Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường công nhân kỹ thuật ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát tình hình nền kinh tế xã hội và giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Tình hình nền kinh tế – xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh được bao quanh bởi các khu công nghiệp liên hoàn trải dài từ Bà Rịa -Vũng Tàu dọc theo Quốc lộ 51 đến Biên Hòa – Nam Bình Dương – khu chế xuất Linh Trung – khu chế xuất Tân Thuận – khu đô thị mới Nam Sài Gòn – khu công nghiệp Tân Tạo, Lê Minh Xuân (Bình Chánh) nối liền với khu công nghiệp Đức Hòa I, Đức Hòa II (Long An). Thành phố có sự gắn kết phát triển với vùng nông sản hàng hóa Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cây công nghiệp Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Có thể nói, đây là lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng của kinh tế Tp. Hồ Chí Minh trong phát triển.

2.1.1.1. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất nước

Từ những năm 2010 của thế kỷ XX, trong Nghị quyết 01/NQ/TW ngày 14/9/1982, Bộ Chính trị đã đánh giá một cách khách quan và trân trọng vai trò, vị trí của Tp.Hồ Chí Minh trong sự nghiệp chung của cả nước “Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta. Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội, … .

Riêng về kinh tế, thành phố là một trung tâm công nghiệp lớn, có năng lực sản xuất công nghiệp khá phát triển, nhất là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất phong phú, đội ngũ công nhân và thợ thủ công tay nghề khá; lực lượng khoa học kỹ thuật đông đảo, có tài năng, có cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp, xuất nhập khẩu và du lịch.

Điều đặc biệt quan trọng là kinh tế thành phố gắn liền với một vùng nông lâm ngư nghiệp trù phú có một nền sản xuất hàng hóa phát triển, có những khả năng lớn về lao động, đất đai, bảo đảm cho thành phố một hậu cần phong phú về lương thực, thực phẩm, nông sản, nguyên liệu, … . Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Với những điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi mà không một tỉnh, thành phố khác ở nước ta quy tụ nhiều ưu thế như vậy, thành phố Hồ Chí Minh có triển vọng rất tốt đẹp về phát triển công nghiệp, phát triển về xuất khẩu, du lịch và dịch vụ quốc tế”.

Nghị quyết 20/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 18/11/2020 tiếp tục khẳng định lại vị trí trên và nhấn mạnh Tp.Hồ Chí Minh phải tiếp tục nổ lực phấn đấu, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy tính năng động, sáng tạo để đi đầu cả nước về kinh tế, nhất là phát triển các ngành công nghiệp du lịch có hàm lượng khoa học công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi trường…, đi đầu trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả phát triển kinh tế, trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế với thế giới”.

Hoạt động thương mại dịch vụ Tp.Hồ Chí Minh có quy mô tăng trưởng nhất nước. Doanh số thương nghiệp năm 1980 chiếm 29.9% cả nước, năm 1985: 32.7%; năm 1990 là 32.9%. Từ năm 2013 đến nay, tỷ trọng GDP ngành dịch vụ của Tp.Hồ Chí Minh so với cả nước tăng từ 23.3% năm 2013 lên 26.5% năm 2021. tốc độ tăng trưởng giai đoạn 1991 – 2013 tăng bình quân 12.5% cao hơn cả nước 2%, giai đoạn 2014 – 2021 tăng trưởng bình quân 8.4%/năm cao hơn cả nước 2,4%. Dân số thành phố chiếm hơn 7% dân số cả nước nhưng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn thành phố bằng 25% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả nước.

Về xuất nhập khẩu, năm 1990 thành phố chiếm 40.4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước (xuất khẩu chiếm 45.9%, nhập khẩu 35.7%); năm 2013 chiếm 40.5% (xuất khẩu 36.7%, nhập khẩu 19.1%). Lĩnh vực du lịch – nhà hàng – khách sạn, Tp.Hồ Chí Minh có tỷ trọng từ 60 –70% so với cả nước.

Về lĩnh vực bưu chính viễn thông, trong năm 2021, Tp.Hồ Chí Minh chiếm trên 22% số máy điện thoại cả nước, 25% tổng doanh thu bưu điện của cả nước.

Tp.Hồ Chí Minh là nơi thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước lớn nhất nước. Năm 1976, vốn đầu tư phát triển của thành phố chiếm 5.03% của cả nước, năm 1980 là 7.89%, năm 2022 là 21% với 43.000 tỷ đồng.

Về thu ngân sách, năm 1980 tổng thu ngân sách của cả nước, năm 1985 là 25.5%, năm 1990 là 26.4%, năm 2017 là 36.46%, năm 2021 là 31%. (các số liệu nêu trên theo cục Thống kê Tp.Hồ Chí Minh)

2.1.1.2.  Tp.Hồ Chí Minh là hạt nhân phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam -vùng có kinh tế thị trường phát triển nhất nước; liên kết hình thành cơ cấu công – nông nghiệp với vùng nông sản hàng hóa lớn nhất nước – vùng đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Là hạt nhân phát triển của vùng, Tp.Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ các chỉ tiêu của vùng, trung bình từ 60% trở lên. Mức đóng góp GDP vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm 58.3%. Tỷ trọng bình quân GDP của thành phố so với vùng thời kỳ 1991 – 2016 là 81.6%; thời kỳ 2018 – 2021 là 65%. Giá trị sản lượng công nghiệp chiếm trên 57.1% giai đoạn 1990 – 2012 và 53.4% giai đoạn 2014 – 2017. Hiện nay so với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Tp.Hồ Chí Minh chiếm hơn 80% giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ, 46.9% giá trị tăng khu vực công nghiệp, chiếm 69.4% giá trị gia tăng ngành công nghiệp chế biến, 66% giá trị tăng ngành xây dựng.

Tp.Hồ Chí Minh là ngòi nổ khơi nguồn cho sự phát triển khu công nghiệp vùng và cả nước. Khu chế xuất Tân Thuận vừa là đứa con đầu lòng và cũng là con chim đầu đàn cho loại hình kinh tế mới mang đậm tính cạnh tranh của thị trường. Năm 2020, Tp.Hồ Chí Minh có 14 khu, chiếm 37.5% của vùng và 18.1% của cả nước. Thành phố có 1400 văn phòng đại diện nước ngoài thuộc 46 quốc gia, chiếm 70% của cả nước.

Về khu vực thương mại dịch vụ: Tp.Hồ Chí Minh suốt thời kỳ 2014 – 2020 tổng mức hàng hóa bán ra trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh chiếm gần 90% của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, riêng tổng mức bán lẻ chiếm 80%. Về kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2010 -2020, thành phố chiếm 55.3% của vùng và nhập khẩu chiếm 65.4%. Đối với lĩnh vực du lịch -khách sạn – nhà hàng, năm 2014 số lượt khách du lịch đến thành phố chiếm 35.9% của vùng; năm 2020 chiếm 62.3%. tỷ trọng lượt du khách quốc tế đến thành phố chiếm tỷ số áp đảo đối với vùng. Doanh thu du lịch hiện nay của Tp.Hồ Chí Minh chiếm trên 80% của vùng. Đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng thì GDP chiếm trung bình khoảng 70% của vùng, năm 2020 chiếm 71.8%.

Với lợi thế về hạ tầng đô thị và là trung tâm tài chính, ngân hàng, Tp.Hồ Chí Minh đã làm tốt vai trò cung ứng các sản phẩm dịch vụ vùng, bao gồm vốn đầu tư cho sản xuất, dịch vụ xuất nhập khẩu, dịch vụ luân chuyển các dòng luân kim để cả các loại ngoại tệ, dịch vụ giao thông vận tải, thông tin liên lạc, du lịch khách sạn, vui chơi giải trí. Quan hệ giữa thành phố với vùng đã hình thành dòng chảy hai chiều về lao động, tiền tệ, xuất nhập khẩu, đầu tư giữa thành phố với các tỉnh trong vùng.

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cung ứng nguồn tài chính, chuyển giao công nghệ mới, đầu tư mới cho đồng bằng sông Cửu Long. Lượng hàng hóa (chủ yếu là hàng công nghệ phẩm, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, hàng nhập khẩu qua cảng Sài Gòn và sân bay Tân Sơn Nhất) mà thành phố cung ứng cho các tỉnh trong vùng chiếm từ 60 – 75% tổng giá trị hàng hóa lưu thông trong khu vực.

Tóm lại, là hạt nhân phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, lại có quan hệ khách quan hình thành cơ cấu công – nông nghiệp với vùng đồng bằng sông Cửu Long, tạo cho thành phố Hồ Chí Minh thế và lực trong cạnh tranh và phát triển ở mức cao trong nền kinh tế thị trường đi vào thế kỷ thứ XXI.

2.1.2. Về giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Giáo dục đào tạo là nhu cầu, quyền lợi cơ bản của mọi thành viên trong xã hội, do đó chính sách quản lý phải đảm bảo sự công bằng và tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người trong giáo dục.

Sau thời kỳ đổi mới, trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay, thành phố ngày càng khẳng định vai trò trung tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của mình. Về công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo chiều hướng ngày càng gia tăng, số lượng đào tạo thường năm sau cao hơn năm trước; loại hình đào tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư. Số lượng trường đại học cao đẳng trên địa bàn tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế. Hiện nay thành phố có 41 trường đại học, cao đẳng và phân hiệu với nhiều ngành đào tạo (năm 1990 trở về trước chỉ có 21 trường), chiếm gần 1/3 tổng số các trường Đại học và Cao đẳng trong cả nước với hình thái tổ chức khá đa dạng: công lập, dân lập và bán công. Các trường đều có thư viện, phòng thí nghiệm, phòng Lab và hàng ngàn máy vi tính cho sinh viên học tập, thực tập. Tổng số cán bộ giảng dạy Đại học và Cao đẳng trên địa bàn thành phố là 6.627 người; tỷ lệ có trình độ trên Đại học tính chung là 28,6%. Đào tạo hệ trung học chuyên nghiệp (THCN) và công nhân kỹ thuật (CNKT) cũng rất được chú trọng. Trên địa bàn thành phố có 27 trường THCN, hiện có 62.019 học sinh đang theo học với số lượng cán bộ giảng dạy là 1.330 giáo viên và 7 trường CNKT. Riêng hệ thống dạy nghề, thành phố có khoảng 122 trường tập trung chủ yếu ở các quận nội thành. Số ngành đào tạo bao gồm nhiều lĩnh vực: văn hóa – xã hội, thương mại – dịch vụ – du lịch và phần lớn tập trung ở các ngành kỹ thuật phục vụ cho công nghiệp, nông – lâm nghiệp – thủy sản, xây dựng, giao thông vận tải. Số lượng học sinh tốt nghiệp của các trường dạy nghề mỗi khóa trung bình 100.000 – 120.000 người, đào tạo ngắn hạn.

Nếu năm 1976, số học sinh trên một vạn dân thành phố chỉ bằng 99,86% mức của cả nước thì năm 1980 đã bằng 197,8%. Năm 1982, thành phố chiếm 6,5% tổng số học sinh phổ thông cả nước và có số sinh viên đang theo học bằng 11,3% số sinh viên đang theo học trên toàn quốc. Từ năm 2013, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ và phổ cập tiểu học; 100% số xã có trường tiểu học và 80% số xã có trường trung học cơ sở. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao. Sở GDĐT thành phố đã đón nhận cờ lưu niệm và quyết định công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục THCS do Bộ GDĐT trao tặng và trở thành địa phương đầu tiên trong cả nước đạt được chuẩn này. Những con số cụ thể về thành tích phổ cập giáo dục THCS của thành phố là: 303/303 đơn vị phường xã đạt chuẩn; 22/22 đơn vị quận huyện đạt chuẩn. Tỷ lệ phổ cập giáo dục THCS là 98,08% , tỷ lệ đối tượng có bằng tốt nghiệp THCS đúng theo độ tuổi quy định là 85.99%. tính đến cuối năm 2017, thành phố có 725 trường phổ thông, chiếm 3,06% so với cả nước trong đó có 81 trường PTTH, chiếm 4,95% so với cả nước. Năm 2019 đã tăng lên đến 754 trường với tổng số học sinh là 870.825 người, tổng số giáo viên là 31.412 người. Trong hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, so với cả nước, thành phố chiếm 14,7% về số giáo viên và 10,2% số lượng học sinh chuyên nghiệp hệ dài hạn, 7,8% số giáo viên và 11,9% số học sinh, công nhân kỹ thuật. Riêng hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng công lập, trong năm học 2016 -2017, số sinh viên đang theo học là 216.876 người, chiếm 22,4% số sinh viên và 18,8% lực lượng giáo viên đại học và cao đẳng của cả nước (năm học 2018 – 2019 là 278.443 người). Đào tạo sau đại học (tiến sĩ, thạc sĩ) những năm gần đây, mỗi năm khoảng 1.200 – 1.300 người. Như vậy, trong khi số giáo viên và học sinh phổ thông của thành phố chỉ chiếm một tỷ lệ vừa phải của cả nước thì số giáo viên và sinh viên đại học, cao đẳng, THCN, CNKT của thành phố ngày càng chiếm một tỷ lệ rất cao, điều này chứng tỏ thành phố là một Trung tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của cả nước và đã thu hút được một số lượng lớn sinh viên từ mọi miền đất nước về học mỗi năm. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Thành phố Hồ Chí Minh có 65 viện và phân viện khoa học kỹ thuật, 36 trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học. Phát triển các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, nâng cao năng lực hoạt động của các cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng của thành phố đã được chú trọng, góp phần làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, .. . Các lĩnh vực nghiên cứu phong phú đa dạng, chủ yếu nghiên cứu ứng dụng và đang hướng vào các trọng tâm công nghệ chế biến tài nguyên; nghiên cứu vật liệu mới; vật liệu xúc tác cho các quá trình chế biến dầu mỏ, dầu thực vật; các công nghệ chống ô nhiễm, chống ăn mòn, chống rỉ; công nghệ chế tạo máy móc thiết bị; công nghệ điện tử – tin học – viễn thông ứng dụng vào các quá trình tự động hóa sản xuất ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành. Là cơ sở – tiền đề cho sự ra đời các khu công nghệ – kỹ thuật cao trên địa bàn thành phố vừa đông về số lượng (hàng chục ngàn người) vừa được đào tạo rất đa dạng từ các nguồn khác nhau, có đủ trình độ để tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới. Tổng số cán bộ khoa học đang làm việc nghiên cứu trong các lĩnh vực có khoảng 8.300 người, với hàng trăm phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm – sản xuất thử. Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư 240 tỷ đồng cho dự án: “Tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh” và bước đầu xây dựng thành công Chính phủ điện tử. Hiện nay, thành phố đã xây dựng xong chương trình phát triển nguồn nhân lực, đã khởi động từ năm 2020, trong năm 2021 (năm bản lề thực hiện Nghị quyết của Đại hội lần thứ IX của Đảng, kế hoạch 5 năm (2019 – 2023) và Nghị quyết VII của Đảng bộ Thành phố) sẽ đẩy mạnh hơn nữa, nhất là đào tạo nguồn nhân lực quản lý doanh nghiệp, chương trình đào tạo 300 thạc sĩ, tiến sĩ,   Với những thành tựu đạt được, cùng với thế mạnh

về nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật, Thành phố đã trở thành Trung tâm đào tạo khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của vùng và cả nước trong quá trình hiện đại hóa.

2.2. Một số nét chính về hoạt động dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Với vị trí là một trung tâm kinh tế trọng điểm, với thế mạnh số 1 về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại khu vực phía Nam và nhất là nằm cạnh khu công nghiệp Biên Hòa, từ rất lâu trước ngày giải phóng (khoảng đầu thập niên 60), tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhu cầu học nghề và đã xuất hiện nhiều trường dạy nghề công lập cũng như của tư nhân. Nhu cầu học nghề ngày càng nhiều, do đó mạng lưới cơ sở dạy nghề vẫn tiếp tục phát triển đến sau ngày giải phóng. Đặc biệt, vào những năm đầu bước vào giai đoạn đổi mới, xuất phát từ nhu cầu khách quan, bên cạnh hệ thống cơ sở dạy nghề đang có, thành phố đã quyết định mở thêm loại hình mới: Trung tâm Dạy nghề (TTDN) các quận – huyện, các trường công nhân kỹ thuật, các trường Trung học nghề, Trung học chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động cũng như phục vụ đường lối đổi mới của Đảng về phát triển các thành phần kinh tế.

Theo đà đi lên của thành phố, hệ thống dạy nghề tiếp tục phát triển, số người học và cơ sở dạy nghề đều tăng hàng năm; tuy có giai đoạn Luật Giáo dục ra đời, tất cả các trường Trung học nghề đều chuyển thành trường Trung học chuyên nghiệp, nhưng các trường này đều có hệ thống dạy nghề và tiếp tục nhiệm vụ dạy nghề bên cạnh nhiệm vụ đào tạo trung cấp với số lượng đào tạo rất đáng kể (khoảng 50% số đào tạo). Nhiều trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) cũng tham gia dạy nghề. Số cơ sở dạy nghề ngoài công lập phát triển nhanh và đa dạng. Nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề ở nhiều quy mô và trình độ đào tạo; khuynh hướng xã hội hóa ngày càng mạnh, kể cả đầu tư nước ngoài.

Đến cuối năm 2022, toàn thành phố có 267 cơ sở dạy nghề chính thức đăng ký hoạt động, phân bố khắp 24 quận huyện.

Qui mô tuyển sinh đào tạo hàng năm trên 25.000 học sinh hệ dài hạn và 270.000 học viên hệ ngắn hạn.

Số tuyển mới hệ dài hạn (công nhân kỹ thuật): năm 2019:18.774 học sinh, năm 2020: 23.203 học sinh, năm 2021: 25.863 học sinh, năm 2022: 27.000 học sinh, ước thực hiện năm 2023: 29.000 học sinh, ước thực hiện năm 2024: 31.000 học sinh.

Số tuyển mới hệ ngắn hạn: năm 2019: 177.162 lượt học viên, năm 2020: 198.162 lượt học viên, năm 2021: 211.295 lượt học viên, năm 2022: 270.000 lượt học viên, ước thực hiện năm 2023: 290.000 lượt học viên, ước thực hiện năm 2024: 310.000 lượt học viên.

Với kết quả trên, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của thành phố tăng dần hàng năm 2019: 27,35%; năm 2020: 32%; năm 2021: 35%; năm 2022: 38%; ước thực hiện năm 2023: 40%, ước thực hiện năm 2024: 42,78%.

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ học viên khu vực lân cận và các tỉnh (có cả học sinh các tỉnh phía Bắc). Do đó nguồn tuyển sinh của các trường tại thành phố khá rộng: Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Theo địa lý:

  • Hệ dài hạn: khoảng 45% là học sinh thành phố, 55% là học sinh ở các tỉnh.
  • Hệ ngắn hạn: gần 70% là học viên thành phố, 30% là học viên các tỉnh. Theo đối tượng:
  • Hệ dài hạn: phần đông là học sinh phổ thông từ trình độ tốt nghiệp THCS trở lên.
  • Hệ ngắn hạn: gồm người lao động đủ mọi trình độ cần có nghề để tìm việc làm hoặc tự tổ chức việc làm, cần chuyển đổi nghề nghiệp; có cả sinh viên tốt nghiệp đại học cần học thêm một số kỹ năng thực hành: công nhân cần bồi dưỡng nâng bậc thợ; chuyển giao công nghệ; bộ đội xuất ngũ chưa có nghề.

Ngành nghề đào tạo phong phú. Ngoài những nghề thuộc các lĩnh vực đào tạo như lâu nay, do nhu cầu xã hội, do yêu cầu mới của nghề, người hành nghề phải được đào tạo, gần đây đã xuất hiện nhu cầu đào tạo ở một số ngành nghề mới: người mẫu, kỹ thuật máy tính (phần cứng, lập trình), thiết kế đồ họa trên máy vi tính (CADD), điều khiển tự động, kiểm tra chất lượng máy tính, … . Điều này thể hiện tính năng động của thị trường lao động và lĩnh vực đào tạo nghề tại thành phố.

Hình thức đào tạo ngày càng được đa dạng hóa. Bên cạnh đào tạo theo trường lớp, việc đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, bồi dưỡng chuyên đề, lớp tối cho công nhân, cán bộ, lớp bồi dưỡng nâng bậc thợ, … được tổ chức rộng rãi hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của người lao động cũng như thực tế sản xuất kinh doanh:

Đào tạo tập trung theo kế hoạch: đào tạo tại trường theo chương trình chính quy, chủ yếu đối với hệ dài hạn chính quy và lao động chưa có việc làm, cần học nghề để tìm việc hoặc tổ chức việc làm.

Đào tạo tại chức đối với công nhân, viên chức đang làm việc, muốn nâng cao tay nghề, người lao động khác muốn học thêm nghề hoặc nâng cao khả năng nghề nghiệp; chuyển giao công nghệ.

Đào tạo tại xí nghiệp: đối với công nhân do xí nghiệp tuyển vào, tổ chức đào tạo và sử dụng. Đào tạo có địa chỉ: cơ sở dạy nghề tuyển sinh đào tạo và cung cấp lao động theo “đơn đặt hàng” của các doanh nghiệp.

Bồi dưỡng nâng bậc thợ (các cơ sở dạy nghề phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng chương trình, tổ chức các lớp bồi dưỡng và tổ chức thi nâng bậc thợ cho công nhân). Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Đang nghiên cứu để kiến nghị bổ sung: đào tạo bên cạnh xí nghiệp; đào tạo theo chế độ mođun (môđun hóa chương trình đào tạo dài hạn) và liên thông giữa đào tạo ngắn hạn và dài hạn.

Đội ngũ giáo viên: rất đa dạng, phong phú cả về quy mô lẫn số lượng. Ngoài việc tham gia giảng dạy chính trong các trung tâm dạy nghề và các trường trung cấp, cao đẳng nghề, họ còn tham gia giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung tâm kỹ thuật – tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở giáo dục khác có dạy nghề.

Do tính đặc thù, đội ngũ giáo viên dạy nghề được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau (tốt nghiệp từ các trường sư phạm kỹ thuật, các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề được giữ lại làm giáo viên, được tuyển chọn từ công nhân có tay nghề cao, nghệ nhân…) nên trình độ, năng lực cũng rất khác nhau.

Trong những năm qua, do làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nên trình độ, năng lực của đội ngũ ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển toàn diện sự nghiệp dạy nghề trong giai đoạn mới, nhất là đào tạo nghề theo ba cấp trình độ trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng thì đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện còn nhiều bất cập.

Về số lượng, so với tốc độ tăng quy mô đào tạo nghề thì tốc độ tăng số giáo viên dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu. Tỷ lệ học sinh học nghề dài hạn/giáo viên ở các trường dạy nghề năm học 2022 – 2023 bình quân là 28 học sinh/giáo viên. Để tỷ lệ này đạt 20 học sinh/giáo viên thì đội ngũ giáo viên trong các trường nghề mới chỉ bảo đảm được khoảng 70%.

Về chất lượng, kỹ năng sư phạm của một bộ phận giáo viên dạy nghề còn hạn chế, nhất là ở khối các trường địa phương, các trường mới thành lập, các trung tâm dạy nghề và các trường ngoài công lập.

Trước đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới, giai đoạn chuyển từ dạy nghề theo chương trình dài hạn và ngắn hạn sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trình độ, đội ngũ giáo viên dạy nghề phải được chuẩn hóa, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Cơ sở vật chất kĩ thuật: Huy động mọi nguồn lực để nâng cấp các cơ sở dạy nghề hiện có và thành lập các trường mới; từng bước chuẩn hoá và hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề; tập trung đầu tư cho các trường chất lượng cao và một số trường dạy nghề của các Bộ ngành, địa phương.

Các yếu tố chất lượng đào tạo được quan tâm thông qua hoạt động bồi dưỡng, hội thảo chuyên đề, hướng dẫn nghiệp vụ, … đối với cán bộ quản lý các cơ sở dạy nghề, cán bộ phụ trách quản lý dạy nghề các phòng Lao động – TBXH; bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, chuyên môn giảng dạy, kỹ thuật công nghệ mới cho giáo viên dạy nghề (cả công lập và ngoài công lập); tập huấn phương pháp “dạy nghề theo kỹ năng”; phương pháp soạn giáo án theo mẫu “4D”, Nhiều cơ sở dạy nghề còn mời các chuyên gia sư phạm hướng dẫn trực tiếp giáo viên trong nghiệp vụ soạn giảng; tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm áp dụng các phương pháp mới trong giảng dạy.

Tổ chức các hoạt động mang tính thi đua để động viên phong trào dạy tốt – học tốt; hội thi giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở, cấp thành phố, tham gia hội giảng cấp quốc gia; hội thi tay nghề học viên cấp cơ sở, cấp thành phố, tham gia hội thi cấp quốc gia và khu vực ASEAN; làm thiết bị dạy học; hội thi “Hành trang người thợ tương lai”; ngày hội việc làm, … .

Các cơ sở dạy nghề đã chú trọng hơn đến tính thích ứng thực tế của chương trình đào tạo, bám sát yêu cầu thực tế sản xuất kinh doanh để đào tạo: từ việc khảo sát, nghiên cứu các dây chuyền sản xuất kinh doanh, nghiên cứu công nghệ mới của các doanh nghiệp, nhiều trường đã điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo; tổ chức học viên thực tập tại cơ sở sản xuất kinh doanh; sau một thời gian giảng dạy, giáo viên nhà trường đều cùng lắng nghe ý kiến của học viên, nhận xét của người sử dụng lao động cũng như đối chiếu với tình hình sản xuất thực tế của doanh nghiệp để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoặc cập nhật nội dung mới. Để đáp ứng yêu cầu chất lượng cao trong đào tạo, ngoài việc cập nhật những nội dung chuyên môn mới, kỹ năng thực hành của học viên cũng được chú trọng bằng cách đổi mới thiết bị dạy nghề, tăng cường thiết bị phục vụ cho việc huấn luyện những công nghệ mới, nâng cao trình độ tay nghề cho học viên khi ra trường.

Bước đầu nghiên cứu xây dựng chương trình liên thông trong nội bộ chương trình dạy nghề để tạo cơ hội hoàn thiện và cập nhật kết quả, hiệu quả đào tạo. Tổng cục Dạy nghề đã chấp thuận cho thành phố đào tạo bổ sung kỹ năng thực hành cho học sinh có trình độ trung cấp để hoàn thiện tay nghề và cấp Bằng nghề (trong 2 năm 2021, 2022 đã cấp 580 bằng nghề cho 3 trường), nhiều trường đang có kế hoạch thực hiện hình thức này vì nó tỏ ra thu hút học sinh. Thành phố cũng đang triển khai đề án liên kết với các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề của Trung ương đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề. Bên cạnh đó, Dự án “Tăng cường các Trung tâm Dạy nghề” (SVTC) đã cấp 14 bộ chương trình nghề theo môđun để các cơ sở dạy nghề có thể tham khảo, áp dụng. Hiện nay, chương trình dạy nghề ngắn hạn đang được một số trung tâm từng bước xây dựng theo phương pháp học phần (môđun); học viên có thể chọn bất cứ học phần nào để có thể đáp ứng được nội dung tuyển dụng lao động của các công ty, xí nghiệp đang cần hoặc tự bản thân người lao động có thể hoạt động kinh tế gia đình.

Theo nhận định của các trường, nhìn chung chất lượng đào tạo nghề ở hệ công nhân kỹ thuật cơ bản đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật tại các cơ sở sản xuất nói riêng và nhu cầu lao động nói chung; hầu hết số học sinh tốt nghiệp tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp; một số nghề như kỹ nghệ sắt, nguội sửa chữa, in, … học viên nhận được việc làm ngay trong thời gian thực tập tốt nghiệp hoặc số nghề trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng (dệt, sợi, nhuộm, giầy, may mặc) hay ngành chế biến lương thực thực phẩm, học sinh qua đào tạo của các trường được các doanh nghiệp sử dụng 100% và nhiều khi cung không đủ cầu. Riêng đối với hệ ngắn hạn, các nghề đào tạo đã đáp ứng được nhu cầu học nghề, phổ cập nghề của xã hội cũng như tạo điều kiện để người lao động chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương hoặc có thể tìm việc làm, tự tạo việc làm cho bản thân. Do lợi thế về thời gian đào tạo (không kéo dài), chương trình linh hoạt đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, gần đây, dạy nghề ngắn hạn tham gia đào tạo kỹ năng chuyên sâu ở một số ngành nghề có yêu cầu phân công lao động cao, người học có thể hoàn thiện một kỹ năng nhất định, do đó ngày càng thu hút đông học viên theo học.

Khó khăn – tồn tại: do nhiều nguyên nhân, học nghề vẫn chưa vượt qua tâm lý xã hội về khoa cử, bằng cấp, danh vị xã hội, … nên số lượng tuyển sinh và tốt nghiệp hàng năm tuy có tăng nhưng còn chậm; thông tin đại chúng chưa thường xuyên, chưa phong phú, chưa có tác động xã hội quan tâm; học nghề chưa được các tổ chức chính trị – xã hội quan tâm tuyên truyền vận động thường xuyên, đúng mức. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Cơ cấu hệ thống dạy nghề chưa hợp lý với yêu cầu phát triển là một nguyên nhân cơ bản khiến cho học nghề thiếu tính hấp dẫn, người học nghề không thấy rõ hướng tăng tiến nếu vẫn đeo bám lĩnh vực này, do đó khuynh hướng của học là chọn con đường Đại học – nhiều người vào học nghề chỉ là sự miễn cưỡng, thụ động.

Việc đào tạo bên cạnh xí nghiệp chưa được chính thức đặt ra, và “Hiệu quả sử dụng tay nghề qua đào tạo – sự chấp nhận của thị trường lao động” chưa được cấu thành tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo.

Cán bộ, giáo viên: do hoạt động từ nhiều nguồn và thường xuyên biến động, nhiều đơn vị chủ quản, nên khó có thể quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đúng năng lực sở trường.

Hệ thống pháp lý chậm được hoàn thiện và chưa thể hiện tính hệ thống; nhiều thực tiễn phát sinh được cơ sở đề xuất nhưng chậm được cơ quan có quyền giải đáp và nghiên cứu để pháp quy hóa.

Cơ chế phân cấp, phân công quản lý, qui định về tổ chức bộ máy không phù hợp nhiệm vụ ngày càng nặng nề của hoạt động dạy nghề. Cơ chế đầu tư, cấp phát kinh phí hoạt động chưa thể hiện đúng vị trí và tầm quan trọng của dạy nghề.

Hệ thống thông tin nhu cầu lao động kỹ thuật chưa hỗ trợ hiệu quả xây dựng kế hoạch dạy nghề.

2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng về giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên tại các trường công nhân kỹ thuật ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh

2.3.1 Đôi nét về các trường thực hiện khảo sát

2.3.1.1. Trường Công Nhân Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Trường Công nhân kỹ thuật thành phố thành lập theo quyết định số 5973/QĐ-UB-VX ngày 8/10/2017 của Ủy Ban Nhân dân, Tp.Hồ Chí Minh. Trường có vị trí thuận lợi tại trung tâm thành phố; diện tích gần 1.000m2 ngay tại phường Tân Định, Q.1. Trường đã được Bộ LĐTB&XH chọn là trường đầu tư tập trung trọng điểm từ vốn Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2019 –2023 và 2024 – 2028, theo dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”. Ngoài kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm, Trường CNKT Tp.HCM vừa được UBNDTP đầu tư xây dựng mới cơ sở vật chất và trang bị máy móc thiết bị kỹ thuật dạy nghề hiện đại – giai đoạn 1 (2021) với tổng kinh phí 22 tỷ đồng – đã đưa vào hoạt động đào tạo nghề. Năm 2021, trường vinh dự đón nhận quyết định của Chủ tịch UBNDTP về việc xếp hạng I cho trường. Trường đang thực hiện các loại hình đào tạo sau:

Đào tạo chính quy dài hạn hệ Trung cấp nghề: thời gian đào tạo từ 12 tháng đến 24 tháng (tuỳ theo nghề) bao gồm các ngành nghề sau: .Cơ điện tử (24 tháng), Cắt gọt kim loại – cơ khí chính xác CNC(24 tháng), Điện tử công nghiệp – Điều khiển tự động PLC(24 tháng), Điện công nghiệp PLC – Điện khí nén(24 tháng), Sửa chữa thiết bị lạnh(24 tháng), Quản trị mạng máy tính(18 tháng), Xử lý dữ liệu – kế toán tin học(18 tháng), Lập trình – Cơ sỡ dữ liệu(18 tháng), Nguội chế tạo(12 tháng), Kỹ thuật hàn công nghệ cao(12 tháng), Công nghệ may(12 tháng).

Đào tạo chính quy hệ Cao đẳng nghề: thời gian đào tạo từ 1 đến 3 năm. Dự kiến tuyển sinh hệ Cao đẳng nghề năm học 2024 – 2025 gồm 6 ngành nghề: Cắt gọt kim loại, Sửa chữa thiết bị điện công nghiệp, Chế biến rau quả, Sửa chữa thiết bị điện tử công nghiệp, Quản trị mạng máy tính, Quản trị cơ sở dữ liệu.

Đào tạo ngắn hạn: đào tạo ngắn hạn các ngành nghề nêu trên theo Modul, bồi dưỡng nâng bậc thợ các ngành nghề (cấp chứng nhận bậc thợ), Tổ chức dạy an toàn lao động cho các Công ty, Xí nghiệp, các khu chế xuất – Khu công nghiệp (tại trường và tại công ty), tổ chức thi lái xe hai bánh hạng A1.

2.3.1.2. Trường Công Nhân Kỹ Thuật Nhân Đạo Quận 3

Trường công nhân kỹ thuật Nhân Đạo Quận 3 tiền thân là trung tâm dạy nghề Nhân Đạo Quận 3. Trường đã tự định hướng cho mình: “Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo ngắn hạn đồng thời xây dựng hệ đào tạo dài hạn lấy chất lượng làm yếu tố hàng đầu trong công tác đào tạo – bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa phương để định hướng phát triển”. Định hướng này đến nay đã được khẳng định là đúng hướng trong việc phát triển công tác giáo dục đào tạo của thành phố.

Hiện nay tại trường đang đào tạo 14 ngành nghề hệ ngắn hạn bao gồm: điện tử, điện lạnh, điện cơ, tin học, sửa chữa xe gắn máy, sửa chữa máy may, may công nghiệp, may gia dụng, họa viên kiến trúc, hóa ứng dụng, nữ trang, mộc chạm, cắt – uốn tóc, lái xe, ngoại ngữ và hệ dài hạn gồm: Điện xí nghiệp, Điện tử dân dụng, Điện lạnh và Kỹ thuật may.

Phương hướng mục tiêu công tác đào tạo của trường: Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng công tác đào tạo từng bước xây dựng hệ thống các chuẩn mực trong tất cả các mặt hoạt động: học, dạy, kiểm tra, thi tốt nghiệp, … đối với các hệ ngắn hạn và dài hạn. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Dựa vào các tiêu chuẩn do nhà nước quy định, trên cơ sở sự thống nhất của đội ngũ giáo viên, quyết tâm xây dựng hệ thống các quy định và chuẩn mực trong công tác giảng dạy, bao gồm:

  • Các qui định chuẩn mực trong các thao tác thực hành trên máy ở xưởng thực hành.
  • Sổ sách, giáo trình, giáo án của giáo viên.
  • Xây dựng ngân hàng để thi cho hệ ngắn hạn và dài hạn, tổ chức việc kiểm tra định kỳ, thi học kỳ, thi tốt nghiệp thật chặt chẽ, đúng qui định, đảm bảo chất lượng ở mức độ cao nhất.

Đẩy mạnh công tác xã hội, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội địa phương:

  • Tiếp tục triển khai chuyên đề: “Kế hoạch điều tra nhu cầu học nghề – việc làm” trên địa bàn các phường trong Quận 3.
  • Liên kết với các đơn vị (Trường Giáo dục dạy nghề Nhị Xuân) để dạy nghề cho số thanh niên đang cai nghiện tại đây có điều kiện thuận lợi hội nhập cộng đồng.

Đẩy mạnh các công tác xã hội khác như đào tạo theo địa chỉ, cung ứng giới thiệu việc làm cho thanh niên thất nghiệp, ưu tiên thanh niên trong quận, …

Thực hiện mở rộng đa dạng hóa đào tạo, liên kết với các đơn vị chức năng để đào tạo hệ công nhân bậc cao ở nhiều lĩnh vực, thực hiện việc liên kết đa phương: Cùng với việc đào tạo hai hệ trên, cần tiếp tục duy trì hệ đào tạo ngắn ngày, thực hiện chức năng cung ứng nguồn lao động tại chỗ.

Liên kết với Trường Đại học Nông Lâm TPHCM, Đại học Sư phạm Kỹ Thuật, trường Trung học Công nghiệp TPHCM và một số trường đại học khác để đào tạo những ngành nghề phục vụ yêu cầu phát triển của xã hội và của địa phương. Tiếp tục liên hệ nguồn tài trợ từ các trường đào tạo nghề, các trường Đại học Hàn Quốc để đưa giáo viên, học viên sang thực tập nghề, bồi dưỡng nghề. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

2.3.1.3. Trường Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương

Trường Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương tiền thân là Trung tâm Dạy nghề Quận 5 được thành lập ngày 05/9/1985 trên cơ sở vật chất của trường Giáo dục Lao động thiếu niên 26/3 do Quận đoàn 5 quản lý. Sau 17 năm hoạt động đào tạo nghề ngắn hạn đã được Ủy ban Nhân dân Thành phố nâng cấp thành trường Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương theo quyết định số 1662/QĐ-UB ngày 18/4/2020 có chức năng đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo CNKT hệ chính qui.

Trường đã tiếp nhận nhiều nguồn đầu tư của các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước: đầu tư của Ủy ban Nhân dân Thành phố, đầu tư của Ủy ban Nhân dân Quận 5 và các tổ chức quốc tế như chương trình EC, RAP, dự án SVTC cùng với nguồn tự tích lũy của trường, đến nay trường đã được trang bị nhiều máy móc thiết bị hiện đại đảm bảo chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp sử dụng lao động, tăng cường kỹ năng thực hành cho sinh viên, học sinh, nâng cao kiến thức cho công nhân lao động và giúp người lao động trang bị nghề để tự tạo việc làm.

Trường có diện tích khuôn viên trên 6.000m2 gồm 66 phòng học và 8 xưởng thực hành. Ngoài trụ sở chính đặt tại 161-165 Nguyễn Chí Thanh, phường 12, quận 5, trường có một phân hiệu dạy nghề tại khu công nghiệp Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh.

Với các trang thiết bị được bổ sung theo hướng tiếp cận sản xuất và theo nhu cầu xã hội cộng với hệ thống chương trình đào tạo được thiết kế trên cơ sở hoạt động thực tế sản xuất của các doanh nghiệp sử dụng lao động. Trường Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương hiện đang thực hiện các loại hình đào tạo sau đây:

  • Đào tạo ngắn hạn:

Với năng lực đào tạo từ 12.000 đến 15.000 lượt học viên/năm. Trong nhiều năm qua, trường Kỹ thuật Công nghệ Hùng Vương luôn là đơn vị hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch, được đánh giá là đơn vị dạy nghề điển hình của thành phố và cả nước. Đặc biệt kể từ năm 2014 đến nay số lượng học viên đến học nghề ngắn hạn tại trường ngày càng đông, với tỷ lệ tăng bình quân hàng năm từ 21 – 25%: từ 6.699 lượt học viên trong năm 2014 đến năm 2022 tăng lên 16.700 lượt học viên. Các ngành nghề đào tạo chính: Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Điện tử gia dụng gồm các lớp từ điện tử cơ bản đến Video cassette, CD và VCD. Ngoài ra, còn có các lớp chuyên thực hành cho đối tượng sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng. Điện tử công nghiệp: gồm các lớp điện tử công nghiệp, PLC và các lớp chuyên đề dành cho đối tượng thợ, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học.

Kỹ thuật điện: gồm các lớp như lắp đặt điện chiếu sáng, sửa chữa thiết bị điện dân dụng, điện công nghiệp … . Kỹ thuật lạnh: gồm các lớp điện lạnh gia dụng và điện lạnh công nghiệp và các lớp chuyên đề điện lạnh Ôtô, sửa chữa board mạch máy lạnh.

Công nghệ thông tin: gồm các lớp tin học văn phòng, đồ họa máy tính, sửa chữa máy vi tính và các lớp chuyên đề Thiết kế Web, Quản trị mạng.

  • Sửa chữa ôtô cơ bản, nâng cao và dạy lái xe Ôtô.
  • Cơ khí: Tiện – Phay – Bào – Hàn và sửa chữa máy may công nghiệp. Các lớp sửa chữa xe máy từ cơ bản đến các xe đời mới.
  • Các lớp thời trang may mặc, nữ công gia chánh và các nghề dịch vụ như Thẩm mỹ, Uốn tóc, Nữ trang.

Đặc biệt, trường đã xây dựng chương trình đào tạo các lớp chuyên đề của các ngành kỹ thuật cao đang có yêu cầu sử dụng như: Sửa chữa điện thoại di động, Bảo trì cơ điện máy móc ngành Nhựa, CAD/CAM – CNC, Thủy lực – khí nén.

  • Đào tạo dài hạn hệ CNKT3/7

Từ năm 2020 trường đã thực hiện đào tạo hệ CNKT các ngành: Điện tử dân dụng -Máy tính, Sửa chữa vận hành thiết bị lạnh, Kỹ thuật tin học ứng dụng, Điện công nghiệp –khí nén, Điện tử công nghiệp – Tự động hóa, với năng lực đào tạo là 600 học sinh/năm. Đặc biệt từ năm 2022, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp trường đã tổ chức đào tạo hệ công nhân kỹ thuật ngành Cơ điện tử với năng lực đào tạo là 100 học viên/năm và năm 2024 trường đào tạo thêm ngành Cơ khí chính xác (CAD/CAM-CNC). Chương đào tạo hệ CNKT được thiết kế theo hướng tiếp cận sản xuất dựa vào yếu tố kỹ thuật công nghệ hiện đại với 70% nội dung chương trình khung theo quy định và 30% kiến thức mới được cập nhật với sự đóng góp của các chuyên gia kỹ thuật tại các doanh nghiệp và các chuyên gia phân tích nghề cũng như các công nhân lành nghề.

Ngoài hai loại hình đào tạo kể trên, Trường còn thường xuyên tổ chức đào tạo nâng bậc thợ cho công nhân các xí nghiệp đang sản xuất, đào tạo chuyên thực hành cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học và đào tạo theo hợp đồng cung ứng lao động theo yêu cầu của các doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

2.3.1.4. Trường Kỹ thuật Công nghệ Quang Trung

Trường Kỹ thuật Công nghệ Quang Trung tiền thân là Trung tâm dạy nghề quận Gò Vấp được UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định số 310/2021/QĐ-UB ngày 24/12/2021 cho phép nâng cấp thành Trường Kỹ thuật Công nghệ Quang Trung có nhiệm vụ đào tạo Công nhân kỹ thuật chính quy. Đồng thời, tiếp tục nhiệm vụ đào tạo ngắn hạn đáp ứng nhu cầu học nghề đa dạng của lao động xã hội và nhu cầu sử dụng lao động của đông đảo doanh nghiệp trên địa bàn.

Trong giai đoạn đầu thành lập, Trung tâm dạy nghề đặt tại số 18/2 đường Thốnh Nhất, phường 16 (là kho nông nghiệp đã xuống cấp), thiết bị dạy nghề chỉ có 10 máy may gia dụng và một số động cơ ôtô, máy cưa bào cũ do các doanh nghiệp tặng và kết hợp với các cơ sở sản xuất để hoạt động. Cuối năm 1991, được dời về đến số 1 đường Nguyễn Oanh, phường 10 (là cơ sở của Xí nghiệp in Quận giải thể bàn giao); năm 2012 được sự quan tâm của lãnh đạo Quận và thành phố, luận chứng kinh tế xây dựng Trung tâm dạy nghề Quận Gò Vấp được thiết lập và được chấp thuận đầu tư của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/4/2013, Trung tâm dạy nghề Quận Gò Vấp tại số 12 đường Quang Trung phường 11 được khánh thành và đưa vào sử dụng –là một trong số 10 công trình của Quận chào mừng kỷ niệm 20 năm ngày Giải phóng thành phố, Giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Có được một cơ sở khang trang, phù hợp với nhu cầu sử dụng hoạt động đào tạo nghề, Trung tâm dạy nghề đã từng bước phát triển. Từ đào tạo nghề trình độ phổ thông, chỉ có 4, 5 nghề với số lượng dưới 1.000 học viên/năm, đến nay đã tổ chức 15 ngành nghề – bộ môn, hàng năm đào tạo nghề ngắn hạn hơn 3.500 học viên và hơn 6.000 lượt học viên học ngoại ngữ. Từ chỗ đào tạo nghề trình độ phổ thông, biết nghề để làm nghề đến nay đã đào tạo trình độ công nhân lành nghề có bậc thợ, đào tạo nghề trình độ Trung cấp.

Các loại hình đào tạo nghề hiện nay:

  • Đào tạo nghề ngắn hạn: thông thường 2 tháng/khóa, riêng nghề may công nghiệp có lớp học 1 tháng/khóa. Học viên lớp này cuối khóa học được kiểm tra, đạt yêu cầu sẽ được cấp “Giấy chứng nhận tốt nghiệp nghề” Mẫu chứng nhận do Sở Lao động – Thương binh và xã hội cấp. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.
  • Đào tạo nghề ngắn hạn theo chương trình bậc thợ 2/7 và 3/7: Trên cơ sở các khóa học ngắn hạn, học viên tùy theo hoàn cảnh có thể học và tích lũy kiến thức của các lớp ngắn hạn, khi đã học đủ các học phần quy định sẽ được kiểm tra và xét cấp “Chứng chỉ tốt nghiệp” –Mẫu chứng chỉ do Tổng cục dạy nghề cấp.
  • Đào tạo nghề dài hạn: thời gian học 2 năm gồm các ngành Điện lạnh, Kỹ thuật tin học, Điện tử công nghiệp, Kế toán doanh nghiệp. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm là 150 học sinh hệ có ngân sách và 350 học sinh hệ không có ngân sách. Sau khi học xong, học sinh được cấp Bằng nghề theo mẫu của Tổng cục Dạy nghề.

Liên kết đào tạo với các trường:

  • Trường Đại học Thủy sản đào tạo CĐ Điện lạnh, CĐ Kế toán doanh nghiệp, Trung cấp tin học.
  • Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng: đào tạo công nhân kỹ thuật 3/7 Điện lạnh, Điện công nghiệp.
  • Trường Cao đẳng Tài chính Kế toán IV: đào tạo Trung cấp kế toán doanh nghiệp.

2.3.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên và sự tham gia giảng dạy

2.3.2.1. Về cơ cấu độ tuổi

  • Bảng 2.1: Thống kê giáo viên theo độ tuổi:
  • Hình 2.1: Biểu đồ biểu thị tỷ lệ % theo độ tuổi

Qua thống kê độ tuổi đội ngũ giáo viên cho thấy:

Phần lớn giáo viên có độ tuổi dưới 50 chiếm 1% trong đó giáo viên có độ tuổi dưới 30 chiếm 34.36%. Những giáo viên có đội tuổi dưới 30 là những giáo viên trẻ đang sung sức, vừa có kiến thức vừa có điều kiện đi thực tế để cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề phục vụ giảng dạy. Ở độ tuổi cao hơn, tuy kinh nghiệm của giáo viên có nhiều song sức khỏe và gia đình ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến công tác. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Những giáo viên với tuổi đời trên 50 là lực lượng nòng cốt trong việc việc bồi dưỡng những giáo viên trẻ để chuẩn bị cho việc thay thế sau này.

2.3.2.2. Về thâm niên giảng dạy

  • Bảng 2.2: Thống kê giáo viên theo thâm niên giảng dạy
  • Hình 2.2: Biểu đồ biểu thị tỷ lệ % theo thâm niên giảng dạy

Qua bảng thống kê thâm niên giảng dạy của đội ngũ giáo viên cho thấy:

68% giáo viên có thâm niên giảng dạy trên 10 năm. Tỷ lệ này còn thấp so với tỷ lệ giáo viên chung của ngành dạy nghề Thành phố. Đây là đội ngũ giáo viên tâm huyết, gắn bó với nhà trường và có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy.

32% giáo viên có thâm niên giảng dạy dưới 10 năm chiếm tỷ lệ khá đông. Đây là lực lượng giáo trẻ, nhiệt tình, giàu sức sáng tạo song còn thiếu kinh nghiệm giảng dạy. Nguyên nhân chủ yếu số sinh viên tốt nghiệp các trường sư phạm, sư phạm kỹ thuật còn chưa xác định được mục đích sau khi ra trường và chưa có kinh nghiệm giảng dạy. Mặt khác, một số trường khi tuyển dụng giáo viên đòi hỏi vừa có trình độ chuyên môn vừa có kinh nghiệm giảng dạy. Mặc dù đội ngũ này chưa tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhưng lại rất cần thiết để kế thừa khi số giáo viên có thâm niên giảng dạy cao đến tuổi nghỉ hưu. Lúc đó các trường sẽ tránh được hiện tượng thiếu hụt giáo viên.

2.3.2.3. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ giáo viên

  • Bảng 2.3: Thống kê giáo viên theo trình độ chuyên môn thống kê trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ giáo viên cho ta thấy:

Qua Hình 2.3: Biểu đồ biểu thị tỷ lệ % theo trình độ chuyên môn

  • 77,09% giáo viên có trình độ đại học, cao đẳng. Đây là tỉ lệ khá cao và về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu và qui định về chuẩn mực của giáo viên dạy nghề.
  • 61% giáo viên có trình độ sau Đại học.Tỉ lệ này là rất thấp nếu so với yêu cầu phát triển của các trường nghề về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên.

2.3.2.4. Về trình độ ngoại ngữ tin học.

Trong những năm gần đây, trước sự phát triển của khoa học công nghệ và yêu cầu chức danh giáo viên nên đội ngũ giáo viên của các trường đã cố gắng học tập để nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học song nhìn chung còn nhiều hạn chế, cụ thể:

  • Về ngoại ngữ: Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

65% giáo viên cho rằng họ yếu về ngoại ngữ. Đa số giáo viên đã có chứng chỉ A,B,C Anh văn tuy nhiên do không thường xuyên sử dụng nên kỹ năng giao tiếp hạn chế, một số giáo viên chỉ có thể hiểu và dịch tài liệu kỹ thuật.

  • Về tin học:

Khoảng 70% giáo viên sử dụng được vi tính để soạn bài, thiết kế bài giảng điện tử bằng phần mềm tin học thông dụng như powerpoint, flash chưa phối hợp được nhiều phần mềm mới hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng động theo đúng yêu cầu của đa phương tiện truyền thông trong giáo dục. Như vậy mặt bằng tin học vẫn chưa thật sự đáp ứng so với yêu cầu cấp bách hiện nay.

Nguyên nhân của thực trạng trên là do:

  • Nhận thức vị trí, tầm quan trọng của ngoại ngữ, tin học đối với công tác giảng dạy chưa đầy đủ.
  • Chưa có yêu cầu cụ thể về trình độ ngoại ngữ, tin học đối với giáo viên.
  • Chưa có chính sách khuyến khích, động viên cần thiết để giáo viên học tập ngoại ngữ, tin học nhiều hơn.

2.3.3. Đánh giá về chất lượng đội ngũ giáo viên

Kết quả thăm dò ý kiến về việc đánh giá chung về chất lượng đội ngũ giáo viên thể hiện qua bảng 2.4:

  • Bảng 2.4: Đánh giá về chất lượng đội ngũ giáo viên

Hình 2.4: Đồ thị so sánh kết quả khảo sát chất lượng đội ngũ giáo viên của từng đơn vị ngũ giáo viên của nhà trường, ta thấy việc đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lý có điểm trung bình từ 3.39 đến 3.79 so với điểm tối đa là 5.0 điểm. Điều này chứng tỏ các mặt chất lượng của đội ngũ giáo viên là khá tốt, đảm bảo hoàn thành được nhiệm vụ. Tuy nhiên cũng có những mặt mạnh và mặt hạn chế như sau:

  • Những mặt mạnh:

Khả năng chuyên môn của đội ngũ giáo viên tương đối tốt vì đa số giáo viên được đào tạo bài bản, chính quy (3.79 điểm). Đội ngũ giáo viên được đánh giá là có đạo đức đức nghề nghiệp (3.73 điểm) và thực hiện tốt kế hoạch và chương trình giảng dạy (3.78 điểm).

Đa số giáo viên nắm bắt được tri thức cơ bản về quá trình giáo dục, phương pháp giảng dạy. Hầu hết giáo viên biết tổ chức bài giảng, biết kiểm tra đánh giá chính xác khách quan bài giảng.

  • Những mặt hạn chế: Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Giáo viên có trình độ sau đại học chuyên ngành còn khá ít. Nguyên nhân chủ yếu trước hết là do các trường chưa chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trước khi chuyển đổi hình thức đào tạo từ trung tâm dạy nghề lên trường nghề đào tạo chính qui, vốn có những đòi hỏi chuẩn mực về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học của đội ngũ giáo viên. Mặt khác, do thói quen giảng dạy ngắn hạn, một số giáo viên không chịu học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Ngoài ra, nhà trường chưa thật sự kiên quyết thay thế những giáo viên không đúng tiêu chuẩn đứng lớp.

Đội ngũ giáo viên tuy hầu hết đã qua nghiệp vụ sư phạm nhưng không được bổ sung, cập nhật phương pháp giảng dạy mới, nên thiết kế bài giảng còn nghèo nàn về phương pháp, không tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Trong giảng dạy còn chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống thuyết trình, bảng đen, phấn trắng, việc sử dụng phương tiện dạy học còn hạn chế.

Năng lực nghiên cứu khoa học chỉ được đánh giá ở mức khá (3.43 điểm) do một số giáo viên có tư tưởng bình quân chủ nghĩa, ngại khó, tốn công sức, thời gian, ngại tìm tòi sáng tạo nên không thường xuyên thực hiện việc nghiên cứu khoa học. Việc biên soạn bài giảng, giáo án chưa được coi trọng, một số giáo viên chuẩn bị giáo án qua loa, mang tính đối phó với các buổi dự giờ, hoặc kiểm tra của các đoàn thanh tra cấp trên.

Có khá nhiều giáo viên không nhiệt tình tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội (được đánh giá ở mức khá ; 3.39 điểm).

Được đánh giá ở mức khá (3.39 điểm) là việc đóng góp ý kiến cho các cấp quản lý. Điều này bắt nguồn từ tâm lý tự ti, e de, hoặc không dám đóng góp ý kiến cho các cấp quản lý.

2.3.4. Thực trạng về giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại các trường công nhân kỹ thuật ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

2.3.4.1. Về công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên

Các trường đều có kế hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên hàng năm và các kế hoạch này bước đầu đã cụ thể và sát với tình hình thực tế, song theo chúng tôi thì lãnh đạo nhà trường cần phải có kế hoạch dự báo và có tầm nhìn xa hơn về chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên trong một tương lai nhất định. Việc lập kế hoạch dài hạn từ 5 – 10 năm trở lên các trường chúng tôi tiến hành khảo sát chưa đề ra phương hướng và kế hoạch cụ thể vì việc lập kế hoạch dài hạn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quy mô phát triển học sinh, trường lớp, giáo viên nghỉ hưu, chuyển trường, các yêu tố xã hội.

2.3.4.2. Về tuyển dụng

  • Bảng 2.5: Kết quả thăm dò về biện pháp tuyển dụng và sử dụng giáo viên của nhà trường:

Hình 2.5: Đồ thị so sánh kết quả thăm dò về biện pháp tuyển dụng và sử dụng giáo viên của nhà trường giữa 2 đối tượng giáo viên và cán bộ quản

Qua thống kê ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá chung về công tác tuyển dụng, sử dụng giáo viên ở mức tốt (đạt yêu cầu). Các trường đã thực hiện đúng những qui định về tuyển chọn giáo viên (3.60 điểm), chất lượng đội ngũ giáo viên được tuyển chọn được đánh giá ở mức tốt (3.68 điểm), nhà trường đã làm đúng các bước từ lập kế hoạch tuyển dụng đến tổ chức, chỉ đạo việc tuyển dụng, kiểm tra giám sát việc tuyển dụng. Hiệu trưởng nhà trường cũng đã quan tâm chỉ đạo khá sâu sát, hiểu biết đội ngũ giáo viên của trường để phân công công việc đúng, đủ và vừa sức đến phần lớn giáo viên. Đa số giáo viên biểu lộ sự hài lòng với công việc được phân công và hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.

Được đánh giá ở mức khá là cơ chế tuyển chọn và sử dụng, điều động giáo viên (đối với CBQL: 3.36 điểm; đối với GV: 3.35 điểm). Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy bên cạnh việc tuyển dụng giáo viên theo năng lực, trình độ chuyên môn còn một số trường hợp vì nể nang, nhận người do cấp trên gửi xuống, hay con cháu của nhân viên cán bộ quản lý trong trường không qua thi tuyển chọn.

2.3.4.3. Về công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng giáo viên và nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của giáo viên:

  • Bảng 2.6: Thống kê thăm dò kết quả đào tạo, bồi dưỡng: (Điểm tối đa là 5.0).

Qua kết quả khảo sát cho thấy, kết quả của các khóa đào tạo bồi dưỡng đạt ở mức rất tốt, nhất là đào tạo bồi dưỡng chuyên môn (GV:3.81 điểm; CBQL:3.77 điểm), đội ngũ giáo viên có tinh thần tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cũng như phương pháp sư phạm (GV:3.66 điểm; CBQL:3.65 điểm), bên cạnh đó kết quả đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ được đánh giá chỉ ở mức khá tốt (GV:3.52 điểm; CBQL: 3.57 điểm) nguyên nhân là do trong quá trình công tác không có điều kiện sử dụng.

  • Bảng 2.7: Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường: (Điểm tối đa là: 5.0).

Qua kết quả thu thập được từ các phiếu ý kiến cho thấy các trường tập trung cho công tác đào tạo, bồi nâng cao trình độ để chuẩn hóa CBQL và GV ((CBQL:4.04 điểm) và (GV:4.09 điểm)); các nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý như lập kế hoạch, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, kiểm tra đánh giá chỉ thật sự cần thiết cho cán bộ quản lý; bồi dưỡng tin học thì không cần thiết với nguyên nhân là tất cả các giáo viên trẻ khi tốt nghiệp ra trường đều phải có chứng chỉ A Tin học.

2.3.4.4. Về quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên

  • Bảng 2.8: Kết quả thăm dò về công tác quản lý hoạt động của giáo viên

Qua kết quả thu được từ phiếu điều tra thăm dò ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên cho thấy:

  • Hình 2.6: Đồ thị so sánh kết quả thăm dò về công tác quản lý hoạt động của giáo viên giữa 2 đối tượng giao viên và cán bộ quản lý. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên được các trường thực hiện tốt, theo dõi chặt chẽ. Tuy nhiên, việc sinh hoạt chuyên môn ở các Khoa, phòng chưa thực hiện thật đều đặn, được đánh giá ở mức khá tốt (GV: 3.40 điểm; CBQL:3.50 điểm).Việc soạn giáo án của giáo viên chưa được chuẩn bị tốt, giáo viên soạn còn mang tính chất đối phó (3.53 điểm). Khi có kiểm tra của trường hay của Sở, giáo viên mới bắt tay vào soạn.

Công tác dự giờ giáo viên: được các nhà quản lý hết sức quan tâm do xuất phát từ quan điểm chất lượng giờ lên lớp là khâu quyết định chất lượng đào tạo trong hoạt động giảng dạy. Việc dự giờ không chỉ nhằm khám phá những thiếu sót, những lệch lạc trong giảng dạy của giáo viên, cung cấp cho giáo viên những lời khuyên mà còn nhằm mục đích nghiên cứu và phát triển những kinh nghiệm sư phạm sáng tạo của giáo viên, góp phần nâng cao kỹ năng giảng dạy cho tập thể giáo viên trong trường. Bên cạnh công tác kiểm tra thường xuyên việc ghi sổ đầu bài thì công tác dự giờ thăm lớp được bộ phận giáo vụ quan tâm thực hiện. Từ một giờ lên lớp người cán bộ quản lý có thể phát hiện ra mối liên hệ đến vấn đề học tập của học viên, đến việc giảng dạy của giáo viên, đến tình hình quản lý của các bộ phận trong trường.

Do đó trong thời gian tới, các trường cần phải làm tốt công tác này. Việc kiểm tra thường xuyên và định kỳ về tất cả các mặt hoạt động của đội ngũ giáo viên cần chú trọng nhiều hơn nữa vì công tác này giúp cho lãnh đạo nhà trường vạch ra được kế hoạch và phương hướng cụ thể cho từng hoạt động bồi dưỡng cũng như áp dụng thích hợp các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên.

2.3.4.5. Quản lý việc thực hiện chính sách và chế độ đối với đội ngũ giáo viên

  • Bảng 2.9: Kết quả khảo sát về quản lý việc thực hiện chính sách và chế độ đối với đội ngũ giáo viên

Qua kết quả thu được từ phiếu điều tra thăm dò ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên cho thấy: Các trường đều thực hiện chính sách nâng ngạch, nâng lương cho giáo viên, cán bộ quản lý đúng thời hạn, quan tâm đến các giáo viên đã về hưu.

Các trường đều chú trọng nâng cao đời sống giáo viên. Tổ chức vui chơi, các hoạt động văn nghệ thể thao vào các dịp lễ. Các giáo viên gặp khó khăn được trợ cấp kịp thời. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Bên cạnh đó, còn tồn tại một số điểm hạn chế như chưa quan tâm đến chính sách biên chế giáo viên (GV: 3.46 điểm; CBQL: 3.31 điểm), chính sách nhà ở cho giáo viên ở thành phố cũng như ở tỉnh (GV: 3.36 điểm; CBQL: 3.15 điểm), chính sách về chế độ làm việc, nghỉ ngơi của giáo viên (GV: 3.46 điểm; CBQL: 3.41 điểm), sắp xếp chỗ làm việc cho các thầy cô giáo viên có nhu cầu làm việc thường xuyên tại trường (thiếu phòng giáo viên) (GV: 3.30 điểm; CBQL: 3.35 điểm).

2.3.5. Đánh giá chung về quản lý đội ngũ giáo viên

Giáo viên dạy nghề là lực lượng chính yếu đảm bảo thực thi chương trình có chất lượng. Đây là loại giáo viên biết kỹ thuật, có tay nghề và am hiểu khoa học sư phạm. Họ cần được đào tạo chính qui, luôn được bồi dưỡng để cập nhật công nghệ hiện đại và cần có chính sách sử dụng và khuyến khích họ gắn bó với nghề nghiệp và tập hợp từ đội ngũ công nhân lành nghề, thợ cả, nghệ nhân được huấn luyện nghiệp vụ sư phạm.

Từ thực trạng trên cho thấy, trong những năm qua, các trường đã có nhiều biện pháp hữu hiệu để quản lý đội ngũ giáo viên góp phần quan trọng trong việc phát triển chất lượng đội ngũ để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo của nhà trường.

Sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường về cả mặt tinh thần lẫn vật chất đã giúp đội ngũ giáo viên sớm đi vào ổn định. Mỗi giáo viên đều có cơ hội phát huy tiềm năng, thể hiện bản thân.

Tuy nhiên, chất lượng đào tạo của các trường vẫn ở mức thấp. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đòi hỏi cần phải có một sự nghiên cứu toàn diện mới có thể lý giải hết. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi xin được trình bày một số nguyên nhân xuất phát từ các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của cấp quản lý các trường như sau:

Việc tăng trưởng đội ngũ giáo viên đã diễn ra có sự không tương xứng với yêu cầu cả về số lượng và chất lượng. Các giáo viên mới được tuyển dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu giáo viên và phần khác là để thay thế những người về hưu. Nguồn cung cấp chính cho đội ngũ này là những người tốt nghiệp loại khá giỏi xuất sắc trong các trường đại học và những người có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn, có học vị cao nhưng có nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội, cạnh tranh rất gay gắt để thu hút những người giỏi này vào các thành phần kinh tế khác nhau. Mặt khác chính sách và chế độ đãi ngộ với giáo viên chưa thỏa đáng làm cho các trường không thu hút được hoặc không thu hút đủ những người giỏi làm giáo viên.

Bất cập về sự “lão hóa” đội ngũ giáo viên: Thực tế hiện nay có thách thức lớn về sự “lão hóa” đội ngũ giáo viên. Trong thảo luận về chất lượng giáo dục giữa các thế hệ nhà giáo, nói về sự phát triển kế thừa của đội ngũ giáo viên trong các trường hiện nay có câu “Tre già, măng mọc chậm”. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Tuổi trung bình của đội ngũ giáo viên khá cao đã cản trở việc bổ nhiệm những giáo viên trẻ vào những vị trí quan trọng.

Sự lão hóa không chỉ ở tuổi tác mà còn ở cả tri thức. Do quy mô tăng mạnh, mặc dù sĩ số lớp học cũng tăng (trung bình trước đây từ 40 – 50 sinh viên/lớp thì nay thông thường 70 – 100 sinh viên/lớp) nên đã làm cho số giờ lên lớp bình quân trong một năm của giáo viên tăng cao, do đó nhiều giáo viên không còn thời gian và sức lực để nâng cao và cập nhật thông tin mới hay tham gia nghiên cứu khoa học.

Thực tế hiện nay ở trường đều có tình trạng một số môn học do thiếu giáo viên trầm trọng vì những lý do khách quan hoặc chủ quan làm cho giáo viên các bộ môn này phải dạy quá tải.

Giáo viên trẻ là sinh viên mới tốt nghiệp, mặc dù chỉ mới tham gia giảng dạy nhưng họ cũng phải tiếp nhận ngay một số lượng giờ quá nhiều mà chưa được đào tạo nâng cấp để đạt được độ “chín” đặc biệt. Đồng thời một số giáo viên giành nhiều thời gian cho việc dạy để tăng thu nhập, không còn thời gian để nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin mới.

  • Bất cập về sự lãng phí tài nguyên chất xám của đội ngũ giáo viên thông qua các hiện tượng:

Bạc chất xám: đó là hiện tượng hao mòn trí tuệ và năng lực hoạt động khoa học vô hình và hữu hình. Nó xảy ra ở những trường hợp kiến thức chuyên môn không được sử dụng, không thường xuyên nâng cao trình độ, không được đào tạo lại cho phù hợp với các yêu cầu hiện đại. Điển hình cho hiện tượng này là các giáo viên chỉ dạy mà không tham gia nghiên cứu khoa học, không giành nhiều thời gian đọc sách, báo, … . Thực tế hiện nay trong hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống các trường sư phạm (Đại học Sư phạm, Cao đẳng sư phạm, Trung học sư phạm, Sư phạm mẫu giáo, …) hàng năm có thức hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ năm năm cho giáo viên dạy các môn học, còn các loại trường khác chưa có chương trình bồi dưỡng thường xuyên như vậy mà chủ yếu là tự học, tự bồi dưỡng mà thôi. Nếu giáo viên không tự giác học, tự bồi dưỡng cũng sẽ tăng tốc hiện tượng “bạc chất xám”.

Chảy chất xám: là hiện tượng chuyển dịch chất xám ra khỏi nhà trường thông qua việc làm thêm, dạy thêm cho cơ sở ngoài hoặc cử đi tu nghiệp quá hạn không về, không trở lại trường, chuyển sang những cơ sở khác có thu nhập và các cơ hội khác cao hơn, . Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự lãng phí chất xám này. Có thể kể ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây: chính sách, cơ chế quản lý, sử dụng tri thức trong hệ thống cơ chế quản lý nói chung không tạo được điều kiện phát huy tiềm năng sáng tạo của họ. Lợi ích cá nhân, trước hết là lợi ích kinh tế chưa được quan tâm đúng mức, điều kiện làm việc quá thiếu thốn, … . Chẳng hạn như quy định của nhà nước về số giờ giáo viên được dạy vượt trong mỗi năm là 50% số giờ chuẩn. Ở các trường Trung học, Cao đẳng, Đại học giờ chuẩn là 260 tiết cho các môn khoa học xã hội (còn lại là giáo viên phải làm công việc khác như nghiên cứu khoa học, tự học, tự bồi dưỡng, …) như vậy số giờ được phép dạy vượt là 130 tiết và cả năm chỉ được pháp dạy 390 tiết. Quy định này dẫn đến thực tế là nhiều giảng viên muốn tăng thu nhập (vì đồng lương quá thấp) bằng việc dạy vượt giờ trong trường thì không được phải tìm chỗ dạy khác thêm hoặc làm thêm việc khác để đảm bảo cuộc sống. Ngược lại nhà trường lại phải mời giáo viên nơi khác thỉnh giảng chính những môn học mà giáo viên của trường có thể dạy rất tốt và cũng rất muốn dạy nhưng không được dạy vì vi phạm quy định của nhà nước về giờ dạy. Đây là một dẫn chứng cho việc chảy chất xám, qua việc giáo viên phải làm thêm, dạy thêm cho các cơ sở khác.

Đội ngũ giáo viên nói chung, mặc dù đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm nhưng chưa chịu đổi mới phương pháp giảng dạy, chưa có tinh thần học hỏi cao, kỹ năng biên soạn giáo trình giảng dạy còn yếu, chưa vận dụng được các tri thức khoa học giáo dục và kinh nghiệm tiên tiến về sư phạm vào quá trình giảng dạy – giáo dục theo một kế hoạch xác định, quá trình giảng dạy còn mang nặng tính chất cổ điển, không phát huy được tính sáng tạo của học sinh vì thế chất lượng các môn học thấp, hiệu quả đào tạo chưa cao là điều tất yếu.

Việc triển khai các biện pháp theo dõi quản lý tổng kết – đánh giá – rút kinh nghiệm công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ cho các giáo viên chưa được cấp quản lý quan tâm nhiều. Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên như: mời chuyên gia báo cáo chuyên đề tại trường, cử giáo viên dự các lớp bồi dưỡng ngoài trường, khuyến khích tự nghiên cứu, tham quan thực tế sản xuất, học tập kinh nghiệm, … tuy đã được tổ chức, phát động nhưng việc tiến hành, theo dõi, kiểm tra, đánh giá không kịp thời nên chưa khuyến khích được giáo viên tham gia tích cực cũng như chưa chấn chỉnh những giáo viên kém ý thức nâng cao trình độ.

  • Một số biện pháp quản lý chưa kịp thời, chưa động viên được sự tích cực cũng như chưa kiên quyết với những tiêu cực trong giảng dạy của giáo viên:

Mặc dù các biện pháp quản lý nề nếp dạy và học đã được triển khai thực hiện, song sự quan tâm theo dõi về điều này chưa thật sự tốt, việc kiểm tra và đánh giá chưa đúng thực chất, cho nên giáo viên (cả cán bộ các phòng ban) còn làm việc theo kiểu đối phó, chưa đảm bảo cho các quy định về nề nếp dạy và học được chấp hành nghiêm chỉnh và tự giác. Đáng chú ý nhất là chưa có biện pháp kiểm tra chặt chẽ chế độ công tác giảng dạy. Vì vậy, chưa đánh giá đúng thực tế chất lượng giảng dạy. Công tác kiểm tra, đánh giá chưa phải là động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng giảng dạy và chất lượng đào tạo.

Định kỳ đánh giá công tác tổ chức, quản lý cán bộ chưa thường xuyên, thực hiện thiếu nghiêm túc. Công tác bỏ phiếu tín nhiệm chức danh cán bộ quản lý (phòng/khoa, bộ môn) chưa được thực hiện. Đây là một thiếu sót trong công tác quản lý, bởi vì qua việc bỏ phiếu tín nhiệm, sẽ phát huy tính dân chủ đối với viên chức- giáo viên trong các bộ phận, giúp cán bộ quản lý nhận thức được các hạn chế trong công tác điều hành quản lý, đề xuất những giải pháp khắc phục, nâng cao uy tín cán bộ, hiệu quả quản lý đồng thời qua đó xem xét điều chỉnh qui hoạch, đào tạo cán bộ trong trung tâm.

Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo của nhà trường mà đội ngũ giáo viên là người đóng vai trò quyết định và vai trò quản lý của Hiệu trưởng, lãnh đạo nhà trường liên quan đến chất lượng của đội ngũ giáo viên là rất quan trọng thì việc phân tích thực trạng các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng, lãnh đạo nhà trường sẽ là cơ sở để đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý của lãnh đạo nhà trường đối với đội ngũ giáo viên để đội ngũ giáo viên phục vụ đắc lực hơn nữa, hiệu quả hơn nữa cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo. Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993