Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động học ở trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Vài nét về mẫu khảo sát

2.1.1. Vài nét về trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP. HCM

Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh tiền thân là trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3 thành lập ngày 25 tháng 9 năm 1976 thực hiện nhiệm vụ đào tạo giáo viên mầm non cho các tỉnh phía Nam. Năm 1987, trường được đổi tên thành trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3. Năm 2024, để đảm bảo sự thống nhất và đổi mới chất lượng giáo dục lại một lần nữa trường đổi tên thành trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh.

Hơn 33 năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước và đổi mới của ngành giáo dục, công tác đào tạo của nhà trường cũng đã có nhiều thay đổi. Từ chỗ nhà trường chỉ đào tạo duy nhất một ngành Giáo dục Mầm non đến nay trường đã được sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo mở thêm 4 mã ngành mới, đó là chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật cho các bậc học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; Giáo dục Đặc biệt và giáo viên chuyên ngành Kinh tế gia đình và Quản lý văn hóa.

Từ ngày thành lập đến nay, trường hoàn thành tốt sứ mạng là trung tâm đào tạo giáo dục mầm non, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên mầm non, âm nhạc, mỹ thuật và giáo dục đặc biệt. Nhà trường còn liên kết đào tạo với trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều trường tỉnh phía Nam. Không chỉ đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng, trường còn mở rộng các hệ đào tạo nhằm tạo thêm nhiều cơ hội học tập cho người học. Từ năm 1990 đến nay, trường thường xuyên liên kết với trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và nhiều trường Cao đẳng, đại học phía Nam để đào tạo giáo viên mầm non có trình độ Cao đẳng và Đại học (xem bản đồ 2.1).

  • Bản đồ 2.1- Liên kết đào tạo của trường CĐSP TW TP.HCM

Năng động, sáng tạo trong công tác đào tạo, trường đã mở thêm các lớp bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn như quản lý trường mầm non (chủ trường), bảo mẫu, chuyên đề âm nhạc, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm mầm non, bồi dưỡng chuyên môn hè, múa, tin học mầm non,…

  • Biểu đồ 2.2- Sự phát triển quy mô đào tạo của nhà trường

Chất lượng đào tạo của trường được thể hiện qua các số liệu cụ thể như 100% sinh viên ra trường đều có việc làm, trừ một số chuyển công tác khác. Theo số liệu khảo sát gần nhất, có khoảng 95% số sinh viên ra trường làm việc tại các trường công lập hoặc bán công, 5% làm việc tại các loại hình trường lớp khác. Trên 50% số sinh viên ra trường công tác ở vùng nông thôn, 3% công tác ở các vùng sâu, biên giới. Nhiều cựu sinh viên đang hàng ngày gắn bó với ngành giáo dục, làm công tác quản lý, thường xuyên đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào việc hình thành và phát triển ngành giáo dục nói chung, ngành giáo dục mầm non nói riêng.

  • Biểu đồ 2.3 Kết quả đào tạo của các hệ từ năm 1976 đến năm 2025

2.1.2. Mẫu khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Để đánh giá được thực trạng công tác quản lý hoạt động học ngoài giờ lên lớp ở trường CĐSP TW TP.HCM, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến (phụ lục 2) trên ba nhóm đối tượng, đó là:

  • 600 sinh viên năm thứ I và năm thứ III của 4 khoa: Giáo dục Mầm non, Mỹ thuật, Âm nhạc và Giáo dục Đặc biệt.
  • 70 giảng viên đang giảng dạy tại trường ở 4 khoa có sinh viên thuộc mẫu khảo sát.
  • 30 cán bộ quản lý gồm trưởng – phó các khoa, tổ trưởng – tổ phó chuyên môn, Ban giám hiệu trường Mầm non thực hành, phòng Công tác sinh viên, phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế, phòng Đào Tạo, Ban giám hiệu trường CĐSP TW TP.HCM (xem thêm bảng 2.1).

Bảng 2.1- Mẫu khảo sát

Nội dung thăm dò gồm các vấn đề về hoạt động học ngoài lớp và quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh.

  • Mẫu câu hỏi được đo theo 4 mức và qui định như sau:

Mức 4 ( X từ 3.5 đến 4): Ứng với nhận thức đầy đủ, đúng, rõ ràng, sâu sắc/ rất cần thiết/ thường xuyên, tự giác thực hiện, đạt kết quả ổn định

Mức 3 ( X từ 2.5 đến 3.4): Ứng với nhận thức đúng, chưa đầy đủ, cần thiết, không thường xuyên, không tự giác thực hiện, có kết quả, không ổn định

Mức 2 ( X từ 1.5 đến 2.4): Ứng với mức nhận thức không hoàn toàn đúng, chưa đầy đủ/ ít cần thiết/ không tự giác, ít khi thực hiện, có kết quả không ổn định

Mức 1 ( X từ 1 đến 1.4) : Ứng với nhận thức không đúng/ không thực hiện.

Bên cạnh việc thăm dò bằng phiếu, chúng tôi trò chuyện với 3 đối tượng, quan sát công tác quản lý hoạt động học ngoài giờ lên lớp, tham gia Hội đồng sư phạm của nhà trường nhằm chính xác hóa kết quả thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến.

2.2. Thực trạng học tập ngoài lớp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP. HCM Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương thành phố Hồ Chí Minh bước vào môi trường mới với nhiều bỡ ngỡ với những kiến thức phong phú, đa dạng và đòi hỏi sự chuyên sâu của các chuyên ngành được đào tạo. Sự khác biệt giữa việc học ở trường phổ thông và trường cao đẳng làm cho sinh viên gặp nhiều khó khăn trước các bài tập, các câu hỏi, yêu cầu của giảng viên, yêu cầu về môn học,… buộc sinh viên phải xác định sự cần thiết của việc tự học đặc biệt việc học ngoài lớp. Nhận thức về tương lai nghề nghiệp luôn là động cơ thúc đẩy hoạt động học của họ có sự định hướng rõ ràng.

2.2.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của học tập ngoài lớp

  • Bảng 2.2: Nhận thức về tầm quan trọng của học tập ngoài lớp

Kết quả thăm dò nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của học tập ngoài lớp ở bảng 2.2. cho phép chúng tôi nhận xét như sau:

Đa số sinh viên trong mẫu khảo sát đều cho rằng học ngoài lớp là rất quan trọng và quan trọng (36.0% và 50.3%). Điều này có nghĩa là việc học ngoài lớp đã mang lại cho sinh viên những lợi ích nhất định trong quá trình học tập tại trường.

Đối chiếu với ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về vấn đề này, kết quả khảo sát cũng cho thấy đa số cán bộ quản lý và giảng viên trong mẫu khảo sát xác nhận việc học ngoài lớp đối với sinh viên đều ở mức rất quan trọng và quan trọng (53.0% và 0%).

2.2.2. Nhận thức về mục đích của học tập ngoài lớp của sinh viên

Tìm hiểu nhận thức về tác dụng, lợi ích và giá trị của hoạt động học tập ngoài lớp đối với sinh viên, ý kiến của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về vấn đề này thể hiện ở bảng 2.3 dưới đây.

  • Bảng 2.3: Nhận thức về tác dụng của học tập ngoài lớp

Kết quả khảo sát ở bảng 2.3 cho thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

  • Hơn ½ sinh viên trong mẫu khảo sát (58.7%) cho rằng học tập ngoài lớp có tác dụng phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo trong học tập. Quả đúng là như vậy bởi học tập ngoài lớp không có giảng viên hướng dẫn trực tiếp mà sinh viên phải tự giác, tích cực và độc lập thực hiện các nhiệm vụ học tập của mình.
  • Tác dụng thứ hai được gần ½ sinh viên trong mẫu khảo sát xác nhận học tập ngoài lớp có tác dụng “Củng cố, hệ thống hóa kiến thức” (49.7%) và “Mở rộng và đào sâu kiến thức” (47.7%).
  • Xếp thứ ba là các tác dụng như “Hoàn thiện kiến thức”, “Đạt kết quả cao trong học tập” và “Rèn luyện phương pháp tự học” cũng được hơn 30% sinh viên trong mẫu khảo sát xác nhận.
  • Các tác dụng như “Rèn kỹ năng giải quyết bài tập, tình huống” hoặc “Rèn kỹ năng học tập nhóm” chỉ được hơn 20% sinh viên nhận thấy.

Tóm lại, các lợi ích mà học tập ngoài lớp đem lại cho sinh viên chưa thật đầy đủ, rõ ràng và sâu sắc, chứng tỏ hoặc là do sinh viên chưa học tập ngoài lớp một cách thường xuyên hoặc do sinh viên học tập chưa đúng cách nên chưa nhận ra các tác dụng đích thực của dạng học tập này.

Nhận thức về vấn đề này, ý kiến của cán bộ quản lý và GV như sau:

  • Hơn ½ cán bộ quản lý và giảng viên xác nhận hoạt động học tập ngoài lớp có tác dụng ‘Củng cố và hệ thống hóa kiến thực” được (56.0%), “Mở rộng và đào sâu kiến thức” và “Phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo của sinh viên” được (52.0%).
  • Gần ½ cán bộ quản lý và giảng viên cho rằng học tập ngoài lớp có tác dụng như “Hoàn thiện kiến thức học trên lớp” (48.0%), “Đạt kết quả cao trong các kỳ thi”, “Rèn phong cách học tập cá nhân và học nhóm” được (42.0%) và “Rèn kỹ năng giải quyết các bài tập, tình huống” (40.0%).
  • Riêng tác dụng “rèn luyện phương pháp tự học” chỉ được (27.0%) cán bộ quản lý và giảng viên đồng tình.

Nhìn chúng nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên đầy đủ và rõ ràng hơn sinh viên về tác dụng của học tập ngoài lớp đối với sinh viên.

2.2.3. Nhận thức về các dạng học tập ngoài lớp Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Chúng tôi muốn biết sinh viên tiến hành các hoạt động học tập nào ở ngoài lớp để thực hiện các mục đích trên.

  • Bảng 2.4- Nhận thức về các dạng học tập ngoài lớp của sinh viên

Kết quả thăm dò ở bảng 2.4 cho thấy:

  • Sinh viên và cả cán bộ quản lý, giảng viên nhận thức đúng nhưng chưa thật đầy đủ, sâu sắc về các dạng học tập ngoài lớp ( X SV = 2.82, X cán bộ quản lý,GV = 2.76).
  • Nhận thức của cán bộ quản lý và giảng viên ở mức thấp hơn so với sinh viên về vấn đề này.
  • Các hoạt động học tập ngoài lớp được sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên đồng thuận cao, đó là “Thực hiện các nhiệm vụ do giảng viên giao cho” ( X = 3.06 và 2.92) và “Ôn bài chuẩn bị cho thi và kiểm tra” ( X = 3.00 và 2.93).
  • Các hoạt động được ít sinh viên đồng tình là “Làm đề cương thảo luận nhóm, seminar” ( X = 65), và cán bộ quản lý và giảng viên ít đồng tình là “Đọc sách, tài liệu chuẩn bị cho bài mới và viết tiểu luận hay bài tập lớn” ( X = 2.51, 2.57).
  • Riêng hoạt động “Xem lại bài học trên lớp, đọc sách bổ sung hoàn thiện bài ghi” được cán bộ quản lý và giảng viên đồng tình cao hơn ý kiến của sinh viên ( X = 2.93 so với 2.79).

Tóm lại, một khi các hoạt động học ngoài lớp chưa được chủ thể quản lý và chủ thể nhận thức đầy đủ, sâu sắc thì chưa thể tổ chức và thực hiện các dạng học tập này một cách thường xuyên và có kết quả cao được.

2.2.4. Thực trạng học tập ngoài lớp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP. HCM

Tìm hiểu mức độ thực hiện các dạng hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên, chúng tôi đưa ra 8 dạng hoạt động. Kết quả thăm dò từ phía sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên được thể hiện ở bảng 2.5 cho thấy:

Cả sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá các hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên ở mức 3 ( X chung dao động từ 2.82 đến 2.75). Điều này có nghĩa là sinh viên không tự giác, không thường xuyên thực hiện các hoạt động học tập ngoài lớp, đạt kết quả nhưng không ổn định. Điều này có thể do sinh viên chưa có phương pháp học tập ngoài lớp, hoặc chưa nỗ lực ý chí thực hiện các hoạt động học ngoài lớp đạt mục đích đã đề ra.

  • Bảng 2.5: Đánh giá mức độ thực hiện học tập ngoài lớp

Trong số các hoạt động học tập ngoài lớp, sinh viên xác nhận hai dạng hoạt động học tập được thực hiện nhiều, đó là “Thực hiện các bài tập do giảng viên giao cho” ( X = 06) và “Ôn bài chuẩn bị thi và kiểm tra” ( X = 3.00). Điều này chứng tỏ sinh viên chưa tự giác và chưa thường xuyên thực hiện học tập ngoài lớp ngoài trừ các tình huống bắt buộc như phải làm bài tập GV giao hoặc ôn bài chuẩn bị cho thi và kiểm tra. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Dạng hoạt động được sinh viên xác nhận ở mức thấp nhất trong bảng thăm dò là “Đọc sách và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học bài mới” ( X =67), “Làm đề cương thảo luận nhóm hay semina” ( X = 2.65). Thực trạng này có thể do sinh viên chưa được thường xuyên giao nhiệm vụ học tập này ở ngoài lớp hoặc do sinh viên chưa nhận thức hết tầm quan trọng của nhiệm vụ học ngoài lớp này.

Đối chiếu với ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý – giảng viên, chúng tôi nhận thấy mức độ thực hiện học tập ngoài lớp của sinh viên được đánh giá thấp hơn một chút so với mức đánh giá từ phía sinh viên. Cụ thể như sau:

Được đánh giá cao trong bảng thăm dò là các hoạt động “Xem lại bài học trên lớp, đọc sách bổ sung hoàn thiện bài ghi”, “Ôn bài chuẩn bị thi và kiểm tra” (được đánh giá ở mức X = 93), và “Thực hiện các bài tập do giảng viên giao cho” ( X = 2.92).

Các hoạt động học tập ngoài lớp được cán bộ quản lý, GV đánh giá ở mức thấp, đó là “Đọc sách, tài liệu tham khảo để viết tiểu luận hay bài tập lớn” ( X = 51), “Đọc sách và tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học bài mới” ( X = 2.57) và “Nghiên cứu những nội dung giảng viên giao học ngoài giờ lên lớp” ( X = 2.66).

Riêng hoạt động “Làm đề cương thảo luận nhóm hay semina” được cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá ở mức X = 71. Điều này có nghĩa là sinh viên chưa nhận thức đúng vai trò của hoạt động học tập này chứ không phải giảng viên không giao nhiệm vụ này cho sinh viên.

2.2.5. Ảnh hưởng của các yếu tố đến học tập ngoài lớp của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Học tập ngoài lớp là một bộ phận của dạy học nên cũng chịu chi phối bởi các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học như Học (sinh viên) – Dạy (giảng viên) – Nội dung môn học – Môi trường dạy học. Kết quả thăm dò ảnh hưởng của các yếu tố đến học tập ngoài lớp của sinh viên như sau:

  • Biểu đồ 2.4 – Ảnh hưởng của các yếu tố đến học ngoài lớp của SV

Nhìn vào kết quả thăm dò thể hiện ở biểu đồ 2.4, chúng tôi nhận xét như sau:

  • Cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên được đánh giá ở mức nhiều, thường xuyên ( X chung dao động từ 3.09 đến 3.17).
  • Sinh viên đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đến học tập ngoài lớp của sinh viên nhiều hơn so với đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này ( X = 3.17 so với 3.09).
  • Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được xếp từ nhiều đến ít như sau: Thứ nhất, đó là yếu tố giảng viên ( X = 3.29 và 3.20).

Thứ hai, đó là yếu tố sinh viên ( X = 3.19 và 3.15).

Thứ ba, đó là yếu tố nội dung môn học ( X = 3.16 và 3.05) Cuối cùng là yếu tố môi trường dạy học ( X = 3.06 và 2.98).

Mỗi yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học bao gồm nhiều yếu tố bộ phận. Vậy, ảnh hưởng của các yếu tố bộ phận đến học tập ngoài lớp ra sao? Để từ đó mà cải tiến, hoàn thiện các yếu tố bộ phận trong từng yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học nhằm thúc đẩy, kích thích hoạt động học ngoài lớp của SV một cách hiệu quả. Kết quả thăm dò được phân tích ở bảng 2.6a, 2.6b, 2.6c và 2.6d dưới đây.

2.2.5.1. Ảnh hưởng từ phía sinh viên

  • Bảng 2.6a: Đánh giá mức độ ảnh hưởng từ sinh viên đến học tập ngoài lớp

Kết quả thể hiện ở bảng 2.6a cho thấy:

  • Tất cả các yếu tố thuộc về SV đều được SV, cán bộ quản lý, GV đánh giá ảnh hưởng ở mức nhiều đến hoạt động học ngoài lớp của SV.
  • Ảnh hưởng nhiều nhất từ yếu tố SV chính là động cơ học tập ( X = 38 và X = 3.30).
  • Ảnh hưởng thứ hai từ phía SV là phương pháp học ngoài lớp như phương pháp đọc sách, phương pháp học nhóm,… ( X = 10 và 3.09). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.
  • Ảnh hưởng xếp ở mức thứ ba là tri tức, vốn sống được hình thành ở SV ( X = 09 và 3.05).

Ban giám hiệu cần chú ý nhắc nhở giảng viên và các tổ chức khác trong trường tham gia tích cực vào việc hình thành động cơ học tập đúng đắn ở sinh viên, hình thành động cơ nghề nghiệp đủ mạnh để thúc đẩy sinh viên học tập tự giác, tích cực ở mọi lúc, mọi nơi.

2.2.5.2. Ảnh hưởng từ phía giảng viên

  • Bảng 2.6b: Đánh giá mức độ ảnh hưởng từ GV đến học tập ngoài lớp

Xét về yếu tố giảng viên, kết quả ở bảng 2.6b cho phép chúng tôi nhận xét như sau:

  • Tất cả các yếu tố thuộc về giảng viên đều được SV, cán bộ quản lý, GV đánh giá ở mức nhiều ( X = 3.29 và 3.20).
  • Cũng như yếu tố sinh viên, thái độ đối với nghề nghiệp là ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động dạy học. Vì thế, SV và cán bộ quản lý đánh giá cao ảnh hưởng của “tình yêu nghề và hứng thú với môn dạy của giảng viên” đến học tập ngoài lớp của SV ( X = 3.40 và 3.32).
  • Sau yếu tố thái độ, phải kể đến “trình độ chuyên môn sâu và rộng của giảng viên” được sinh viên, cán bộ quản lý, GV đánh giá ảnh hưởng xếp ở mức thứ hai ( X =3.35 và 3.23).
  • Ảnh hưởng xếp ở mức thấp nhất trong bảng thăm dò là “Có kinh nghiệm học ngoài giờ lên lớp, nghiên cứu” ( X = 3.14 và 3.06).

Riêng yếu tố “Cởi mở, chia sẻ và hợp tác với sinh viên” ý kiến đánh giá của sinh viên cao hơn so với cán bộ quản lý, GV ( X = 3.34 so với X = 3.19). Có thể sinh viên cảm nhận rõ ràng tác dụng của yếu tố này hơn là cán bộ quản lý, GV bởi họ là người trực tiếp thụ hưởng. Do đó, cán bộ quản lý, GV cần quan tâm, hoàn thiện yếu tố này bởi nó sẽ tạo nên môi trường dạy học “thân thiện”.

2.2.5.3. Ảnh hưởng từ nội dung môn học

Kết quả thể hiện ở bảng 2.6c cho thấy các yếu tố thuộc về nội dung được SV, cán bộ quản lý, GV cho rằng có ảnh hưởng nhiều đến học ngoài lớp của sinh viên ( X =3.14 và 3.05).

  • Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất từ nội dung môn học chính là “Gắn với cuộc sống và nghề nghiệp tương lai” ( X = 3.43 và 3.18). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.
  • Tính hiện đại và hấp dẫn của nội dung môn học được cả SV và cán bộ quản lý, GV đồng thuận đánh giá có ảnh hưởng ở mức ( X =3.00), xếp thứ hai.

Bảng 2.6c: Đánh giá mức độ ảnh hưởng từ nội dung môn học

Riêng yếu tố “Cân đối giữa lí luận và thực hành” có sự chênh lệch giữa mức độ đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý – giảng viên ( X SV=3.06, còn X cán bộ quản lý,GV = 2.96).

2.2.5.4. Ảnh hưởng của môi trường dạy học

  • Bảng 2.6d: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường dạy học

Kết quả thể hiện ở bảng 2.6d cho thấy:

  • Ảnh hưởng nhiều nhất từ yếu tố môi trường dạy học chính là “Cán bộ quản lý, thầy cô giáo là tấm gương sáng về tự học và nghiên cứu” ( X SV = 3.20 và X cán bộ quản lý,GV = 3.13)
  • Ảnh hưởng thứ hai từ yếu tố môi trường dạy học là có đủ các phương tiện học ngoài giờ lên lớp (giáo trình, tài liệu, phòng học, trang thiết bị,…) ( X =3.04 và 2.95).
  • Ảnh hưởng xếp ở mức thứ ba là không khí học tập ngoài giờ lên lớp sôi nổi trong toàn trường ( X = 2.95 và 2.87).

Môi trường tinh thần vẫn được SV, cán bộ quản lý và GV đánh giá có tầm ảnh hưởng cao hơn môi trường vật chất đến học ngoài lớp của SV.

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

2.3.1. Nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý học tập ngoài lớp của sinh viên

Nếu hiểu học tập ngoài lớp là tự học thì cần gì phải quản lý, và quản lý thế nào được. Tuy nhiên, như đã định nghĩa ở chương 1, học tập ngoài lớp là bộ phận của dạy học và là tiếp nối hoạt động học tập ở trên lớp chỉ có khác là ở sự hướng dẫn của giảng viên – sự hướng dẫn gián tiếp. Vì thế, cũng cần có sự quản lý. Vậy cán bộ quản lý, GV và SV quan niệm về vấn đề này như thế nào?

Kết quả thăm dò ở bảng 2.7 cho thấy hơn 50% cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên cho rằng công tác quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên là cần thiết và rất cần thiết (74.0% và 59.7%). Trong đó, ý kiến xác nhận của cán bộ quản lý, giảng viên cao hơn so với ý kiến của sinh viên về vấn đề này (74.0% so với 59.7%).

  • Bảng 2.7: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý Học tập ngoài lớp

Chỉ có (17.%) sinh viên trong mẫu khảo sát cho rằng công tác quản lý học tập ngoài lớp của sinh viên là ít cần thiết và (17.3%) sinh viên khác cho rằng không cần thiết. Trong khi đó, cán bộ quản lý, giảng viên chỉ (6% đến 7%) ý kiến xác nhận ở mức này.

Như vậy, đa số cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên cho rằng hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên cần có sự quản lý. Chỉ có điều quản lý cái gì và quản lý như thế nào?

2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Tìm hiểu về công tác quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên, chúng tôi thăm dò trên các bình diện như sau:

  • Các biện pháp quản lý nâng cao động cơ học tập, động cơ nghề nghiệp;
  • Các biện quản lý về nội dung học tập ngoài lớp;
  • Các biện pháp quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập ngoài lớp;
  • Các biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học ngoài lớp của sinh viên;

Mỗi bình diện được thăm dò trên hai phương diện là đánh giá mức độ cần thiết và đánh giá mức độ thực hiện.

Kết quả thăm dò thực trạng quản lý của từng lĩnh vực được thể hiện như sau:

2.3.2.1 Thực trạng các biện pháp nâng cao động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập

Động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập có tác dụng thúc đẩy, thôi thúc sinh viên thực hiện việc học một cách tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo ở mọi nơi, mọi lúc với mọi hình thức. Với sinh viên, nhu cầu lập nghiệp, nhu cầu thành đạt trong nghề nghiệp tương lai sẽ chi phối động cơ học tập. Vì thế, hình thành và phát triển động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập đúng đắn ở SV là rất cần thiết.

Trong thực tế, có nhiều sinh viên chọn trường, chọn nghề không phải vì nhận thức đầy đủ ý nghĩa của nghề nghiệp, mà vì trình độ của bản thân so với yêu cầu tuyển đầu vào của trường đó, hoặc học trường này khi ra trường dễ xin việc làm hơn trường kia. Vì thế, sinh viên sư phạm vào học các trường sư phạm không hẳn vì ý nghĩa cao quý của nghề dạy học, nghề “kỹ sư tâm hồn”. Do đó, cần giáo dục động cơ nghề dạy học cho sinh viên sư phạm là vì lẽ đó.

Động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập liên quan đến các bình diện như ý nghĩa của nghề, của việc học đối với cá nhân, xã hội; các yêu cầu của nghề nghiệp, các nội dung học tập cần đạt được; cách thức đạt đến yêu cầu của nghề và nội dung học tập,… Hình thành động cơ nghề nghiệp cho SV trong trường SP có thể được tiến hành qua nhiều con đường, với nhiều hình thức.

  • Bảng 2.8a– Các biện pháp nâng cao động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập

Kết quả thăm dò về sự cần thiết của các biện pháp bồi dưỡng động cơ nghề nghiệp và động cơ học tập và mức độ thực hiện các biện pháp này được thể hiện ở bảng 2.8a cho thấy:

  • Về mặt nhận thức Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Nhận thức của sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên về sự cần thiết của việc bồi dưỡng động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập và cách thực hiện ở mức khá – cần thiết, trong đó sinh viên nhận thức ở mức ( X = 16) cao hơn so với nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này ( X = 2.95).

Trong các biện pháp thực hiện, biện pháp “Làm rõ ý nghĩa của nghề dạy học, ý nghĩa của việc học trong đợt sinh hoạt đầu năm” và biện pháp “Bồi dưỡng phương pháp học tập cho SV dưới hình thức sinh hoạt chuyên đề, trong dạy học bộ môn” có mức độ đồng tình cao nhất trong số các biện pháp.

Riêng biện pháp “Tổ chức sinh hoạt chuyên đề, Hội nghị về nghề dạy học, kinh nghiệm học tập của sinh viên” được sinh viên đồng tình cao hơn so với cán bộ quản lý, giảng viên ( X = 11 và 2.48 so với X = 2.71 và 2.11 ).

  • Về mức độ thực hiện

Thực tế thực hiện các biện pháp nâng cao động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập chỉ đạt mức trung bình ( X chung dao động từ 2.27 đến 2.45). Điều này có nghĩa là các biện pháp nâng cao động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập cho sinh viên chưa được thực hiện thường xuyên, chưa đạt kết quả ổn định.

Biện pháp “Làm rõ ý nghĩa của nghề DH, việc học trong đợt sinh hoạt đầu năm” được xác nhận là thực hiện nhiều, đạt kết quả hơn các biện pháp khác ( X = 59 và 2.68).

Biện pháp được cho là thực hiện ở mức yếu nhất trong 4 biện pháp là “Bồi dưỡng phương pháp học tập cho sinh viên dưới hình thức sinh hoạt chuyên đề, trong dạy học bộ môn” ( X = 2.37 và 1.92). Đây chính là mấu chốt của vấn đề cần quan tâm giải quyết, bởi lẽ dù cho sinh viên có nhận thức đúng đắn về giá trị của nghề nghiệp và cố gắng học tập để chuẩn bị tốt cho nghề nhưng họ không có phương pháp học nên không thành công trong học tập từ đó động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập sẽ dần tiên tan.

2.3.2.2 Thực trạng biện pháp quản lý nội dung học tập ngoài lớp

  • Kết quả ở bảng 2.8b cho thấy:

Bảng 2.8b – Thực trạng quản lý nội dung học tập ngoài lớp

  • Về mặt nhận thức

Nhận thức của sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên về sự cần thiết của việc quản lý nội dung học tập ngoài lớp và cách thực hiện ở mức khá – cần thiết, trong đó sinh viên nhận thức ở mức ( X = 12) cao hơn so với nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này ( X = 3.02). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Trong các biện pháp thực hiện, biện pháp “Các nhiệm vụ học ngoài lớp phải được đề xuất một cách hợp lý (nội dung bài học, bài tập, chuẩn bị semina,…)” và biện pháp “Giới thiệu sách và tài liệu tham khảo” có mức độ đồng tình cao trong số các biện pháp được đưa ra.

Riêng biện pháp “GV bộ môn phải có nội dung và kế hoạch học ngoài lớp và thông báo đến sinh viên ngay từ đầu môn học” được sinh viên đồng tình cao nhất ( X = 33), trong khi đó cán bộ quản lý, giảng viên ít quan tâm đến biện pháp này hơn ( X = 2.87).

  • Về mức độ thực hiện

Thực tế thực hiện các biện pháp quản lý nội dung học tập ngoài lớp chỉ đạt mức trung bình ( X chung dao động từ 10 đến 2.43). Điều này có nghĩa là các biện pháp quản lý nội dung học tập ngoài lớp chưa thường xuyên, chưa đạt kết quả ổn định.

Biện pháp SV xác nhận được thực hiện nhiều, đạt kết quả hơn các biện pháp khác là “GV bộ môn phải có nội dung và kế hoạch học ngoài lớp và thông báo đến sinh viên ngay từ đầu môn học” ( X = 55), còn cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá việc thực hiện biện pháp này không cao ( X =2.01).

Biện pháp được cho là thực hiện ở mức yếu nhất trong 5 biện pháp cũng có sự khác biệt, sinh viên đánh giá thấp biện pháp “Ra đề thi có liên quan đến nội dung học ngoài lớp” ( X = 30), trong khi đó cán bộ quản lý, giảng viên lại đánh giá thấp biện pháp “Kết quả học ngoài lớp của sinh viên được đánh giá vào điểm quá trình học tập bộ môn” ( X = 1.95)

2.3.2.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập ngoài lớp của sinh viên

  • Bảng 2.8c – Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập ngoài lớp

Kết quả ở bảng 2.8c cho thấy:

  • Về mặt nhận thức

Nhận thức của sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên về sự cần thiết của việc quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập ngoài lớp và cách thực hiện ở mức rất cần thiết, trong đó sinh viên nhận thức ở mức ( X = 26) cao hơn so với nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này ( X = 3.00).

Trong các biện pháp thực hiện, biện pháp được đồng tình cao nhất của sinh viên là “Thiết bị kĩ thuật (máy vi tính, mạng internet)” ( X = 3.31), trong khi đó cán bộ quản lý, giảng viên lại ít có sự đồng tình về biện pháp này nhất ( X = 2.78); ngược lại, biện pháp “Giáo trình, tài liệu tham khảo ở thư viện và giờ hoạt động của thư viện” được cán bộ quản lý, giảng viên đồng tình cao nhất ( X = 3.25), SV lại ít có sự quan tâm đến biện pháp này nhất ( X = 3.22)

  • Về mức độ thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Thực tế thực hiện các biện pháp quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập ngoài lớp chỉ đạt mức trung bình ( X chung dao động từ 1.94 đến 2.32). Điều này có nghĩa là các biện pháp quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập ngoài lớp chưa thường xuyên, chưa đạt kết quả ổn định.

Biện pháp “Thiết bị kĩ thuật (máy vi tính, mạng internet)” và “Phòng học ngoài giờ lên lớp” được sinh viên xác nhận là thực hiện nhiều, đạt kết quả hơn các biện pháp khác ( X = 2.36 và 2.35); cán bộ quản lý, giảng viên lại đánh giá cao việc thực hiện biện pháp “Giáo trình, tài liệu tham khảo ở thư viện và giờ hoạt động của thư viện” ( X = 2.19)

2.3.2.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá học tập ngoài lớp của SV

Kết quả ở bảng 2.8d cho thấy:

  • Về mặt nhận thức

Nhận thức của sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên về sự cần thiết của việc quản lí việc kiểm tra, đánh giá học tập ngoài lớp và cách thực hiện ở mức khá – cần thiết, trong đó sinh viên nhận thức ở mức ( X = 91) cao hơn so với nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này ( X = 2.8.4).

Trong các biện pháp thực hiện, biện pháp “Kiểm tra kết quả thực hiện học ngoài lớp của sinh viên (bài tập, đề cương thảo luận,…)” và biện pháp “Ra đề thi có liên quan đến nội dung học ngoài giờ lên lớp” có mức độ đồng tình cao nhất trong số các biện pháp.

Sinh viên ít có sự đồng tình biện pháp “Kiểm tra việc thực hiện thời gian học ngoài lớp của sinh viên” ( X = 80); cán bộ quản lý, giảng viên lại ít đồng tình biện pháp “Phối hợp các lực lượng tham gia quản lí học ngoài lớp của sinh viên (GV bộ môn, GVCN, Phòng đào tạo, Ban chấp hành Đoàn trường, Phòng Quản lý sinh viên)” ( X = 2.71).

Bảng 2.8d – Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá học tập ngoài lớp

  • Về mức độ thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Thực tế thực hiện các biện pháp quản lí việc kiểm tra, đánh giá học tập ngoài lớp chỉ đạt mức trung bình ( X chung dao động từ 1.90 đến 2.28). Điều này có nghĩa là các biện pháp quản lí việc kiểm tra, đánh giá học tập ngoài lớp chưa thường xuyên, chưa đạt kết quả ổn định.

Biện pháp “Kiểm tra kết quả thực hiện học ngoài lớp của sinh viên (bài tập, đề cương thảo luận, …)” được sinh viên xác nhận là thực hiện nhiều, đạt kết quả hơn các biện pháp khác ( X = 37). Cán bộ quản lý, giảng viên xác nhận biện pháp “Kiểm tra việc thực hiện thời gian học ngoài lớp của sinh viên” được thực hiện nhiều, đạt kết quả ( X = 2.03).

Hai biện pháp được sinh viên cho là thực hiện ở mức yếu nhất trong 6 biện pháp là “Kiểm tra việc thực hiện thời gian học ngoài lớp của sinh viên” và “Phối hợp các lực lượng tham gia quản lí học ngoài lớp của sinh viên (GV bộ môn, GVCN, Phòng đào tạo, Ban chấp hành Đoàn trường, Phòng Quản lý sinh viên)” ( X = 2.19). cán bộ quản lý, GV lại đánh giá thấp việc thực hiện biện pháp “Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch học ngoài lớp của SV” ( X = 1.74).

Nhận xét chung về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý học ngoài lớp của SV, chúng tôi biểu diễn dưới dạng đồ thị như sau:

2.3 Đánh giá chung về các biện pháp quản lý học tập ngoài lớp của sinh viên

2.3.1 Đánh giá chung về mức độ cần thiết của các biện pháp

Đánh giá mức độ cần thiết của 4 nhóm biện pháp quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên, chúng tôi nhận thấy sinh viên và cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá ở mức độ cần thiết ( X SV = 3.11, còn X cán bộ quản lý,GV = 2.95). Trong đó, sinh viên cho rằng các biện pháp quản lý hoạt động học ngoài lớp cần thiết hơn so với mức độ đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này. Theo chúng tôi có thể do cán bộ quản lý, giảng viên cho rằng học ngoài lớp, sinh viên tự học nên không nhất thiết phải có sự quản lý.

Cụ thể mức độ cần thiết của từng biện pháp quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên được chúng tôi biểu diễn bằng biểu đồ dưới đây Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Biểu đồ 2.5 – Đánh giá chung mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý học ngoài lớp của sinh viên sư phạm

  • Nhìn vào biểu đồ 2.5, chúng tôi nhận xét:

Nhóm biện pháp quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ học ngoài lớp của sinh viên được cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá cần thiết nhất ( X = 00 và 3.26).

Nhóm biện pháp quản lý được đánh giá cần thiết ở mức cần thiết, xếp thứ hai là “Quản lý nội dung học ngoài lớp” ( X SV = 3.12, X cán bộ quản lý,GV = 3.02).

Nhóm biện pháp “Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học ngoài lớp của sinh viên” ( X SV = 2.91, X GV,CBQL = 2.84) được cho là ít cần thiết nhất trong các biện pháp quản lý. Phải chăng học ngoài lớp mang tính tự giác và chỉ có tính chất hỗ trợ, đi sau học tập trên lớp nên không cần đánh giá? Theo chúng tôi, việc kiểm tra, đánh giá và kết quả kiểm tra đánh giá hoạt động học ngoài lớp có ý nghĩa lớn đối với đối tượng quản lý và chủ thể quản lý hoạt động học ngoài lớp.

Riêng nhóm biện pháp “Quản lý việc nâng cao động cơ học tập và động cơ nghề nghiệp của sinh viên” được sinh viên đánh giá ở mức ( X = 16), trong khi đó cán bộ quản lý, giảng viên đánh giá mức độ cần thiết ở mức ( X = 2.95). Hình như bản thân sinh viên nhận thấy tầm quan trọng của động cơ học tập, động cơ nghề nghiệp ảnh hưởng đến học tập nói chung và học tập ngoài lớp nói riêng. Song cán bộ quản lý, giảng viên thì có thể cho rằng sinh viên đã vào trường cao đẳng hay đại học thì đã có động cơ học tập, nhất là động cơ nghề nghiệp rồi nên không cần bồi dưỡng, nâng cao nữa.

Tìm hiểu mức độ cần thiết của từng biện pháp trong mỗi nhóm biện pháp quản lý học ngoài lớp của sinh viên, kết quả được phân tích ở từng bảng dưới đây

2.3.2 Đánh giá chung về mức độ thực hiện của các biện pháp Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

  • Biểu đồ 2.6 – Đánh giá chung mưc độ thực hiện các biện pháp quản lý học ngoài lớp của sinh viên sư phạm

Nhìn vào đồ thị 2.6, chúng tôi thấy 4 nhóm biện pháp quản lý hoạt động học ngoài lớp của SV chỉ được SV, cán bộ quản lý,GV đánh giá thực hiện ở mức ít và chưa đạt kết quả ổn định ( X = 2.37 và 2.05). Trong đó:

  • Xếp thứ nhất, nhóm biện pháp “Quản lý nâng cao động cơ nghề nghiệp, động cơ học tập” được đánh ở mức trung bình cao ( X = 45, 2.27),
  • Thứ hai là nhóm biện pháp “Quản lý nội dung học ngoài lớp” được đánh giá ở mức ( X = 2.43 và 2.10),
  • Xếp thứ ba là nhóm biện pháp “Quản lý cơ sở vật chất phục vụ học ngoài lớp” được đánh giá thực hiện ở mức ( X = 32 và 1.94),
  • Cuối cùng là nhóm biện pháp “Kiểm tra, đánh giá kết quả học ngoài lớp của SV” được đánh giá thực hiện ở mức ( X = 18 và 1.90).

So sánh giữa nhận thức và thực hiện các biện pháp quản lý học ngoài lớp của sinh viên

  • Biểu đồ 2.7 – So sánh về nhận thức và thực hiện các biện pháp quản lý học ngoài lớp của sinh viên

Nhìn vào biểu đổ 2.7, chúng ta dễ dàng nhìn thấy sự chênh lệch giữa nhận thức và thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên. Rõ ràng là nhận thức về sự cần thiết của việc quản lý hoạt động học ngoài lớp của sinh viên là một chuyện, còn thực hiện chúng trong thực tiễn quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là chuyện khác.

Đánh giá của sinh viên tích cực hơn đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về vấn đề này. Theo chúng tôi, đánh giá chung của cán bộ quản lý, giảng viên – những chủ thể quản lý hoạt động học ngoài lớp thì đánh giá mức độ thực hiện của các biện pháp sát hợp hơn là ý kiến đánh giá của sinh viên về vấn đề này.

2.3.3. So sánh giữa các nhóm khảo sát về thực trạng học ngoài lớp

2.3.3.1 So sánh theo trình độ được đào tạo

Chúng tôi muốn tìm hiểu trình độ được đào tạo của sinh viên có ảnh hưởng đến kết quả đánh giá về các vấn đề liên quan đến học ngoài lớp của họ không? Kết quả kiểm nghiệm cho thấy có sự ảnh hưởng, đó là:

Sinh viên năm thứ III đánh giá về các vấn đề liên quan đến học ngoài lớp cao hơn ý kiến đánh giá của sinh viên năm I về vấn đề này. Theo chúng tôi, vì học năm thứ III có nhiều nhiệm vụ tự học nên sinh viên cảm nhận rõ ràng, đầy đủ về các vấn đề liên quan đến học ngoài lớp. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

  • Nhìn vào biểu đồ 2.8, chúng tôi thấy:

Tầm quan trọng của hoạt động học tập ngoài lớp, kết quả kiểm nghiệm cho thấy sinh viên năm thứ I có nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn nhận thức của SV năm thứ III về vấn đề này ( X I = 3.18, X III = 2.99, P = .000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa).

  • Biểu đồ 2.8 – So sánh đánh giá của SV năm I so với SV năm III về các vấn đề liên quan đế học tập ngoài lớp

Thực trạng học tập ngoài lớp của sinh viên, kết quả kiểm nghiệm cho thấy sinh viên năm III thực hiện thường xuyên, có kết quả hơn sinh viên năm thứ I về hoạt động học tập này ( X I = 2.81, X III = 3.20, P = .000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa). Điều này có thể do sinh viên năm III có nhiều nhiệm vụ học tập ngoài lớp do giảng viên yêu cầu cần phải hoàn thành, và cũng do sinh viên đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, phương pháp học tập ngoài lớp từ năm thứ I, năm thứ III nên học tập ngoài lớp đạt kết quả tốt hơn so với sinh viên năm I.

Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đến hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên, ý kiến đánh giá của nhóm sinh viên năm I so với nhóm sinh viên năm III là tương đồng với nhau ( X I = 3.16, X III = 3.21, P >α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận không có sự khác biệt ý nghĩa).

Sự cần thiết phải quản lý hoạt động học tập ngoài lớp, kết quả kiểm nghiệm cho thấy có sự khác biệt ( X I = 2.38, X III = 2.89, P = .000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa).

Riêng thực trạng quản lý hoạt động học tập ngoài lớp, chúng tôi nhận thấy sinh viên năm III đánh giá cao hơn so với đánh giá của sinh viên năm I về cả hai phương diện sự cần thiết ( X I = 2.81, X III = 3.21, P = .000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa), và mức độ thực hiện ( X I = 25, X III = 3.22, P = .000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa). Điều này có thể do sinh viên năm III phải thực hiện nhiều hoạt động học tập ngoài lớp nên họ thấy rất cần có sự can thiệp, giúp đỡ từ các lực lượng, các nguồn lực trong nhà trường.

2.3.3.2. So sánh theo chuyên ngành đào tạo

Bảng 2.9, cho thấy có sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên thuộc các chuyên ngành khác nhau trong mẫu khảo sát về các vấn đề về hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên.

Xét toàn thể, sinh viên khoa Giáo dục Mầm non và sinh viên khoa Mỹ thuật đánh giá về các vấn đề liên quan đến hoạt động học tập ngoài lớp cao hơn hẳn mức đánh giá của SV học chuyên ngành sư phạm Âm nhạc và Giáo dục đặc biệt ( X = 2.86; X = 2.85 so với X = 2.74 và X = 2.72, P = 0.00 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa). Có thể do khối lượng bài tập làm ở nhà nhiều nên sinh viên có nhiều hiểu biết về học tập ngoài lớp.

Bảng 2.9: Bảng so sánh tương quan giữa các khoa

  • Xét riêng từng bình diện, chúng tôi nhận thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động học tập ngoài lớp, kết quả kiểm nghiệm cho thấy sinh viên khoa Âm nhạc ( X AN = 3.17) và Mỹ thuật ( X MT = 3.15) có nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn nhận thức của sinh viên khoa Giáo dục Mầm non ( X MN = 3.07) và Giáo dục Đặc biệt ( X Giáo dục Đặc biệt = 08) về vấn đề này, P =.000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa).

Đánh giá thực trạng học tập ngoài lớp của sinh viên, kết quả kiểm nghiệm cho thấy sinh viên khoa Giáo dục Mầm non thực hiện thường xuyên, có kết quả hơn ( X MN = 2.86) sinh viên các khoa khác, đặc biệt cao hơn hẳn ý kiến đánh giá của nhóm sinh viên khoa Giáo dục Đặc biệt ( X Giáo dục Đặc biệt = 2.70) về vấn đề này [P=.000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa]. Điều này có thể hoặc do sinh viên khoa Giáo dục Mầm non có nhiều nhiệm vụ học tập ngoài lớp theo sự hướng dẫn của giảng viên, hoặc do yêu cầu của các ngành sư phạm Âm nhạc, Mỹ thuật, Giáo dục Đặc biệt là số tiết thực hành tại lớp nhiều (Ví dụ: thực hành trên đàn, vẽ cảnh, vẽ theo mẫu, thực hành trên cháu,…)

Xác nhận sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đến hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên, ý kiến đánh giá của sinh viên khoa Mỹ thuật ở mức cao nhất ( X MT = 36) và ý kiến của nhóm sinh viên khoa Giáo dục Đặc biệt là thấp nhất ( X Giáo dục Đặc biệt = 2.12). Sở dĩ đánh giá của sinh viên khoa Giáo dục Đặc biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến học ngoài lớp chính là do các em ít có vốn tri thức, vốn sống liên quan đến việc giáo dục trẻ khuyết tật, chưa có phong cách học tập với các chuyên gia về lĩnh vực giáo dục đặc biệt.

Nhận thức về sự cần thiết phải quản lý hoạt động học tập ngoài lớp, kết quả kiểm nghiệm cho thấy sinh viên khoa Giáo dục Mầm non nhận thức cao hơn sinh viên các khoa khác ( X MN = 76, P = .000 < α với mức ý nghĩa 0.01, xác nhận có sự khác biệt ý nghĩa). Điều này có thể do SV khoa Giáo dục Mầm non phải thực hiện nhiều hoạt động học tập ngoài lớp nên họ thấy rất cần có sự can thiệp, giúp đỡ từ các lực lượng, các nguồn lực trong nhà trường.

Đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động học tập ngoài lớp, chúng tôi nhận thấy ý kiến của sinh viên khoa Giáo dục Mầm non và khoa Mỹ thuật tương đồng với nhau ( X = 2.42). Riêng sinh viên khoa Âm nhạc đánh giá về vấn đề này ở mức thấp nhất ( X AN = 09). Điều này có thể do tính chất đặc thù của chuyên ngành học, sinh viên tự đề ra các yêu cầu để luyện tập và việc luyện tập của họ diễn ra ở những không gian khác nhau, ở nhà riêng nên việc quản lý trở nên mờ nhạt đối với hoạt động học tập ngoài lớp.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

Sinh viên trường CĐSP TW TP.HCM nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của học tập ngoài lớp song chưa đầy đủ và sâu sắc. Sinh viên vẫn chưa tự giác, tích cực học tập ngoài lớp để bổ sung, hoàn thiện kiến thức phục vụ cho nghề nghiệp tương lai mà vẫn phụ thuộc vào những yêu cầu, nhiệm vụ học tập do giảng viên đề xuất hoặc do áp lực của thi và kiểm tra. Vì thế, hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên chưa được thực hiện thường xuyên và chưa đạt được kết quả cao, ổn định.

Sinh viên và cán bộ quản lý, GV đều cho rằng học tập hoạt động học tập ngoài lớp chịu ảnh hưởng, chi phối bởi các yếu tố thuộc cấu trúc của hoạt động dạy học, trong đó, nhiều nhất là từ giảng viên, sau đó là từ bản thân sinh viên.

CBQL, GV và sinh viên đều nhận thức được sự cần thiết của công tác quản lý hoạt động học tập ngoài lớp của sinh viên, song sự nhận thức này vẫn chưa toàn diện, đều khắp. Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý học tập ngoài lớp chỉ đạt ở mức khá hoặc trung bình.

Sinh viên năm thứ III đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động học tập ngoài lớp, sự cần thiết của công tác quản lý học tập ngoài lớp cũng như mức độ thực hiện các biện pháp quản lý này ở mức cao hơn so với mức đánh giá của sinh viên năm I về vấn đề này.

Sinh viên học chuyên ngành Mầm non và sư phạm Mỹ thuật xác nhận về các vấn đề liên quan đến hoạt động học tập ngoài lớp cao hơn sinh viên học chuyên ngành sư phạm Âm nhạc và Giáo dục Đặc biệt.

Cần xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động học tập ngoài lớp một cách phù hợp góp phần nâng cao chất lượng học ngoài lớp của sinh viên và chất lượng dạy học của nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động học ở trường Sư phạm

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Contact Me on Zalo
0877682993
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x