Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về thành phố Hạ Long và trường THPT Hòn Gai

2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội thành phố Hạ Long

Thành phố Hạ Long là thành phố tỉnh lỵ, có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có vùng vịnh biển với tiềm năng du lịch lớn, có nhiều khoáng sản thuận lợi cho phát triển công nghiệp mỏ, là trung tâm giao thương, trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Ninh, thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Thành phố Hạ Long có cảng biển, có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km2. Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt. Theo số liệu thống kê năm 2024, thành phố Hạ Long có 55.172 hộ dân với hơn 21 vạn người, trong đó ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số còn có 15 dân tộc khác, đó là: Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan… với 2.073 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Sán Dìu, Tày, Hoa. Gồm 20 phường: Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Hòn Gai, Bãi Cháy, Hồng Hà, Hà Khẩu, Giếng Đáy, Hùng Thắng, Tuần Châu, Việt Hưng, Đại Yên.

Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội vừa là cơ hội thuận lợi để phát triển phát triển mạnh về kinh tế, văn hóa, du lịch và GD đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là đòi hỏi về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho địa phương cũng như cho đất nước. Trên địa bàn thành phố hiện có các loại hình GD đào tạo, các trường học từ bậc đại học đến bậc học mầm non như: Cao đẳng Y tế Quảng Ninh, Đại học Hạ Long cơ sở 2, Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm và 4 trường Trung cấp dạy nghề, 12 trường THPT (Cả các trường liên cấp), 38 trường Trung học cơ sở, PTCS và Tiểu học và nhiều trường Mầm non đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân địa phương và các tỉnh thành khác (ở bậc Cao đẳng, Đại học).

2.1.2. Khái quát về Trường THPT Hòn Gai

Trường THPT (THPT) Hòn Gai thành lập tháng 8 năm 1959, là trường THPT đầu tiên và hiện cũng là trường THPT lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh. Trường đặt tại trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh, là trường trung tâm của thành phố Hạ Long, được quan tâm đầu tư về mọi mặt và có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và nâng cao chất lượng GD. HS của nhà trường phần lớn sinh sống tại các phường có điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, trình độ dân trí cao, hầu hết bố mẹ là trí thức, công nhân, tiểu thương có điều kiện đầu tư cho việc học tập và rèn luyện của các em.

  • Về cơ cấu, tổ chức nhà trường Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Nhà trường có tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, 08 tổ chuyên môn và 01 tổ Văn phòng. Nhà trường là một Đảng bộ có 79 đảng viên và 08 Chi bộ trực thuộc. HS nhà trường có 02 khối: 08 lớp THCS khối song ngữ Tiếng Pháp với 256 HS và 39 lớp THPT với 1491 HS.

  • Về đội ngũ CBQL, GVNV
  • Bảng 2.1. Cơ cấu đội ngũ GV, CBNV trường THPT Hòn Gai năm học 2025-2026

Từ bảng 2.1 cho thấy số lượng CBQL, GV, NV trường THPT Hòn Gai đều cơ bản đủ so với quy định tại Thông tư liên tịch số 35/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2014 của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ “ Về việc hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở GD phổ thông công lập”. Đây là điều kiện thuận lợi để nhà trường triển khai thực hiện, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học. CBQL của nhà trường không được đào tạo chính quy về QLGD. Tất cả đều là những GV có năng lực chuyên môn tốt, được công nhận danh hiệu GVDG các cấp, được cử đi học lớp bồi dưỡng về QLGD và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, Hiệu phó sau đó mới tham gia học sau đại học chuyên ngành QLGD. Điều này dẫn đến tình trạng hầu hết CBQL xử lý các vấn đề trong các hoạt động GD của nhà trường theo kinh nghiệm chứ không được soi sáng bằng lý luận quản lý. Đây là một khó khăn và gây trở ngại không nhỏ đến công tác quản lý của nhà trường.

Về chất lượng đội ngũ, trường THPT Hòn Gai có đội ngũ cán bộ GV tốt, đủ về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Năm học 2025-2026, trường có 111 cán bộ, GV, nhân viên, trong đó: CBQL có 04 đ/c; 102 GV, 05 nhân viên. Trình độ thạc sĩ có 59 người, GVDG cơ sở là 72 đ/c, GVDG cấp tỉnh 61 và ở các tổ chuyên môn đều có GV là cốt cán chuyên môn của Sở GDĐT Quảng Ninh. Đội ngũ cán bộ, GV nhà trường luôn luôn được bồi dưỡng, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cao chất lượng GD.

  • Về CSVC, trang TBDH

Để đáp ứng các yêu cầu về đổi mới PPDH và đảm bảo thực hiện đúng CT GD trung học, khai thác và sử dụng có hiệu quả CSVC, TBDH và ứng dụng CNTT, hàng năm, trường THPT Hòn Gai đã trang bị đầy đủ TBDH cho tất cả các môn học và các HĐGD theo chương trình GD của nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Nhìn bảng thống kê 2.2 dưới đây cho thấy nhà trường có CSVC đầy đủ, hiện đại với 48 phòng học kiên cố trong đó có 06 phòng học thông minh dành cho các bộ môn, có thư viện, nhà tập đa năng, sân chơi, tất cả các phòng học được trang bị đủ máy chiếu, điều hòa nhiệt độ, kết nối internet. Ngoài ra, CSVC của nhà trường hàng năm đều được tu bổ, đây là điều kiện cần thiết đáp ứng được phần lớn yêu cầu của việc tổ chức các Hoạt động dạy học và GD, đặc biệt là yêu cầu của việc đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT.

  • Bảng 2.2. Thống kê CSVC, trang TBDH trường THPT Hòn Gai năm học 2025-2026
  • Về quy HS chất lượng GD

Năm học 2025-2026 nhà trường có 47 lớp với 1747 HS. Riêng năm 2026-2019, nhà trường được phép tuyển sinh 549 HS, nhiều hơn so với những năm học trước (năm học 2025-2026 là 455 HS).

Năm học 2025-2026 HS nhà trường đạt nhiều thành tích nổi bật trong GD như: có 05 giải HSG Quốc gia môn tiếng Pháp, 01 sản phẩm đạt giải Nhì quốc gia về KHKT, các giải HSG duyên hải Bắc bộ, Olympic Hùng Vương, 134 giải HSG cấp tỉnh các môn văn hóa và nhiều thành tích thuộc các lĩnh vực.

Bảng 2.3. Kết quả xếp loại hai mặt năm học 2024-2025 và học kì I năm học 2025-2026

  • Nhận xét chung:

Số liệu thống kê trên cho thấy hiện tại trường THPT Hòn Gai có số lớp học nhiều nhất trong toàn tỉnh, đây cũng là điều kiện để nhà trường có thể tổ chức được các Hoạt động dạy học và GD có quy mô lớn. Song đây cũng là những thách thức đòi hỏi đội ngũ CBQL và GV nhà trường phải có năng lực quản lí, năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức dạy học và GD tốt và không ngừng học tập, nâng cao trình độ, tiếp cận đổi mới. Mặt khác, quy mô lớp học lớn, số HS trong một lớp đông, trung bình là 37 HS/ lớp cũng là một điều khó khăn để triển khai việc dạy học theo định hướng PTNL HS.

Về chất lượng GD, trường THPT Hòn Gai có nhiều thành tích trên các mặt GD, số giải HSG quốc gia, HSG cấp tỉnh, HSG toàn diện, HS khá có tỉ lệ cao nhất so với các trường THPT không chuyên trong tỉnh. Đồng thời, GD của nhà trường luôn được quan tâm đầu tư, để phát triển tốt song chất lượng GD ở các môn học không đồng đều, trong đó có chất lượng dạy học môn Ngữ văn chưa cao. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy học chưa đáp ứng được mục tiêu như:

CBQL nhà trường đang được trẻ hóa, có năng lực, nhiệt huyết và trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt nhưng còn thiếu kinh nghiệm quản lý, rất cần phải bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý Nhà nước, QLGD đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.

Hiện tại, nhà trường có 59/105 GV có trình độ thạc sĩ, 100% CBQL có trình độ thạc sĩ trong đó có 50% không học hệ tập trung và năng lực chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều ở các GV.

Còn nhiều tồn tại, bất cập trong quản lý đổi mới PPDH, một số GV cao tuổi sức ỳ lớn, chậm đổi mới về PPDH, đặc biệt là khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học còn hạn chế. Điều này là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng GD toàn diện nói chung và chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói riêng.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD theo định hướng PTNL HS thì rất cần những biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng GD của nhà trường và môn Ngữ. Nhà trường cần phải cố gắng nhiều hơn trong việc triển khai, thực hiện các nhiệm vụ GD; tích cực đổi mới trong công tác quản lý; đổi mới PPDH và có các giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng HS, đáp ứng được mục tiêu đáp ứng mục tiêu GD của nhà trường là trở thành trường THPT chất lượng cao trong tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng GD của ngành.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

2.2.1. Giới thiệu chung về khảo sát thực trạng

  • Mục đích khảo sát

Quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng môn Ngữ văn và chất lượng GD của nhà trường. Với vai trò là môn học công cụ nên Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm, nhất là công tác quản lí Hoạt động dạy học theo hướng PTNL HS. Từ đó có biện pháp tác động để điều chỉnh PP giảng dạy của GV nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Qua khảo sát thực trạng Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai để thấy được hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS và sự quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn của CBQL nhà trường. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý trong Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS THPT.

  • Nội dung khảo sát

Đối với CBQL nhà trường (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng): 04 người Tiến hành khảo sát các vấn đề sau:

  • Nhận thức về PP, nội dung, CTDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL
  • Biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo theo định hướng PTNL
  • Các nhân tố ảnh hưởng tác động đến chất lượng dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL cho HS.
  • Thuận lợi, khó khăn của CBQL đối với công tác quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL cho HS.
  • Nguyện vọng đề xuất của cá nhân trong công tác quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL cho HS.

Đối với GV: 16 người

  • Nhận thức của GV về PP, NDCT dạy học môn Ngữ văn cấp
  • Cách thức tổ chức các Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở cấp
  • Những biện pháp quản lý Hoạt động dạy học mà Ban giám hiệu áp dụng trong nhà trường.
  • Những nhân tố ảnh hưởng tác động đến chất lượng dạy học môn Ngữ văn
  • Những thuận lợi và khó khăn của GV trong Hoạt động dạy học ở trường THPT hiện
  • Nguyện vọng đề xuất của GV trong Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực HS.

Đối với HS: 300 HS thuộc các khối 10, 11, 12 Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Hiểu biết của HS về PP học tập theo định hướng PTNL HS ở trường
  • Nguyện vọng, mong muốn của HS trong hoạt động học tập môn Ngữ văn ở trường THPT.
  • PP khảo sát

PP phỏng vấn: Phỏng vấn, tham khảo ý kiến CBQL, GV, HS làm sáng tỏ biện pháp quản lý Hoạt động dạy học tìm ra nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL

PP quan sát: Quan sát các biện pháp quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS của CBQL ở trường THPT Hòn

PP nghiên cứu hồ sơ hoạt động: Hướng dẫn nhiệm vụ năm học; Kế hoạch đổi mới PP giảng dạy, đổi mới KTĐG theo định hướng PTNL HS; Báo cáo sơ kết học kì; Báo cáo tổng kết năm học; Kế hoạch hoạt động chuyên môn năm học; Kế hoạch hoạt động từng tháng từ năm học 2023 – 2024 đến năm 2024 – 2025; PPCT nhà trường. Tổ chức nghiên cứu hồ sơ của TCM và GV dạy Ngữ văn; qua đó thu thập các minh chứng cụ thể làm cơ sở cho việc đưa ra các nhận định khái quát về việc quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai.

PP quan sát: Quan sát thực tế Hoạt động dạy học môn Ngữ văn của nhà trường, viêc quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn của hiệu trưởng và dự giờ các tiết học để có những nhận định xác thực hơn về mức độ thực hiện.

Phát phiếu cho các đối tượng đã xác định và thu về để xử lý. Các phiếu thu được sẽ phân loại phiếu điền đủ thông tin, phiếu không đủ thông tin; các câu hỏi theo thang 3 bậc quy ra điểm số trung bình. Trong đó loại tốt, rất cần thiết tương ứng với 3 điểm; loại Trung bình, cần thiết 2 điểm; loại chưa tốt, ít cần thiết 1 điểm. Các câu hỏi thể hiện sự đồng ý hay không đồng ý xác định theo tỷ lệ %, các câu mở tổng hợp theo các nhóm ý kiến để đưa ra nhận định chung. Số lượng phiếu phát ra, thu về, thông tin đối tượng tham gia khảo sát được tổng hợp trong bảng sau:

  • Bảng 2.4. Tổng hợp tình hình tham gia khảo sát

Kết quả khảo sát thực trạng được tổng hợp và trình bày trong các mục tiếp theo.

2.2.2. Thực trạng Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Để đánh giá khách quan thực trạng Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – thành phố Hạ Long, tác giả đã tiến hành điều tra trưng cầu ý kiến của Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn Ngữ văn, GV dạy môn Ngữ văn và HS của trường THPT Hòn Gai các vấn đề như: nhận thức về sự cần thiết của Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL HS; xây dựng và thực hiện NDCT; sử dụng PP và HTTC dạy học; sử dụng phương tiện, TBDH và KTĐG HS theo định hướng PTNL. Kết quả đánh giá thực trạng Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai như sau:

  • Thực trạng nhận thức của GV và CBQL nhà trường về dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai

Khi phỏng vấn các CBQL và GV Ngữ văn: “Xin thầy/cô cho biết ý kiến của mình về sự cần thiết của việc dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực HS trường THPT Hòn Gai hiện nay?”. Kết quả phỏng vấn là hầu hết CBQL và GV cho rằng: việc dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS là rất cần thiết và cần được đặc biệt quan tâm. HS học môn tốt môn Ngữ văn sẽ có được những kĩ năng cần thiết làm cơ sở để học tập các môn học khác trong nhà trường. Đặc biệt hơn, các kĩ năng HS rèn luyện được sau khi học môn Ngữ văn sẽ giúp ích các em rất nhiều trong cuộc sống và nghề nghiệp sau này.

Cô V.T.P- Phó Hiệu trưởng cho biết: “Việc dạy học theo định hướng PTNL HS trong giai đoạn hiện nay không chỉ là rất cần thiết mà còn là yêu cầu bắt buộc theo chỉ đạo của Bộ và Sở GD&ĐT Quảng Ninh về thực hiện CTGD phổ thông hiện hành theo định hướng PTNL và phẩm chất HS từ năm học 2025-2026. Riêng “Môn Ngữ văn là một môn khó có thể đo được chính xác kết quả học tập của HS bằng thông số định lượng. Bởi vậy, việc thay đổi nhận thức của GV và HS về việc dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS được nhà trường quan tâm. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Thực trạng việc xây dựng và thực hiện nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS
  • Việc xây dựng chương trình dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Qua nghiên cứu hồ sơ quản lí Hoạt động dạy học, hồ sơ tổ chuyên môn và kế hoạch dạy học của GV dạy Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai, tác giả được biết: Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Quảng Ninh, từ năm học 2021 – 2022 đến nay, trường THPT Hòn Gai đã chỉ đạo, tổ chức cho tổ chuyên môn, GV Ngữ văn triển khai thực hiện việc rà soát nội dung CT, SGK hiện hành; cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học của môn học theo định hướng PTNL HS thành những bài học mới; xây dựng kế hoạch dạy học, PPCT mới của môn học, HĐGD phù hợp với đối tượng HS và điều kiện thực tế nhà trường. PPCT mới của môn học sẽ được Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn phê duyệt và trở thành nội dung mang tính pháp lí, buộc tất cả GV trong tổ chuyên môn phải thực hiện. Tuy nhiên, việc xây dựng chương trình của môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai thực chất mới chỉ là sự sắp xếp lại các bài học từ PPCT khung của Sở GDĐT Quảng Ninh theo các chủ đề, theo từng nhóm kiểu văn bản, từng nhóm kiến thức phân môn Văn, làm văn, tiếng Việt; bổ sung nội dung tích hợp GD đạo đức cho từng bài học theo Đề án triển khai của Sở GDĐT. Khi xây dựng CT, GV mới chỉ quan tâm chủ yếu về tính bất hợp lí về mặt thời lượng cho từng bài học trong SGK, từng chủ đề dạy học; đã có quan tâm nhất định đến tính bất hợp lí về kiến thức, nội dung nhưng chứ chưa mạnh dạn loại bỏ những thông tin cũ, lạc hậu; chuyển một số nội dung dạy học thành nội dung các HĐGD và bổ sung các HĐGD khác; bổ sung, cập nhật những thông tin mới phù hợp với đối tượng HS và điều kiện của nhà trường theo mục tiêu dạy học định hướng PTNL HS. Chính vì thế CT dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai được xây dựng mới chỉ bước đầu thực hiện được mục tiêu: hình thành và rèn luyện một số kĩ năng học tập cho HS ở từng kiểu nhóm bài học, kiểu nhóm kiến thức; định hướng một số năng lực của môn học cần phát triển và điều chỉnh số tiết dạy cho từng bài học một cách hợp lí theo kinh nghiệm giảng dạy của GV dựa trên tổng số tiết của chương trình khung.

  • Việc thực hiện chương trình môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS trường THPT Hòn Gai

Bảng 2.5. Thực trạng việc thực hiện chương trình môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai

Có được bảng số liệu trên, tác giả đã tiến hành khảo sát 16 GV văn trường THPT Hòn Gai, số người trả lời đúng yêu cầu đặt ra là 16 người. Cách thức điều tra gồm 8 nội dung. Mức độ đánh giá: Thường xuyên 3 điểm, thỉnh thoảng 2 điểm, chưa khi nào 1 điểm. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Như vậy, khi thực hiện nội dung CT môn Ngữ văn, GV đã chú ý đến việc hình thành và PTNL HS, cụ thể: GV đã thực hiện đúng nội dung CT của nhà trường và chuẩn KTKN (xếp thứ 1); Lựa chọn những nội dung kiến thức trọng tâm theo chuẩn kiến thức, kỹ năng nhằm đạt được mục tiêu môn học (xếp thứ 2); trong QTDH GV đã biết nhấn mạnh những vấn đề mà HS cần chú ý trong SGK và tài liệu tham khảo, hướng dẫn, hỗ trợ cho HS khi tự học, tự nghiên cứu, tự đọc, chuẩn bị bài ở nhà từ đó phát huy năng lực tự học cho các em. Việc thiết kế chủ đề dạy học tích hợp và dạy học liên môn; bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp trong giờ dạy vẫn còn hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả dạy học theo định hướng PTNL HS.

Để có căn cứ thuyết phục hơn về việc thực hiện nội dung CT môn Ngữ văn, tác giả đã phỏng vấn một số GV dạy Ngữ văn. Hầu hết GV Ngữ văn được phỏng vấn cho rằng mình đã thực hiện theo đúng quy định của CT mà nhà trường đã phê duyệt vì đây là quy chế chuyên môn. Tuy nhiên, trong QTDH, số ít GV thỉnh thoảng không thực hiện đúng theo PPCT do việc xây dựng CT môn học mới đang thực hiện ở giai đoạn đầu, khi xây dựng chương trình tổ chuyên môn chưa đánh giá được đầy đủ nên cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp ở những năm tiếp theo. Kết quả phỏng vấn này đã được minh chứng khi tác giả quan sát hệ thống sổ ghi đầu bài của các lớp trong trường THPT Hòn Gai.

CBQL nhà trường cho rằng GV dạy môn Ngữ văn đã thực hiện đầy đủ nội dung dạy học theo quy định của PPCT được phê duyệt; nội dung học tập được tinh giản gọn nhẹ hơn; nội dung học tập theo chủ đề khá hấp dẫn, phát huy được năng lực học tập cho HS và được xây dựng theo tinh thần bồi dưỡng PP tự học cho HS. HS học môn Ngữ văn khá tích cực, ôn tập những nội dung đã được GV giảng dạy trên lớp, đồng thời có nghiên cứu, chuẩn bị nội dung học tập trước khi lên lớp. Hiệu trưởng dựa trên chương trình môn học đã phê duyệt để có các biện pháp quản lí GV và HS nhằm nâng cao chất lượng GD.

Với câu hỏi: “Vì sao khi thực hiện CT môn học thầy/cô lại chưa quan tâm nhiều đến việc Bổ sung, cập nhật những thông tin mới phù hợp và Thiết kế nội dung dạy học theo chủ đề liên môn, tích hợp?” thì GV được phỏng vấn cho rằng, nội dung dạy học theo chủ đề tích hợp, liên môn chỉ là nội dung phụ nên chưa được đầu tư; còn việc GV chưa cập nhật những nội dung thông tin mới là do tâm lí e ngại, sợ sai, ngại tìm tòi nên trung thành với SGK là tốt nhất. Như vậy là từ nhận thức về vai trò của việc dạy học theo định hướng PTNL HS đến hành động cụ thể còn có một khoảng cách khá xa đòi hỏi CBQL phải tăng cường chỉ đạo, quản lí, giám sát. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Việc chuẩn bị bài dạy của GV dạy môn Ngữ văn có ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy cũng như kết quả quản lí của hiệu trưởng. Nhận thức được đây là một yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn. Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn lấy ý kiến của GV dạy Ngữ văn trường THPT Hòn Gai.

Thầy/cô cho biết, việc chuẩn bị giảng dạy của GV là thực hiện các công việc nào sau đây, mức độ thực hiện?

  1. Thực hiện theo đúng chương trình dạy học.
  2. Nghiên cứu nội dung bài dạy, tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung bài dạy.
  3. Soạn giáo án đầy đủ, chi tiết.
  4. Luôn chuẩn bị lựa chọn trang TBDH phù hợp với nội dung bài dạy.

Kết quả phỏng vấn cho thấy, đa số GV dạy môn Ngữ văn trường THPT Hòn Gai có nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc thực hiện nề nếp dạy học, các GV đã thực hiện tốt các nội dung chuẩn bị giảng dạy của mình, cụ thể: GV luôn bám sát vào PPCT, kế hoạch dạy học đã được nhà trường phê duyệt; chủ động nghiên cứu tài liệu, tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung bài dạy. Đặc biệt, GV đã chủ động soạn giáo án thể hiện đầy đủ yêu cầu kiến thức, kĩ năng, thái độ, các bước lên lớp và phản ánh đầy đủ các hoạt động của GV, HS; luôn chuẩn bị và lựa chọn trang TBDH phù hợp với nội dung bài dạy. Tuy nhiên, kết quả dạy học vẫn chưa thực sự đạt hiệu quả cao, vẫn tập trung vào định hướng nội dung hơn là định hướng năng lực, kiến thức cần đạt thì làm tốt nhưng mục tiêu PTNL HS, kết quả lại rất hạn chế. Như vậy là từ nhận thức đến hành động của GV còn có một khoảng cách khá rộng. Có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó quan trọng là việc quản lí của Ban Giám hiệu nhà trường về việc thực hiện ct theo định hướng PTNL HS chưa chặt chẽ.

  • Thực trạng sử dụng PP và hình thức tổ chức dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Qua phỏng vấn CBQL và tổ trưởng tổ Ngữ văn, được biết trong những năm học qua việc đổi mới PP và HTTC dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đã được quan tâm chỉ đạo và triển khai. Ngay từ đầu năm học, căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Sở GD&ĐT, BGH nhà trường xây dựng kế hoạch, triển khai việc sử dụng PP và HTTC dạy học theo định hướng PTNL HS tới các tổ chuyên môn và từng GV. Sau đó tổ trưởng chuyên môn sẽ cụ thể hóa kế hoạch của nhà trường thành kế hoạch của tổ và triển khai tới tất cả các GV; từ đó tất cả GV tiếp tục xây dựng kế hoạch môn học riêng theo nhiệm vụ được phân công. Tất cả các kế hoạch này đều được Ban giám hiệu, Tổ trưởng ký duyệt trước khi thực hiện.

Qua quan sát hồ sơ GV, nhận thấy GV Ngữ văn đã từng bước lựa chọn và thực hiện các PPDH theo định hướng PTNL HS kết hợp hài hòa với PP đặc thù bộ môn; quan tâm hình thành PP học tập cho HS đặc biệt là PP tự học; coi trọng và khích lệ tinh thần độc lập suy nghĩ và cá tính sáng tạo của HS trong giờ học Ngữ văn. GV đã quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng các chủ đề dạy học tích hợp, chủ đề môn học; tổ chức cho HS thay đổi các HTTC dạy học như dạy trong lớp học, dạy học phân hóa theo nhóm. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Khi tiến hành điều tra bằng phiếu với 300 HS trường THPT Hòn Gai về việc GV sử dụng các PP và HTTC dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS thì kết quả thu được có sự khác biệt với kết quả tổng hợp từ việc phỏng vấn CBQL, GV. Mức độ đánh giá: Thường xuyên 3 điểm, thỉnh thoảng 2 điểm, chưa khi nào 1 điểm.

  • Bảng 2.6. Thực trạng sử dụng các PP và HTTC dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực HS

Theo đánh giá của HS, mức độ GV sử dụng các PPDH và HTTC dạy học mới còn chưa thường xuyên, các thầy cô giáo chủ yếu vẫn sử dụng các PPDH truyền thống như thuyết trình, vấn đáp, giải quyết vấn đề, thực hành trong hầu hết các giờ học Ngữ văn do đặc thù của môn học. Các PPDH tích cực đã được sử dụng nhưng mức độ không thường xuyên như PP thảo luận, đóng vai, tình huống; cá biệt có PP HS cho rằng GV dạy Ngữ văn chưa bao giờ sử dụng là PP trải nghiệm. Nhìn chung, việc sử dụng các PP dạy học tích cực để phát triển năng lực HS vẫn còn hạn chế. Đa số GV chỉ tập trung vào việc dạy học sao cho kết quả thi, kiểm tra đạt cao. Mục đích học tập của HS cũng chỉ phục vụ cho thi, kiểm tra nên những kỹ năng khác trong cuộc sống các em rất hạn chế.

Về HTTC dạy học, qua khảo sát cho thấy: các thầy cô đều dạy học trong lớp truyền thống và HTTC dạy học cả lớp. Một số GV đã chú ý dạy học phân hóa theo nhóm đối tượng HS. Hình thức dạy học trong môi trường giả định, môi trường thực tế GV không áp dụng. Về phía các nhà trường, chưa tổ chức cho các em đi thực tế do điều kiện kinh phí và lo lắng về khâu an toàn cho HS.

Đổi mới Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đã từng bước tạo được sự tiến bộ trong nhận thức và hành động của cả GV và HS. Tuy nhiên, việc thực hiện từ kế hoạch đến thực tế còn là một khoảng cách lớn và còn không ít khó khăn từ nhiều phía, cả chủ quan và khách quan dẫn đến hiệu quả đạt được còn chưa cao, còn những hạn chế cần tiếp tục phải khắc phục trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Thực trạng sử dụng phương tiện, TBDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Hiện nay, việc sử dung PTDH, TBDH để nâng cao chất lượng giờ dạy đối với tất cả các môn học ở trường THPT Hòn Gai đang được quan tâm chỉ đạo và thực hiện. Nhà trường đã huy động các nguồn lực trang bị đầy đủ các phương tiện và TBDH hiện đại tại tất cả các phòng học như máy chiếu, bảng thông minh, có kết nối mạng Internet để GV khai thác hiệu quả PTDH giúp cho tư liệu dạy học trở nên phong phú hơn. Việc ứng dụng CNTT trong giờ học Ngữ văn đã tạo hứng thú hơn cho HS; khơi gợi được sự sáng tạo và tinh thần tự học.Tuy nhiên, trong thực tế không phải giờ học nào việc sử dụng PTDH đã thực sự hiệu quả. Nhiều giờ, GV lạm dụng CNTT thay cho hoạt động của GV mà không xem xét đến đặc thù của môn học và vai trò của người thầy trong giờ dạy học văn. Nhìn chung, việc khai thác sử dụng đa dạng các thiết bị, đồ dùng dạy học theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai vẫn còn nhiều hạn chế. Điều đó do nhiều nguyên nhân cả từ phía GV và HS.

  • Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực HS

Tác giả tiến hành khảo sát đối với 04 CBQL, 16 GV và 300 HS, số người trả lời đúng yêu cầu đặt ra là 320 người. Cách thức điều tra gồm 7 nội dung. Mức độ đánh giá: Thường xuyên 3 điểm, thỉnh thoảng 2 điểm, chưa khi nào 1 điểm.

Kết quả khảo sát cho thấy GV dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai đã thực hiện tốt việc tổ chức đánh giá qua các bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ theo đúng quy định; làm tốt việc đánh giá chuyên cần, thái độ học tập của HS; tăng cường đánh giá việc chuẩn bị bài, tự học của HS đồng thời công bố cho HS biết ý kiến đánh giá của mình. Phần lớn GV đã chú trọng trong đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT Quảng Ninh về việc đổi mới hình thức KTĐG HS và theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia mới của Bộ GD&ĐT. Điều này thể hiện nhà trường đã có nhiều biện pháp KTĐG đảm bảo khách quan, công bằng đối với HS.

  • Bảng 2.7. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Tuy nhiên các nội dung: chỉ đạo GV bồi dưỡng HS khả năng đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá; ra đề theo ma trận, đảm bảo sự phân hóa HS và việc chỉ đạo GV thực hiện đa dạng các PP, hình thức KTĐG HS chưa được thực hiện tốt. Đa số GV môn Ngữ văn mới chú ý vào việc hoàn thành điểm số theo quy chế, chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới KTĐG theo hướng PTNL HS. Đề kiểm tra, đề thi vẫn nặng về nội dung kiến thức hơn là rèn luyện kĩ năng cho HS, chưa chú trọng tổ chức cho HS tự kiểm tra, đánh giá lẫn nhau trong các giờ học; cho điểm sản phẩm cá nhân, sản phẩm nhóm. Đây là những hạn chế làm ảnh hưởng đến dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL cho HS. Qua đây đòi hỏi GV dạy văn phải có phải có biện pháp thích hợp khắc phục những hạn chế trong công tác KTĐG năng lực HS. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

2.2.3.  Thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng PTNL HS

  • Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS
  • Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Mục tiêu môn học là chuẩn về kiến thức, kỹ năng, thái độ của môn học sau khi HS hoàn thành chương trình học tập, mục tiêu được cụ thể trong kế hoạch bài dạy và kế hoạch kiểm tra của GV.

Hiện nay, việc thiết kế mục tiêu của chương trình dạy học môn Ngữ Văn đã có những thay đổi căn bản, chuyển đổi của chương trình dạy học theo nội dung hoặc các chủ đề cơ bản sang chương trình thiết kế theo yêu cầu cần đạt về năng lực hoặc kĩ năng cần thiết đối với HS. Cách thiết kế chương trình này thể hiện quan điểm dạy học hướng tới mục tiêu định hướng PTNL HS. Điều này đặt ra những yêu cầu mới cho xây dựng các nội dung, PP và hình thức KTĐG kết quả học tập của HS trên các phương diện: kiến thức, kĩ năng, thái độ và các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn cần hình thành và phát triển cho HS.

Kết quả điều tra về việc nắm mục tiêu môn học

Kết quả điều tra GV:

  • Tỉ lệ GV nắm rất rõ mục tiêu môn học: 10/16 = 62,5%
  • Tỉ lệ GV nắm rõ mục tiêu môn học: 4/16 = 25%
  • Tỉ lệ GV chưa nắm rõ mục tiêu môn học: 2/16 = 12,5%

Kết quả điều tra HS:

  • Tỉ lệ HS nắm rất rõ mục tiêu môn học: 62/300 = 20.6%
  • Tỉ lệ HS nắm rõ mục tiêu môn học: 152/300 = 50.6%
  • Tỉ lệ HS chưa nắm rõ mục tiêu môn học: 86/300 = 28,8 %

Qua đây cho thấy vẫn còn một bộ phận GV không nắm rõ mục tiêu môn học, (chủ yếu tập trung ở những GV trẻ, năng lực chuyên môn hạn chế). Như vậy, việc quản lí mục tiêu dạy học môn Ngữ văn của tổ chuyên môn và CBQL ở trường THPT Hòn Gai chưa chặt chẽ, bao quát đến tất cả GV và HS. Thực trạng này rất cần có sự quản lí, giám sát và vai trò định hướng từ tổ trưởng chuyên môn và CBQL nhà trường đến GV và HS để tất cả GV và HS thực hiện được mục tiêu môn học.

  • Biểu đồ 2.1. Khảo sát tỉ lệ GV và HS nắm rõ mục tiêu môn học
  • Thực trạng quản thực hiện nội dung chương trình dạy học môn Ngữ văn theo theo định hướng PTNL HS

Chương trình giảng dạy hiện hành (CT khung) môn Ngữ văn THPT thực hiện trong 37 tuần có cập nhật nội dung giảm tải theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT. Trường THPT Hòn Gai đã chỉ đạo rất sát sao đặc biệt là khâu xây dựng, thực hiện CT, việc thực hiện kiểm tra tiến độ chương trình, kiểm tra hoạt động sư phạm GV, kiểm tra việc ghi sổ đầu bài, dự giờ đột xuất, tổ chức kiểm tra chất lượng học kỳ môn Ngữ văn theo đề chung của trường. Qua đó đã thúc đẩy GV nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên phải có sự quản lý chặt chẽ của lãnh đạo nhà trường và tổ chuyên môn để nắm bắt được việc thực hiện CT cũng như kế hoạch thời gian, thực hiện kiểm tra, kịp thời phát hiện những thiếu sót, chỉ đạo điều chỉnh khắc phục. Việc thực hiện đúng và đủ chương trình là yêu cầu bắt buộc với mỗi GV. Những trường hợp dạy dồn tiết, cắt xén chương trình là vi phạm quy chế chuyên môn, là căn cứ để xếp loại thi đua GV. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Thực trạng quản hoạt động dạy của GV Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Để đánh giá được thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS, tác giả đã tiến hành phỏng vấn CBQL nhà trường với câu hỏi:

Thầy/cô cho biết, ở trường mình, việc quản lý hoạt động dạy của GV Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đã làm tốt ở những khâu nào?

Thầy N.L – Hiệu trưởng trường THPT Hòn Gai cho rằng: “Trong quản lý việc thực hiện hoạt động dạy của GV Ngữ văn theo định hướng PTNL HS nhà trường đã làm tốt ở các khâu như: Chỉ đạo dạy học môn Ngữ văn đúng nội dung, chương trình đã được xây dựng và phải phê duyệt theo định hướng PTNL HS trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình GD THPT; quản lý giờ lên lớp; quản lý hồ sơ chuyên môn của GV Ngữ văn nhưng lại làm còn mức độ ở các khâu quản lý như: quản lý nhiệm vụ soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp; Chỉ đạo GV KTĐG theo định hướng PTNL; chỉ đạo GV thiết kế và thực hiện bài học theo hướng PTNL; quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giảng dạy của tổ chuyên môn và của GV. Cụ thể là:

  • Quản việc soạn giáo án, chuẩn bị bài lên lớp của

Việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp là khâu đầu tiên, là cơ sở quan trọng nhất để có một tiết dạy tốt; bài soạn của GV phải thể hiện được việc đổi mới PPGD; đổi mới KTĐG; các năng lực cần đạt của HS sao cho phù hợp. Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều GV mới chỉ tập trung nhiều vào việc có bài soạn là chính, còn chất lượng bài soạn ít được quan tâm. Có tình trạng này là bởi Ban giám hiệu chấp thuận cho GV soạn giáo án trên máy vi tính. Một số GV nhận thức không đúng, không tự mình soạn bài mà sử dụng giáo án trên mạng rồi sửa sơ sài; nếu tự soạn bài thì sử dụng sách soạn mẫu chép lại, từ đó các giáo án sẽ có đủ về mặt hình thức và nội dung còn việc chuẩn bị có đầu tư để có một giáo án có chất lượng và quan tâm đổi mới PP giảng dạy thì ít được quan tâm. Như vậy trong quản lý chuẩn bị soạn giảng có lẽ là một vấn đề cần được chú ý nhiều hơn trong thời gian khâu tới ở trường THPT Hòn Gai. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Quản lý hình thức tổ chức dạy học trên lớp.

Thực hiện Hoạt động dạy học chính là quá trình thi công của việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, tuy nhiên trong việc thực hiện GV phải rất linh động, xử lý khéo léo với các tình huống phát sinh ngoài giáo án, có thể thay đổi PP, điều chỉnh nội dung, mức độ kiến thức cho phù hợp với đối tượng người học, giúp người học tiếp thu được kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành năng lực. Có thể nói nhận thức của CBQL, GV về mức độ cần thiết thực hiện các biện pháp quản lý giờ dạy trên lớp khá cao, tất cả đều quan tâm, đề cao việc xây dựng, quản lý nền nếp học tập và lựa chọn PPDH phù hợp; hướng dẫn HS PP tự học. Trong khi đó việc sử dụng TBDH chưa được đánh giá cao. Về việc ứng dụng CNTT hỗ trợ cho dạy học, hiện tượng lạm dụng CNTT của một số GV biến việc dạy ứng dụng CNTT thành hình thức trình chiếu một cách máy móc vẫn còn tồn tại. Nội dung “phải dạy hết kiến thức trong SGK và chuẩn kiến thức kỹ năng được GV quan tâm khá nhiều. Điều đó chứng tỏ GV đang thực hiện PPDH theo hướng tiếp cận nội dung. Nguyên nhân một phần là do việc đánh giá giờ dạy của các cấp quản lý trong các đợt thanh tra, kiểm tra; trong các Hội thi GV dạy giỏi, hoặc các chuyên đề tại các trường, việc chấm điểm, rút kinh nghiệm của người dự chủ yếu tập trung vào đánh giá hoạt động dạy của GV, không chú ý nhiều đến hoạt động học của HS; chưa quan tâm xem HS học được gì, hình thành được năng lực gì.

  • Thực trạng quản lý hoạt động học môn Ngữ văn của HS theo định hướng PTNL HS

Để đánh giá được thực trạng quản lí hoạt động học tập của HS chúng tôi đã dùng phiếu khảo sát trưng cầu ý kiến của CBQL, GV, HS về hệ thống các biện pháp quản lý các hoạt động học tập của HS.

Kết quả khảo sát dưới đây cho thấy điểm bình quân X = 2.25 mức độ quan tâm khá cao, trong đó mức độ quan tâm đến ý thức động cơ học tập có điểm bình quân X = 2.74 xếp ở mức quan tâm nhất. Điều đó cho thấy GV đã rất quan tâm đến ý thức, động cơ học tập đúng đắn của HS. Nhưng mức độ thực hiện cho nội dung này lại được thực hiện ở mức gần thấp nhất =2.36. Trong khi đó việc quản lý nền nếp có điểm X =2.51 được xếp thứ hạng năm, nhưng mức độ thực hiện quản lý nền nếp thì được xếp thứ 2. Việc quản lý chặt chẽ nền nếp trong giảng dạy không phải dễ dàng, bởi ở độ tuổi HS THPT các em chưa có sự ổn định về tâm sinh lý. Mặt khác điều kiện về cơ sơ vật chất, số lượng HS trên lớp cộng với chương trình hiện hành, việc đổi mới PP của GV hiện nay chưa đủ sức thu hút, hấp dẫn HS dẫn đến hiện tượng không tập trung, gây mất trật tự trong giờ học.

  • Bảng 2.8. Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của HS.
  • Thực trạng quản lý việc đổi mới PP, hình thức, phương tiện kỹ thuật dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Quản lý, chỉ đạo đổi mới PPDH là công việc mấu chốt nhất của các nhà quản lý, nó quyết định chất lượng Hoạt động dạy học của mỗi nhà trường. Việc quản lý đổi mới HTTC, PP và KTDH theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long qua khảo sát đã đạt được những kết quả như sau:

  • Bảng 2.9. Đánh giá về mức độ thực hiện các nội dung quản lý đổi mới HTTC, PP và KTDH theo định hướng phát triển năng lực HS Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Việc quản lý đổi mới HTTC, PP và KTDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – thành phố Hạ Long đã thực hiện tốt một số nội dung: Tổ chức hội giảng, thi GV giỏi, dạy chuyên đề, động viên, khuyến khích, nhân điển hình các tiết dạy tốt theo hướng đổi mới PPDH; Động viên khuyến khích GV ứng dụng CNTT trong dạy học; Chỉ đạo GV lập KHDH, lựa chọn PP, kỹ thuật, HTTC dạy học phù hợp; Chỉ đạo GV hướng dẫn đổi mới cách học cho HS. Bên cạnh đó, một số nội dung quản lý thực hiện còn hạn chế như: Chỉ đạo GV thiết kế hoạt động dạy và hoạt động học phù hợp đối tượng HS nhằm phát triển năng lực; Chỉ đạo tăng cường nội dung thực hành, luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống

Nhìn chung, việc quản lý đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai mới chỉ đạt được một số kết quả khiêm tốn. Đa số GV Ngữ văn, đa số tiết dạy môn Ngữ văn vẫn thực hiện theo PPDH cũ. Tâm lí e ngại đổi mới của GV cùng với khả năng làm quen với PP học tập mới của HS còn rất hạn chế và quan trọng hơn cả là chưa có sự đồng bộ giữa cách thức học và thi như hiện nay (học thì hướng đến yêu cầu đổi mới, nhằm phát triển năng lực HS nhưng thi cử còn nặng về nội dung, kiến thức) chính là rào cản lớn nhất trong đổi mới PPDH môn Ngữ văn hiện nay.

  • Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS
  • Thực trạng việc chỉ đạo GV xây dựng kế hoạch KTĐG môn Ngữ văn

Để quản lí, chỉ đạo GV và HS thực hiện Hoạt động dạy học, Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn cần tổ chức xây dựng kế hoạch KTĐG KQHT.

Khi khảo sát về việc chỉ đạo tổ chức cho GV xây dựng kế hoạch KTĐG thì nhận được kết quả từ CBQL và GV như sau: 1/4 = 25% CBQL cho rằng xây dựng kế hoạch KTĐG là rất cần thiết, 3/4 = 75% CBQL cho rằng xây dựng kế hoạch KTĐG là cần thiết. Trong đó 5/16 = 31,3% GV cho rằng xây dựng kế hoạch KTĐG là rất cần thiết, 9/16 = 56,2% GV cho rằng xây dựng kế hoạch KTĐG là cần thiết, 2/16 = 12,5% cho rằng xây dựng kế hoạch KTĐG là không cần thiết.

  • Biểu đồ 2.2. Đánh giá việc xây dựng kế hoạch KTĐG

Kết quả khảo sát cho thấy CBQL và GV đều cho rằng việc lập kế hoạch chỉ là mức độ cần thiết, CBQL luôn coi việc này là việc làm thường xuyên, song vẫn có GV cho rằng việc xây dựng kế hoạch KTĐG trong nhà trường là không cần thiết (12,5%). Chính vì lý do đó mà GV không chủ động trong việc xây dựng kế hoạch KTĐG, dẫn đến chất lượng của các đợt KTĐG môn Ngữ văn chưa cao. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

  • Thực trạng quản lí việc tổ chức thực hiện các hình thức KTĐG môn Ngữ văn

Thực trạng: mục đích của các hình thức KTĐG là rõ ràng nhưng các hoạt động quản lí công tác này ở nhà trường vẫn còn tồn tại bất cập. Nhà trường có xây dựng kế hoạch KTĐG chung, từ đó các tổ chuyên môn căn cứ Thông tư quy định của Bộ GDĐT về cơ số điểm kiểm tra của môn học để xây dựng kế hoạch KTĐG bộ môn, GV căn cứ kế hoạch của tổ chuyên để thực hiện. Các hình thức KTĐG thường xuyên, định kì là do GV tự thực hiện ở các lớp theo phân công giảng dạy nên từ việc ra đề, xây dựng biểu điểm, đáp án chấm, chấm bài, lên điểm một số GV vẫn làm theo cách riêng, nhà trường chỉ kiểm tra việc thực hiện tiến độ KTĐG, cơ số điểm theo quy định nên chưa quản lí sâu, sát đến chất lượng hoạt động KTĐG ở các hình thức này. Riêng kiểm tra tổng kết là do nhà trường tổ chức chung trong toàn trường từ khâu ra đề, phân bố phòng, sắp xếp HS các phòng thi, tổ chức chấm điểm, lên điểm, nên đã đánh giá được một cách tổng quát, khách quan kết quả, chất lượng Hoạt động dạy học của GV và HS.

Kết quả khảo sát việc tổ chức thực hiện các hình thức KTĐG (thường xuyên, định kì, tổng kết) của GV như sau:

  • Kết quả khảo sát HS: 34/300 = 11.3 % HS cho rằng rất nghiêm túc; 141/300 = 47,0 % HS trả lời là nghiêm túc; 125/300 = 41.7 % cho rằng chưa nghiêm túc.
  • Kết quả phỏng vấn GV: 2/16 = 12,5% GV trả lời là rất nghiêm túc; 11/16 = 68,8% GV trả lời là nghiêm túc; 3/16 = 18,7% GV cho rằng chưa nghiêm túc. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Biểu đồ 2.3. Mức độ thực hiện các hình thức KTĐG môn Ngữ Văn

Một số GV và HS cho rằng việc thực hiện các hình thức KTĐG chưa nghiêm túc, biểu hiện cụ thể là: một số GV không cho HS kiểm tra miệng mà chuyển số điểm kiểm tra 15 phút thành điểm kiểm tra miệng hoặc GV cho rằng chỉ cần 01 điểm miệng là đảm bảo quy chế nên ít tiến hành kiểm tra thường xuyên. Chính điều đó đã làm HS suy nghĩ sai lệch, các em cho rằng chỉ cần 1 điểm miệng là xong nên không có ý thức chuẩn bị bài và ôn bài trước khi đến lớp. Hoặc có HS chỉ ôn 1 bài xung phong trả lời lấy điểm cao tại một thời điểm nhất định. Những câu hỏi vận dụng khó hoặc những tình huống vận dụng thực tiễn HS rất ngại trả lời. Ngoài ra, HS cho rằng thậm chí một số GV thực hiện không đúng tiến độ, chậm trả bài, chữa bài 45 -90 phút, bài kiểm tra định kì không có lời nhận xét hoặc có thì nhận xét chung chung, không cụ thể, không chỉ rõ chỗ được, chỗ chưa được, cũng có khi GV không trả bài kiểm tra 15 phút cho HS. Những điều nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng hoạt động KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn theo hướng PTNL của HS.

  • Thực trạng quản lí thực hiện quy trình KTĐG môn Ngữ văn

Để đánh giá sự hiểu biết của CBQL và GV Ngữ văn trường THPT Hòn Gai về quy trình KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL của HS, phiếu khảo sát đã đưa ra 10 bước trong quy trình KTĐG không theo trình tự và yêu cầu các CBQL và GV Ngữ văn sắp xếp lại cho đúng.

Bảng 2.11 đưa ra 3 cột, cột thứ nhất là thứ tự các bước trong quy trình; cột thứ hai là các bước trong quy trình KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL của HS; cột 3 yêu cầu CBQL và GV ghi số thứ tự đúng quy trình từ 1 đến 10 theo suy nghĩ của họ.

  • Bảng 2.10. Bảng khảo sát các bước cơ bản trong quy trình KTĐG HS

Câu trả lời đúng cho thứ tự đúng của quy trình KTĐG kết quả đã đưa trên đây là: 13257468910. Các bước đưa ra trong bảng cần sắp xếp lại tạo thành quy trình đúng như sau:

  • Bước 1: Xác định mục đích của đánh giá
  • Bước 2: Xác định hình thức KTĐG
  • Bước 3: Xác định nội dung cần đánh giá và các mức độ nhận thức tương ứng với các nội dung đó, tỷ lệ các mức độ nhận thức phù hợp, đáp ứng mục đích đánh giá. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.
  • Bước 4: Viết câu hỏi kiểm tra ứng với nội dung và các mức độ nhận thức với nội dung đó
  • Bước 5: Sau khi có đủ các câu hỏi ứng với nội dung và mức độ nhận thức tương ứng, người phụ trách tổ hợp các câu hỏi thành đề kiểm tra đúng với tỷ lệ đã quy định trong ma trận nội dung – bậc nhận thức.
  • Bước 6: Phân tích đề
  • Bước 7: In ấn đề, chuẩn bị tâm thế, các điều kiện khác cho HS làm bài kiểm tra.
  • Bước 8: Chấm bài, ghi nhận xét cho từng HS trong bài kiểm tra; nhận xét đánh giá, rút kinh nghiệm trong giáo án.
  • Bước 9: Vào sổ điểm cá nhân của GV, sổ Gọi tên ghi điểm; lưu ý các trương hợp đặc biệt.
  • Bước 10: Trả bài và nhận xét

Kết quả khảo sát: chỉ có 02/04 50 % CBQL trả lời đúng 10 bước trong quy trình. Có 7/16 43,8 % GV sắp xếp đúng các bước trong quy trình. Điều này cho thấy còn nhiều GV Ngữ văn không nắm rõ quy trình KTĐG cụ thể:

Với bước xác định mục đích KTĐG, chưa xác định rõ mục đích của KTĐG là cho ai? Để làm gì? Chưa động viên khuyến khích được người học, chưa tạo động lực để HS tích cực học tập. Bước xác định PP đánh giá, xây dựng nội đánh giá chưa phù hợp với từng bậc nhận thức nên chưa đáp ứng được mục tiêu đánh giá. Khâu cuối cùng đó là: trả bài và nhận xét thì Ban giám hiệu và GV chưa thật quan tâm nên sự sai sót độ khó, độ dài của đề có thể vẫn xảy ra.

  • Thực trạng việc quản lí GV theo dõi sự tiến bộ của HS qua các kì KTĐG

KTĐG là khâu cuối cùng nhưng lại là khâu quan trọng của QTDH. Kết quả KTĐG sẽ giúp GV theo dõi và thúc đẩy sự tiến bộ của HS từ đó điều chỉnh PP và mục tiêu dạy học và GD, khích lệ động viên để HS có PP và động lực học tập tích cực hơn.

Qua khảo sát có thể thấy CBQL nhà trường thực hiện việc chỉ đạo tổ chức các kì KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn chưa sát sao, thường xuyên và chưa đạt được mục tiêu. Việc quản lí mới chỉ dừng lại ở việc giám sát GV thực hiện đảm bảo cơ số điểm KTĐG của môn học, kết quả kiểm tra của từng lớp, chưa chỉ đạo và quản lí GV trong việc theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của HS.

Qua quan sát và kết quả thanh kiểm tra cho thấy một số GV còn cẩu thả trong việc ra đề, chấm chữa trả bài cho HS; chưa chú ý đến sự tiến bộ của HS sau các kì kiểm tra để có biện pháp điều chỉnh PPDH, cách thức, nội dung KTĐG cho phù hợp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. HS còn thiếu trung thực trong kiểm tra, vẫn có hiện tượng sử dụng tài liệu, chép văn mẫu và chép bài của nhau. Chính vì vậy kết quả học tập của HS được đánh giá chưa chính xác, khách quan, chưa phản ánh đúng thực chất năng lực, trình độ của các em và vì thế cũng không khuyến khích, động viên được HS cố gắng trong học tập môn học.

  • Thực trạng quản lý CSVC, sử dụng TBDH và ứng dụng CNTT phục vụ cho Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Điều kiện về CSVC, trang thiết bị, đồ dùng dạy học giữ vài trò cơ bản và quan trọng cho việc tổ chức Hoạt động dạy học, là điều kiện phục vụ cho việc đổi mới PPDH theo định hướng PTNL hiện nay.

Nhận thức của CBQL và GV trường THPT Hòn Gai về mức độ cần thiết của biện pháp quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học tương đối cao và khá đồng đều. Trong những năm qua, trường THPT Hòn Gai đã có nhiều biện pháp, cách làm hay để đầu tư phát triển CSVC, mua sắm bổ sung, trang bị các TBDH hiện đại phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập. Ngoài các trang thiết bị, đồ dùng dạy học được cấp từ nguồn ngân sách nhà nước, trường THPT Hòn Gai đã thực hiện chủ trương xã hội hóa một cách hiệu quả, CSVC được nâng cấp, mua sắm trang bị thêm nhiều TBDH. Song vấn đề đặt ra là việc quản lí sử dụng CSVC, TBDH như thế nào để tránh lãng phí là một bài toán nan giải đặt ra cho CBQL nhà trường.

Khảo sát thực tế cho thấy, trường THPT Hòn Gai đã thực hiện tốt một số nội dung quản lý CSVC, TBDH và ứng dụng CNTT phục vụ cho Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL HS như: Có hệ thống sổ quản lí tài sản, CSVC, TBDH; có sổ theo dõi việc mượn, trả thiết bị, đồ dùng dạy học; tạo điều kiện để GV được ứng dụng CNTT trong dạy học và HS ứng dụng CNTT để học; có kế hoạch và thực hiện KTĐG công tác sử dụng CSVC, TBDH; quản lí việc sử dụng TBDH trong các tiết dạy của GV qua hệ thống sổ đầu bài, kế hoạch sử dụng TBDH, xây dựng định mức sử dụng TBDH của GV, có sổ theo dõi sử dụng TBDH. Bên cạnh đó, các nội dung: hợp tác, tận dụng sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT; đẩy mạnh phong trào tự làm đồ dùng dạy học; đưa internet vào việc học tập của HS, giao bài tập đòi hỏi tìm kiếm thông tin trên internet, hoặc sử dụng internet để hoàn thành nhanh, có chất lượng các bài tập được giao được thực hiện chưa tốt.

Nhìn chung, việc quản lí khai thác sử dụng TBDH, ứng dụng CNTT còn ở mức độ khiêm tốn, đa số các tiết học đều thực hiện “dạy chay”, “học chay”. Nguyên nhân của thực trạng này là do GV thiếu tích cực trong việc sử dụng TBDH, ứng dụng CNTT, HS còn mang nặng tâm lí học để đi thi nên không hứng thú với các giờ dạy sử dụng TBDH và ứng dụng CNTT, nhà trường chưa có biện pháp phù hợp thúc đẩy hiệu quả sử dụng TBDH trong dạy học.

  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS

Xây dựng môi trường GD là một yếu tố quan trọng, là điều kiện hỗ trợ Hoạt động dạy học, thúc đẩy nhà trường phát triển. Để đánh giá được thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Hòn Gai theo định hướng PTNL HS. Chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: “Theo thầy/cô, những yếu tố nào có tác động đến quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực HS và mức độ ảnh hưởng của chúng?” kết quả thu được như sau:

Các CBQL trường THPT Hòn Gai cho rằng các yếu tố ảnh hưởng ở mức độ cao là các yếu tố thuộc về chủ thể quản lí, đối tượng quản lí và một vài yếu tố về môi trường quản lí như: số lượng, chất lượng đội ngũ GV dạy môn Ngữ văn và động cơ, mục tiêu cũng như năng lực, trình độ của HS; trình độ và năng lực quản lý của đội ngũ CBQL nhà trường; điều kiện về kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương; sự phối hợp của yếu tố gia đình trong việc quản lí Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL HS. Bên cạnh đó, các yếu tố: CSVC, phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học ảnh hưởng ở mức độ thấp hơn.

Trong những năm qua, trường THPT Hòn Gai đã tổ chức nhiều hoạt động GD thu hút được sự tham gia tích cực của HS và nhận được sự hỗ trợ của phụ huynh HS cả về vật chất, tinh thần. Ngoài ra nhà trường còn thực hiện một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phối hợp GD gia đình và nhà trường. Qua các cuộc họp PHHS thường kì, gặp mặt PHHS đột xuất, qua việc trao đổi thông tin với PHHS trên hệ thống sổ liên lạc điện tử SMAS của GV chủ nhiệm để nắm bắt mức độ quan tâm của cha mẹ HS với việc GD HS ở nhà và bàn các PP GD HS hiệu quả như: quan tâm đến điều kiện học tập của HS, sắp xếp chỗ học tập; việc nhắc nhở HS học bài, làm bài ở nhà, định hướng học tập, chọn trường chọn nghề…

2.3. Đánh giá chung về thực trạng quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long theo định hướng phát triển năng lực HS Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Qua nghiên cứu thực trạng cho thấy, trường THPT Hòn Gai đã thực hiện nhiều biện pháp để quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS, song kết quả chưa được như mong muốn và chưa đáp ứng được mục tiêu đổi mới. Qua đó thấy rõ những điểm mạnh và hạn chế trong quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS như sau:

2.3.1. Ưu điểm

CBQL, GV và HS đã nhận thức được tầm quan trọng của Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS. Hoạt động này có sự chỉ đạo thống nhất từ Ban giám hiệu tới tổ nhóm chuyên môn và toàn thể GV dạy Ngữ văn trong nhà trường.

Hầu hết CBQL, tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn là những người có nhiều kinh nghiệm quản lý; có năng lực chuyên môn rất tốt, có tinh thần trách nhiệm cao; có PP phù hợp QL Hoạt động dạy học, có khả năng tiếp cận và triển khai, chỉ đạo việc đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG ở bộ môn Ngữ văn. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Đội ngũ GV: 100% GV đều đạt chuẩn đào tạo, trong đó số GV đạt trình độ trên chuẩn khá cao, về năng lực tiếp cận trong đổi mới PP rất tốt. Nhìn chung GV có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, tận tâm với nghề, có năng lực thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực, biết phát huy năng lực, tư duy sáng tạo của người học, biết khắc phục những khó khăn để làm tốt nhiệm vụ dạy học.

Việc quản lý nội dung chương trình GD THPT hiện hành đã thực hiện nghiêm túc, đồng thời chỉ đạo xây dựng lại, điều chỉnh PPCT môn Ngữ văn nhằm tiếp cận dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS. Tổ chuyên môn và GV dạy Ngữ văn đã bước đầu xây dựng được ít nhất 02 chuyên đề dạy học ở mỗi khối lớp và đưa vào áp dụng, đạt kết quả nhất định. Nhà trường đã xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ trong đó có việc thực hiện kiểm tra về chương trình dạy học. Công tác quản lý chương trình dạy học được thực hiện nền nếp, khoa học. Không có hiện tượng dạy dồn tiết hoặc cắt xén chương trình.

Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS môn Ngữ văn cơ bản được quản lý chặt chẽ, đảm bảo giữ vững được nền nếp dạy học chung của nhà trường. Công tác đổi mới HTTC, PPDH, KTDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện và được thể hiện có hiệu quả ở một số giờ dạy. Việc KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn của HS được tổ chức thực hiện nghiêm túc theo đúng quy chế hiện hành. GV môn Ngữ văn của nhà trường đã từng bước đa dạng hóa các PP KTĐG quả học tập của HS. Một số ít GV đã tiến hành đổi mới PP KTĐG môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực HS. Việc sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn đã thực hiện đổi mới khá tốt theo hướng nghiên cứu bài học, tập trung trao đổi chuyên môn, bài khó, bài dài, giảm sinh hoạt mang tính hành chính. Công tác động viên, khen thưởng GV và HS đã được quan tâm thường xuyên, kịp thời nên tạo động lực tốt cho GV và HS.

Hiệu trưởng nhà trường đã chủ động tham mưu với các cấp có thẩm quyền đầu tư xây dựng, mua sắm CSVC, TBDH đặc biệt là các TBDH hiện đại cơ bản đáp ứng đủ cho Hoạt động dạy học chung của nhà trường. Công tác xã hội hóa GD đã được CBQL nhà trường quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng mục tiêu GD đào tạo.

2.3.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm trên trong công tác quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục đó là:

Việc xây dựng lại nội dung, chương trình môn Ngữ văn phù hợp với thực tiễn của nhà trường đã được tiếp cận, triển khai thực hiện từ năm 2021 và đã có quá trình thử nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung nhưng xét cho cùng việc này mới đơn giản dừng lại ở việc ghép nối cơ học các bài học cùng thể loại theo các chủ đề theo kinh nghiệm của GV Ngữ văn. CBQL nhà trường chưa chỉ đạo xây dựng sát sao việc xây dựng chương trình nội dung môn học của nhà trường dựa trên mục tiêu nhằm PTNL cho HS. Cơ bản vẫn dạy nội dung chương trình cũ. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Các biện pháp quản lí còn thực hiện theo kinh nghiệm, đổi mới chưa triệt để, quản lí còn mang tính hành chính, mới dừng ở việc giữ ổn định nền nếp dạy học, chưa hướng vào quản lí việc tự học của HS, quản lí chưa chú ý những đặc trưng của bộ môn Ngữ văn.

Việc đổi mới HTTC, PP, KTDH môn Ngữ văn diễn ra chậm và lúng túng chủ yếu vẫn là mày mò, thử nghiệm bằng kinh nghiệm. Hiệu quả đổi mới thấp. Hầu hết các giờ dạy đều được tổ chức thực hiện với hình thức dạy học truyền thống; các PP, KTDH làm tăng cường tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS được thực hiện rất ít, chủ yếu được thể hiện ở các giờ dạy mẫu, hội giảng hoặc thi GV giỏi các cấp.

Công tác đổi mới KTĐG môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đã được quan tâm chỉ đạo nhưng chưa có kết quả rõ nét. Hầu hết GV chỉ tập trung vào việc KTĐG sao cho đúng quy chế, việc đổi mới hình thức, PP KTĐG chưa được mạnh dạn thực hiện. Vì vậy, nhìn chung chưa đảm bảo được yêu cầu đặt ra là đánh giá HS theo năng lực.

Công tác quản lý sử dụng CSVC, TBDH đối với môn Ngữ văn còn hạn chế. Tình trạng “dạy chay”, “học chay” vẫn còn.

Nhìn chung, CBQL trường THPT Hòn Gai – Thành phố Hạ Long vẫn quản lý theo kinh nghiệm là chủ yếu, chưa có nhiều biện pháp thiết thực, hiệu quả để quản lý HĐDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS phù hợp với giai đoạn hiện nay. Trong khâu chỉ đạo, điều hành còn thiếu tính quyết liệt, chưa thực sự mạnh dạn đổi mới.

2.3.3. Nguyên nhân

  • Nguyên nhân của những ưu điểm

Có sự chỉ đạo, hướng dẫn sát sao, kịp thời từ Sở GDĐT Quảng Ninh và lãnh đạo thành phố Hạ Long, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh trong nhiệm vụ GDĐT. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Đội ngũ CBQL, GV dạy môn Ngữ văn của nhà trường đủ về số lượng và 87,5% (14/16) GV đạt trình độ trên chuẩn, có điều kiện để tiếp cận, học hỏi cái mới nhanh, đồng thời có nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng trong việc quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS.

Điều kiện cơ sở hạ tầng, trang TBDH trường THPT Hòn Gai đã được quan tâm đầu tư đáp ứng yêu cầu dạy học.

Điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương phát triển tốt, trình độ dân trí cao, cha mẹ HS và các tổ chức quan tâm tới sự nghiệp phát triển GD của nhà trường.

  • Nguyên nhân của những hạn chế

Sự chỉ đạo của cấp trên về Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS chưa rõ nét, mới dừng ở việc định hướng và đang bồi dưỡng cán bộ, GV. Nhà trường vẫn đang phải thực hiện nội dung chương trình xây dựng biên soạn theo CT, SGK cũ.

Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận GV GV Ngữ văn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Cả CBQL và GV Ngữ văn đều chưa mạnh dạn chủ động đổi mới công tác quản lý cũng như thực hiện dạy học theo định hướng PTNL.

Một bộ phận HS chưa có ý thức động cơ học tập môn Ngữ văn đúng đắn, còn lười biếng, PP tự học chưa tốt, thiếu tính tích cực trong học tập và đặc biệt là còn coi nhẹ, thậm chí là có tâm lí chán học Văn.

Công tác xã hội hóa GD để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đã được quan tâm thực hiện nhưng các chế tài của nhà nước còn cứng nhắc, tạo ra những rào cản cho sự phát triển. Nhận thức về tầm quan trọng của môn Ngữ văn ở một bộ phận phụ huynh HS chưa đúng dẫn tới sự ảnh hưởng đến việc xác định động cơ, mục tiêu học tập bộ môn còn nhiều hạn chế.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

Qua nghiên cứu thực trạng quản lí Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THTP Hòn Gai – thành phố Hạ Long và căn cứ lý luận của đề tài, tác giả đã rút ra những kết quả về quản lý Hoạt động dạy học học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS ở trường THTP Hòn Gai – thành phố Hạ Long như sau:

Trường THPT Hòn Gai đã chỉ đạo GV Ngữ văn tổ chức Hoạt động dạy học theo định hướng PTNL HS. GV Ngữ văn – trường THPT Hòn Gai đã nghiêm túc xây dựng và thực hiện nội dung CTGD môn học của nhà trường dựa trên PPCT khung của Bộ GD&ĐT. Tổ chuyên môn Ngữ văn đã bước đầu xây dựng được một số chuyên đề dạy học theo định hướng PTNL HS và đưa vào áp dụng, đạt kết quả nhất định. Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS ở môn Ngữ văn cơ bản được quản lý chặt chẽ, đảm bảo giữ vững được nền nếp dạy học. Công tác đổi mới HTTC, PP, KTDH môn Ngữ văn theo định hướng PTNL đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện và được thể hiện có hiệu quả ở một số giờ dạy. Việc KTĐG kết quả học tập bộ môn Ngữ văn của HS được tổ chức thực hiện nghiêm túc theo đúng quy chế hiện hành. GV dạy Ngữ văn đã từng bước đa dạng hóa các PP KTĐG kết quả học tập môn học của HS. Công tác quản lý được thực hiện theo đúng chu trình, đảm bảo nhà trường hoạt động bình thường và đã đạt được những mục tiêu GD cơ bản.

Tuy nhiên, trong công tác quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS vẫn còn một số nhược điểm cần khắc phục như: Việc chủ động xây dựng các chủ đề dạy học môn Ngữ văn còn hạn chế; quản lý hoạt động dạy và hoạt động học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL của GV, của HS nhà trường vẫn thực hiện theo kinh nghiệm, mới dừng ở việc giữ ổn định nền nếp dạy học, thiếu sự đổi mới; Việc đổi mới HTTC, PP, KTDH diễn ra còn chậm, lúng túng, hiệu quả đổi mới chưa cao; Công tác KTĐG theo định hướng phát triển năng lực HS đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện nhưng chưa có kết quả rõ nét, chưa đảm bảo được yêu cầu đặt ra là đánh giá HS theo năng lực; công tác quản lý sử dụng CSVC, TBDH còn hạn chế, tình trạng “dạy chay”, “học chay” ở môn Ngữ văn vẫn còn diễn ra.

Để việc quản lý Hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo định hướng PTNL HS đạt kết quả như mong muốn, cần có những biện pháp quản lý của hiệu trưởng trên cơ sở phát huy những mặt tích cực, khắc phục những vấn đề còn hạn chế của thực trạng. Đây chính là lý do tác giả đưa ra các biện pháp trong chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý dạy học môn Ngữ văn trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993