Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hoá giáo dục của thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương

Bến Cát là một thị xã thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, trung tâm thị xã cách Thành phố Thủ Dầu Một 20 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km.

Thị xã (TX) Bến Cát có đường Quốc lộ 13 cách Thành phố Thủ Dầu Một khoảng 20 km về hướng bắc, tỉnh lộ 744 theo hướng Tây Bắc đi huyện Dầu Tiếng và tỉnh Tây Ninh. Thị xã Bến Cát hiện đang là đô thị loại III. Thị xã nằm ở trung tâm tỉnh Bình Dương, có sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua.

Phía Đông giáp thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh); Tây Bắc giáp huyện Dầu Tiếng. Phía Nam giáp thành phố Thủ Dầu Một. Phía Bắc giáp huyện Bàu Bàng.

Trước năm 2020, thị xã Bến Cát ngày nay là một phần huyện Bến Cát cũ. Ngày 29 tháng 12 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ-CP, tách huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng. Thị xã Bến Cát được thành lập từ thị trấn Mỹ Phước và 7 xã: Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa, An Điền, Phú An, An Tây của huyện Bến Cát cũ. Đồng thời chuyển thị trấn Mỹ Phước và 4 xã Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa thành 5 phường có tên tương ứng.

Thị xã Bến Cát có 23.442,24 ha diện tích tự nhiên và 203.420 nhân khẩu với 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phường và 3 xã.Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Bộ Xây dựng ban hành quyết định công nhận thị xã Bến Cát là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 2025, thị xã Bến Cát chính thức được công nhận là đô thị loại III.

Thị xã được chia thành 8 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 5 phường: Chánh  Phú  Hòa, Hòa  Lợi, Mỹ  Phước, Tân  Định, Thới  Hòa và 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An.

2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương

Ngày 29 tháng 12 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ- CP, tách huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng. Thị xã Bến Cát được thành lập từ thị trấn Mỹ Phước và 7 xã: Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa, An Điền, Phú An, An Tây của huyện Bến Cát cũ. Đồng thời chuyển thị trấn Mỹ Phước và 4 xã Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa thành 5 phường có tên tương ứng. Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Bộ Xây dựng ban hành quyết định công nhận thị xã Bến Cát là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 2025, thị xã Bến Cát chính thức được công nhận là đô thị loại III. Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Thị xã Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, cách thành phố Thủ Dầu Một 20km, cách TP Hồ Chí Minh khoảng 50km, có trục quốc lộ 13 đi qua. Phía bắc Thị xã Bến Cát giáp với huyện Bàu Bàng. Phía tây Thị xã Bến Cát là huyện Dầu Tiếng. Phía đông Thị xã Bến Cát là huyện Tân Uyên và huyện Phú Giáo. Phía nam Thị xã Bến Cát giáp thành phố Thủ Dầu Một và huyện Củ Chi (TP.HCM). Diện tích tự nhiên của Bến Cát là 23.442,24 ha và dân số năm 2024 là 269.998 người, trong đó dân nhập cư là 153.976 người (số liệu từ Phòng thống kê thị xã Bến Cát).

Năm 2024, tình hình kinh tế – xã hội của thị xã tiếp tục tăng trưởng và phát triển ổn định; tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt 23,5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng: công nghiệp 78,83% – dịch vụ 20,72% – nông nghiệp 0,4%. Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 115 triệu đồng/người/năm. Tổng giá trị sản xuất đạt trên 116.600 tỷ đồng, tăng 19,7 % so với năm 2023: trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 91.900 tỷ đồng, tăng 17,2% so cùng kỳ, đạt 100,8% Nghị quyết Hội đồng nhân dân thị xã giao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 24.200 tỷ đồng, tăng 30,9% so cùng kỳ, đạt 100,7% Nghị quyết Hội đồng nhân dân (HĐND) thị xã giao. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 520 tỷ đồng, tăng 5,3% so cùng kỳ, đạt 100,8% Nghị quyết Hội đồng nhân dân thi xã giao. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt gần 1.978 tỷ đồng; tổng thu ngân sách địa phương đạt gần 930 tỷ đồng, đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND thị xã giao; tổng chi ngân sách địa phương gần 847 tỷ đồng đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND thị xã giao.

Sau những thành công mô hình kinh tế khu công nghiệp (KCN) ở phía Nam, từ năm 2001, tỉnh Bình Dương có chủ trương đưa công nghiệp về vùng nông thôn phía bắc, khởi đầu là hình thành KCN Mỹ Phước. Như vậy mặc dù phát triển công nghiệp sau, nhưng Bến Cát đã vượt lên và trở thành địa điểm rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, và cũng trở thành địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng doanh nghiệp chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động là các giải pháp được Bến Cát thực hiện trong thời gian tới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ở địa phương.

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong những năm qua, Bến Cát quyết tâm hoàn thành và thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ đề ra trong năm 2025, tạo thuận lợi cho các năm tiếp theo, đóng góp vào sự phát triển toàn diện nền KTXH của tỉnh Bình Dương.

2.1.2. Giới thiệu về các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Thị xã Bến Cát là địa chỉ người lao động ở khắp nơi tìm về sinh cơ lập nghiệp. Từ đó nhu cầu học tập của con em người lao động cũng tăng lên. Hàng năm, thị xã Bến Cát là một trong số những địa phương có số học sinh tăng cao. Đáp ứng nhu cầu học tập của các em, những năm qua ngành GD-ĐT tích cực tham mưu UBND thị xã cho phép cải tạo, sửa chữa nâng cấp mở rộng cơ sở vật chất trường lớp hiện có. Ngoài ra, ngành còn xây dựng thêm nhiều công trình trường mới ở những địa phương có số học sinh tăng cao. Quan tâm đến sự nghiệp trồng người, lãnh đạo địa phương, các ngành có liên quan đã tập trung đầu tư xây dựng trường lớp ngày càng khang trang, hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

Hiện nay, thị xã Bến Cát có 15 trường tiểu học được đầu tư xây dựng kiên cố. Thực hiện sự chỉ đạo của UBND thị xã, Phòng GD-ĐT đã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành và UBND thị xã trong việc khảo sát, góp ý thiết kế và thống nhất danh mục đầu tư theo từng kỳ kế hoạch theo thứ tự ưu tiên đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022-2026. Đến nay, các trường đã được tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho việc tổ chức hoạt động dạy học trong trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do dân số tăng cơ học nhanh, nên áp lực về cơ sở vật chất ở thị xã Bến Cát luôn ở mức cao, nhiều trường có sĩ số học sinh trên lớp cao hơn quy định (từ 45 học sinh đến 55 học sinh/ lớp), có trường giảm số lớp học 2 buổi/ngày để đáp ứng đủ chỗ học cho học sinh.

Dù gặp những khó khăn nhất định, nhưng với sự tâm huyết, luôn đổi mới và sáng tạo trong giảng dạy của người thầy, chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học trong thị xã Bến Cát đã dần được nâng lên. Có được thành quả này, các trường tiểu học đã xây dựng kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Các trường cũng tập trung phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về năng lực chuyên môn, kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục…

Chất lượng giáo dục của nhà trường là thước đo, là sự khẳng định thương hiệu của cán bộ giáo viên cũng như tập thể nhà trường. Xác định điều đó, ngoài các biện pháp nâng cao chất lượng mà các trường đã áp dụng, các giáo viên còn thể hiện sự nhiệt tình, sáng tạo trong giảng dạy và ôn tập cho học sinh. Thầy cô luôn gần gũi, động viên, khích lệ để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các em; dành thời gian hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tự tìm tòi và rèn luyện thêm tại nhà; hệ thống hóa cho học sinh những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao…

Trong những năm qua, chất lượng giáo dục ở Bến Cát luôn đạt từ 97,5% trở lên học sinh hoàn thành chương trình lớp học; 99,99% HS hoàn thành chương trình tiểu học. Toàn thị xã có 9/15 trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ 60%. Đến nay, mạng lưới trường lớp của thị xã được phân bố hợp lý. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và trường lớp được chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm đầy đủ số lượng, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm tỷ lệ khá cao. Chất lượng và hiệu quả GD-ĐT ngày càng được củng cố và từng bước nâng cao. (Phòng GD&ĐT Bến Cát, 2024)

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

2.2.1. Nội dung khảo sát

  • Nhận thức về hoạt động thư viện thân thiện: Chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát (vai trò, tầm quan trọng của hoạt động thư viện thân thiện).
  • Thực trạng về hoạt động thư viện thân thiện: Chúng tôi đã khảo sát ý kiến CBQL, GV và học sinh về kế hoạch, nội dung và hình hoạt động thư viện thân thiện.
  • Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động thư viện thân thiện cho học sinh tiểu học (thông qua bảng hỏi CBQL, GV)
  • Chúng tôi khảo sát ý kiến của CBQL và GV về:

Thực trạng xây dựng, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá thực hiện, quản lý các điều kiện phục vụ các kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện thân thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Công cụ điều tra khảo sát thực trạng chủ yếu là phiếu hỏi dành cho CBQL, cho đội ngũ giáo viên và học sinh. Thông qua phiếu hỏi, chúng tôi thu thập thông tin từ các đối tượng là Hiệu Trưởng, Phó Hiệu Trưởng. Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thị Xã Bến Cát với các nội dung đã xác định trong phần nội dung khảo sát. Tổng số phiếu phát ra 400 phiếu, thu về 400 phiếu. Cụ thể như sau:

  • CBQL: 35 phiếu
  • GV: 115 phiếu
  • HS: 250 phiếu

Sau khi thu thập số liệu từ bảng khảo sát, đề tài sử dụng phần mềm SPSS statitis 23.0 để xử lý thông tin phiếu điều tra.

Đối với các dữ liệu định tính, chúng tôi trích lọc các ý kiến để đưa vào phân tích thực trạng.

2.2.3. Tổ chức điều tra, khảo sát Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Chúng tôi sử dụng 2 mẫu khảo sát:

  • Mẫu 1: Dành cho CBQL và GV các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 1)
  • Mẫu 2: Dành cho học sinh các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 2)

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 15 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương bao gồm các đối tượng là CBQL (Hiệu Trưởng, Phó hiệu Trưởng, tổ trưởng chuyên môn), giáo viên phụ trách lớp và học sinh. Cụ thể trình bày ở bảng 2.1 như sau:

  • Bảng 2.1. Thống kê số liệu các trường khảo sát

Đối với phiếu khảo sát CBQL và GV: Chúng tôi thu được 150 phiếu có thông tin, đặc điểm đối tượng khảo sát thể hiện ở bảng 2.2 như sau:

  • Bảng 2.2. Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát

Đối với phiếu khảo sát học sinh: Chúng tôi thu được 250 phiếu có thông tin, có đặc điểm ở bảng 2.3 như sau:

  • Bảng 2.3 Đặc điểm học sinh được khảo sát

Nhìn vào bảng 2.2 và 2.3 ta thấy, đối tượng khảo sát có đặc điểm đa dạng, phong phú cho phép đề tài thu thập thông tin toàn diện về thực trạng hoạt động thư viện thân thiện và thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nhận thức học sinh lớp 5 có tư duy khái quát, trừu tượng hóa của HS có cao hơn, vốn sống thực tế HS cũng cao hơn. Nhìn chung, trong các hoạt động thì học sinh lớp 5 linh hoạt hơn, tiếp xúc nhiều hơn và kiến thức hiểu biết nhiều hơn các khối khác, phù hợp với việc phỏng vấn.

2.2.4. Qui ước thang đo Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0.8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng 2.2 sau:

  • Bảng 2.4. Quy ước xử lý thông tin

2.3. Thực trạng hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

2.3.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Để tìm hiểu về thực trạng hoạt động thư viện ở các trường tiểu học thị xã Bến cát- Tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã phát phiếu điều tra 35 cán bộ quản lý và 115 GV của các trường trên địa bàn thị xã Bến cát – Tỉnh Bình Dương kết quả thu được như sau: 1:Không quan trọng; 2: Ít Quan trọng; 3: Khá quan trọng; 4: Quan Trọng; 5: Rất quan trọng.

Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện nhận thức về tầm quan trọng hoạt động thư viện thân thiện ở các trường tiểu học trên địa bàn thị Xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương

Qua biểu đồ cho thấy có 55% CBQL và GV cho rằng vai trò của hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát là quan trọng và rất quan trọng, trong khi đó chỉ có 22% cho rằng là khá quan trọng, 20% cho rằng là ít quan trọng và số ít 3% có rằng không quan trọng.

Nhìn vào kết quả khảo sát thể hiện trên biểu đồ, có thể nhận thấy: Hầu hết các nhà quản lý đều nhận thức được vai trò của thư viện trong nhà trường và trong nhiệm vụ giáo dục học sinh. Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ là khác nhau.

Rõ ràng việc nhận thức về vai trò của thư viện trường học của các nhà quản lý còn chưa cao. Từ nhận thức ấy nên việc đầu tư về nhân sự, thời gian và vật chất cũng như quan tâm đến các yếu tố có liên quan còn nhiều hạn chế. Nhiều cán bộ quản lý chưa thực sự chú trọng về vấn đề này.

2.3.2 Thực trạng thực hiện kế hoạch, nội dung hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

  • Thực trạng thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Để tìm hiểu về thực trạng hoạt động của các thư viện tại các trường tiểu trên địa bàn thị Xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương, chúng tôi xây dựng phiếu câu hỏi để khảo sát. Câu hỏi đặt ra là: “Cán bộ thư viện đã thực hiện các công việc dưới đây ở mức độ nào?” Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 150 cán bộ quản lý, giáo viên và 250 học sinh, kết quả thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.5. Thực trạng các kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

  • Qua kết quả ở bảng 2.5 cho thấy:

Đối với CBQL và GV “Thi kể chuyện theo sách” xếp vị trí thứ nhất với điểm trung bình là 3,74, “Phát động phong trào đọc sách, tìm hiểu sách” xếp ở vị trí thứ 2 với điểm trung bình là 3,7. “Trang trí, sắp xếp lại thư viện đẹp mắt, ngăn nắp” xếp vị trí thứ 3 với điểm trung bình là 3,68, “Hướng dẫn bạn đọc cách sử dụng thư viện” xếp vị trí thứ 4 với điểm trung bình là 3,59, “Theo dõi hướng dẫn bạn đọc tìm đọc sách” và “Vận động bạn đọc xây dựng thư viện bằng cách đóng góp sách cho thư viện” xếp vị trí thứ 5 với điểm trung bình là 3,55. Tất cả các công việc trên đều được CBQL và GV thực hiện ở mức thường xuyên trong khoảng 3,41 – 4,20.

Triển lãm trưng bày sách” xếp vị trí thứ 7 với điểm trung bình là 3,31. “Cung ứng cho giáo viên các loại sách phục vụ giảng dạy và học tập” xếp vị trí thứ 8 với điểm trung bình là 3,27, “Phân loại, sắp xếp và bảo quản tài liệu trong thư viện”, “Tổ chức cho bạn đọc mượn sách, báo, tài liệu có trong thư viện” và “Nhắc nhở bạn đọc giữ gìn sách, tài liệu trong thư viện” xếp vị trí thứ 9 với điểm trung bình là 3,26, “Tuyên truyền, giới thiệu sách trong thư viện” xếp vị trí thứ 12 với điểm trung bình là 3,21. Các công việc ở vị trí 8-11 nằm trong khoảng 2,61- 3,40 là ở mức thỉnh thoảng.

Từ đánh giá đối với CBQL và GV thì nhận thấy việc thực hiện các hoạt động thư viện thân thiện đối với CBQL và GV chỉ ở mức khá. Chưa đảm bảo thực hiện đầy đủ các hoạt động thư viện thân thiện của nhà trường.

Để đánh gia kỹ hơn chúng tôi tiếp tục khảo sát 250 học sinh về các nội dung trên “Theo các em cán bộ nhà trường đã thực hiện những công việc dưới đây ở mức độ nào?” có kết quả là: Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Triển lãm trưng bày sách” xếp vị trí thứ 1 có điểm trung bình là 3,88, “Tuyên truyền, giới thiệu sách trong thư viện” xếp vị trí thứ 2 có điểm trung bình là 3,71, “Phân loại, sắp xếp và bảo quản tài liệu trong thư viện” xếp vị trí thứ 3 có điểm trung bình là 3,65, “Theo dõi hướng dẫn bạn đọc tìm đọc sách” xếp vị trí thứ 4 có điểm trung bình là 3,59, “Cung ứng cho giáo viên các loại sách phục vụ giảng dạy và học tập” xếp vị trí thứ 5 có điểm trung bình là 3,54, “Tổ chức cho bạn đọc mượn sách, báo, tài liệu có trong thư viện” xếp vị trí thứ 6 có điểm trung bình là 3,5, “Nhắc nhở bạn đọc giữ gìn sách, tài liệu trong thư viện” xếp vị trí thứ 7 có điểm trung bình là 3,45, “Phát động phong trào đọc sách, tìm hiểu sách” xếp vị trí thứ 8 có điểm trung bình là 3,42. Các nội dung trên ở mức thường xuyên nằm trong khoảng 3,41 – 4,20.

Ở các nội dung còn lại chỉ nằm ở mức thỉnh thoảng, điều đó khẳng định các công việc trên chưa được các cán bộ thư viện cũng như nhà trường thường xuyên thực hiện nhằm phục vụ hoạt động thư viện thân thiện cho học sinh tiểu học trên địa bàn thị Xã Bến Cát – tỉnh Bình Dương.

Phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý và giáo viên các trường chúng tôi cũng thấy các ý kiến đánh giá tương đối tốt việc sắp xếp thư viện theo đúng nghiệp vụ thư viện. “Thư viện trong các nhà trường đã thực hiện được nhiệm vụ cơ bản của mình trong trường tiểu học là cung ứng cho giáo viên và học sinh các loại sách để giảng dạy, học tập. Việc tổ chức cho bạn đọc mượn đọc sách, tài liệu có trong thư viện được thực hiện khá tốt”. Tuy nhiên, “một số trường do thư viện chưa đạt chuẩn hoặc do kế hoạch dạy học riêng của nhà trường nên không đưa tiết thư viện vào thời khóa biểu mà chỉ cho học sinh đến đọc sách trong giờ ra chơi hoặc tiết hoạt động tập thể giáo viên chủ nhiệm nào đăng kí cho học sinh xuống thư viện thì sẽ được xếp lịch xuống thư viện đọc sách.”

Các hoạt động “Triển lãm trưng bày sách”, “Cung ứng cho giáo viên các loại sách phục vụ giảng dạy và học tập”, “Phân loại, sắp xếp và bảo quản tài liệu trong thư viện”, “Tổ chức cho bạn đọc mượn sách, báo, tài liệu có trong thư viện” và “Nhắc nhở bạn đọc giữ gìn sách, tài liệu trong thư viện”, “Tuyên truyền, giới thiệu sách trong thư viện”. Qua phỏng vấn các cán bộ quản lý các trường chúng tôi cũng thấy các nhà quản lý chưa hài lòng về việc thực hiện các hoạt động này, nhiều ý kiến cho thấy cán bộ thư viện nhưng chưa chủ động phát động phong trào đọc sách, tìm hiểu sách. Thông thường việc tổ chức các hoạt động này là do Ban giám hiệu nhà trường lên kế hoạch, yêu cầu cán bộ thư viện thực hiện chứ nhân viên thư viện chưa chủ động thực hiện. Và các ý kiến này cũng tương đồng với kết quả khảo sát mà chúng tôi nhận được.

  • Thực trạng nội dung hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát,tỉnh Bình Dương

Để tìm hiểu về thực trạng nội dung các hoạt động thư viện tại các trường tiểu trên địa bàn thị Xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương, chúng tôi xây dựng phiếu câu hỏi để khảo sát. Câu hỏi đặt ra là: “Theo quý Thầy/Cô, nội dung hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương ở mức độ nào?” Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 150 cán bộ quản lý, giáo viên và 250 học sinh, kết quả thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.6. Thực trạng nội dung hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Từ kết quả bảng 2.6 cho thấy: Đối với CBQL và GV “Hoạt động tại các góc viết: rèn chữ viết, câu văn đúng đẹp”, “Hoạt động ngoài trời: Lễ hội sách, vẽ theo chủ đề” có điểm trung bình lần lượt là 3,74, 3,51 xếp thứ 1 và 2 nằm trong khoảng 3,41- 4,20. Cho thấy theo đánh giá của CBQL và GV 2 hoạt động trên được thực hiện thường xuyên.

Hoạt động tại các góc đọc: Hình thành kỹ năng đọc”, “Hoạt động tại các góc nghệ thuật: vẽ, nặn tượng, làm đồ chơi” có điểm trung bình là 3,32 nằm trong khoảng 2,61- 3,40 ở mức độ thỉnh thoảng. Cho thấy theo đánh giá của CBQL và GV thì hai hoạt động này chưa thực sự được các GV thực hiện để phục vụ hoạt động thư viện thân thiện tại các trường.

Để đánh giá tốt hơn chúng tôi lại phỏng vấn Học sinh cho các kết quả sau: “Hoạt động tại các góc đọc: Hình thành kỹ năng đọc”, “Hoạt động tại các góc nghệ thuật: vẽ, nặn tượng, làm đồ chơi”, “Hoạt động tại các góc viết: rèn chữ viết, câu văn đúng đẹp” xếp thứ tự các vị trí 1, 2 và 3 theo điểm trung bình lần lượt là 3,96, 3,80 và 3,67 trong khoảng 3,41- 4,20 ở mức độ thường xuyên. Riêng hoạt động “Hoạt động ngoài trời: Lễ hội sách, vẽ theo chủ đề” theo đanh giá của học sinh thì ở mức thỉnh thoảng có điểm trung bình là 3,19.

Qua đánh giá cho thấy rõ các nội dung hoạt động thư viện thân thiện chưa thực sự thực hiện thường xuyên, Các CBQL và GV còn nhiều thờ ơ, chưa thực hiện tốt nhằm đưa các hoạt động thư viện thân thiện phục vụ các em học sinh. Người quản lý thư viện vui vẻ, nhiệt tình, kho sách phải phong phú mới thu hút được các em học sinh đến với thư viện thân thiện của nhà trường.

2.3.3. Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát,tỉnh Bình Dương

Để có một hoạt động thư viện thân thiện có hiểu quả các CBQL và GV phải chú trọng đến hình thức hoạt động. Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 150 CQBL, GV và CBTV về hình thức hoạt động thư viện thân thiện tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương cho kết quả bảng sau:

  • Bảng 2.7. Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.7 ta thấy được: Các nội dung về hình thức được đánh giá thực hiện ở mức Khá thứ tự lần lượt xếp vị trí 1, 2 có các nội dung sau: “Thư viện góc lớp: là một giá sách, tủ sách nhỏ tại góc lớp học”, “Thư viện lưu động: dưới hình thức là một tủ sách có bánh xe, có thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác”. Có điểm trung bình lần lượt là 3,64; 3,60. Nội dung hình thức “Thư viện ngoài trời: là những chòi lá cọ hoặc dưới những tán cây xanh, thậm chí là cả ở hành lang lớp học, gầm cầu thang nếu- đủ rộng là những không gian thích hợp” và “Thư viện đa chức năng: không gian học tập đa chức năng với các góc hoạt động khác nhau như: góc đọc, góc nghiên cứu, góc sáng tạo, góc vẽ, góc nghệ thuật, góc nghe, góc trò chơi giáo dục” xếp hạng 3, 4 được đánh giá mở mức Trung Bình có điểm trung bình là 3,30 và 3.26

Từ kết quả đánh gia trên thấy rõ các hình thức chưa được các CBQL chú trọng thực hiện hoặc thực hiện chưa có hiểu quả cao. Cần có những hoạt động với hình thức mới lạ, thu hút các em học sinh đến với môi trường thư viện thân thiện hơn, để các em có thể tìm hiểu, nắm được các kiến thức mà sách báo đem lại.

2.3.4 Thực trạng hỗ trợ cho hoạt động học tập và tìm hiểu kiến thức mới hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Để tìm hiểu về hiệu quả hỗ trợ của thư viện đối với việc học tập của học sinh và kết quả xây dựng thói quen đọc sách, tự học, tự nghiên cứu cho học sinh trong các nhà trường, chúng tôi xây dựng phiếu hỏi về sức hấp dẫn của thư viện đối với học sinh. Kết quả khảo sát 250 học sinh ở các trường như sau:

Bảng 2.8. Thực trạng hỗ trợ cho hoạt động học tập và tìm hiểu kiến thức mới hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, BD

Từ bảng 2.8 cho thấy học sinh đánh giá cao “Mức độ phong phú của sách, báo, tạp chí, tài liệu tham khảo trong thư viện”, với điểm đánh giá là 3,94. “Mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liêụ tham khảo trong thư viện đối với việc thư giãn, giải trí của học sinh”, điểm đánh giá cho nội dung này đứng ở vị trí thứ 2 trong bảng đánh giá. Học sinh cho điểm về mức độ phong phú của tài liệu trong thư viện là 3,67 điều này cho thấy các em khá hài lòng với nguồn sách, báo, tài liệu có trong thư viện nhưng vẫn muốn có thêm nhiều sách hơn nữa. Xếp ở vị trí thứ 3 là “Mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liêụ tham khảo trong thư viện đối với việc mở rộng hiểu biết cho học sinh” được các em đánh giá ở mức độ Trung bình, và cuối cùng trong bảng đánh giá với điểm trung bình 3.53 và “Mức độ hỗ trợ của sách, báo, tạp chí, tài liêụ tham khảo trong thư viện đối với việc học tập của học sinh” là ý kiến đánh giá của các em về mức độ hỗ trợ của sách, báo, tài liệu tham khảo trong thư viện đối với việc học tập của học sinh. Điều này cho thấy sách, tài liệu trong các thư viện của các các nhà trường vẫn chưa thật phong phú để có thể đáp ứng được nhu cầu tìm đọc sách phục vụ việc học tập của các em học sinh.

Từ kết quả điều tra bằng bảng hỏi cho thấy thư viện thường mang lại niềm vui cho các em trong việc đọc truyện thiếu nhi. Việc hỗ trợ cho các em trong học tập nâng cao kiến thức là chưa hiệu quả. Các em muốn đến thư viện là vì đến thư viện các em được nghỉ thư giãn giữa các tiết học. Cần có các giải pháp nhằm mang lại hiệu quả thiết thực nhằm xây dựng thói quen đọc sách tại thư viện cho học sinh.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Xây dựng kế hoạch công tác thư viện là vô cùng quan trọng. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu đối với 150 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên thư viện tại các trường tiểu trên địa bàn thị xã Bến Cát – tỉnh Bình Dương. Kết quả thể hiện ở bảng sau: Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Bảng 2.9. Thực trạng Xây dựng kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Qua bảng 2.9 chúng ta thấy “Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động: giới thiệu sách, điểm sách, thông báo sách mới, phát động học sinh đọc sách triển lãm sách, thi kể chuyện theo sách,…” xếp vị trí thứ 1 với điểm trung bình là 3,74 ở mức độ quan trọng. Điều này cho thấy việc lập kế hoạch tổ chức các hoạt động nhằm thu hút toàn thể giáo viên và học sinh tham gia sinh hoạt thư viện như giới thiệu sách, điểm sách, thông báo sách mới, phát động học sinh đọc sách, triển lãm giới thiệu sách, thi kể chuyện sách,… được các CBQL và GV quan tâm thực hiện. “Lập kế hoạch cung ứng sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiệp vụ cho giáo viên và học sinh.” xếp vị trí thứ 2 với điểm trung bình là 3,62 ở mức quan trọng. Hàng năm, các nhà trường đều lập kế hoạch cung ứng sách giáo khoa cho giáo viên và học sinh. Với điều kiện sống của các gia đình như hiện nay, việc mua cho con bộ sách giáo khoa chuẩn bị cho năm học mới là điều khá dễ dàng, chính vì vậy từ cuối năm học, các trường đã lập kế hoạch cung ứng sách giáo khoa cho học sinh, nhờ vậy, vào đầu năm học mới, bao giờ học sinh cũng có đủ 100% sách giáo khoa chuẩn bị cho việc học tập.

Lập kế hoạch mua sắm cơ sở vật chất cho thư viện” xếp vị trí thứ 3 ở mức độ quan trọng và có điểm trung bình là 3,41. Điều này cho thấy việc lập kế hoạch mua sắm cơ sở vật chất thực hiện chưa thật tốt. Đó cũng chính là lý do vì sao ở một số trường số lượng sách trong thư viện còn nghèo nàn, chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu tìm đọc tài liệu nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên.

Xếp ở vị trí thứ 4 có điểm trung bình là 3,29 là “Lập kế hoạch kiểm kê tài sản của thư viện, thanh lý các ấn phẩm rách nát, nội dung thay đổi hoặc đã hết hạn sử dụng”.

Lập kế hoạch hoạt động thư viên theo năm học, tháng, tuần” xếp vị trí thứ 5 có điểm trung bình là 3,27 chỉ ở mức khá quan trọng. Điều này cho thấy các nhà trường chưa thực sự quan tâm đến việc lập kế hoạch hoạt động cho thư viện và chưa thực hiện tốt việc lập kế hoạch theo năm học, tháng, tuần. Các nội dung kế hoạch của các trường còn chung chung, chưa cụ thể, kế hoạch thường căn cứ vào kế hoạch chung của thị xã, kế hoạch của các năm học khá giống nhau, ít có những sáng kiến đột phá nhằm thúc đẩy hoạt động của thư viện nhà trường.

Lập kế hoạch tổ chức cho giáo viên và học sinh đọc sách ở thư viện” xếp ở vị trí thứ 6 với điểm trung bình là 3,23. Điều này cho thấy việc lập kế hoạch tổ chức cho giáo viên và học sinh đọc sách ở thư viện luôn được các nhà trường quan tâm thực hiện.

Lập kế hoạch phân công nhiệm vụ cụ thể cho các lực lượng phối hợp hoạt động” xếp vị trí cuối cùng với điểm trung bình là 3,19. Việc lập kế hoạch phân công nhiệm vụ chưa được chú trọng.

Phỏng vấn thêm CBQL với câu hỏi: “Theo thầy/ cô hiểu làm thế nào để học sinh tham gia vào thư viện thân thiện” nhận được câu trả lời là: “Người cán bộ thư viện nên thường xuyên tổ chức các hoạt động đọc sách khác nhau để thu hút học sinh đến thư viện nhiều hơn”. Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Từ kết quả khảo sát có thể thấy việc lập kế hoạch hoạt động còn chung chung, lập kế hoạch hoạt động cho có chứ chưa đi vào thực chất. Với việc lập kế hoạch như vậy thì hoạt động thư viện của các nhà trường sẽ chỉ dừng ở mức tổ chức cho giáo viên và học sinh đọc sách ở thư viện là chủ yếu chứ chưa có nhiều hoạt động sôi nổi nhằm thu hút bạn đọc đến với thư viện, càng không thể đưa thư viện nhà trường trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, tương xứng với vai trò của thư viện trường học. Điều này nếu để lâu dài sẽ gây hậu quả tiêu cực, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của thư viện các nhà trường, gây lãng phí nguồn tài nguyên của thư viện, lãng phí cơ sở vật chất mà chúng ta đã đầu tư mua sắm.

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Muốn thực hiện tốt kế hoạch hoạt động thư viện thì khâu tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch là một bước rất quan trọng, không thể thiếu được. Các trường tiểu học trên địa bàn thị Xã đã có nhiều hình thức tổ chức triển khai kế hoạch hoạt động thư viện. Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng tổ chức quản lý hoạt động thư viện qua 150 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên thư viện.

  • Kết quả thể hiện như sau:

Bảng 2.10. Thực trạng Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.10 cho thấy: các trường tiểu học ở thị xã Bến Cát đã quan tâm tới công tác thư viện nhưng việc tổ chức thực hiện chưa thật tốt. Các đối tượng được khảo sát đã khẳng định: “Thành lập ban chỉ đạo” là tốt nhất, xếp thứ 1 với điểm đánh giá trung bình là 3,61 chỉ xếp ở mức Khá. Xếp thứ 2 với điểm đánh giá trung bình là 3,50 là “Thực hiện các hoạt động thư viện theo kế hoạch”. Như vậy việc thành lập ban chỉ đạo và thực hiện các hoạt động thư viện theo kế hoạch các nhà trường thực hiện đúng hướng dẫn của cấp trên.

Phỏng vấn một số giáo viên của các trường: Tiểu học Trần Quốc Tuấn, Tiểu học Võ Thị Sáu, Tiểu học An Điền, với câu hỏi: “Các thành viên của tổ công tác thư viện trường anh/chị gồm có những ai?”, đa số các câu trả lời đều là: “Tổ công tác thư viện gồm có cán bộ thư viện, tổng phụ trách và các khối trưởng chuyên môn”. Như vậy có thể thấy các giáo viên trong trường nắm thông tin đúng nhưng còn chưa đầy đủ về các thành viên trong tổ công tác thư viện, cũng chứng tỏ tổ công tác thư viện được thành lập bằng văn bản nhưng chưa được công bố rộng rãi, thường xuyên trong hội đồng trường nên giáo viên chưa nắm rõ tất cả các thành viên trong tổ công tác thư viện cũng như nhiệm vụ của các thành viên trong tổ công tác.

Việc “Xây dựng quy chế phối hợp trong hoạt động thư viện” và “Ban hành văn bản hướng dẫn về công tác thư viện” được đánh giá với điểm trung bình là 3,37 và 3,19. Điều này cho thấy các khách thể chưa đánh giá cao việc ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác thư viện và việc thực hiện các hoạt động thư viện theo kế hoạch chưa thật tốt.

Qua phỏng vấn cán bộ thư viện các nhà trường, chúng tôi thấy phần lớn “Hoạt động thư viện mặc nhiên do cán bộ thư viện làm theo thói quen, một số thành viên của tổ công tác thư viên có tên trong quyết định thành lập tổ công tác cho đủ thành phần chứ quy định chỉ là chiếu lệ cho có, không nhận thức được rõ nhiệm vụ của mình”, Tuy nhiên, “nhiều nhà trường có kế hoạch mua sắm cơ sở vật chất cho thư viện nhưng vẫn chưa dành kinh phí thỏa đáng cho việc mua sắm sách báo. Việc kiểm kê, thanh lý sách đều được các nhà trường thực hiện đều đặn hàng năm nhưng một số trường còn làm chiếu lệ, vẫn còn nhiều thư viện lưu giữ những sách quá cũ, không còn giá trị sử dụng, không đầu tư mua thêm sách mới nên kho sách trong thư viện chưa phong phú, không hấp dẫn người đọc, không giúp ích được nhiều cho giáo viên và học sinh trong giảng dạy và học tập.”

Đứng cuối cùng là “Quy định chức năng nhiệm vụ cho từng thành viên trong tổ công tác thư viện ” với điểm trung bình 3,15. Nội dung này đứng thứ 5 trong số các nội dung tổ chức thực hiện công tác thư viện. Điều này chứng tỏ các nhà trường chưa thực sự quan tâm tới các chức năng nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ trong tổ công tác thư viện, ccacs nhiệm vụ còn chung chung chưa rõ ràng.

Từ kết quản khảo sát trên cho thấy việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện của các trường trên địa bàn thị xã Bến Cát- tỉnh Bình Dương chưa hợp lý. Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch phòng hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Để hiểu rõ hơn về thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi với 150 CBQL, GV, và đại diện các tổ chức trong nhà trường. Kết quả điều tra được thể hiện như sau:

Bảng 2.11. Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch phòng hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.11. thấy rõ “Tổ chức cho học sinh khai thác các dữ liệu phục vụ bồi dưỡng HSG” xếp vị trí thứ 1 với điểm trung bình là 3,63. “Có lịch cụ thể phục vụ các hoạt động đọc sách, mượn sách của giáo viên, học sinh. Ngoài ra còn tổ chức cho học sinh đọc sách vào giữa giờ ra chơi ở tại thư viện và ở sân trường” xếp vị trí thứ 2 với điểm trung bình là 3,51. “Tổ chức hiệu quả hoạt động của tổ cộng tác viên thư viện, chú trọng xây dựng và tổ chức tốt mạng lưới cộng tác viên trong giáo viên, học sinh, kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường và Hội cha mẹ học sinh” xếp vị trí thứ 3 với điểm trung bình là 3,48.

Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý cho công tác hoạt động quản lý thư viện.” xếp vị trí thứ 4 với điểm trung bình là 3,44. Các nội dung chỉ đạo trên xếp ở mức Khá, cho thấy việc công việc chỉ đạo cho các tổ thực hiện thời gian phục vụ đọc sách, các ứng dụng công nghệ vào thư viện cũng được chú trong hơn.

Thường xuyên tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sách cho giáo viên và học sinh; vận động, hướng dẫn GV và HS đọc và làm theo sách bằng nhiều hình thức, cán bộ thư viện thực hiện tuyên truyền giới thiệu sách theo chủ đề, chủ điểm” xếp vị trí thứ 5 với điểm trung bình là 3,29. Công tác tuyên truyền về sách báo và các hình thức của thư viện chưa được chỉ đạo kịp thời.

Từ kết quả trên cho thấy công tác chỉ đạo đã được các CBQL chú trọng, tuy nhiên cần sát sao hơn, quyết liệt hơn để các hoạt động của thư viện thân thiện diễn ra có hiệu quả hơn.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện trong các trường tiểu học là rất quan trọng trong hoạt động thư viện thân thiện, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi với 150 CBQL, GV, và đại diện các tổ chức trong nhà trường. Kết quả điều tra được thể hiện như sau:

Bảng 2.12. Thực trạng kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Kết quả từ bảng 2.12 cho thấy: việc đánh giá kết quả hoạt động thư viện được nhà trường tiến hành “Hàng năm tự kiểm tra, đánh giá, chấm điểm thư viện theo 5 tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông” “Điều chỉnh kế hoạch sao cho phù hợp với hoàn cảnh” có kết quả xếp thứ 1 và thứ 2, với số điểm trung bình là 3,54 và 3,49 xếp ở mức độ Khá. Cho thấy chứng tỏ việc đánh giá hoạt động công tác thư viện được thực hiện theo học kỳ, năm học. Đánh giá có tiêu chí tương đối rõ ràng, khách quan, thẳng thắn.

“Kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được trên cơ sở so sánh với chuẩn mực đã đề ra” có số điểm trung bình đứng thứ 3 là 3,32; “Xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh” có số điểm trung bình đứng thứ 4 là 3,31. “Tiến hành kiểm tra tường xuyên, liên tục để có sự điều chỉnh kịp thời các nội dung và hình thức tổ chức hoạt động thư viện” xếp vị trí thứ 5 với điểm trung bình là 3,24. Các tiêu chí trên chỉ xếp ở mức trung bình cho thấy việc đánh giá kết quả thực hiện, việc kiểm tra thường xuyên và liên tục lại thực sự chưa hiệu quả.

Việc đánh giá hoạt động thư viện của các nhà trường cần dựa và 5 tiêu chuẩn đánh giá thư viện trường học là rõ ràng và hiệu quả nhất. Việc đánh giá cũng cần phải có sự phối hợp đánh giá của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để có thể phát huy được hiệu quả hoạt động của thư viện, đồng thời lôi cuốn được các thành viên trong nhà trường cùng góp sức xây dựng thư viện ngày càng phát triển.

2.4.5. Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ các hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Kết quả đánh giá về quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động thư viện trong trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát – tỉnh Bình Dương được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.13. Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ các hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.13. cho thấy: “Lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức và các kỹ năng tổ chức hoạt động thư viện cho nhân viên thư viện” xếp vị trí thứ 1 với điểm trung bình là 3,46. “Để đảm bảo độ bền của các tài liệu và cơ sở vật chất, kỹ thuật trong thư viện, hiệu trưởng cần mua sắm các đồ dùng có chất lượng, có sổ sách theo dõi, ghi chép tình trạng sử dụng, giao trách nhiệm tự quản các trang thiết bị này cho nhân viên thư viện” xếp vị trí thứ 2 với điểm trung bình 3,44 ở mức đánh giá Khá. Điều này cũng dễ hiểu bởi cán bộ thư viện có nghiệp vụ tốt sẽ hoàn thành tốt công việc. Điều kiện, cơ sở vật chất thư viện càng tốt thì công tác quản lý càng hiệu quả. Quản lý tốt cán bộ thư viện là cách hiệu quả để quản lý thư viện.

Dành kinh phí, thời gian cho việc tổ chức các hoạt động của thư viện một cách thỏa đáng” xếp vị trí thứ 3 với điểm trung bình là 3,37. “Lên kế hoạch mua sắm, sử dụng, bảo quản các phương tiện phục vụ hoạt động thư viện” xếp vị trí thứ 4 với điểm trung bình là 3.35. “Quản lý hoạt động của nhân viên thư viện, kiểm tra, giám sát hiệu quả làm việc của nhân viên thư viện” xếp ở vị trí thứ 5 với điểm trung bình là 3,15. Đánh giá xếp ở mức Trung bình điều này thấy rõ là vấn đề cung cấp kinh phí cho thư viện chưa được chú trọng trong khâu quản lý, việc giám sát nhận viên còn thờ ơ. Hiệu quả quản lý thư viện sẽ không cao.

Phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên các nhà trường về việc quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động thư viện, chúng tôi thấy nhiều ý kiến thẳng thắn chỉ ra rằng: “Việc quản lý các nguồn lực phục vụ hoạt động thư viện (quản lý nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất gồm phòng đọc, trang thiết bị trong thư viện, kho tài nguyên trong thư viện,…) còn bị bỏ ngỏ, một số trường giao phó việc quản lý cơ sở vật chất trong thư viện cho nhân viên thư viện, không giám sát, kiểm kê thường xuyên hoặc chỉ kiểm kê chiếu lệ nên cơ sở vật chất ở một số thư viện đã bị xuống cấp, thư viện trông nghèo nàn, buồn tẻ.”

Như vậy, có thể thấy việc quản lý các nguồn lực phục vụ cho hoạt động thư viện còn có những hạn chế nhất định, cần được khắc phục.

2.4.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện thân thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Quản lý hoạt động thư viện cần phải quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng. Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 150 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên thư viện cho kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Bảng 2.14. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thư viện thân thiện ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.14 cho thấy kết quả khảo sát là: yếu tố “Nhận thức của lãnh đạo nhà trường về vai trò và nhiệm vụ của thư viện trường tiểu học” xếp vị trí thứ 1 với điểm trung bình là 3,56 thuộc yếu tố khách quan có ảnh hưởng ở mức độ ảnh hưởng tới công tác quản lý hoạt động thư viện thân thiện. Việc xác định vai trò của thư viện đối với cán bộ quản lý là điều hiển nhiên rất quan trong tại các trường.

Xếp ở vị trí thứ 2 “Kết cấu cơ sở hạ tầng” là yếu tố chủ quan với điểm trung bình là 3,55 ở mức ảnh hưởng. Cũng thấy rõ rằng muốn quản lý tốt hoạt động thư viện thân thiện ở trường thì cơ sở hạ tầng phải đảm bảo.

Đánh giá ít ảnh hưởng được xếp vị trí thứ 3 và thứ 4 lần lượt là “Trình độ nghiệp vụ của cán bộ thư viện” “Trang thiết bị”.

Từ đánh giá trên cho thấy việc quản lý thư viện ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, mà điều quan trọng nhất là vấn đề CBQL có nhận thức đúng, kịp thời chỉ đạo hay không, để hoạt động thư viện thân thiện không bị ảnh hưởng nhiều.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng

2.5.1. Ưu điểm

Các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương đều nhận thức được vai trò của thư viện thân thiện trong hoạt động kế hoạch hằng năm của nhà trường. Các trường cũng thực hiện nghiêm túc quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xây dựng thư viện trường học. Thư viện trường học đã thực hiện đúng quy chế về tổ chức và hoạt động của thư viện trường phổ thông, cung cấp đủ các loại sách cần thiết phục vụ hoạt động dạy học của giáo viên và nhu cầu đọc của học sinh.

Ban giám hiệu rất quan tâm đến công tác thư viện , luôn chú trọng đầu tư vào việc xây dựng cơ sở vật chất, vốn tài liệu cho thư viện nên sách – báo phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh tương đối đầy đủ.

Cơ sở vật chất: Phòng thư viện được bố trí với hệ thống bàn đọc đúng tiêu chuẩn, có kho sách riêng, đảm bảo đủ ánh sáng, thoáng mát, sạch sẽ…

Cán bộ thư viện chuyên, nhiệt tình cởi mở. Luôn đổi mới hình thức phục vụ bạn đọc. Đội ngũ cán bộ giáo viên và các em học sinh rất ham đọc sách.

2.5.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Qua điều tra thực trạng hoạt động thư viện ở các nhà trường tôi nhận thấy: hiện nay hoạt động thư viện tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát chưa thật tốt, còn hình thức, chưa phong phú, có tính chất cầm chừng. Tài liệu trong thư viện thường là sách giáo khoa, sách giáo viên và một số sách nghiệp vụ. Tài liệu chưa phong phú nên chưa hỗ trợ được nhiều cho giáo viên trong giảng dạy cũng như trong việc mở rộng và nâng cao kiến thức. Học sinh cũng chưa tìm đọc được các tài liệu bổ trợ cho việc học tập tại thư viện. Đa phần sách các em đọc tại thư viện là truyện thiếu nhi, số lượng sách tại thư viện cũng chưa phong phú.

Nguồn kinh phí dành cho thư viện còn hạn hẹp, việc tu sửa cơ sở vật chất còn ít, vốn tài liệu nghèo nàn, chưa phong phú.

Học sinh nhỏ, tinh thần tự tìm sách không cao, thờ ơ với sách. Nhiều em chưa có thói quen đến thư viện , chưa có kĩ năng tìm, mượn và đọc.

Việc dạy học hai buổi trên ngày làm cho giáo viên ít có thời gian tìm hiểu những sách hay để tư vấn cho học sinh tìm đọc.

Cán bộ thư viện còn phải kiêm nhiệm thêm công tác thiết bị ,chuyên môn, nghiệp vụ và kĩ năng tổ chức các hoạt động thư viện của thủ thư còn hạn chế.

Thư viện mở cửa phục vụ bạn đọc không thường xuyên, học sinh đọc sách một cách bị động và học sinh cho rằng thư viện là của thủ thư, của giáo viên, của nhà trường, không phải dành cho học sinh.

2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế Nguyên nhân khách quan

Do cơ sở vật chất của một số nhà trường còn hạn chế, diện tích trường nhỏ hẹp, không đủ phòng mở thư viện hoặc tận dụng phòng thừa làm thư viện nên diện tích thư viện không đạt yêu cầu tối thiểu.

  • Nguyên nhân chủ quan

Lãnh đạo một số nhà trường còn xem nhẹ công tác thư viện, chỉ coi trọng hoạt động giảng dạy, coi thư viện là hoạt động thứ yếu, không cần quan tâm nhiều, chưa đầu tư phát triển thư viện.

Lãnh đạo một số nhà trường chưa thực sự quan tâm quản lý hoạt động thư viện, chưa có những hiểu biết cần thiết về hoạt động thư viện trong trường học, chưa xây dựng tốt mạng lưới tổ chức quản lý hoạt động thư viện.

Một số nhân viên thư viện chưa được đào tạo bài bản, năng lực còn hạn chế, chưa tâm huyết với công việc nên hiệu quả công việc chưa cao.

Nếu thay đổi được nhận thức của lãnh đạo nhà trường, quản lý tốt cơ sở vật chất và hoạt động của nhân viên thư viện, bồi dưỡng năng lực và nghiệp vụ cho nhân viên thư viện thì thư viện các trường tiểu học học hoạt động sẽ hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, tự đọc, xây dựng và phát triển văn hóa đọc trong nhà trường và lan tỏa ra cộng đồng.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

Kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động thư viện và quản lý hoạt động thư viện cho thấy: Các nhà trường đã quan tâm xây dựng kế hoạch hoạt động thư viện và tổ chức hoạt động thư viện trong nhà trường. Tuy nhiên, kế hoạch mới chỉ ra các việc làm cần thực hiện, thời gian hoàn thành chứ chưa thực sự thể hiện như một chương trình hành động cụ thể, thiết thực bao gồm tất cả các yếu tố cần thiết của một kế hoạch, chương trình hành động. Đến nay, việc quản lý hoạt động thư viện chỉ được thực hiện tốt ở một số trường, còn lại các thư viện chỉ hoạt động cầm chừng do thiếu sự đầu tư, quan tâm thích đáng, hoạt động thư viện chưa được quan tâm chú trọng, các thư viện chưa phát huy hết vai trò là trung tâm văn hóa của nhà trường .

Nhà trường mới chỉ quan tâm chú trọng đến đầu tư cơ sở vật chất cho các lớp học chứ chưa đầu tư nguồn tài nguyên sách báo phục vụ cho giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Đa số cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên thư viện chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của thư viện trong hoạt động giáo dục của nhà trường nên chưa hỗ trợ tích cực cho công tác thư viện, chưa phối hợp hoạt động để động viên khuyến khích học sinh đọc sách trong thư viện do đó chưa có những đóng góp thiết thực để xây dựng thư viện cho xứng tầm là một trung tâm văn hóa của nhà trường. Luận văn: Thực trạng QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL thư viện thân thiện tại các trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993