Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên từ năm 2019 đến nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát tình hình phát triển của hoạt động đào tạo nghề May thời trang trong bối cảnh mới của đất nước
2.1.1. Khái quát về tình hình phát triển của ngành Dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
Dệt may có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Các quốc gia tại khu vực châu Á trong quá trình phát triển để trở thành cường quốc phát triển đều có giai đoạn lấy ngành Dệt may làm trung tâm, động lực tạo việc làm, gia tăng xuất khẩu, rút lao động dư thừa ra khỏi khu vực nông nghiệp, nâng cao GDP trên đầu người. Ví dụ, Đài Loan – năm 2015 khi GDP trên đầu người đã đạt 27.500 USD, Đài Loan vẫn có ngành Dệt may đóng góp vào tổng kim ngạch XK tới 6,2% với 12 tỷ USD kim ngạch, đến năm 2025 khi GDP trên đầu người đã đạt 41.000 USD Dệt may vẫn duy trì tỷ lệ 4% kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng; Hàn Quốc – năm 2025 với GDP trên đầu người trên 28,000 USD dệt may vẫn duy trì kim ngạch 14 tỷ USD chiếm 2,8% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Ở các nước có điều kiện gần Việt Nam như Trung Quốc với GDP trên đầu người năm 2025 đạt 8.200 USD, Dệt may vẫn đóng góp 12% tổng kim ngạch xuất khẩu (gần tương đương tỷ lệ 15% hiện nay của Việt Nam), với kim ngạch 270 tỷ USD, trong 10 năm 2015-2025 Dệt may Trung quốc tăng trên 2,5 lần từ 107 tỷ USD lên 270 tỷ USD luôn giữ tỷ trọng 12-15% trong tổng Kim ngạch xuất khẩu. Tại Ấn độ năm 2025, Dệt may xuất khẩu chiếm tỷ trọng 14,1% với 37 tỷ USD kim ngạch, Bangladesh Dệt may xuất khẩu chiếm tỷ trọng 90% với 30,5 tỷ USD.
Qua các dữ liệu trên có thể thấy, các quốc gia đông dân, có dân số trẻ, khu vực nông nghiệp hiện có tỷ lệ lao động quá lớn đều lấy dệt may là đột phá cho xuất khẩu ở giai đoạn đầu tiên của CNH, đồng thời chứng minh với mức GDP trên đầu người lên tới 7.000-8.000 USD/năm vẫn có thể phát triển Dệt may xuất khẩu.
Và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó, trong quá trình đưa đất nước từ nước nông nghiệp lên nền kinh tế thị trương, Dệt may luôn đóng vai trò vô cùng to lớn. Năm 2025 với 27,3 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, Dệt may Việt Nam tiếp tục duy trì tỷ lệ đóng góp ~15% tổng Kim ngạch xuất khẩu cả nước, sử dụng trên 2,5 triệu lao động công nghiệp, tạo 1/5 số việc làm mới hàng năm trên cả nước. Việt Nam là nước có quy mô dệt may xuất khẩu đứng thứ 4 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2018-2024, Dệt may Việt Nam là quốc gia duy nhất duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số chứng tỏ năng lực cạnh tranh của ngành trên thế giới khá tốt. Thị phần tại các thị trường chính đều tăng mạnh từ 1% năm 2015 tại USA lên trên 10% năm 2025. Đến 2025, Dệt may Việt Nam đã cung ứng trên 4% tổng hàng hóa Dệt may tiêu thụ trên toàn thế giới. Năng suất lao động kỹ thuật ngành May Việt Nam được xếp vào top đầu của thế giới. Thu nhập trung bình năm của công nhân Dệt may cả nước đã đạt trên 50 triệu VND, được tham gia BHXH, y tế, thu nhập cao gấp 8-10 lần thu nhập lao động trồng lúa ngay trong điều kiện được mùa, được giá với giả thiết lợi nhuận lên tới 50% và mỗi lao động có trên 2.000m2 canh tác (6 sào bắc bộ) cao hơn nhiều so với bình quân ruộng đất hiện nay. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Với một loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã và sẽ tham gia như: Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA Việt Nam – EU, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á-Âu, ngành Dệt may Việt Nam đang đứng trước những cơ hội to lớn để hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng vào thị trường thế giới.
Bên cạnh những cơ hội, ngành Dệt may Việt Nam cũng đang đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo các chuyên gia kinh tế, việc mở rộng quy mô, đón đầu các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh mang lại cho ngành Dệt may từ các hiệp định thuơng mại tự do, AEC đòi hỏi các DN phải có nguồn lao động ổn định và chất lượng. Tuy nhiên, hiện nay dù muốn mở rộng sản xuất, các DN đối mặt với thực tế rất khó tuyển được nhân lực chất lượng cao. Lao động ngành dệt may hiện nay chủ yếu tự học, tự đào tạo theo phương thức kèm cặp trong các nhà máy xí nghiệp là chính. Chỉ có khoảng 15% lao động trong ngành dệt may có trình độ từ trung cấp trở lên và tình trạng thiếu hụt lao động, mà đặc biệt lao động đã qua đào tạo luôn diễn ra . Khảo sát của chúng tôi cho thấy, nhu cầu tuyển dụng nhân lực của các doanh nghiệp dệt may có xu hướng yêu cầu cao hơn về trình độ nghề, giảm số lao động chưa qua đào tạo. Các vị trí mà nhiều doanh nghiệp đang “khát” người có kinh nghiệm như: chuyền trưởng, chuyên viên thiết kế, nhân viên may mẫu… Đối với các vị trí quản lý như trưởng phòng kế hoạch, quản lý đơn hàng, quản lý các bộ phận hoàn thành…, doanh nghiệp luôn đòi hỏi kinh nghiệm – kỹ năng giao tiếp, tìm kiếm đối tác, khả năng ngoại ngữ bên cạnh các kỹ năng về chuyên ngành.
2.1.2. Khái quát tình hình quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang trong bối cảnh mới
Nguồn nhân lực là nút thắt quan trọng nhất của ngành dệt may khi hội nhập. Ngành dệt may muốn nâng cao giá trị gia tăng, tận dụng tốt các hiệp định thương mại cần phải có nguồn nhân lực đủ mạnh. Trong đó, đào tạo giữ vai trò đặc biệt quan trọng để phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa, sự chuyển dịch sản xuất dệt may từ các nước công nghiệp phát triển đến các nước đang phát triển. Việc đào tạo nhân lực cho ngành Dệt may của các trung tâm và các trường hiện chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của nhiều DN, ngay cả TP. Hồ Chí Minh – nơi tập trung chủ yếu các cơ sở đào tạo lao động ngành Dệt may – cũng chỉ có 11 trường đào tạo nhóm ngành Dệt may và hàng năm, chỉ tuyển sinh và đào tạo khoảng 1.900 lao động (trình độ đại học là 200 người). Không chỉ quá ít so với nhu cầu sử dụng của DN, các sinh viên cũng khiến DN tốn kém cả chi phí tài chính lẫn thời gian vì nếu tuyển dụng phải mất 3 năm đào tạo lại mới sử dụng được.
2.2. Khái quát đặc điểm của Trường Cao đẳng nghề Long Biên và tình hình quản lý hoạt động đào tạo nghề của Trường Cao đẳng nghề Long Biên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
2.2.1. Khái quát đặc điểm của Trường Cao đẳng nghề Long Biên
Trường Cao đẳng nghề Long Biên được hình thành từ năm 1959 với tiền thân là các lớp học May thuộc Xưởng May 10 với nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng kỹ thuật nghiệp vụ phục vụ nhu cầu sản xuất trong hoàn cảnh khó khăn của thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Năm 2018 Trường được nâng cấp từ Trường Công nhân kỹ thuật May và Thời trang theo quyết định số 1388/QĐ-BLĐTBXH ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Bộ Lao động – Thương Binh – Xã hội và được gọi là Trường Cao đẳng nghề Long Biên.
Với chức năng nhiệm vụ đào tạo nghề theo 3 cấp trình độ: Cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề. Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động theo yêu cầu của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đặc biệt hơn nhà trường đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho Tổng Công ty May 10.
Hiện nay Trường đang đào tạo các ngành nghề đáp ứng nhu cầu của các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, thương mại cho xã hội như: May thời trang, Thiết kế Thời trang; Kế toán doanh nghiệp; Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính; Quản trị khách sạn; Quản trị doanh nghiệp; Hướng dẫn du lịch; Một số ngành nghề trọng yếu khác sẽ được mở rộng và phát triển trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu của xã hội như ngành Quản trị nhà máy sản xuất May, Quản trị bán lẻ, Thương mại điện tử…
2.2.2 Tình hình công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề của Trường Cao đẳng nghề Long Biên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- a/ Tình hình chung
Trải qua 7 năm hoạt động từ khi nâng cấp lên thành trường Cao đẳng, nhà trường đã có đạt được những thành tựu khởi sắc trong công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có tay nghề, có chất lượng cao cho xã hội. Tính tới thời điểm cuối năm 2024 tổng số sinh viên đã qua đào tạo tại nhà trường là gần 3000 sinh viên hệ cao đẳng nghề và hơn 17.000 học viên hệ sơ cấp đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực trong ngành Dệt may nói riêng và nên kinh tế đất nước nói chung.
- Cơ cấu bộ máy nhà trường
Cơ cấu nhà trường gồm: Đứng đầu là Hội đồng quản trị, tiếp đến là Ban giám hiệu (1 hiệu trưởng, 02 hiệu phó), chỉ đạo tham mưu và cố vấn đường lối phát triển và quản lý cho ban giám hiệu là Chi bộ Đảng và các tổ chức đoàn thể (Công đoàn, Đoàn thanh niên). Trong nhà trường có 4 khoa, 3 phòng ban và 5 trung tâm, mỗi đơn vị có chức năng nhiệm vụ khác nhau và đều thực hiện mục tiêu chung của nhà trường “Sinh viên ra trường có việc làm ngay, không phải đào tạo lại”
- Nguồn nhân lực của nhà trường.
Trường Cao đẳng nghề Long Biên là nơi hội tụ của những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực Dệt may của Tổng Công ty may 10 – Công ty Cổ phần và tập đoàn Dệt may Việt Nam. Tính tới hết tháng 8 năm 2025, tổng số cán bộ giáo viên trong toàn trường là 146 người, trong đó:
Với đặc điểm là trường dạy nghề, nên chủ yếu giáo viên trong trường đều tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật, cùng với lợi thế là trường bên cạnh doanh nghiệp, nên đội ngũ giáo viên của nhà trường chủ yếu là đội ngũ chuyên gia được tuyển mộ và lựa chọn kỹ lưỡng, với sự đánh giá chặt chẽ, sát sao của doanh nghiệp về trình độ chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm. Đặc biệt 100% giáo viên thỉnh giảng của nhà trường đều là những nghệ nhân, thợ bậc cao hoặc đại diện doanh nghiệp trực tiếp giảng dạy và đào tạo nên việc đào tạo nghề cho học sinh, sinh viên luôn có những tiền đề gắn kết chặt chẽ với thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp trong đó phần lớn là các doanh nghiệp Dệt may và thời trang
- b/ Một số thành tựu của nhà trường Về công tác đào tạo và huấn luyện
Là đơn vị mới được nâng cấp lên cao đẳng nghề, nhưng với những nỗ lực cố gắng và sự hỗ trợ nhiệt tình của hệ thống các doanh nghiệp trong Tổng công ty và trên địa bàn thành phố Hà Nội, 7 năm qua nhà trường đã có những thành công nhất định trong lĩnh vực đào tạo nghề của hệ thống giáo dục Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Đối với chương trình đào tạo hệ cao đẳng nghề: Mỗi năm nhà trường thu hút và đào tạo tới trên dưới 800 sinh viên trên tổng số 6 ngành nghề nhà trường đang thực hiện đào tạo, trong đó đặc biệt nghề May thời trang và thiết kế thời trang mỗi năm có khoảng trên 500 sinh viên đăng ký theo học
Đối với chương trình trung cấp nghề: Nhà trường đã có sự đầu tư lớn trong việc hợp tác với các trung tâm giáo dục thường xuyên tại các tỉnh khu vực phía Bắc để đào tạo nghề May thời trang cho học sinh. Hơn 400 học sinh mỗi năm được đào tạo đối với hệ trung cấp nghề của nghề May thời trang. Điều này không chỉ giúp rút ngắn thời gian đào tạo mà là góp phần phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THPT và tạo cho doanh nghiệp địa phương những cơ sở phát triển lớn với nguồn nhân lực đã qua đào tạo.
Đối với chương trình đào tạo hệ sơ cấp nghề: Đáp ứng nhu cầu và yêu cầu đổi mới, hưởng ứng dự án đào tạo nghề cho người nông thôn theo quyết định 1956 của Bộ Tài Chính, cùng với những yêu cầu đòi hỏi về nguồn nhân lực liên tục tại các xí nghiệp địa phương trong hệ thống Tổng Công ty May 10- Công ty Cổ phần công tác đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề của nhà trường có sự phát triển vượt bậc, đặc biệt là ngành May thời trang. Mỗi năm nhà trường đào tạo cho hơn 3000 học viên và giới thiệu cung cấp việc làm cho họ.
Kết quả đào tạo của nhà trường qua các năm cụ thể như sau:
- Bảng 2.1 Kết quả đào tạo qua các năm của trường Cao đẳng nghề Long Biên nghề May thời trang (hệ cao đẳng nghề)
Với những kết quả đáng khích lệ trong công tác đào tạo nghề năm 2024 nhà trường vinh dự đón nhận Huân chương lao động hạng 3 và giấy khen của Chủ tịch nước
- Về công tác nghiên cứu khoa học
Trong những năm gần đây, nhận được sự quan tâm và tin tưởng của Tổng cục Dạy nghề, Bộ Công thương công tác nghiên cứu khoa học tại nhà trường đã đạt được những thành công vang dội. Nhà trường đã tham gia biên soạn 09 chương trình khung của các ngành nghề thuộc các trình độ. Nghiên cứu 03 đề tài cấp Bộ Công Thương, biên soạn 03 bộ ngân hàng câu hỏi cho 03 nghề đào tạo trọng điểm cấp khu vực và 02 nghề trọng điểm cấp quốc gia. Hàng tháng nhà trường luôn có những bài báo khoa học được đăng tải trên tập chí khoa học dạy nghề của Tổng cục Dạy nghề. Và luôn có những sáng kiến cải tiến áp dụng trong sản xuất được Tổng công ty May 10 khen ngợi. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Về hợp tác đào tạo cùng doanh nghiệp
Trải qua nhiều năm, các trung tâm của nhà trường đã đạt được kết quả đáng mừng: Trung tâm cải tiến năng lực doanh nghiệp CES qua 4 năm hoạt động đã đào tạo ra hàng nghìn công nhân và hàng trăm cán bộ quản lý cho doanh nghiệp. Trải qua 8 kỳ đánh giá kỹ năng nghề May công nghiệp ở trình độ bậc 2 và bậc 3 với gần 1000 lao động của các doanh nghiệp Dệt may dự thi và hơn 500 người đạt trình độ kỹ năng nghề theo đánh giá, công tác đánh giá kỹ năng nghề không chỉ giúp cho người lao động tiếp cận gần hơn với năng lực chuẩn quốc tế mà còn góp phần giúp doanh nghiệp đánh giá được thực trạng nguồn nhân lực của công ty, khẳng định vị thế của doanh nghiệp trong Tập đoàn Dệt May Việt Nam. Hoạt động của trung tâm huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động góp phần giúp doanh nghiệp đi đúng định hướng của nhà nước, đồng thời trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng cần thiết về an toàn, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ, giúp doanh nghiệp và người lao động hạn chế tối đa rủi ro về mất an toàn. Đặc biệt, đội ngũ nhân sự trong các trung tâm đều là những chuyên gia hàng đầu trong nhà trường, Tổng công ty May 10 và các thầy cô giáo, đại diện doanh nghiệp có uy tín và năng lực trong lĩnh vực quản lý và đào tạo nghề.
- Về cơ sở vật chất
Được sự quan tâm đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nhà trường, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy và học tập của nhà trường đều là những trang thiết bị tối tân và hiện đại nhất, vì vậy việc học tập và rèn luyện của học viên rất thuận tiện. Ngoài hệ thống máy móc được trang bị tại trường, học sinh, sinh viên của nhà trường còn có cơ hội vận hành và sử dụng hệ thống máy móc thiết bị tối tân trên dây chuyền hiện đại trong tổng công ty qua những kỳ thực tập modun/ nghiệp vụ/ tốt nghiệp
Tóm lại: Trường cao đẳng nghề Long Biên đã không ngừng phát triển đi lên, liên tục hoàn thành nhiệm vụ đào tạo mà Tập đoàn Dệt may và Tổng công ty May 10 – Công ty Cổ phần giao cho với chỉ tiêu năm sau cao hơn năm trước với chất lượng ngày càng tốt hơn. Mỗi cán bộ, giáo viên trong nhà trường luôn giữ được tác phong của đội ngũ kỹ sư có năng lực chuyên môn nghiệp vụ và trình độ sư phạm cao để truyền đạt kiến thức nghề nghiệp cho Học sinh sinh viên để “Sinh viên ra trường làm được việc ngay, không phải đào tạo lại” đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.3. Thực trạng về đào tạo nghề May thời trang của Trường Cao đẳng nghề Long Biên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
2.3.1. Khảo sát thực trạng
2.3.1.1 Đối tượng khảo sát
Để đánh giá được khách quan, tác giả đã tổ chức khảo sát thực trạng về hoạt động quản lý nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên, tác giả đã trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi của 40 Cán bộ Quản lý, 150 GV đã và đang giảng dạy tại nhà trường, 300 sinh viên đã tốt nghiệp và hiện đang làm tại các doanh nghiệp, 20 người sử dụng lao động là sinh viên đã tốt nghiệp tại trường và 100 sinh viên đang học tập tại trường và phỏng vấn 5 giáo viên nghề May thời trang, 3 đại điện doanh nghiệp có sử dụng lao động đã qua đào tạo của nhà trường và 10 sinh viên đã tốt nghiệp.
2.3.1.2 Phương pháp khảo sát
- Nghiên cứu báo cáo hoạt động đào tạo của nhà trường qua từng năm
- Điều tra bằng phiếu hỏi
- Phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên đã và đang làm việc tại nhà trường, đại diện doanh nghiệp và người sử dụng lao động về những thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức đào tạo, những bất cập trong quản lý
- Thu thập các thông tin từ các buổi hội nghị giáo viên, gặp gỡ của sinh viên với hiệu trưởng và các buổi nói chuyện chuyên đề của sinh viên với đại diện doanh nghiệp
2.3.1.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tác giả sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính điểm trung bình, thống kê số liệu đã khảo sát; sử dụng phương pháp tính trung bình chung và xếp hạng thứ bậc.
2.3.2. Thực trạng về đào tạo nghề nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Đánh giá của GV và Cán bộ Quản lý về chất lượng đào tạo nghề May thời trang
Để thấy được toàn cảnh về thực trạng đào tạo nghề May thời trang tại trường cao đẳng nghề Long Biên qua các năm, tác giả đã nghiên cứu các báo cáo về công tác đào tạo, phỏng vấn đánh giá của GV và Cán bộ Quản lý của nhà trường về chất lượng người học trên các mặc kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của HS/SV.
- Biểu đồ 2.1 Đánh giá của GV và Cán bộ Quản lý về chất lượng đào tạo nghề May thời trang tại trường cao đẳng nghề Long Biên qua các năm.
Chất lượng đào tạo được đánh giá ở cả 3 mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học.Qua biểu đồ có thể thấy: chất lượng đào tạo nghề May thời trang có sự tiến bộ đáng kể trong những năm học vừa qua. Tỉ lệ người học được đánh giá tốt ngày càng cao, tỉ lệ học viên yếu được giảm thiểu một cách rõ rệt. Nếu như năm học 2022- 2023 và năm học 2023- 2024 người học được đánh giá chủ yếu ở mức độ trung bình thì đến năm 2024- 2024 tỉ lệ này được thay đổi một cách nhanh chóng với trên 70% học viên được đánh giá tốt về kiến thức và thái độ và gần 60% đánh giá tốt về kỹ năng.
- Đánh giá của Học sinh sinh viên đã tốt nghiệp của trường về chất lượng đào tạo
Tác giả tiến hành khảo sát Học sinh sinh viên đã tốt nghiệp và đang thực tập tốt nghiệp nghề May thời trang hệ trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại nhà trường đã và đang làm việc tại các doanh nghiệp về mức độ chất lượng đào tạo đáp ứng của họ trong quá trình thực hiện công việc, kết quả khảo sát được tổng hợp ở bảng 2.2 và biểu đồ 2.2
- Bảng 2.2 Chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu công việc của người học nghề.
- Biểu đồ 2.2: Chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu công việc của người học nghề.
Như vậy, qua bảng số liệu ta thấy sinh viên sau tốt nghiệp đánh giá về hoạt động đào tạo của nhà trường là tương đối tốt. Về kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề, ý thức tổ chức kỷ luật đều được đánh giá ở mức độ đáp ứng và đáp ứng rất tốt. Đặc biệt ở nội dung kỹ năng nghề có tới 82% người học đánh giá đáp ứng tốt. Bên cạnh đó vẫn còn một số mặt trong chất lượng đào tạo cần được đặc biệt lưu tâm đó là tinh thần làm việc nhóm và khả năng sáng tạo của người học, có tới trên 20% người học đánh giá chất lượng đào tạo về các mặt này chưa đạt yêu cầu.
- Nhu cầu học tập tiếp của người học sau khi tốt nghiệp và các nội dung học tập cụ thể
Cũng qua khảo sát người học sau khi tốt nghiệp, tác giả đã thu nhận được kết quả về việc làm của người học sau tốt nghiệp như sau: Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Tỉ lệ học sinh/ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp.
- Bảng 2.3 Tỉ lệ học sinh/ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp
- Bảng 2.4 Yếu tố giúp người học có việc làm sau khi tốt nghiệp
Qua khảo sát và thống kê cho thấy tỉ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp khá cao, trên 70% sinh việc làm sau tốt nghiệp và yếu tố quyết định nhất để học viên có việc làm là kinh nghiệm làm việc và học vấn, năng lực thực hiện công việc.
Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, trong khi tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp và không có việc làm ngày càng nhiều thì với tỉ lệ người học có việc làm của Trường Cao đẳng nghề Long Biên là con số đáng mừng cho chất lượng đào tạo nghề của hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Bên cạnh đó kết quả này còn góp phần giải quyết bài toán lao động vô cùng phức tạp trong bối cảnh xã hội hiện nay: sinh viên ra trường không thể làm được công việc ngay mà phải đào tạo lại.
Mặc dù vậy, trong chất lượng chung của người học yếu tố tin học, ngoại ngữ lại đang là điểm bất cập và đánh mất nhiều cơ hội việc làm và thăng tiến trong công việc của người học. Đó cũng là lý do cho kết quả khảo sát Học sinh sinh viên: trên 80% người học được khảo sát có nhu cầu học thêm các khóa học khác. Nhu cầu học tập tiếp của Học sinh sinh viên sau tốt nghiệp cụ thể như sau:
- Bảng 2.5 Nhu cầu học tập tiếp của Học sinh sinh viên sau tốt nghiệp
Cùng với yêu cầu phát triển kinh tế thì nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực cũng ngày càng cao. Người lao động trong các công ty, doanh nghiệp may mặc không phải chỉ cần có kỹ năng tốt về may vá, về dây chuyền sản xuất là có thể đáp ứng đòi hỏi của công việc. Đặc biệt đối với những cử nhân thực hành trong tương lai thì càng không thể chỉ có những kỹ năng đó. Sự phát triển công nghệ thông tin mang lại những hiệu quả vượt bậc trong sản xuất, người học phải có những kỹ năng về tin học cơ bản thì mới có thể thực hiện được thao tác thiết kế trên máy tính, giác sơ đồ trên máy tính… Trong khi đó, trong chương trình đào tạo nghề thời lượng cho mỗi môn học/ module để học sinh nâng cao trình độ công nghệ thông tin của mình lại quá ít (90h tin học đại cương; 45h thiết kế trên máy tính và 45h giác sơ đồ trên máy tính). Bởi vậy, trong tương lai để khắc phục những hạn chế này trong chất lượng đào tạo nhà trường cần phải đổi mới, thiết kế lại chương trình sao cho thực tiễn hơn.
- Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Đề đánh giá chất lượng đào tạo nghề của nhà trường, tác giả đã phỏng vấn cán bộ doanh nghiệp nơi có học sinh của trường đang thực tập và làm việc, qua đó thu thập được kết quả về chất lượng đào tạo của nhà trường như sau:
- Bảng 2.6 Đánh giá chung về chất lượng Học sinh sinh viên nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên
Như vậy, ta có thể thấy rằng việc đánh giá của doanh nghiệp đối với người học tương đối phù hợp với đánh giá của giáo viên trong nhà trường. Với phần lớn Học sinh sinh viên được đánh giá ở mức độ tốt và khá (trên 90%) ở cả 3 mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ. Người học đã có những tiền đề cơ bản cho việc thực hiện công việc và khả năng thích ứng với công việc trong tương lai. Tuy vậy, chất lượng Học sinh sinh viên vẫn có một số điểm hạn chế. Cụ thể trong bảng sau
- Bảng 2.7: Doanh nghiệp đánh giá chất lượng người học
Với lợi thế là trường bên cạnh doanh nghiệp, trong quá trình đào tạo hoạt động của nhà trường luôn được doanh nghiệp tạo mọi điều kiện cho học viên tiếp xúc văn hóa, kỷ luật kỷ cương lao động trong doanh nghiệp bởi vậy thái độ ý thức của học viên khi tham gia vào các hoạt động sản xuất trực tiếp được doanh nghiệp đánh giá khá tốt.
Tuy nhiên bên cạnh đó, kết quả khảo sát cũng cho thấy một số nội dung còn được đánh giá cao ở kỹ năng của người học: tinh thần làm việc nhóm, tinh thần chủ động tiếp cận công việc cũng như khả năng nắm bắt tiếp cận công nghệ của người học.
- Thực trạng hợp tác của nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề May thời trang
Để triển khai công tác đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu hoạt động của nhà trường “Sinh viên ra trường có việc làm ngay và làm được việc ngay, không phải đào tạo lại” trong những năm qua trường Cao đẳng nghề Long Biên đã tổ chức hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp may mặc trong cả nước, đặc biệt là các đơn vị thành viên và liên kết với Tổng công ty May 10 – Công ty Cổ phần trong công tác đào tạo nghề và bố trí việc làm cho sinh viên tốt nghiệp. Nội dung hợp tác và đào tạo và mức độ hợp tác với doanh nghiệp được thể hiện ở: Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Bảng 2.8 Hợp tác giữa Trường Cao đẳng nghề Long Biên với các doanh nghiệp Dệt May
Qua bảng thống kê trên có thể thấy mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp rất khăng khít, đặc biệt doanh nghiệp luôn luôn tạo mọi điều kiện mọi điều kiện tốt nhất cho hoạt động đào tạo của nhà trường, cụ thể: 100% ý kiến được khảo sát cho rằng DN tạo điều kiện cho học sinh thực hành, thực tập, tham quan ở mọi thời điểm trong quá trình đào tạo. Trường Cao đẳng nghề Long Biên và doanh nghiệp đã có sự hợp tác chặt chẽ trong tổ chức các hoạt động như: tổ chức cho học sinh phổ thông tham quan trực tiếp và tìm hiểu về môi trường sản xuất của doanh nghiệp trong hoạt động tư vấn hướng nghiệp; Tổ chức cho học sinh đầu khóa tham quan phòng truyền thống, các phòng ban, xí nghiệp, tổ sản xuất trong dây chuyền may mặc và giới thiệu các vị trí cụ thể trong mục tiêu đào tạo của nhà trường; Tổ chức thực tập sản xuất sau khi kết thúc mỗi module, tạo điều kiện cho Học sinh sinh viên tham gia vào môi trường doanh nghiệp ngay trong quá trình học tập (Thời gian thực tập phụ thuộc vào từng module có thể từ 1 tuần đến 2 tháng); Tổ chức cho Học sinh sinh viên thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp trong thời gian 01 năm trực tiếp tại công ty và người học được hưởng lương…Cùng với đó DN còn đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và tài chính cho hoạt động đào tạo của nhà trường rất mạnh mẽ, hơn 60% đánh giá hoạt động này rất tốt.
Mặc dù có sự hỗ trợ đắc lực của doanh nghiệp nhưng ở một số nội dung nhà trường vẫn chưa khai thác triệt để được lợi thế của mô hình trường này như: 57% ý kiến cho rằng NT và DN cung cấp thông tin cho nhau về nhu cầu nhân lực và khả năng cung ứng nhân lực mới đạt ở mức trung bình; Hai bên cùng nhau tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá, thi tốt nghiệp trên 70% đánh giá trung bình và yếu….
Như vậy, với kết quả khảo sát trên cho thấy, mặc dù có lợi thế trong cơ cấu tổ chức, nhưng hai trung tâm: Trung tâm tuyển sinh, giới thiệu việc làm và Trung tâm đánh giá kỹ năng nghề Quốc gia LBC vẫn chưa phát huy được vai trò và chức năng của mình trong hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo.
2.4. Thực trạng về quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
2.4.1. Về mục tiêu đào tạo.
Mục tiêu đào tạo là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong nhà trường. Đối với giáo dục nghề nghiệp, mục tiêu đào tạo phải gắn với thị trường lao động và sự phát triển của nguồn nhân lực trong lĩnh vực ngành nghề được đào tạo. Sản phẩm của đào tạo nghề là nguồn lao động có kỹ thuật, có trình độ tay nghề, có tác phong thái độ công việc tốt… phù hợp với yêu cầu của xã hội. Mục tiêu đào tạo cần được xác định trên cơ sở: nhu cầu của nhà nước, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của người học.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở đó xác định mục tiêu đào tạo cụ thể nhà trường và việc xác định các nhu cầu này để làm nên mục tiêu ở mỗi cơ sở là khác nhau.
Thực trạng xác định mục tiêu đào tạo của trường Cao đẳng nghề Long Biên cụ thể như sau:
- Bảng 2.9 Mức độ quản lý việc xác định nhu cầu đào tạo của khóa học
Qua kết quả khảo sát cho thấy, việc xác định nhu cầu đào tạo của nhà trường đang thực hiện ở mức trung bình và chưa tận dụng triệt để được các lợi thế sẵn có của nhà trường. Các mức độ xác định nhu cầu từ người học, từ doanh nghiệp và từ vùng, miền địa phương cho thấy mục tiêu đào tạo của nhà trường chưa thực sự sát với yêu cầu thực tiễn. Kết quả khảo sát cho thấy, 44,3% ý kiến được khảo sát đánh giá việc xác định mục tiêu đào tạo từ nhu cầu doanh nghiệp của nhà trường đánh giá là tốt và đây cũng là tỉ lệ đánh giá tốt cao nhất trong 3 nội dung nhu cầu người học, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu vùng miền. Và ngược lại có tới hơn 45% ý kiến đánh giá việc xác định mục tiêu từ nhu cầu vùng miền, địa phương của nhà trường là yếu.
Nguyên nhân của hạn chế trên là bởi trên thực tế, khó khăn trong công tác tuyển sinh và đào tạo nghề là khó khăn chung của toàn bộ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống, việc nhà trường mở rộng triển khai hoạt động hướng nghiệp và đào tạo nghề May tại các tỉnh, vùng miền không có lợi thế về ngành Dệt May như các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn La… nhằm đẩy mạnh thu hút người học tại các địa phương này là chưa hoàn toàn hợp lý, bởi ở đó tập trung rất ít các doanh nghiệp Dệt May hoặc có nhưng quy mô còn nhỏ hẹp nên nhu cầu về nguồn nhân lực cũng ít.
Qua khảo sát CBGV và NV về mức độ phù hợp và mức độ thực hiện việc quản lý mục tiêu đào tạo của nhà trường đối với nghề May thời trang, cũng cho thấy kết quả như sau.
- Bảng 2.10: Đánh giá của Cán bộ Quản lý và GV về sự phù hợp và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý mục tiêu đào tạo Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Như vậy để quản lý tốt mục tiêu đào tạo, nhà trường đã đưa ra các tiêu chí cụ thể để định hướng và kiểm soát mục tiêu. Qua khảo sát CBGV và NV trong nhà trường về mức độ phù hợp và mức độ thực hiện việc quản lý mục tiêu đào tạo của nhà trường đối với nghề May thời trang cho thấy các tiêu chí được đưa ra tương đối hiệu quả và sát với yêu cầu thực tiễn của đào tạo nghề. Điều này thể hiện ở cả mức độ phù hợp (giá trị trung bình đạt từ 2,3 đến 2,8) và mức độ thực hiện (chủ yếu tập trung ở khoảng trung bình 2,5 trở lên). Đồng thời thông qua kết quả khảo sát cũng thấy rõ mức độ phù hợp và mức độ thực hiện cụ thể của từng tiêu chí nhà trường đã đưa ra để quản lý mục tiêu đào tạo nghề May thời trang. Theo đó việc xác định cụ thể hóa mục tiêu cho nghề và sản phẩm đào tạo nghề đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động của nhà trường là 2 tiêu chí được đánh giá phù hợp nhất và thực hiện được tốt nhất, tiêu chí quy định trình độ đầu vào của người học được đánh giá thấp nhất ở cả mức độ phù hợp và mức độ thực hiện.
Nguyên nhân có kết quả này là vì nhà trường có lợi thế là trường bên cạnh doanh nghiệp, các hoạt động của nhà trường luôn gắn liền với công tác đào tạo nguồn nhân lực cho công ty May 10 nên việc xác đinh mục tiêu và tiêu chuẩn nghề nghiệp đối với nguồn lao động trong tương lai rất rõ ràng và gắn chặt với thực tiễn yêu cầu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
- Biểu đồ 2.3: Đánh giá của Cán bộ Quản lý và GV về sự phù hợp và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý mục tiêu đào tạo
So với mục tiêu đã đề ra mức độ thực hiện ở từng tiêu chí cụ thể trong quản lý mục tiêu của nhà trường cũng cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong quá trình triển khai đào tạo tại nhà trường. Nếu như mức độ phù hợp của xác định cụ thể hóa mục tiêu đào tạo cho nghề được đánh giá là phù hợp nhất (giá trị trung bình x = 2.793) thì kết quả thực hiện tiêu chí này lại xếp thứ 2 (giá trị trung bình x = 2,687) đứng sau kết quả thực hiện của tiêu chí sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động (giá trị trung bình x = 2,713). Đáng lưu ý là sản phẩm của đào tạo là một phần trong mục tiêu đào tạo nhưng với những kết quả đánh giá từ việc thực hiện như trên thì mục tiêu đào tạo của nhà trường được xác định chưa thật chặt chẽ và toàn diện.
Sở dĩ tiêu chí quy định tiêu chuẩn trình độ đầu vào được đánh giá mức độ phù hợp và mức độ thực hiện thấp nhất là do những khó khăn trong công tác tuyển sinh đào tạo nghề (sự cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo nghề, cạnh tranh giữa đào tạo nghề và đào tạo đại học, cao đẳng; nhận thức của người học và xã hội trong tư tưởng trọng bằng cấp…) nên nhà trường phải điều chỉnh tiêu chuẩn đầu vào của người học để thu hút người học.
2.4.2. Về nội dung chương trình đào tạo Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Chương trình đào tạo nghề may thời trạng tại trường Cao đẳng nghề Long Biên được tổ chức ở 2 trình độ: Cao đẳng nghề và trung cấp nghề dành cho cả 2 đối tượng là học sinh tốt nghiệp THCS và học sinh tốt nghiệp THPT.
Chương trình dạy nghề May thời trang của nhà trường được triển khai tổ chức trên chương trình khung nghề May thời trang của Bộ Lao động Thương binh xã hội. Định kỳ hàng năm nhà trường luôn lấy ý kiến khảo sát của giáo viên, người học, người đã tốt nghiệp và đại diện doanh nghiệp về mức độ phù hợp của chương trình đào tạo và ít nhất 3 năm 1 lần có sự rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo cho phù hợp với thực tiễn nhất và vẫn đảm bảo triển khai đúng chương trình khung của nghề. Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường có nhiều điểm ưu việt:
- Chương trình đào tạo nghề của trường được xây dựng khá bài bản với sự tham gia của cán bộ, giáo viên trong nhà trường, các chuyên gia trong lĩnh vực ngành nghề đào tạo, trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
- Đảm bảo được tính khoa học, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính linh hoạt, đáp ứng sự thay đổi công nghệ của thị trường lao động
- Phân bổ hợp lý thời gian giữa các khối kiến thức, kỹ năng nghề và trình tự thực hiện các môn học, module để thực hiện mục tiêu đào tạo có hiệu quả.
- Đảm bảo tính liên thông giữa các trình độ đào tạo nghề, đồng thời có tính liên thông với các ngành nghề các trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nội dung đào tạo theo đúng quy định chuẩn của Bộ LĐTBXH đối với chương trình đào tạo hệ Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề. Cụ thể các nội dung như:
- Khối kiến thức văn hóa (đối với học sinh chưa tốt nghiệp THPT)
- Khối kiến thức chung: Chính trị, Pháp luật, Giáo dục thể chất, Tin học, Ngoại ngữ,Giáo dục quốc phòng.
- Khối kiến thức cơ sở nghề Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Khối kiến thức chuyên môn nghề.
Trong đó phân bổ thời gian dành cho các môn học module đào tạo nghề được quy định như sau:
- Thời gian dành cho các môn học, module đào tạo nghề bắt buộc chiếm 75% -85%; dành cho các môn học, module đào tạo nghề tự chọn chiếm 15-25%
- Thời gian giữa lý thuyết và thực hành: lý thuyết chiếm 15-35%, thực hành chiếm 65 – 85%.
Mặc dù vậy, qua quá trình triển khai thực tiễn trong nhà trường, tác giả nhận thấy rằng: từ năm 2017 đến năm 2020 Bộ LĐTBXH đã xây dựng và ban hành 164 bộ chương trình khung trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề. Chương trình được xây dựng với quy mô lớn, có phân tích nghề, có sự tham gia của doanh nghiệp, được thẩm định trên cơ sở khoa học và khách quan. Song, trong thực tiễn sử dụng còn nhiều bất cập như: cấu trúc chương trình còn cứng nhắc, chưa hình thành theo cấu trúc module kỹ năng hành nghề, quy định về thời gian thực học tối thiểu và thời gian dành cho các môn học, module đào tạo nghề tự chọn làm hạn chế tính linh hoạt trong quá trình tổ chức biên sọan chương trình của các trường dạy nghề. Người học không thể lực chọn các môn học, module theo nhu cầu riêng của mình. Doanh nghiệp phải đợi tới khi kết thúc khóa học mới có cơ hội tuyển dụng, đồng thời có nhiều kiến thức doanh nghiệp không cần thì người học vẫn phải học theo quy định, trong khi đó những kỹ năng doanh nghiệp cần thì vẫn phải đào tạo tại trường.
Và khi áp dụng chương trình này vào quá trình đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Long Biên cũng cho thây những bất cập cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Nội dung chương trình chưa thực sự phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn
Một thực tế hiện nay là để nâng cao năng suất lao động trong sản xuất, đặc biệt là trong các doanh nghiệp dệt may sử dụng lao động kỹ thuật diện nghề hẹp với trình độ chuyên môn hóa cao ở từng vị trí lao động của tổ sản xuất, xí nghiệp như: tổ may mẫu, tổ là, tổ cắt, thành phẩm…trong khi đó chương trình dạy nghề hiện nay của mọi nhà trường, cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều đào tạo theo chương trình khung đào tạo dài hạn theo nghề diện rộng như nghề May thời trang, nghề Thiết kế thời trang, điểm này là chưa phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực hiện.
Như vậy, nội dung chương trình được xây dựng phải dựa trên mục tiêu đào tạo của từng ngành ở từng thời điểm và từng địa phương. Việc áp dụng chương trình khung của Bộ đối với ngành May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên chưa đáp ứng được sự tương thích giữa mục tiêu đào tạo của nhà trường (nhu cầu người học, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu địa phương) và nội dung đào tạo. Kết quả khảo sát từ sinh viên và giáo viên nhà trường về mức độ phù hợp của chương trình đào tạo đã cho thấy rõ những hạn chế đó Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Bảng 2.11. Mức độ phù hợp của nội dung chương trình đào tạo nghề May thời trang
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, mặc dù mức độ hoàn toàn đồng ý ở các nội dung được khảo sát chiếm tỉ lệ ưu thế so với các mức đánh giá khác nhưng tỉ lệ này chưa cao so với những yêu cầu đòi hỏi để đảm bảo chất lượng của nhà trường trong công tác đào tạo nghề May thời trang. Trong đó đáng chú ý là các nội dung về kỹ năng mềm, kỹ năng tin học, ngoại ngữ đang ở mức báo động ảnh hưởng tới chất lượng của nhà trường (64,8 % ý kiến được khảo sát đánh giá nội dung kỹ năng mền cần cải thiện và 32,8% cũng đồng quan điểm trên đối với nội dung đào tạo ngoại ngữ trong chương trình đào tạo của nhà trường).
- Thứ hai: Nội dung chương trình đào tạo chưa đề cập tới những kỹ năng mềm, kỹ năng sống… hay nói cách khác là văn hóa nghề nghiệp cần cung cấp cho sinh viên.
Kết quả khảo sát sinh viên tốt nghiệp về chất lượng đào tạo cũng đã cho thấy rõ nhược điểm này của chương trình đào tạo với gần ¼ học viên chưa đáp ứng được các yêu cầu về: tinh thần chủ động, tinh thần làm việc nhóm và khả năng sáng tạo trong quá trình thực hiện công việc và 50% học viên đăng ký học thêm các khóa ngắn hạn như tin học, ngoại ngữ sau khi tốt nghiệp để trau dồi thêm các kỹ năng. Kết quả khảo sát từ người học về nội dung đào tạo nghề cũng cho thấy rõ kết quả đó: chỉ 22,3% người học hoàn toàn đồng ý với nội dung đào tạo của nhà trường và có tới 64,8% người học cho rằng cần điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo trong nội dung về đào tạo kỹ năng mềm giao tiếp, làm việc nhóm, nghiên cứu khoa học. Đặc biệt ở kỹ năng ngoại ngữ, tin học có tới trên 50% người học được khảo sát đánh giá không đồng ý với việc nội dung chương trình đào tạo cho người học đáp ứng với yêu cầu của xã hội.
Trong thiết kế chương trình khung của Bộ LĐTBXH đối với nghề May thời trang thì nội dung văn hóa nghề hầu như chưa được đề cập tới hoặc có đề cập nhưng rất ít và lồng ghép vào chương trình của từng môn học, module làm giảm đi tính chất quan trọng của các kỹ năng thiết yếu mà mỗi người học cần phải có. Bởi vậy, việc đánh giá học sinh tốt nghiệp cao đẳng nghề đạt yêu cầu về các kỹ năng mềm rất ít không chỉ là kết quả đào tạo riêng của trường Cao đẳng nghề Long Biên mà đây là hình ảnh chung trong kết quả đào tạo giáo dục nghề nghiệp toàn hệ thống trong bối cảnh hiện tại.
- Thứ ba: Sự phân bổ thời lượng giữa các môn học và phân bổ tỉ lệ lý thuyết, thực hành trong một module vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý và phù hợp. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Kết quả khảo sát học viên sau mỗi môn học/module kết thúc trong chương trình đào tạo cho thấy: có trên 40% ý kiến được khảo sát đều cho rằng, thời lượng thực hành cho module hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn gần 60% ý kiến được khảo sát cho rằng sự phân bổ thời lượng học lý thuyết và thực hành trong các module còn chưa hợp lý hoặc hợp lý nhưng cần điều chỉnh thêm.
Như vậy, chương trình đào tạo nghề May thời trang hiện nay của LBC vẫn còn có nhiều bất cập được bộc lộ trong quá trình đào tạo. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết quả đào tạo của nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của xã hội.
Đứng trước những yêu cầu đòi hỏi của chất lượng đào tạo nguồn nhân lực hiện nay của xã hội, để nâng cao chất lượng người học, trường Cao đẳng nghề Long Biên triển khai rà soát, điều chỉnh chương trình hàng năm. Song, qua khảo sát đánh giá của CBGV và nhân viên trong nhà trường về công tác quản lý nội dung chương trình đào tạo cũng cho thấy thấy rõ những mặt tích cực và hạn chế của công tác này
- Bảng 2.12. Mức độ quản lý nội dung chương trình đào tạo nghề May thời trang theo hướng đáp ứng được nhu cầu xã hội.
Qua bảng số liệu có thể thấy, nhà trường đã có những giải pháp thiết thực nhằm đưa hoạt động đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Trong đó việc thiết kế mục tiêu chương trình đào tạo đang được người học và người dạy đánh giá thực hiện ở mức độ khá cao, chiếm gần 70%, tiếp đến là quản lý cấu trúc chương trình đào tạo và sau cùng là quản lý nội dung chương trình đào tạo (40,5%).
Như vậy, rõ ràng có thể nhận thấy rằng, hoạt động khảo sát lấy ý kiến đánh giá người học, người dạy và người sử dụng lao động về chương trình đào tạo hàng năm đã góp phần không nhỏ trong kết quả khảo sát trên. Dựa trên kết quả thu thập được hàng năm nhà trường đã có những thay đổi, điều chỉnh tích cực nhằm đưa mục tiêu và cấu trúc chương trình đào tạo gắn chặt với chương trình đào tạo. Tuy nhiên về nội dung đào tạo vẫn còn nhiều điểm chưa thực sự phù hợp và việc quản lý nội dung này chủ yếu vẫn ở mức trung bình.
Nguyên nhân của thực trạng trên là bởi mặc dù đánh giá việc áp dụng chương trình khung của Bộ Lao động thương binh xã hội đang còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tiễn nhưng vì các cơ sở dạy nghề chưa có quyền tự chủ trong việc xây dựng chương trình dạy nghề nên việc điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo là điều chưa thể thực hiện trong bối cảnh giai đoạn của nhà trường.
2.4.3. Về đội ngũ cán bộ giáo viên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên nghề May thời trang của trường cao đẳng nghề Long Biên được phân biệt thành 2 khối riêng biệt:
- Khối cán bộ, giáo viên cơ hữu: chỉ làm công tác quản lý và đào tạo tại trường
- Khối cán bộ, giáo viên làm công tác kiêm nhiệm: Làm công việc chính là trong doanh nghiệp (Tổng công ty May 10) và kiêm nhiệm thêm công tác quản lý và đào tạo tại trường (Số lượng: 4 Cán bộ Quản lý, 12 GV – 2025).
Để có cái nhìn khách quan nhất về chất lượng hoạt động của nhà trường nói chung và chất lượng đào tạo nghề May thời trang của Trường Cao đẳng nghề Long Biên nói riêng, tác giả đi sâu nghiên cứu và đánh giá một số khía cạnh về nguồn nhân lực trong đào tạo nghề May thời trang của trường Cao đẳng nghề Long Biên.
Đặc điểm cụ thể về đội ngũ giáo viên nghề May thời trang cụ thể như sau:
- Cán bộ quản lý
Trình độ cán bộ quản lý:
Kết quả khảo sát về trình độ cán bộ quản lý trong đào tạo nghề May thời trang được tổng hợp ở:
- Bảng 2.13 Trình độ cán bộ quản lý
Bảng thống kê trên cho thấy trình độ cán bộ quản lý của nhà trường trong đào tạo nghề May thời trang phân bổ không đều, đặc biệt là đối với cán bộ cơ hữu trong nhà trường. Tỉ lệ người có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ rất thấp chiếm khoảng 8%, chủ yếu là người có trình độ đại học, cao đẳng cao (khoảng trên 90% và không có ai ở trình độ trung cấp hay nghệ nhân)
- Ngoại ngữ và tin học
Kết quả khảo sát về trình độ tin học và ngoại ngữ được thể hiện ở:
- Bảng 2.14 Trình độ tin học và ngoại ngữ của Cán bộ Quản lý
Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù mọi cán bộ của nhà trường đều có năng lực về công nghệ thông tin và ngoại ngữ, nhưng chủ yếu tập trung ở mức độ thấp, với gần 50% cán bộ có trình độ tin học ở loại A và gần 60% có trình độ tiếng anh ở loại 1.
Con số này đang là rảo cản lớn trên con đường phát triển trong bối cảnh hội nhập và thực hiện tốt tầm nhìn của mình, trở thành cơ sở giáo dục nghề nghiệp đẳng cấp quốc tế. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Nghiệp vụ quản lý:
Hiện nay số Cán bộ Quản lý của toàn trường mới chỉ khoảng 19,5- 22,6% được qua đào tạo lớp nghiệp vụ quản lý nhà trường, trong đó số cán bộ đã được đào tạo qua nghiệp vụ quản lý doanh nghiệp, quản lý dây chuyền sản xuất là 16/16 (đạt 100%) và qua nghiệp vụ quản lý giáo dục là 2/16 (13%). Đây là thiếu hụt lớn đối với công tác quản lý nói chung và quản lý trong quá trình đào tạo nói riêng của nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên. Và đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc tổ chức đào tạo chưa đúng hướng, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
- Giáo viên
Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo của một khóa học giáo viên là điều kiện cần được đảm bảo đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện. Do vậy, tác giả tổ chức thu thập một số nội dung sau:
Số lượng và cơ cấu giáo viên.
- Bảng 2.15: Thống kê số lượng giáo viên qua các năm
Theo bảng số liệu cho thấy, số lượng giáo viên dạy nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên đều có tỉ lệ tương đối cao so với toàn trường (năm 2023 số lượng giáo viên nghề May thời trang chiếm trên 41,7 % tổng số giáo viên toàn trường; năm 2024 chiếm trên 39,5% và năm 2025 chiếm trên 59,7 %). Số lượng giáo viên dạy tích hợp có tỉ lệ tương đương và cao hơn so với giáo viên dạy thực hành, năm 2024 và 2025 số giáo viên dạy học tích hợp cao hơn 2 lần số giáo viên dạy thực hành.
- Trình độ chuyên môn
Theo số liệu của Phòng TCHC trường Cao đẳng nghề Long Biên năm 2025 thì trình độ chuyên môn của giáo viên nghề May thời trang cụ thể như sau:
- Bảng 2.16 Trình độ chuyên môn của giáo viên
Qua bảng số liệu trên ta thấy, cơ cấu theo trình độ chuyên môn của giáo viên nghề May thời trang của trường Cao đẳng nghề Long Biên có sự chênh lệch khá lớn về trình độ chuyên môn. Số lượng giáo viên có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ thấp (năm 2025 chiếm khoảng 20% so với toàn bộ giáo viên của nghề trong nhà trường) và đang có sự gia tăng. Trình độ chuyên môn của giáo viên chủ yếu tập trung ở trình độ cao đẳng và đại học (chiếm khoảng 50%) và không có giáo viên nào là nghệ nhân. Về trình độ tay nghề: 100% giáo viên đều đạt chuẩn ký năng nghề (theo kết quả kỳ đánh giá kỹ năng nghề giáo viên năm 2023 của Tổng cục Dạy nghề) Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
- Nghiệp vụ sư phạm
Toàn trường có > 80% GV đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề. Số giáo viên đạt chuẩn kỹ năng nghề 4/7 hoặc tương đương trở lên >75%. Đây là con số so với các cơ sở đào tạo khác có thể hơn nhưng so với yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực mà nhà trường và doanh nghiệp cùng đặt ra thì đó là vấn đề cần quan tâm cải thiện trong thời gian tới
Đặc biệt, mô hình dạy học tích hợp lý thuyết và thực hành theo mô đun MKH cần giáo viên có đủ trình độ để dạy tích hợp và thông thạo về phương pháp dạy học này. So với đặc điểm nguồn nhân lực cho đào tạo nghề hiện nay của nhà trường cần đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực để nâng tỉ lệ 75% giáo viên có đủ trình độ dạy tích lớp lên trên 90% trong tương lai.
- Ngoại ngữ, tin học
Kết quả khảo sát giáo viên nghề May thời trang về trình độ tin học ngoại ngữ năm 2025 của nhà trường cụ thể như sau:
- Bảng 2.17. Trình độ tin học, ngoại ngữ năm 2025 của giáo viên nghề May thời trang
Qua bảng số liệu ta thấy thực trạng như sau: Mặc dù số lượng giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ trong nghề May thời trang của nhà trường khá cao nhưng tỉ lệ giáo viên không có kỹ năng về tin học và ngoại ngữ cũng lớn (trung bình khoảng 15%). Đặc biệt trong số hơn 50% giáo viên tự đánh giá trình độ tiếng anh của mình mức độ B khi được hỏi về mức độ áp dụng trong giảng dạy, giao tiếp và đọc tài liệu nước ngoài thì 100% đều đánh giá là không sử dụng.
Công tác bồi dưỡng giáo viên và Cán bộ Quản lý.
- Bảng 2.18. Đánh giá của Cán bộ Quản lý và GV về sự cần thiết và mức độ thực hiện các biện pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ GV đào tạo nghề
Trước những đòi hỏi ngày càng cao của các yếu tố làm nên chất lượng dạy nghề cùng với đặc điểm hiện tại của nguồn nhân lực, trường Cao đẳng nghề Long Biên đã có những giải pháp tích cực nhằm góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên trong trường và Khoa Công nghề May. Trong các giải pháp nhà trường đưa ra có rất nhiều giải pháp được đánh giá phù hợp cao và đã thực hiện rất tốt như: Kế hoạch hóa công tác đào tạo bồi dưỡng hàng năm, mời chuyên gia các doanh nghiệp về bồi dưỡng giáo viên, cử giáo viên đi bồi dưỡng và cập nhật khoa học công nghệ trong doanh nghiệp. Tuy nhiên bên cạnh đó qua khảo sát cũng thấy rằng 2 giải pháp nhà trường tạo điều kiện khuyến khích giáo viên tự học tự bồi dưỡng và tổ chức dự giờ trao đổi chuyên môn kinh nghiệm mặc dù vẫn có khoảng trên 50% ý kiến đánh giá là tốt nhưng đây cũng là giải pháp đang được thực hiện yếu nhất trong nhà trường trong công tác bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, giáo viên.
Kết quả trên là hoàn toàn phù hợp với điều kiện và đặc điểm thực tại của nhà trường. Sở dĩ nhà trường thực hiện tốt kế hoạch đào tạo giáo viên thông qua các lớp học đào tạo riêng và thông qua chính doanh nghiệp là bởi nhà trường có lợi thế là trường bên cạnh doanh nghiệp, là thành phần trong Tổng công ty May 10 nên việc tổ chức đào tạo thông qua doanh nghiệp là điều rất thuận lợi và hiệu quả.
2.4.4. Về kế hoạch hoá công tác đào tạo Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Kế hoạch hóa hoạt động đào tạo nghề là yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình đào tạo nghề để tạo ra sản phẩm là nguồn lao động đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp. Hiện nay khâu xây dựng kế hoạch đào tạo của nhà trường có những nét đặc trưng và ưu việt. Và khẳng định cho ý kiến trên, tác giả đã tổ chức khảo sát cán bộ giáo viên trong trường, đại diện doanh nghiệp về mức độ thực hiện công tác kế hoạch hóa của nhà trường và được tổng hợp ở bảng :
- Bảng 2.19: Mức độ thực hiện công tác kế hoạch hóa của trường Cao đẳng nghề Long Biên
Như vậy qua bảng số liệu có thể thấy rằng, việc xây dựng kế hoạch đào tạo của nhà trường được thực hiện khá toàn diện và dựa vào nhiều nguồn thông tin khác nhau. Tuy nhiên mức độ áp dụng các nguồn thông tin vào thực hiện và triển khai kế hoạch của nhà trường vẫn còn có nhiều điểm chưa hợp lý. Nhà trường thực hiện việc áp dụng kết quả đào tạo hàng năm và áp dụng chỉ tiêu được giao vào việc kế hoạch hóa đào tạo cho năm tiếp theo là tương đối triệt để. Việc làm này giúp nhà trường luôn đi đúng hướng và rất phù hợp với điều kiện hiện có của mình (về đội ngũ, chương trình, cơ sở vật chất,…). Kế hoạch hóa công tác đào tạo dựa trên nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu người học cũng được nhà trường thực hiện tương đối tốt với tỉ lệ đánh giá tương đối cao (khoảng 60%). Tuy nhiên so với đặc điểm, lợi thế của nhà trường là trường bên cạnh doanh nghiệp thì tỉ lệ thực hiện trên vẫn còn là thấp. Vấn đề bất cập nhất hiện nay của nhà trường trong khâu lập kế hoạch đào tạo là việc khai thác và vận dụng thông tin nhu cầu vùng, miền, địa phương vào việc xây dựng kế hoạch đào tạo còn hạn chế (yếu: 35,l8%; trung bình: 34,7%). Việc làm này nếu không thực hiện tốt trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo trong nghề May thời trang có thể chỉ ảnh hưởng gây lãng phí, không hiệu quả tới đào tạo nghề.
2.4.5. Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo nghề
Trường Cao đẳng nghề Long Biên có rất nhiều điều kiện tốt về cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo, đặc biệt đối với nghề May thời trang. Ngoài những trang thiết bị đào tạo thường xuyên như máy may 1 kim, 3 kim, máy vắt sổ, máy thêu, máy thùa, bàn là đã được nhà trường trang bị đủ để phục vụ quá trình đào tạo, Tổng công ty May 10 – còn tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được làm quen và thao thác trên những thiết bị sản xuất tiên tiến nhất của dây chuyền May Công nghiệp hiện đại như: Máy ép, máy dập…. và nhiều thiết bị hiện đại khác.
Vì vậy, sinh viên của nhà trường khi bước vào doanh nghiệp thực tập và làm việc không chỉ tự tin thao tác trên những thiết bị truyền thống mà còn rất linh hoạt trong việc sử dụng các thiết bị tối tân, hiện đại.
Khảo sát giáo viên và học sinh về tình hình quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trong dạy học cho thấy rõ những kết quả đạt được của nhà trường trong công tác này. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.20. Tình hình quản lý cơ sở vật chất thiết bị dạy học của trường CĐN Long Biên.
Như vậy, qua bảng số liệu trên ta thấy công tác quản lý cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay đã và đang được thực hiện tương đối hoàn thiện. Điểm nhà trường cần đặc biệt quan tâm hơn trong công tác quản lý cơ sở vật chất của nhà trường trong thời gian tới là đẩy mạnh hơn việc đầu tư, trang bị các thiết bị dạy học và thực hành hiện đại để phục vụ riêng cho công tác dạy học đồng thời huy động khuyến khích người học sáng tạo và tạo ra những thiết bị dạy học tối ưu thông qua các cuộc thi tìm kiếm, sáng tạo thiết bị dạy học của học sinh. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
2.4.6. Về kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
Cơ cấu tổ chức của nhà trường có mang lại nhiều thuận lợi cho người học đặc biệt là ở khâu kiểm tra, đánh giá, như:
Về tiêu chí đánh giá người học: Đội ngũ giáo viên của nhà trường bao gồm cả những người quản lý trực tiếp trong dây chuyền sản xuất hàng may công nghiệp vì thế những tiêu chí đánh giá người học sẽ có cái nhìn thực tế hơn từ chính công việc mà họ tham gia chứ không chỉ trên chương trình, sách vở.
Về công cụ đánh giá: Trường Cao đẳng nghề Long Biên ngoài chức năng nhiệm vụ là đào tạo nghề còn có 3 trung tâm khác trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Tổng cục Dạy nghề: TT Đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, TT đào tạo an toàn, vệ sinh lao động, TT Kiểm định chất lượng Cơ sở vật chất. Trong đó Trung tâm đánh giá kỹ năng nghề Quốc Gia là công cụ vô cùng hữu ích cho người học nếu được nhà trường khai thác và sử dụng triệt để trong quá trình triển khai đào tạo.
Để khái quát được tình hình chung công tác quản lý việc đánh giá đào tạo của nhà trường, tác giả đã khảo sát cán bộ giáo viên trong nhà trường về hoạt động này và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.21 Tình hình quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
Qua bảng khảo sát về công tác quản lý hoạt động kiểm tra và đánh giá kết quả đào tạo nghề của trường cao đẳng nghề Long Biên ta thấy rõ được những mặt mạnh cũng như mặt còn hạn chế trong công tác tổ chức thi và xếp loại trong đào tạo nghề của nhà trường.
Với lợi thế về mô hình và cấu tạo trong cơ cấu tổ chức, cơ cấu giáo viên của nghề May thời trang, trường cao đẳng nghề Long Biên hoàn toàn có thể có mang lại cho xã hội sản phẩm là nguồn lao động tốt nhất, chất lượng nhất và đúng với tuyên ngôn đào tạo của mình “Sinh viên ra trường làm được việc ngay không phải đào tạo lại” nếu biết cách sử dụng triệt để lợi thế của mình. Hiện nay các nội dung quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá trong đào tạo nghề May của nhà trường đều chủ yếu đạt ở mức trung bình. Riêng chỉ có hoạt động thi tốt nghiệp là được triển khai thực hiện tốt (chiếm trên 80%); sử dụng cán bộ trong doanh nghiệp và cán bộ giáo viên ngoài nhà trường tham gia vào hoạt động đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo cũng được đánh giá khá cao (56.2 đánh giá tốt) còn lại các mặt khác kết quả chưa thực sự đạt được như mong muốn. Trong đó đặc biệt phải nói đến một lợi thế mà nhà trường đang có nhưng chưa biết cách khai thác tốt đó là sử dụng trung tâm đánh giá kỹ năng nghề Quốc gia LBC tham gia vào hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo nghề của nhà trường (với trên 65.5 % ý kiến được khảo sát đánh giá mức độ thực hiện còn rất thấp).
2.5. Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang của Trường Cao đẳng nghề Long Biên Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
2.5.1 Điểm mạnh
Qua nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang của trường cao đẳng nghề Long Biên, tác giả nhận thấy công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề của nhà trường đã đạt được những thành tựu cơ bản như:
Nhà trường có lợi thế lớn về cơ cấu tổ chức và mô hình nhà trường: Trường bên cạnh doanh nghiệp chính vì thế nhà trường có rất nhiều thuận lợi trong việc sử dụng nguồn lực: nhân lực, trí lực, tin lực và cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động đào tạo và phát triển ngành nghề.
Phát huy được lợi thế đó, trong công tác đào tạo nghề nhà trường đã biết cách tiếp cận các nhu cầu để xác định đúng mục tiêu đào tạo đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực ngành dệt may trong bối cảnh xã hội mới.
Cùng với đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bản trong các trường sư phạm kỹ thuật, có trình độ tay nghề cao và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề thì đội ngũ chuyên gia tại doanh nghiệp tham gia vào công tác đào tạo cũng mang lại những giá trị to lớn cho kết quả đào tạo nghề của nhà trường.
Phương pháp triển khai hoạt động đào tạo nghề may tại trường cao đẳng nghề Long Biên cũng là điểm mạnh và là bước đột phá trong công tác đào tạo nghề. Với lợi thế là trường bên cạnh doanh nghiệp, Học sinh sinh viên của nghề May không chỉ có điều kiện được thực hành thực tập ngay sau mỗi module/ môn học tại trực tiếp xưởng sản xuất của trường mà còn có điều kiện được tham gia trực tiếp vào dây chuyền sản xuất thực tế của Tổng công ty May 10 và các xí nghiệp thành viên, qua đó người học được rèn luyện kỹ năng nghề, tác phong nghề, thiết bị sản xuất hiện đại mà thông qua đó còn được tiếp xúc và rèn luyện với văn hóa, kỷ cương doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
2.5.2 Điểm yếu
Mặc dù có rất nhiều thuận lợi để phát triển các hoạt động đào tạo của nhà trường nhưng trong quá trình triển khai đào tạo, Trường Cao đẳng nghề Long Biên cũng vẫn vấp phải một số khó khăn nhất định như:
Cơ cấu tổ chức của nhà trường khá đầy đủ và đồng bộ nhưng nhà trường chưa phát huy được hết chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận như: trung tâm đánh giá kỹ năng nghề quốc gia LBC, trung tâm tuyển sinh và giới thiệu việc làm…
Nội dung chương trình đào tạo nhà trường chưa được chủ động xây dựng nên mặc dù chất lượng đào tạo được đánh giá tương đối cao nhưng khi người học tốt nghiệp đi vào thực tế đời sống lao động vẫn vấp phải một số rào cản nhất định về kỹ năng mềm, kỹ năng tin học, ngoại ngữ…
Đối với đội ngũ cán bộ giáo viên, mặc dù có đủ về số lượng và đa dạng về thành phần nhưng đánh giá chung về mặt bằng trình độ của giáo viên và cán bộ quản lý hiện nay chưa đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Công tác đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ đã được quan tâm nhưng chưa toàn diện và chưa khuyến khích được đông đảo giáo viên, cán bộ quản lý tích cực tham gia.
Về cơ sở vật chất kỹ thuật: nhà trường có sự quan tâm đầu tư nhưng với những khó khăn nhất định việc trang bị kịp thời và đầy đủ mọi phương tiện dạy học và công cụ sản xuất hiện đại là điều nhà trường chưa thể đáp ứng trong thời điểm này.
Công tác tuyển sinh học nghề cũng là một rào cản nhất định trong việc phát triển nhà trường và thực hiện mục tiêu đưa nhà trường thành trường đào tạo nghề đẳng cấp quốc tế.
2.5.3 Cơ hội
Trước những thuận lợi về kết quả đạt được của hoạt động quản lý đào tạo nghề May thời trang cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của ngành Dệt May trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trường cao đẳng nghề Long Biên hoàn toàn có được những lợi thế, cơ hội để phát triển thành trường đẳng cấp quốc tế trong tương lai. Đặc biệt, khó khăn lớn nhất của nhà trường là việc chưa được quyền chủ động trong thiết kế chương trình và nội dung đào tạo nghề thì hiện nay với Luật giáo dục nghề nghiệp đã chính thức có hiệu lực từ tháng 7/ 2025 tới nay nhà trường đã hòan toàn được mở cửa và chủ động trong công tác đào tạo nghề của mình. Việc làm này là cơ hội lớn để ngành May thời trang tại trường cao đẳng nghề Long Biên được khẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp và cao hơn nữa là khẳng định vị thế của giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay.
2.5.4 Thách thức
Trong bối cảnh đất nước có sự chuyển mình quan trọng trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội đất nước, ngành Dệt may là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn góp phần to lớn vào kim ngạch xuất khẩu và GDP của cả nước, vì vậy những yêu cầu và đòi hỏi của ngành này cho lực lượng lao động của họ càng ngày càng cao. Trường cao đẳng nghề Long Biên có nhiều lợi thế trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành dệt may nhưng nếu nhà trường không biết sử dụng và phát huy triệt để những thành công và lợi thế của mình thì trong tương lai nguồn nhân lực dệt may sẽ Việt Nam sẽ không có chỗ đứng trong chính các doanh nghiệp của mình. Đặc biệt hơn nữa sự cạnh tranh không chỉ tới từ nguồn lao động của nước ngoài mà còn tới từ nguồn nhân lực được đào tạo từ chính các cơ sở dạy nghề ở trong nước, bởi nếu như trước kia mô hình trường bên cạnh doanh nghiệp chiếm tỉ trọng rất ít trong cơ cấu các cơ sở dạy nghề thì hiện nay với chính sách thu hút sự tham gia của doanh nghiệp vào dạy nghề mà đặc biệt hơn nữa là mô hình trường, cơ sở dạy nghề gắn với doanh nghiệp nước ngoài thì mô hình như trường cao đẳng nghề Long Biên sẽ không còn là hiếm trong hệ thống giáo dục dạy nghề
Bởi vậy, trước bối cảnh của đất nước và thế giới hiện nay, nhiệm vụ của đào tạo nghề May thời trang của trường Cao đẳng nghề Long Biên phải đề ra những bước đi cụ thể, chắc chắn phát huy được những lợi thế vồn có của mình và hạn chế các nhược điểm, khó khăn để đào tạo ra nguồn nhân lực có đủ năng lực để thực hiện công việc.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
Khảo sát về thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang của trường cao đẳng nghề Long Biên cho thấy:
Về thực trạng chất lượng đào tạo nghề May của trường Cao đẳng nghề Long Biên: Nhìn chung qua khảo sát người học, người dạy và người sử dụng lao động sau khi học sinh sinh viên của nghề May thời trang trường Cao đẳng nghề Long Biên ra trường đểu cho thấy kết quả đào tạo của nhà trường tương đối tốt.
Về mục tiêu đào tạo: Trước, trong và sau quá trình đào tạo nghề May thời trang tại Trường Cao đẳng nghề Long Biên luôn luôn có sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình này, chính vì vậy người học sau khi tốt nghiệp được doanh nghiệp đánh giá cao, sử dụng được ngay và không phải đào tạo lại. Kết quả đó là nhờ lợi thế trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và mô hình nhà trường “Trường bên cạnh doanh nghiệp – Tổng công ty May 10”. Mặc dù có những kết quả như vậy nhưng nếu nhà trường biết khai thác tối ưu các điểm mạnh của mình thì kết quả đào tạo sẽ còn cao hơn nữa.
Về nội dung đào tạo: từ trước năm học 2026 – 2027 nhà trường đang xây dựng và triển khai chương trình đào tạo nghề May thời trang trên cơ sở chương trình khung nghề May thời trang của Bộ lao động thương binh xã hội. Do vậy chương trình đào tạo của nhà trường bên cạnh những nét ưu việt thì vẫn có nhiều điểm hạn chế mà cụ thể là nội dung chưa phù hợp so với yêu cầu thực tiễn trong công việc của từng vị trí trong doanh nghiệp và dây chuyền sản xuất. Vì vậy với việc ban hành và có hiệu lực của Luật giáo dục nghề nghiệp đang là cơ hội cũng là thách thức lớn cho đào tạo nghề May thời trang tại trường Cao đẳng nghề Long Biên trong bối cảnh hiện nay.
Về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý: Mặc dù có đủ về số lượng và thành phần trong cơ cấu đội ngũ, điều này có ảnh hưởng rất tích cực cho hoạt động đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên trong quá trình quản lý nhân sự nghề May, nhà trường vẫn bộc lộ những điểm hạn chế, điểm chưa tích cực đối với đội ngũ này như: chưa đồng đều về trình độ chuyên môn, sư phạm; Cán bộ Quản lý chưa qua đào tạo nghiệp vụ quản lý giáo dục; GV, Cán bộ Quản lý còn hạn chế về kỹ năng tin học và tiếng anh…
Về cơ cấu người học: những khó khăn trong công tác tuyển sinh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp cũng là khó khăn của trường cao đẳng nghề Long Biên. Hiện nay số lượng học sinh sinh viên của nhà trường qua các năm mặc dù đã có sự tăng trưởng theo chiều hướng tích cực nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với mô hình, vị thế của nhà trường. Công tác tuyển sinh ồ ạt, không có sự kiểm duyệt chất lượng trong đầu vào cũng gây không ít khó khăn trong quá trình đào tạo và quản lý học sinh, sinh viên.
Về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo: Nhà trường có lợi thế là trường bên cạnh doanh nghiệp, nên trong quá trình học tập Học sinh sinh viên ngoài được sử dụng các trang thiết bị cơ sở vật chất của nhà trường để thực hành, thực tập ngay tại lớp học và xưởng sản xuất của trường mà còn có cơ hội được sử dụng và tiếp cận những máy móc, công nghệ hiện đại trong dây chuyền sản xuất của Tổng công ty May 10 thông qua các kỳ thực tập module, thực tập sản xuất và thực tập nghề nghiệp. Mặc dù vậy có lợi thế đó, tuy nhiên đây mới là những giải pháp tạm thời để khắc phục những khó khăn trong điều kiện của nhà trường hiện nay. Chính vì vậy để đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai, nhà trường cần có giải pháp quản lý cơ sở vật chất tốt hơn nữa mới thực sự là động lực cho sự phát triển nhà trường trong tương lai.
Như vậy, với những mặt được và chưa được trong thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề nghề May thời trang tại trường cao đẳng nghề Long Biên, nhà trường cần phải có những biện pháp tích cực và hiệu quả để nâng cao những ưu điểm vốn có của mình và hạn chế tối đa những điểm hạn chế trong chất lượng của đào tạo nghề mà cụ thể ở đây đó là những vấn đề về: Mục tiêu đào tạo nghề, nội dung đào tạo nghề, đội ngũ đào tạo nghề, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề và mối liên hệ giữa cơ sở đào tạo nghề với tổ chức sử dụng nguồn lao động sau đào tạo… Luận văn: Thực trạng QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL hoạt động đào tạo nghề May thời trang

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
