịch sử nhưng chưa rõ nét, sản phẩm đơn điệu nghèo nàn, thiếu sản phẩm du lịch văn hóa lịch sử cao cấp.

Hiện nay, Vùng có 18 bảo tàng, trong đó có 1 bảo tàng cấp quốc gia (bảo tàng Tiền Giang)và 1 bảo tàng cấp địa phương (Hậu Giang), 16 bảo tàng còn lại thuộc về lĩnh vực xã hội, trưng bày về hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ.

  • Lễ hội

Cúng như di tích lịch sử văn hóa, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có nhiều hoạt động lễ hội trong năm. Tùy vào nội dung hoạt động có thể phân ra các loại hình lễ hội lịch sử, lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội dân gian của khu vực. Các lễ hội đặc sắc nhất Đồng bằng sông Cửu Long tập trung tại An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre như: Lễ hội Bà Chúa Xứ, lễ hội đua bò, lễ hội Oóc-om-bóc,….

  • Làng nghề truyền thống

ĐBSCL hiện có 211 làng nghề tiểu thủ công, chiếm 10% số làng nghề trong cả nước và khoảng 50% số hộ nông nghiệp coi sản xuất thủ công là nghề phụ để cải thiện thu nhập. Nhiều làng nghề đã tạo nên nét đặc trưng riêng cho từng địa phương. An Giang có làng dệt thổ cẩm, đường thốt nốt, Vĩnh Long có nghề làm gốm, Sóc Trăng có bánh pía, lạp xưởng, Bến Tre có kẹo dừa,…

Tuy nhiên, việc phát triển làng nghề vẫn còn gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, không có sự gắn kết giữa làng nghề, nghệ nhân, thợ thủ công, và các doanh nghiệp,….

Bên cạnh các tài nguyên du lịch nhân văn kể trên, Đồng bằng sông Cửu Long còn có các tiềm năng du lịch khác như: ẩm thực – nơi sinh sống của các dân tộc Kinh-Hoa-Khmer- Chăm,…và các nghệ thuật truyền thống như: hát dù kê của người Khmer, vọng cổ và cải lương của người Kinh,….

2.1.2. Các yếu tố khí hậu của Á vùng du lịch Nam Bộ Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Khí hậu Á vùng Nam Bộ mang đặc trưng là kiểu khí hậu cận xích đạo gió mùa ẩm, với bức xạ Mặt trời lớn, số giờ nắng nhiều, nhiệt độ trung bình năm cao, biên độ nhiệt năm thấp và lượng mưa khá dồi dào,…. Tuy nhiên, giữa các Tiếu vùng cũng như gữa các địa phương trong vùng vẫn có sự khác nhau về các đặc trưng thời tiết khí hậu. Sự khác biệt đó đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như mùa vụ du lịch, khả năng phát triển các loại hình du lịch.  

Chế độ bức xạ Mặt trời, mây và nắng 

Bảng 2.6: Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm (phần mười bầu trời)

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm 
ĐÔNG NAM BỘ 
BìnhPhước 4,1 4,0 4,8 5,7 6,8 7,5 7,7 7,9 7,9 6,9 5,7 4,4 6,1
Tây Ninh 7,8 8,2 8,1 8,4 8,9 9,2 9,4 9,3 9,3 9,2 8,4 7,8 8,7
HCM 4,6 4,4 4,4 5,6 6,9 7,5 7,3 7,4 7,7 7,3 6,6 5,7 6,3
Vũng Tàu 5,4 4,9 4,9 5,7 7,2 8,0 8,0 8,0 8,1 7,7 6,9 6,3 6,8
Côn Đảo 6,9 6,6 6,2 5,9 6,8 7,4 7,4 7,6 7,6 7,5 7,5 7,3 7,1
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
An Giang 3,8 3,6 3,9 5,2 6,3 7,3 7,2 7,5 7,4 7,0 6,0 4,8 5,8
Cần Thơ 5,0 4,7 4,4 5,0 6,4 7,2 7,2 7,3 7,3 7,1 6,4 5,6 6,1
Sóc Trăng 4,4 4,0 3,8 4,4 6,1 6,7 6,7 6,8 6,6 6,4 5,6 5,2 5,6
Cà Mau 6,6 6,5 6,4 6,8 7,7 8,0 7,9 8,0 8,0 7,9 7,6 7,1 7,4
Phú Quốc 5,1 5,2 5,3 5,9 6,9 7,6 7,5 7,9 7,6 7,2 6,3 5,4 6,5

(Nguồn: Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, tr.39) Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Bảng 2.7: Số giờ nắng trung bình tháng và năm (giờ):

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
ĐÔNG NAM BỘ
Bình Phước 246,8 261,0 184,8 236,1 230,5 189,8 169,5 218,5 101,5 183,2 247,1 231,2 2500
Tây Ninh 195,5 227,1 191,3 210,1 211,3 207,9 192,8 214,5 159,5 176,1 236,6 226,1 2449
HCM 157,1 245,3 239,6 240,8 210,4 177,0 150,0 141,2 155,2 102,7 130,6 123,2 2073
Vũng Tàu 223,1 274,1 289,1 308,6 279,7 233,0 206,5 173,9 210,9 123,4 168,7 143,2 2634
Côn Đảo 195,0 272,3 273,7 298,7 296,0 227,2 194,3 193,3 198,0 112,6 156,0 101,5 2119
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU  LONG
An Giang 210,4 216,5 181,2 194,2 191,1 159,0 171,7 182,2 146,6 194,0 209,0 200,7 2257
Cần Thơ 216,0 274,4 291,0 277,5 258,5 218,1 183,5 183,8 195,5 163,4 182,6 168,7 2613
Sóc Trăng 196,7 249,3 222,5 264,4 205,9 177,1 206,6 223,0 144,2 241,1 198,3 167,6 2497
Cà Mau 137,3 186,1 192,2 228,5 172,3 118,1 158,5 177,4 105,2 176,8 144,2 95,7 1892
Phú Quốc 266,1 274,0 289,5 287,4 263,0 171,8 163,7 161,7 193,1 152,8 199,6 223,4 2646

(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ-2025) Bảng 2.6 cho thấy lượng mây trung bình ở á vùng Nam Bộ có sự khác nhau giữa các địa phương trong vùng và giữa mùa khô và mùa mưa.

Lượng mây á vùng Nam Bộ dao động từ 5,6-8,7/10 bầu trời. Lượng mây trong mùa khô (từ tháng XI-IV) vào khoảng 3,8-8,4/10 bầu trời, thấp hơn so với trong mùa mưa (V-X) từ 6,1-9,4/10 bầu trời. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Những nơi có lượng mây trung bình cao thường là những vùng ven biển (như Cà Mau – 7,4/10 bầu trời và Côn Đảo – 7,1/10 bầu trời) là những nơi có số giờ nắng trung bình thấp nhất. Riêng Tây Ninh là nơi có lượng mây trung bình chiếm cao nhất (8,7/10 bầu trời) nhưng số giờ nắng tương đối cao là do Tây Ninh là khu vực đồi núi nên nhận được khá nhiều bức xạ Mặt trời.

Qua bảng 2.7 ta thấy rằng á vùng Nam Bộ có khá nhiều nắng (dao động từ 1892 giờ đến 2646 giờ). Tương ứng với lượng mây trong mùa khô và mùa mưa, ta thấy rằng mùa khô số giờ nắng cao hơn mùa mưa ở mỗi địa phương.

Hai địa phương vùng núi (Bình Phước và Tây Ninh) là một trong những nơi có số giờ nắng nhiều nhất từ 2449-2500 giờ và phân bố khá đều các thời gian trong năm, nên rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh vùng núi.

Vùng ven biển ở Nam Bộ có số giờ nắng nhiều dao động từ 2119-2646giờ (trừ Cà Mau 1892giờ), do đó đây là một trong những lợi thế phát triển du lịch, tham quan và nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe biển rất lý tưởng. Tuy nhiên, vùng ven biển giữa 2 tiểu vùng cũng có sự khác nhau: Vũng Tàu và Côn Đảo (ĐNB) thời gian có nhiều nắng nhất là từ tháng I-IX; còn ở Cà Mau có số giờ nắng ít nhất, nắng nhiều nhất vào giai đoạn từ tháng II-V, Phú Quốc lại là nơi có số giờ nắng cao nhất và phân bố đều khắp trong năm, giai đoạn nhiều nắng nhất là từ tháng XI-V.

Các địa phương trong nội địa thì TP.Hồ Chí Minh là địa phương có số giờ nắng ít nhất và giai đoạn nắng nhiều nhất là từ II-V; còn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long số giờ nắng phân bố đều khắp trong năm, tuy nhiên giai đoạn nắng nhiều nhất cũng khác nhau ở 3 địa phương (An Giang là tháng X-V năm sau; Cần Thơ là I-IX; Sóc Trăng là I-V, VII-VIII và X-XI) rất thích hợp cho du lịch.

  • Chế độ nhiệt

Bảng 2.8: Nhiệt độ trung bình tháng và năm (P 0C):P                              

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm 
ĐÔNG NAM BỘ
Bình Phước 24,9 25,9 26,8 27,5 27,2 26,8 26,0 26,2 25,5 25,8 25,5 25,1 26,1
Tây Ninh 26,2 26,8 27,8 29,0 28,5 28,0 27,4 27,4 27,1 26,9 26,7 26,2 27,3
HCM 26,9 27,4 28,8 29,7 29,3 28,9 28,0 28,1 27,9 27,7 27,6 27,3 28,1
Vũng Tàu 26,1 26,4 27,8 29,0 29,0 28,9 28,1 28,1 28,0 27,8 27,4 26,5 27,8
Côn Đảo 26,0 26,4 27,7 28,9 28,9 28,9 28,3 28,1 28,0 27,8 27,3 26,5 27,7
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU  LONG
An Giang 25,6 26,5 27,9 29,0 28,8 28,2 27,6 27,9 27,6 27,7 27,3 26,4 27,5
Cần Thơ 25,5 26,4 27,8 28,7 28,3 27,7 27,2 27,2 27,1 27,2 26,9 26,2 27,2
Sóc Trăng 25,4 25,9 27,4 28,4 28,1 27,7 27,0 27,1 26,8 27,0 26,6 26,0 27,0
Cà Mau 26,0 26,7 28,0 28,9 28,7 28,3 27,5 27,7 27,3 27,3 27,0 26,6 27,5
Phú Quốc 26,5 26,9 27,9 28,6 28,7 28,5 27,7 27,9 27,5 27,4 27,3 26,8 27,6

(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ-2025) Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Bảng 2.9: Biên độ ngày đêm của nhiệt độ trung bình tháng và năm (0C):

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm 
ĐÔNG NAM BỘ
Bình Phước 12,9 13,5 13,3 11,6 9,8 8,0 7,8 7,4 7,8 8,6 10,3 11,6 10,2
Tây Ninh 11,2 11,5 11,5 10,4 9,0 8,1 7,8 7,4 7,3 7,4 8,5 10,0 9,2
HCM 10,5 10,4 9,5 8,8 8,8 7,8 7,7 7,5 6,9 7,3 8,2 9,4 8,6
Vũng Tàu 6,3 5,7 5,2 5,2 5,7 5,9 5,7 5,6 5,6 5,5 5,8 6,4 5,7
Côn Đảo 3,8 4,7 5,8 6,5 6,7 5,9 5,5 5,3 5,5 5,4 4,1 3,5 5,2
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
An Giang 8,1 9,0 9,9 9,7 7,8 7,0 6,9 6,2 5,6 5,4 5,5 6,7 7,3
Cần Thơ 7,9 8,3 8,8 8,5 7,9 7,1 6,8 6,5 6,4 6,2 6,1 6,7 7,2
Sóc Trăng 8,3 8,8 9,3 9,3 8,2 7,0 6,7 6,4 6,4 6,3 6,5 7,2 7,5
Cà Mau 8,1 8,8 9,4 9,5 8,0 6,9 6,7 6,5 6,3 6,2 6,3 6,8 7,4
Phú Quốc 7,9 7,6 7,5 6,9 5,8 4,7 4,5 4,3 4,5 5,6 6,3 7,1 6,1

(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ-2025)

Nhìn chung, nhiệt độ của á vùng Nam Bộ nóng quanh năm dao động từ 26,1 – 28,10C. Biên độ nhiệt năm thấp từ < 60C. Chỉ có TP.Hồ Chí Minh là nơi có nhiệt độ trung bình tháng vượt quá 290C. Các địa phương trong vùng cũng có chế độ nhiệt khác nhau.

Bình Phước là nơi có nhiệt độ trung bình thấp nhất, chế độ nhiệt khá điều hòa, hai tháng có nhiệt độ cao nhất là IV và V thì nhiệt độ cũng chỉ là 27,50C và 27,20C. Tuy nhiên, cần chú ý biên độ nhiệt ngày đêm ở đây khá cao (cao nhất vùng, giai đoạn cao nhất là XI-IV). Còn Tây Ninh thì nhiệt độ có cao hơn, có đến 7 tháng nhiệt độ > 270C (III-IX), tuy nhiên giai đoạn nóng nhất là IV-VI (nhiệt độ > 280C). Đây cũng là địa phương có biên độ nhiệt ngày đêm ở đây khá cao (giai đoạn cao nhất là XII-IV).

Vùng ven biển Nam Bộ nhiệt độ trung bình không chênh lệch nhau nhiều lắm, nhiệt độ khá cao từ 27,5-27,80C, có đến 9 tháng nhiệt độ > 270C (III-XI); tuy nhiên về biên độ nhiệt ngày và đêm thì vùng ven biển Đông Nam Bộ (VT và CĐ) lại thấp hơn so với vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (CM và PQ), do đó mà vùng ven biển Đông Nam Bộ thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh hơn so với vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.

Vùng nội địa, TP.Hồ Chí Minh là nơi có nhiệt độ cao nhất vùng và biên độ nhiệt ngày và đêm cũng khá cao, do đó du khách cần chú ý đến yếu tố chế độ nhiệt khi đi du lịch đến đây; ở TP.HCM có đến 11 tháng nhiệt độ > 270C (II-XII), giai đoạn nóng nhất là III-VIII (nhiệt độ > 280C). Còn vùng nội địa Đồng bằng sông Cửu Long chế độ nhiệt điều hòa hơn, giai đoạn nóng nhất là III-VI, An Giang là địa phương nóng nhất, còn Cần Thơ và Sóc Trăng thì nhiệt độ khá ôn hòa, thuận lợi cho việc nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Chế độ mưa ẩm

Bảng 2.10: Độ ẩm trung bình tháng và năm (%):

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm 
ĐÔNG NAM BỘ
Bình Phước 69,4 67,6 69,6 74,2 77,8 82,4 83,6 85,4 87,6 87,4 83,0 77,2 71,5
Tây Ninh 70,6 73,6 73,2 75,6 81,8 83,2 83,6 84,8 86,6 85,6 79,6 72,8 79,3
HCM 70,2 69,4 69,6 71,6 77,2 77,6 79,6 81,3 81,2 80,4 76,8 72,4 75,6
Vũng Tàu 75,8 76,4 75,4 76,0 80,0 79,8 81,0 81,4 81,2 82,4 79,6 77,6 78,9
Côn Đảo 75,8 77,6 76,4 77,0 80,0 79,2 80,2 80,1 80,1 82,0 80,0 77,6 78,8
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU  LONG
An Giang 79,8 79,0 76,6 79,6 82,2 84,2 83,8 83,2 84,2 82,6 79,4 78,4 75,0
Cần Thơ 80,0 78,2 76,4 77,8 83,0 84,4 85,2 86,2 86,2 85,6 82,6 81,0 82,2
Sóc Trăng 81,6 79,8 78,2 79,2 85,0 86,4 87,8 87,6 88,0 87,4 85,2 82,6 84,1
Cà Mau 79,0 77,8 75,0 77,6 82,4 83,4 85,2 84,8 86,0 85,8 83,2 79,6 81,7
Phú Quốc 72,4 76,8 77,8 80,0 82,8 84,6 85,6 85,4 86,8 84,6 77,4 71,6 73,4

(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ-2025) Độ ẩm trung bình á vùng Nam Bộ khá cao dao động từ 71,5%-84,1%, và không có tháng nào độ ẩm vượt quá 90%. Theo các nghiên cứu trước đây, thì độ ẩm của vùng Nam Bộ rất thích hợp đối với sức khỏe của người Việt Nam, tuy nhiên lại hơi ẩm so với du khách đến từ vùng ôn đới. Bình Phước và Phú Quốc là hai địa phương có độ ẩm thấp nhất và thích hợp nhất đối với sức khỏe du khách (cả trong và ngoài nước).

Bảng 2.11: Lượng mưa trung bình tháng và năm (mm):

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
ĐÔNG NAM BỘ
Bình Phước 5,4 40,4 101,7 158,8 280,2 326,9 337,6 354,3 577,5 301,4 163,8 26,3 2573
Tây Ninh 13,0 10,0 37,2 56,0 294,7 254,9 290,1 244,7 345,5 232,4 273,8 34,5 2087
HCM 23,0 0 39,0 99,0 88,0 160,0 294,3 400,6 373,7 321,8 371,9 31,8 2203
Vũng Tàu 20,0 0 35,0 52,5 300,5 259,8 303,3 255,8 244,7 165,9 57,5 18,0 1713
Côn Đảo 11,0 9,9 101,8 60,8 221,0 244,7 392,2 242,0 364,8 341,8 178,7 10,6 1959
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU  LONG Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.
An Giang 12,0 0 27,4 80,7 217,0 157,2 139,3 188,2 128,1 113,8 189,2 32,0 1285
Cần Thơ 15,5 0 12,5 66,5 195,9 143,8 230,4 204,4 187,6 265,4 147,6 61,3 1531
Sóc Trăng 13,0 0 12,2 47,5 378,5 351,1 204,7 423,2 231,8 86,5 142,1 14,3 1905
Cà Mau 19,0 0 87,2 91,0 241,5 369,8 298,1 236,8 593,8 187,4 242,9 78,4 2446
Phú Quốc 12,2 20,3 113,1 160,7 207,0 249,7 404,3 307,5 498,8 296,9 102,5 59,6 2433

(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ-2025)

Bảng 2.12: Số ngày có mưa trung bình tháng và năm (ngày):

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
ĐÔNG NAM BỘ 
Bình Phước 1 1 12 9 16 22 19 22 22 18 16 8 166
Tây Ninh 2 1 6 4 19 19 21 20 20 23 11 5 151
HCM 5 0 9 7 16 19 23 18 18 19 18 6 158
Vũng Tàu 1 0 1 3 17 21 21 18 24 12 7 8 133
Côn Đảo 3 1 7 2 11 19 23 19 24 16 12 10 157
An Giang 1 0 12 9 16 22 19 22 22 18 16 8 165
Cần Thơ 3 0 5 3 16 19 17 19 16 14 15 12 149
Sóc Trăng 1 0 5 3 23 22 24 22 24 13 13 8 158
Cà Mau 3 0 7 7 23 24 21 20 21 14 14 16 170
Phú Quốc 2 5 17 11 21 23 20 23 26 19 15 6 188

(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ-2025)

Bảng 2.11 và 2.12 cho thấy, Nam Bộ là vùng có lượng mưa khá nhiều (dao động 1285-2446mm/năm), mùa mưa kéo dài từ tháng V-XI nhưng lượng mưa tập trung nhiều nhất là từ tháng V-X (thời kì gió mùa tây nam hoạt động mạnh nhất) và số ngày mưa trong tháng nhiều nhất là từ tháng V-IX. Ngoài việc phân hóa theo mùa, thì lượng mưa cũng có sự phân hóa theo vùng miền, cũng như giữa các địa phương.

Vùng ven biển: các địa phương vùng ven biển có lượng mưa khá lớn (1713- 2446mm/năm). Vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long lượng mưa cũng như số ngày mưa nhiều hơn vùng ven biển Đông Nam Bộ. Do đó, thời gian tốt cho hoạt động du lịch ở vùng ven biển ĐBSCL (Cà Mau và Phú Quốc) ngắn hơn so với vùng ven biển Đông Nam Bộ (Vũng Tàu và Côn Đảo).

Vùng nội địa: TP.Hồ Chí Minh có lượng mưa tương đối và mùa mưa kéo dài từ tháng VI-XI, số ngày mưa thấp nên khá thuận lợi cho các hoạt động du lịch. Còn vung Đồng bằng sông Cửu Long thì khu vực đồng bằng nội địa lượng mưa cũng như số ngày mưa khá thấp nên rất thuận lợi cho du lịch, tuy nhiên, mùa mưa lại kéo dài từ tháng V-XI cho nên mùa vụ du lịch các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngắn hơn. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Còn Bình Phước lượng mưa nhiều nhất vùng và Tây Ninh cũng có lượng mưa khá nhiều nhưng cả hai địa phương vùng núi này có số ngày mưa trong năm khá thấp. Do địa hình là vùng núi nên hai địa phương trên cần phải có các biện pháp đảm bảo an toàn cho du khách trong mùa mưa nhất là các hiện tượng đất trượt đá lở, lốc xoáy,…

  • Gió

Bảng 2.13: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (m/s):

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm 
ĐÔNG NAM BỘ 
Bình Phước 1,6 1,6 1,7 1,6 1,7 1,8 1,7 1,7 1,5 1,3 1,6 1,8 1,6
Tây Ninh 1,4 1,7 1,9 1,6 1,4 1,4 1,4 1,5 1,4 1,3 1,5 1,7 1,5
HCM 2,3 3,1 3,6 3,3 2,5 2,7 2,9 3,8 2,7 2,2 2,2 2,0 2,8
Vũng Tàu 3,2 4,6 4,7 3,8 2,7 3,2 2,8 2,9 2,3 2,0 2,4 2,1 3,1
Côn Đảo 4,0 3,3 2,5 1,7 1,5 2,3 2,4 2,9 2,2 1,6 3,2 4,0 2,6
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
An Giang 1,2 1,3 1,4 1,6 1,5 1,7 1,9 2,1 1,8 1,6 2,0 1,8 1,7
Cần Thơ 1,7 1,8 1,7 1,3 1,2 1,5 1,6 1,8 1,3 1,1 1,4 1,4 1,5
Sóc Trăng 1,8 2,3 2,1 1,7 1,4 1,6 1,7 1,8 1,4 1,0 1,4 1,5 1,7
Cà Mau 1,7 1,7 1,6 1,1 0,8 1,1 1,1 1,3 1,0 0,9 1,4 1,6 1,3
Phú Quốc 7,9 7,6 7,4 7,0 5,8 4,8 4,6 4,3 4,6 5,7 6,4 7,2 6,1

(Nguồn: Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, tr.210)

Theo sự phân loại gió đối với sức khỏe thì tốc độ gió của 9/10 trạm khảo sát ở vùng Nam Bộ thuộc loại tốt và rất tốt (trừ Cà Mau ở mức độ bình thường). Tuy ¾ trạm vùng ven biển có tốc độ gió trung bình thuộc loại rất tốt (2-3m/s). Nơi có tốc độ gió cao nhất là Phú Quốc (6,1m/s), đối với địa điểm này cần chú ý khi đi du lịch vào các tháng XI-IV, tốc độ gió rất lớn. Còn vùng biển Đông Nam Bộ nói chung là tốc độ gió ở mức rất phù hợp cho du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh ven biển.

  • Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Bảng 2.14: Số ngày sương mù trung bình tháng và năm (ngày)

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm 
ĐÔNG NAM BỘ  Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.
Bình Phước 0,3 1,0 0,1 0,0 0,3 0,3 0,2 0,1 0,3 1,4 0,9 0,4 5,4
Tây Ninh 1,3 0,9 0,5 0,1 0,5 0,3 0,4 0,4 0,4 0,1 0,2 0,3 5,2
TP.HCM 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
Vũng Tàu 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
Côn Đảo 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
An Giang 0,1 0,2 0,1 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,6 0,6
Cần Thơ 0,2 0,5 0,5 0,3 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,4 1,9 1,9
Sóc Trăng 0,3 0,3 0,1 0,0 0,0 0,0 0,1 0,1 0,2 0,1 0,0 0,1 1,3
Cà Mau 0,5 0,6 1,0 0,1 0,0 0,0 0,0 0,0 0,1 0,1 0,0 0,0 2,5
Phú Quốc 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0

(Nguồn: Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, tr.212)

Bảng 2.15: Số ngày có dông trung bình tháng và năm (ngày)

Tháng  I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm 
ĐÔNG NAM BỘ 
Bình Phước 0,7 1,5 4,7 13,0 17,3 12,6 13,0 11,6 14,4 11,4 5,1 1,2 106,5
Tây Ninh 0,8 0,7 2,4 8,8 15,6 13,1 13,2 11,8 15,7 14,0 7,2 1,1 104,4
TP.HCM 0,0 0,3 0,2 2,0 11,0 8,0 13,0 9,0 9,0 8,0 6,0 1,0 67,5
Vũng Tàu 0,0 0,0 0,2 2,0 9,5 9,3 8,8 7,2 6,6 5,8 1,4 0,1 53,0
Côn Đảo 0,0 0,0 0,1 1,0 5,7 7,1 6,3 5,9 6,0 4,5 1,1 0,2 38,0
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
An Giang 0,1 0,2 1,1 3,5 5,4 3,3 2,9 1,8 2,4 3,8 1,6 0,5 26,7
Cần Thơ 0,1 0,2 1,1 4,3 10,3 7,8 7,2 6,4 8,9 10,4 4,4 0,9 62,1
Sóc Trăng 0,0 0,2 0,8 3,5 11,3 9,3 8,2 6,8 7,5 6,4 2,8 0,3 57,1
Cà Mau 0,2 0,4 2,9 9,0 14,6 12,6 `0,7 10,1 10,3 11,6 5,7 0,8 88,9
Phú Quốc 0,3 0,4 2,0 6,2 8,3 5,6 4,0 4,0 3,8 5,2 2,5 0,4 42,6

(Nguồn: Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, tr.214) Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Bảng 2.16: Thời gian hoạt động của một số loại thời tiết gây trở ngại đến phát triển du lịch ở một số khu vực của Việt Nam

Khu vực Gió bụi trong mùa khô Bão Lũ lụt Gió mùa Đông Bắc
Trung du miền núi phía Bắc VII-VIII VI-VIII XII-II
Duyên hải Bắc Bộ VII-VIII VI-VIII XII-II
Duyên hải Bắc Trung Bộ IX-XI IX-X-XI XI-II
Duyên hải Nam Trung Bộ X-XI X-XI XI-II
Tây Nguyên I-III
Nam Bộ I-III

(Nguồn: Bùi Thị Hải Yến – Phạm Hồng Long, Tài nguyên du lịch, tr.87, NXB Giáo dục 2022)

Bảng 2.14 cho thấy các địa phương trong vùng số ngày có sương mù rất thấp (có đến 4 trạm không có sương mù), điều này tạo điều kiện thuận lại cho việc đi lại và vui chơi giải trí của du khách.

Bảng 2.15 và 2.16 cho thấy các hiện tượng thời tiết gây cản trở hoạt động du lịch rất ít xảy ra ở vùng Nam Bộ nhưng vùng Nam Bộ cần chú ý về yếu tố dông nhất là các địa phương vùng núi (Bình Phước và Tây Ninh) và cả ven biển Cà Mau. Tuy ít xảy ra bão lũ nhưng cùng với sự biến đổi khí hậu đang diễn ra hiện nay –  tần suất bão đổ về miền Nam trong thời gian gần đây ngày càng tăng, cho nên cá địa phương trong vùng cần có các biện pháp để ứng phó với các diễn biến khí hậu một cách tốt nhất, nhằm tận dụng lợi thế sinh khí hậu của vùng phục vụ cho hoạt động du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh một cách triệt để.

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG KHÍ HẬU RIÊNG

Đối chiếu với bảng 1.5 (trang 26) và 1.6 (trang 39) của luận văn, kết quả đánh giá từng yếu tố thời tiết đối với hoạt động du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh của vùng Nam Bộ như sau:

Bảng 2.17: Đánh giá tài nguyên khí hậu đối với hoạt động du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh của vùng Nam Bộ[1]

Địa điểm Bức xạ, mây, nắng Gió Nhiệt độ Biên độ nhiệt năm Độ ẩm Mưa Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Bình Phước Rất tốt Tốt Khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Nhiều dông
Tây Ninh Rất tốt Tốt Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Nhiều dông
TP.HCM Rất tốt Rất tốt Nóng Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Tốt
Vũng Tàu Rất tốt Rất tốt Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Thích nghi Tốt
Côn Đảo Rất tốt Rất tốt Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Tốt
An Giang  Rất tốt Tốt Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Thích nghi Tốt
Cần Thơ Rất tốt Tốt Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Thích nghi Tốt
Sóc Trăng Rất tốt Tốt Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Tốt
Cà Mau Rất tốt Bình thường Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Tốt
Phú Quốc Rất tốt Rất tốt (cần chú ý XI-IV) Nóng – khá thích nghi Thích nghi Rất tốt Khá thích nghi Tốt

2.2. Đánh giá điều kiện sinh khí hậu tổng hợp phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh á vùng nam bộ bằng các chỉ số di và rsi  Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

2.1.3. Cơ sở dữ liệu để tính toán các chỉ số sinh khí hậu

Để đánh giá điều kiện sinh khí hậu tổng hợp thì có rất nhiều chỉ số như: chỉ số bất tiện nghi (DI), RSI (nhiệt căng thẳng tương đối), nhiệt độ hiệu dụng τ, chỉ số khí hậu du lịch (TCI), chỉ tiêu Korenkov,…Tuy nhiên, do số liệu mà học viên tiếp cận được khá hạn chế nên học viên chỉ tiến hành khảo sát hai chỉ số sinh khí hậu tổng hợp là DI và RSI để đánh giá điều kiện sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh ở vùng Nam Bộ (khảo sát 10/19 địa phương).

2.2.2. Đánh giá DI và RSI đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh vùng Nam Bộ

2.2.2.1. Chỉ số DI

Từ kết quả của các nghiên cứu trước đó về mức cảm giác nhiệt-ẩm của người Việt Nam, học viên đề nghị các mức cảm giác DI và RSI  như sau:

Thuận lợi nhất: DI < 240 ; Tương đối thuận lợi: 240 < DI < 260 ;  ít thuận lợi: 260 < DI < 280  

Bảng 2.18:Kết quả tính toán DI trung bình 5 năm (2020-2024)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
ĐÔNG NAM BỘ
BP 22,6 23,5 24,7 25,4 25,5 25,3 25,1 24,9 24,6 24,7 24,2 23,1
TN 23,9 24,5 25,7 26,6 26,4 26,4 25,8 25,9 25,6 25,6 25,3 24,3
TPHCM 24,5 25,2 25,9 26,9 26,9 26,6 26,1 26,2 26,1 25,9 25,4 25,1
VT 24,4 24,7 25,7 26,7 26,9 26,9 26,4 26,3 26,2 26,1 25,7 24,8
24,3 24,7 25,5 26,5 26,7 26,8 26,3 26,3 26,2 26,1 25,8 24,7
ĐỒNG  BẰNG SÔNG CỬU LONG
AG 24,2 25,2 25,8 26,9 26,7 26,4 26,1 26,1 25,9 26,1 25,7 24,7
CT 24,6 24,7 25,8 26,5 26,6 26,3 25,9 25,9 25,8 25,8 25,2 24,4
ST 24,1 24,2 25,3 26,3 26,4 26,2 25,8 25,8 25,6 25,7 25,3 24,5
CM 24,5 24,7 25,6 26,4 26,5 26,3 25,9 26,1 26,1 26,0 25,6 24,9
PQ 24,5 25,0 25,9 26,6 26,9 26,8 26,3 26,4 26,0 25,9 25,5 24,7

(Nguồn: học viên tự tính toán) Bảng 2.18 cho thấy tất cả các kết quả của chỉ số sinh khí hậu tổng hợp DI đều nằm trong khoảng từ trên 22,0 đến 27,0. Trong đó, giá trị 21≤ DI < 24 chỉ xuất hiện 4 lần vào các tháng XII-II; giá trị 24 ≤ DI < 26 xuất hiện nhiều nhất với 55 lần và giá trị 26 ≤ DI < 28 xuất hiện 41 lần vào các tháng IV-IX, đặc biệt là các tháng IV-VI xuất hiện với tần suất 27 lần. Do đó, khi đối chiếu với bảng 1.7, học viên nhận thấy rằng điều kiện nhiệt độ ở á vùng Nam Bộ là nóng đối với sức khỏe con người nhưng cũng không quá gay gắt đến nỗi không thể chịu đựng được. Kết quả bảng 2.18 còn cho thấy sự khác biệt về điều kiện nhiệt độ đối với sức khỏe con người giữa 2 tiểu vùng cũng như giữa các địa phương trong vùng. Sự khác biệt đó, học viên sẽ làm rõ cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Tiểu vùng Đông Nam Bộ

Kết quả tính toán bảng 2.18 và hình 2.3, cho ta thấy rằng giữa các địa phương trong tiểu vùng Đông Nam Bộ, chỉ số sinh khí hậu tổng hợp DI có sự khác nhau.

Bình Phước là địa phương có chỉ số sinh khí hậu DI trung bình 5 năm thấp nhất còn TP.Hồ Chí Minh cao nhất. Theo kết quả nghiên cứu của Thom (bảng 1.7 trang 40), thì điều kiện sinh khí hậu cụ thể ở từng địa phương trong vùng như sau:

Bình Phước

  • Các tháng có chỉ số DI < 24: tháng XII, I và II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tốt nhất cho việc nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe.
  • Các tháng còn lại DI > 24 là các tháng IV – VII, nhưng tháng DI lớn nhất (tháng V) thì DI cũng chỉ ở mức 25,49 mà thôi. Do đó, cảm giác về nhiệt cũng không quá gay gắt.

Tây Ninh

  • Chỉ có tháng I là DI < 24; tháng phù hợp nhất đối với du lịch nghỉ dưỡng.
  • Các tháng IV-VI, DI > 26: đây là ngưỡng nóng nên du khách cần chú ý.
  • Các tháng còn lại 24 < DI < 26 – là giai đoạn mà mức cảm giác nhiệt không quá gay gắt.

Hồ Chí Minh

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng.
  • Có đến 6 tháng (IV-IX) DI > 26. Du khách cần chú ý về yếu tố nhiệt khi đến tham quan du lịch TP.Hồ Chí Minh.
  • Các tháng còn lại (X-III) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Vũng Tàu

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24.
  • Có 8 tháng (IV-XI) DI > 26, do đó du khách cũng nên chú ý các biện pháp chống và tránh nắng khi đi du lịch vào thời gian này.
  • Các tháng còn lại (XII-IV) 24 < DI < 26 – là giai đoạn mà mức cảm giác nhiệt không quá gay gắt.

Côn Đảo

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng.
  • Có đến 6 tháng (IV-IX) DI > 26. Du khách cần chú ý về yếu tố nhiệt khi đến đây.
  • Các tháng còn lại (X-III) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện mức DI trung bình 5 năm (2020-2024) của tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Kết quả và biểu đồ hình 2.4, DI cho thấy các địa phương trong tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long không có sự khác biệt quá lớn về mức độ thuận lợi đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Cụ thể (được trình bày trong bảng 2.11) như sau:

An Giang Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng.
  • Có đến 6 tháng (IV-VIII và X) DI > 26. Giai đoạn gay gắt về nhiệt đối với sức khỏe.
  • Các tháng còn lại (IX và XI-III) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Cần Thơ

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng. Tuy nhiên, mặt bằng chung thì yếu tố nhiệt của Cần Thơ không quá gay gắt.
  • Có 3 tháng (IV-VI) DI > 26. Giai đoạn gay gắt về nhiệt đối với sức khỏe.
  • Các tháng còn lại (VII-III năm sau) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Sóc Trăng

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng. Tuy nhiên, yếu tố nhiệt của Sóc Trăng cũng không quá gay gắt.
  • Có 3 tháng (IV-VI) DI > 26. Giai đoạn gay gắt về nhiệt đối với sức khỏe.
  • Các tháng còn lại (VII-III năm sau) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Cà Mau

  • Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng. Cà Mau cũng không quá gay gắt về nhiệt.
  • Có 3 tháng (IV-VI) DI > 26. Giai đoạn gay gắt về nhiệt đối với sức khỏe.
  • Các tháng còn lại (VII-III năm sau) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Phú Quốc

  • Tất Tất cả các tháng DI đều lớn hơn 24 nên mức cảm giác về nhiệt ở đây nóng.
  • Có đến 6 tháng (IV-VI) DI > 26. Giai đoạn gay gắt về nhiệt đối với sức khỏe.
  • Các tháng còn lại (VII-III năm sau) yếu tố nhiệt tương đối tốt cho sức khỏe du khách.

Bảng 2.19: Tổng hợp đánh giá điều kiện DI á vùng Nam Bộ phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh

Địa điểm Đặc điểm chung Thời kì thuận lợi nhất Thời kì tương đối thuận lợi Thời kì  ít thuận lợi
Bình Phước Chỉ số DI thấp nhất vùng XII-II năm sau III-XI
Tây Ninh Khá nóng I II, III và V-XII IV-VI
TP.HCM Nóng X-III năm sau IV-IX
Vũng Tàu Nóng nhất vùng XI-III năm sau IV-X
Côn Đảo Nóng XI-III năm sau IV-X
An Giang  Nóng IX và XI-III năm sau IV-VIII và X
Cần Thơ Nóng VII-III năm sau IV-VI
Sóc Trăng Nóng VII-III năm sau IV-VI
Cà Mau Nóng VII-III năm sau IV-VI
Phú Quốc Nóng X-III năm sau IV-IX

2.2.2.1. Chỉ sốRSI Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Bảng 2.20:Kết quả tính toán RSI trung bình 5 năm (2020-2024)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
ĐÔNG NAM BỘ
BP 0,12 0,15 0,18 0,20 0,21 0,20 0,18 0,18 0,17 0,18 0,16 0,14
TN 0,16 0,18 0,22 0,26 0,25 0,25 0,23 0,23 0,22 0,21 0,19 0,16
TPHCM 0,18 0,20 0,24 0,27 0,27 0,26 0,24 0,24 0,24 0,23 0,21 0,19
VT 0,17 0,18 0,22 0,26 0,27 0,26 0,24 0,25 0,24 0,23 0,22 0,18
0,16 0,17 0,22 0,25 0,27 0,26 0,24 0,24 0,23 0,23 0,21 0,17
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
AG 0,16 0,18 0,22 0,26 0,27 0,26 0,23 0,24 0,24 0,23 0,21 0,18
CT 0,16 0,18 0,22 0,25 0,26 0,24 0,22 0,23 0,22 0,22 0,20 0,18
ST 0,15 0,17 0,21 0,25 0,25 0,24 0,22 0,22 0,22 0,22 0,20 0,17
CM 0,17 0,16 0,23 0,26 0,25 0,26 0,23 0,24 0,23 0,23 0,21 0,19
PQ 0,17 0,18 0,22 0,26 0,27 0,26 0,24 0,24 0,27 0,23 0,20 0,20

(Nguồn: học viên tự tính toán)

Kết quả tính toán bảng 2.20 cho ta thấy chỉ số sinh khí hậu tổng hợp RSI tất cả đều nằm trong khoảng 0,1-0,3. Kết hợp với cách phân loại cuả bảng 1.8, học viên nhận thấy rằng, bảng phân loại 1.8 có phần chưa thỏa đáng. Vì đối với người bình thường, thì mức bất tiện nghi là 0,2 < RSI < 0,3 mà mức tiện nghi lại là RSI < 0,1.

Còn đối với người đã thích nghi khí hậu thì mức tiện nghi khi RSI < 0,2 và bất tiện nghi khi 0,3 < RSI < 0,5. Do đó, theo nhận định của học viên, các mức cảm giác RSI sẽ như sau:

Tiện nghi RSI <0,1; Khá tiện nghi 0,1 RSI < 0,2 và Bất tiện nghi 0,2 RSI

  • Tiểu vùng Đông Nam Bộ

Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện RSI trung bình 5 năm (2020-2024) của các địa phương tiểu vùng Đông Nam Bộ

Kết quả tính toán và qua biểu đồ 2.5, cho ta thấy rằng giữa các địa phương trong tiểu vùng Đông Nam Bộ, chỉ số sinh khí hậu tổng hợp RSI có sự khác nhau. Tương tự như chỉ số sinh khí hậu DI, Bình Phước là địa phương có chỉ số sinh khí hậu RSI trung bình 5 năm thấp nhất còn TP.Hồ Chí Minh cao nhất. Theo kết quả nghiên cứu của Theo Lee và Henschel (1966),  (bảng 1.8 trang 42), thì điều kiện sinh khí hậu cụ thể ở từng địa phương trong vùng như sau:

Bình Phước

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10 – mức độ hoàn toàn thích nghi với sức khỏe người ở mọi lứa tuổi.
  • Có 9 tháng có chỉ số RSI < 0,20: từ tháng VII đến tháng III. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.
  • Các tháng còn lại (IV-VI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20 nhưng không quá nhiều. Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu hơi gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe.Nhìn chung, điều kiện RSI của Bình Phước là tốt cho hoạt động du lịch tham quan, nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe.

Tây Ninh

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10.
  • Có 4 tháng có chỉ số RSI < 0,20: từ tháng XI đến tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-X), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V (RSI > 0,25). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu khá gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe.

Hồ Chí Minh

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10. Có 2 tháng có chỉ số RSI < 0,20: tháng XII và tháng I. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (II-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V, VI (RSI > 0,25). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Còn tháng XI và tháng II RSI vượt ngưỡng 0,20 ít nên đây là thời gian mà điều kiện sinh khí hậu không quá gay gắt.

Vũng Tàu

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10.
  • Có 3 tháng có chỉ số RSI < 0,20: tháng XII, I và tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V, VI (RSI > 0,25). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Hai tháng XI và tháng III RSI tuy > 0,2 nhưng không quá nhiều nên đây là giai đoạn điều kiện sinh khí hậu không quá gay gắt đối với sức khỏe con  người (khách du lịch).

Côn Đảo

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,1. Có 3 tháng có chỉ số RSI < 0,20: tháng XII, I và tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,2; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V, VI (RSI > 0,250). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Hai tháng XI và tháng II RSI tuy > 0,2 nhưng không quá nhiều nên đây là giai đoạn điều kiện sinh khí hậu không quá gay gắt đối với sức khỏe con  người. Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Hình 2.6: Biểu đồ thể hiện RSI trung bình 5 năm của các địa phương tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long Qua hình 2. 6 và kết quả tính toán, học viên rút ra một số kết luận như sau:

An Giang

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10 – mức độ hoàn toàn thích nghi với sức khỏe người ở mọi lứa tuổi.
  • Có 3 tháng có chỉ số RSI < 0,20: từ tháng XII đến tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20 nhưng tháng XI

RSI không vượt ngưỡng quá nhiều. Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu hơi gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Giai đoạn có điều kiện sinh khí hậu gay gắt nhất là từ tháng IV-VI (RSI > 0,25) nên cần chú ý chuẩn bị các vật dụng cần thiết để thích nghi với điều kiện nhiệt ẩm trong thời gian này.

Cần Thơ

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10.
  • Có 3 tháng có chỉ số RSI < 0,20: từ tháng XII đến tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V (RSI > 0,25). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu khá gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Các tháng III, VII và IX-XI, chỉ số RSI không vượt ngưỡng quá nhiều nên đây là thời gian mà điều kiện sinh khí hậu không quá bất tiện nghi đối với các hoạt động du lịch.

Sóc Trăng

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10.
  • Có 2 tháng có chỉ số RSI < 0,20: tháng XII và tháng I. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (II-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V, VI ( đặc biệt là tháng V, RSI > 0,25). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Còn tháng XI và tháng II RSI vượt ngưỡng 0,20 ít nên đây là thời gian mà điều kiện sinh khí hậu không quá gay gắt.

Cà Mau Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10.
  • Có 3 tháng có chỉ số RSI < 0,20: tháng XII, I và tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; các tháng có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV-VI (RSI > 0,25). Đây là tháng có điều kiện sinh khí hậu gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Tháng XI RSI tuy > 0,20 nhưng không quá nhiều nên đây là giai đoạn điều kiện sinh khí hậu không quá gay gắt đối với sức khỏe con người.

Phú Quốc

  • Không có tháng nào có chỉ số RSI < 0,10. Có 2 tháng có chỉ số RSI < 0,20: tháng I và tháng II. Đây là các tháng mà sinh khí hậu tiện nghi cho nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe đối với những người đã thích nghi khí hậu, khá tiện nghi đối với những người bình thường và kém tiện nghi đối với người già.
  • Các tháng còn lại (III-XI), chỉ số RSI vượt ngưỡng 0,20; giai đoạn có chỉ số RSI cao nhất là tháng IV, V, VI và IX (RSI > 0,25). Đây là các tháng có điều kiện sinh khí hậu gay gắt đối với nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Các tháng XI, XII và tháng III tuy RSI > 0,20 nhưng không quá nhiều nên đây là giai đoạn điều kiện sinh khí hậu không quá gay gắt đối với sức khỏe con  người.

Bảng 2.21: Tổng hợp đánh giá điều kiện sinh khí hậu tổng hợp RSI á vùng du lịch Nam Bộ phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh

Địa điểm Đặc điểm chung Thời kì khá tiện nghi Thời kì bất tiện nghi Ghi chú
Bình Phước RSI thấp nhất vùng VII-III năm sau IV-VI Điều kiện nhiệt ẩm tốt cho sức khỏe
Tây Ninh RSI tương đối XI-II III-X Chú ý tháng IV-V
TP.HCM RSI cao nh ất vùng XII-I II-XI Chú ý tháng IV-VI
Vũng Tàu RSI cao XII-II III-XI Chú ý tháng IV-VI
Côn Đảo RSI cao XII-II III-XI Chú ý tháng IV-VI
An Giang RSI cao XII-II III-XI Chú ý tháng IV-VI
Cần Thơ RSI khá cao XII-II III-XI Chú ý tháng IV-V
Sóc Trăng RSI khá cao XII-II III-XI Chú ý tháng V
Cà Mau RSI cao XII-II III-XI Chú ý tháng IV-VI
Phú Quốc RSI cao I-II III-XII Chú ý tháng IV-VI và IX

Nhận xét chung

Tiểu vùng Đông Nam Bộ Tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Chế độ bức xạ, mây nắng, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm chế độ mưa đều nằm ở ngưỡng tốt – rất tốt cho sức khoẻ con người.

Trong hoạt động du lịch cần lưu ý những điểm cụ thể là:

Thời tiết nắng nóng là các tháng I-V. Nhất là từ tháng IV đến nửa đầu tháng V.

Thời tiết gió nhiều, gió lớn vào các tháng XII-IV và VI.

Chế độ mưa ẩm từ thích nghi đến khá thích nghi đối với sức khoẻ con người.

Mùa mưa dông có thể xuất hiện nhưng không nhiều. Nhiều nhất là vùng núi Bình Phước và Tây Ninh.

Số ngày có sương mù rất ít hoặc không xuất hiện.

Cả năm nhiệt độ đều cần giảm để có được trạng thái “tiện nghi nhiệt” tối ưu, đặc biệt là các tháng III-XI.

Hàng năm có khoảng 306 -308 ngày có thời tiết tốt cho du lịch, thuộc loại nhiều nhất trên cả nước. Khu vực Đông Nam Bộ có thể được xếp loại rất thuận lợi cho kinh doanh du lịch  (trừ TP.Hồ Chí Minh – thuận lợi). Tuy nhiên, cũng cần chú ý yếu tố nhiệt độ cao và thời kì hoạt động mạnh của gió mùa Tây Nam.

Chế độ bức xạ, mây nắng, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm chế độ mưa đều nằm ở ngưỡng tốt – rất tốt cho sức khoẻ con người.

Trong hoạt động du lịch cần lưu ý những điểm cụ thể là:

Thời tiết nắng nóng là các tháng I-V. Nhất là từ tháng IV đến nửa đầu tháng V.

Thời tiết gió nhiều, gió lớn vào các tháng XII-III.

Chế độ mưa ẩm khá thích nghi đối với sức khoẻ con người.

Mùa mưa dông có thể xuất hiện và tương đối nhiều, đặc biệt là ở gần bờ.

Số ngày có sương mù rất ít hoặc không xuất hiện.

Cả năm nhiệt độ đều cần giảm để có được trạng thái “tiện nghi nhiệt” tối ưu, đặc biệt là các tháng II-XI.

Hàng năm có khoảng 234 -252 ngày có thời tiết tốt cho du lịch, thuộc loại khá nhiều ngày tốt ở nước ta. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có thể được xếp loại thuận lợi cho kinh doanh du lịch. Tuy nhiên, cũng cần chú ý yếu tố nhiệt độ cao và thời kì hoạt động mạnh của gió mùa Tây Nam.

Để có thể rút ra các kết luận chính xác hơn về các kết quả nghiên cứu trong luận văn, học viên còn tiến hành so sánh các kết quả nghiên cứu về sinh khí hậu của Nguyễn Khanh Vân, đặc biệt là phương pháp đánh thang điểm có trọng số đánh giá tài nguyên khí hu cho du lch, ngh dưỡng:

Trên cơ sở phân loại cấp thuận lợi các chỉ tiêu sinh khí hậu riêng và chỉ tiêu sinh khí hậu tổng hợp, có thể phân chia điểm của các cấp thích nghi và trọng số của các loại chỉ tiêu như sau:

  • Cấp rất thuận lợi: 3 điểm
  • Cấp thuận lợi: 2 điểm
  • Cấp ít thuận lợi: 1 điểm

So sánh các chỉ tiêu riêng và chỉ tiêu tổng tổng hợp, tác giả (Nguyễn Khanh Vân) thấy loại chỉ tiêu tổng hợp có vai trò quan trọng nhất, cũng rất quan trọng nhưng mức độ thấp hơn là các chỉ tiêu nhiệt độ và tổng lượng mưa trung bình năm, các chỉ tiêu này có ý nghĩa lớn trong sự hình thành tài nguyên sinh khí hậu của một lãnh thổ, do đó trọng số cụ thể của các chỉ tiêu sẽ như sau:

  • Chỉ tiêu sinh khí hậu riêng: Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Trọng số 1 đối với các đặc trưng: Nắng, Biên độ nhiệt năm, Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất, Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất.

Trọng số 1,5 đối với các đặc trưng: Nhiệt độ trung bình năm, Tổng lượng mưa trung bình năm.

Chỉ tiêu sinh khí hậu tổng hợp: trọng số 4 đối với đặc trưng Số ngày có thời tiết tốt (T13 = 22 -300C; H = 50 -80%; V13 = 1 -5 m/s; r07-19 giờ ≤ 5mm).

Điểm số của một đặc trưng sinh khí hậu i nào đó sẽ bằng điểm đánh giá mức độ thuận lợi riêng của đặc trưng đó nhân với trọng số của chính yếu tố này. Điểm tổng hợp của điều kiện sinh khí hậu tại một điểm A nào đó sẽ bằng tổng đại số của các điểm số thành phần.

Công thức tính:

  • DA: Điểm đánh giá chung tài nguyên sinh khí hậu du lịch, nghỉ dưỡng tại điểm A,
  • Di : Điểm đánh giá đặc trưng khí hậu thứ i
  • Kt : Hệ số tầm quan trọng – trọng số của đặc trưng thứ i i: Đặc trưng sinh khí hậu đánh giá, i = 1, 2,…,n

Bảng 2.22: Kết quả đánh giá điều kiện sinh khí hậu cho du lịch và nghỉ dưỡng bằng phương pháp thang điểm có trọng số

Ghi chú : Các trạm Bình Phước, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau do không thu thập được số liệu số ngày tốt cho du lịch, nghỉ dưỡng nên học viên lấy căn bậc 6 cho 6 yếu tố.

Trên cơ sở điểm số trung bình nhân đã nhận được, học viên phân chia điều kiện sinh khí hậu cho du lịch và nghỉ dưỡng của vùng Nam Bộ ra các loại sau:

  • Rất tốt: 3,31 – 3,03 điểm
  • Tốt: 3,02 – 2,74 điểm
  • Tương đối tốt: 2,73 – 2,46 điểm

Từ kết quả bảng 2.22 kết quả đánh giá điều kiện sinh khí hậu cho du lịch và nghỉ dưỡng của á vùng Nam Bộ theo phương pháp thang điểm có trọng số như sau:

  • Rất tốt: Vũng Tàu, Côn Đảo.
  • Tốt: Tây Ninh, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau.
  • Tương đối tốt: Bình Phước, TP.Hồ Chí Minh và Phú Quốc.

Kết luận chung Luận văn: Thực trạng du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh.

Tổng hợp các kết quả từ [1], [2], [3] và [4] và so sánh với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Khanh Vân, điều kiện sinh khí hậu đối với du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh của các địa phương trong á vùng Nam Bộ, có thể phân loại như sau:

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp du lịch nghỉ dưỡng và du lịch chữa bệnh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993