Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của quy mô ngân hàng, rủi ro tài trợ và rủi ro tín dụng đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả và xem xét sự tương quan trong mẫu nghiên cứu

4.1.1. Thống kê mô tả

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu

Tên biến Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
ZSCORE 330 26.65 14.72 0.62 80.20
SIZE 330 3.48 0.04 3.41 3.56
FUNDRISK 330 13.78 4.64 2.19 23.62
NPL 330 0.02 0.01 0.00 0.09
ROE 330 0.09 0.08 -0.82 0.27
LTA 330 0.60 0.12 0.17 0.84
LIQ 330 0.14 0.08 0.01 0.61
CTA 330 0.02 0.01 0.00 0.05
ETA 330 0.09 0.04 0.03 0.24
INF 330 0.05 0.05 0.01 0.19
GDP 330 0.06 0.01 0.03 0.07

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata 14 Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

ZSCORE có giá trị trung bình là 26.65, độ lệch chuẩn 14.72, giá trị nhỏ nhất là 0.62 giá trị lớn nhất là 80.20. Khi so sánh giá trị các quan sát với giá trị trung bình, cho thấy chênh lệch chỉ số Zscore giữa các quan sát là tương đối lớn. Sự chênh lệch này không phải chỉ do sự khác biệt giữa các ngân hàng, mà còn do chính sự biến động của từng ngân hàng qua thời gian. Điều này cho thấy sự ổn định của các NHTM trong mẫu nghiên cứu có sự khác biệt.

SIZE có giá trị trung bình là 3.48, độ lệch chuẩn 0.04, giá trị trung bình của biến SIZE giao động từ 3.41 đến 3.56. Tuy rằng có sự khác biệt về quy mô tài sản giữa các ngân hàng tại mỗi thời điểm và sự gia tăng tài sản của từng ngân hàng qua thời gian là rất lớn; nhưng khi logarit hóa giá trị tổng tài sản các đối tượng quan sát thì sự chênh lệch giữa giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất không còn nhiều.

FUNDRISK có giá trị trung bình là 13.78, độ lệch chuẩn 4.64, giá trị nhỏ nhất 4.64, giá trị lớn nhất 23.62. Rủi ro tài trợ của các NHTM Việt Nam cũng có sự khác biệt đáng kể trong thời gian nghiên cứu do độ lệch chuẩn cũng khá lớn.

NPL có giá trị trung bình là 0.02, độ lệch chuẩn 0.01, giá trị nhỏ nhất là 0.0, giá trị lớn nhất là 0.09 cho thấy rủi ro tín dụng của các NHTM không có chênh lệch nhiều và nằm trong mức kiểm soát của các NHTM.

ROE có giá trị trung bình là 0.086, độ lệch chuẩn 0.084, có nghĩa giá trị trung bình của biến ROE giao động từ 0,09 đến 0,1752, giá trị nhỏ nhất là -0,82, giá trị lớn nhất là 0,27. Kết hợp bảng dữ liệu gốc và bảng thống kê mô tả, tác giả nhận thấy có sự khác biệt lớn về hiệu quả kinh doanh giữa các ngân hàng là do khả năng của từng ngân hàng.

LTA có giá trị trung bình là 0.60 cho cho vay trên tổng tài sản là 60%. Độ lệch chuẩn của LTA giữa các NHTM trong mẫu nghiên cứu qua các năm cũng không quá cao: 0.12, LTA thấp nhất là 0.17, cao nhất là 0.84.

LIQ có giá trị trung bình là 0.14, độ lệch chuẩn của các NHTM trong mẫu nghiên cứu không có sự khác biệt đáng kể 0.08, giá trị nhỏ nhất là 0.01, giá trị lớn nhất là 0.61

CTA có giá trị trung bình là 0.02. Độ lệch chuẩn của CTA giữa các NHTM trong mẫu nghiên cứu qua các năm cũng khá cao: 0.01 cho thấy mức độ sử dụng chi phí trên tổng tài sản của các NHTM khá khác biệt, LTA thấp nhất là 0.00, cao nhất  là 0.05.

ETA có giá trị trung bình là 0.09 cho thấy vốn chủ sở hữu của ngân hàng chiếm tỷ trọng khá thấp trong tổng tài sản, độ lệch chuẩn của ETA giữa các NHTM trong mẫu nghiên cứu qua các năm cũng không quá cao: 0.04, thấp nhất là 0.026, cao nhất là 0.02.

GDP có giá trị trung bình là 0.06, độ lệch chuẩn 0.02, cho thấy tính ổn định của tăng trưởng kinh tế Việt Nam, biến động xoay quanh giá trị trung bình rất thấp với, giá trị nhỏ nhất là 0.026 (năm 2012), giá trị lớn nhất 0.071 (năm 2018).

INF có giá trị trung bình là 0.05, độ lệch chuẩn 0.05, có nghĩa giá trị trung bình của biến INF giao động từ 0,0186 đến 0,1136, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn năm 2009-2018 có sự thay đổi rất lớn, giá trị nhỏ nhất là -0.002 (năm 2015), giá trị lớn nhất là 0.187 (năm 2011). Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

4.1.2. Phân tích tương quan của các biến độc lập trong mô hình

Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến giải thích trong mô hình

  ZSCORE SIZE FUND RISK NPL ROE LTA LIQ CTA ETA INF GDP
ZSCORE 1
SIZE 0.06 1
FUNDRISK -0.19 0.05 1
NPL 0.16 -0.23 -0.10 1
ROE 0.04 0.44 0.11 -0.21 1
LTA 0.17 0.37 0.17 -0.10 0.29 1
LIQ -0.22 -0.23 0.00 -0.04 -0.03 -0.50 1
CTA -0.30 -0.21 0.10 0.13 -0.07 0.12 -0.13 1
ETA 0.16 -0.63 0.08 0.19 -0.09 -0.12 0.07 0.43 1
INF 0.14 -0.25 -0.09 0.26 -0.04 -0.37 0.40 0.10 0.25 1
GDP -0.02 -0.15 0.01 -0.01 -0.14 -0.06 -0.06 0.08 -0.01 0.10 1

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata 14

Ma trận tương quan nhằm xác định sự tác động cũng như mức độ tác động của các biến độc lập theo từng cặp. Điều này giúp ta thấy được các cặp biến độc lập nào có tương quan với nhau, có ảnh hưởng đến nhau trong mô hình Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình theo số liệu bảng 4.2 có giá trị không cao, đều dưới 0.8 theo chuẩn so sánh theo Farrar và Glauber (1967). Cặp biến SIZE-ROE có hệ số tương quan cao là 0.44, CẶP biến LIQ-ROA có hệ số tương quan cao nhất là 0.5 cho thấy mô hình có thể xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Phần tiếp theo, tác giả sử dụng các ước lượng phù hợp để khắc phục hiện tượng này để tìm ra mô hình ước lượng vững và hiệu quả nhất.

4.2. Kết quả mô hình hồi quy Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Tác giả đã tiến hành hồi quy dữ liệu bảng được thu thập với ba phương pháp ước lượng đó là Pooled OLS, REM và FEM để xác định mức độ ảnh hưởng của các biên độc lập đến biến phụ thuộc thông qua các hệ số ước lượng. Kết quả chi tiết của việc phân tích hồi được trình bày trong Phụ lục 1. Kết quả hồi quy được tác giả tổng hợp vào bảng 4.3 cụ thể như sau:

Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả hồi quy Pooled OLS, REM và FEM

Các nhân tố ảnh hưởng Mô hình Pooled OLS Mô hình REM Mô hình FEM
SIZE 4.653478*** -4.5113821*** -3.923333***
FUNDRISK -.28365159*** -0.0397699 -0.06404737
NPL 4.3076053** 1.6276761*** 1.699047***
ROE -.72556948** 1.5801626*** 1.5184908***
LTA 1.2336175*** 0.34828465*** 0.33519543***
LIQ -1.9240441*** .37021147*** .31366102***
CTA -60.890385*** -2.8100022** -3.6461223**
ETA 8.5334817*** 9.0828517*** 9.1293781***
INF 3.3264568*** -.88053342*** -.77590598***
GDP 1.1663105 -0.37595222 -0.24220515
_cons -12.832197*** 17.806349*** 15.838083***
R-Squared 0,4616 0.4421 0,4417
***,** và * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata 14

4.2.1. Các kết quả kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Đầu tiên, tác giả sử dụng mô hình bình phương bé nhất (OLS), sau đó thực hiện kiểm định VIF để đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình OLS với giả thuyết:

  • H0: Mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến
  • H1: Mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến

Kết quả Bảng 4.4 cho thấy hệ số VIF của mô hình là: 2.58 <10, phụ lục 2 thể hiện đa số các biến đều giá trị VIF <10 vì vậy chấp nhận giả thuyết H0. Kết luận: Mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập.

Bảng 4.4: Tóm tắt các kết quả kiểm định mô hình

Biến phụ thuộc ZSCORE
Giá trị trung bình VIF 1.58
Kiểm định White chi2(65)     =    155.87 Prob > chi2 =  0.0000
Kiểm định Fisher F(29, 290) = 378.65 Prob > F = 0.0000
Kiểm định Wald chi2 (30)  =     1805.58 Prob>chi2 = 0.0000
Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian chibar2(01) =   718.12 Prob > chibar2 = 0.0000
Kiểm định Hausman chi2(10) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B)= 12.35 Prob>chi2 =      0.2623
Kiểm định Wooldridge F(1, 29) =  36.082 Prob > F = 0.0000
Kiểm định Durbin WuHausman chi2(10) = (b-B)’ [(V_b-V_B)^(-1)](b-B) = 00.00 Prob>chi2 = 1.0000
Hệ số tự tương quan bậc 2 – Kiểm định Abond z =   -0.64      Pr > z =  0.522
Kiểm định Sargan chi2(14)     =  12.17 Prob > chi2  =    0.593

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata 14 Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Sau đó, tác giả thực hiện kiểm định White để đánh giá hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình OLS với giả thuyết:

  • H0: Mô hình OLS không có hiện tượng phương sai thay đổi
  • H1: Mô hình OLS xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi

Kết quả kiểm định White, kết quả cho thấy p-value của mô hình OLS là 0.0000 < 5% (Bảng 4.4) nên bác bỏ H0, chấp nhận H1: mô hình OLS xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.

Tiếp theo tác giả chạy mô hình các nhân tố ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình này có thể loại bỏ được các nhân tố không quan sát, không đo lường được và không thay đổi theo thời gian nhưng có tác động lên sự ổn định của NHTM. Trên kết quả hồi quy của mô hình FEM có kết quả kiểm định Fisher để lựa chọn mô hình OLS hay FEM.

Thông tin bảng 4.4 cho thấy hệ số Fisher có p-value = 0.0000< 5% nên chấp nhận mô hình FEM.

Đối với mô hình FEM, tác giả thực hiện kiểm định Wald để đánh giá xem mô hình này có bị phương sai thay đổi hay không với giả thuyết:

  • H0: Mô hình FEM không có hiện tượng phương sai thay đổi
  • H1: Mô hình FEM xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi

Kết quả bảng 4.4. cho thấy kiểm định này có hệ số p-value = 0.0000<5% nên Mô hình FEM xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi

Tiếp theo, tác giả chạy mô hình REM xem xét các nhân tố không quan sát được, thay đổi theo thời gian và có tác động đến rủi ro thanh khoản; chúng là các biến số ngẫu nhiên, không tương quan với các biến giải thích khác trong mô hình REM.

Để lựa chọn mô hình thích hợp để nghiên cứu giữa Pooled OLS và REM, tác giả sử dụng kiểm định Breusch-Pagan với giả thuyết:

  • H0: Không có sự khác biệt giữa các chủ thể (mô hình Pooled OLS phù hợp hơn)
  • H1: Tồn tại hiệu ứng dữ liệu bảng (tức là mô hình REM phù hợp hơn)

Hệ số Prob > Chibar2= 0,0000 < 0,05 vì vậy bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1 đồng nghĩa mô hình REM phù hợp để nghiên cứu hơn

Giữa mô hình FEM REM, tác giả thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn với giả thuyết kiểm định:

  • H0: Không có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư (mô hình REM phù hợp)
  • H1: Có tương quan giữa các biến các biến độc lập và phần dư (mô hình FEM phù hợp)

Bảng 4.4. cho thấy p-value = 0.2623 > 5% nên mô hình REM được chọn, chấp nhận giả thuyết H1.

Để đảm bảo điều kiện không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình, tác giả tiến hành thực hiện kiểm định Wooldridge với giả thuyết: Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

  • H0: Không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM
  • H1: có hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM

Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan cho thấy hệ số Prob > F = 0,0000<0,05 vì vậy bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1 nên có hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM.

Tuy nhiên với dữ liệu bảng, ảnh hưởng của biến trễ ZSCORE có thể làm cho mô hình bị hiện tượng nội sinh, nên tác giả thực hiện kiểm định nội sinh bằng phương pháp kiểm định của Durbin Wu-Hausman (Beck và cộng sự, 2013) với giả thuyết như sau:

  • H0: Không có hiện tượng nội sinh quan trong mô hình REM
  • H1: có hiện tượng nội sinh trong mô hình REM

Kết quả kiểm định nội sinh Durbin Wu-Hausman cho thấy p-value = 1.000>5% nên chấp nhận giả thuyết H1, mô hình bị nội sinh.

Để khắc phục hiện tượng nội sinh của mô hình, tác giả sử dụng mô hình GMM sai phân. Sau khi có kết quả mô hình GMM hệ thống (System GMM – SGMM), tác giả thực hiện kiểm định tự tương quan bậc 2 Arellano – Bond và Sargan (Bảng 4.4), cho thấy:

Hệ số p = 0.522 > 5% của kiểm định Abond cho thấy mô hình SGMM không xảy ra hiện tượng tự tương quan bậc 2 và kiểm định Hansen p = 0.593 > 5% cho thấy mô hình SGMM không xảy ra hiện tượng nội sinh. Vì vậy, kết quả mô hình SGMM có thể được sử dụng để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021.

4.2.2. Kết quả mô hình hồi quy

Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp GMM hệ thống

Biến độc lập ZSCORE
Hệ số hồi quy
SIZE 3.8818663***
FUNDRISK 0.61261698**
NPL -12.690418***
ROE -0.75176498
LTA 0.58315572**
LIQ 2.9050985***
CTA -45.180666***
ETA 1.2029357
INF -2.8641253***
GDP 0.32361395
L1.ZSCORE 0.76960341***
_cons -12.774525***
Số quan sát 300
Số đối tượng 30
Prob > chi2 0.0000
Số biến công cụ 26
***,** và * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata 14

Với biến phụ thuộc là ZSCORE sau khi sử dụng SGMM để khắc phục hiện tượng tự tương quan, phương sai sai số thay đổi và nội sinh, mô hình có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 1% (do Prob =0,0000) nên mô hình hồi quy được xây dựng là phù hợp.

4.2.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Bảng 4.6: Tóm tắt giả thuyết và kết quả nghiên cứu

Biến độc lập FGAP
Giả thuyết Kết quả
Ảnh hưởng Ảnh hưởng Mức ý nghĩa
SIZE + + Có ý nghĩa thống kê 1%
FUNDRISK + + Có ý nghĩa thống kê 5%
NPL Có ý nghĩa thống kê 1%
ROE + Không có ý nghĩa thống kê
LTA + + Có ý nghĩa thống kê 5%
LIQ + + Có ý nghĩa thống kê 1%
CTA Có ý nghĩa thống kê 1%
ETA + + Không có ý nghĩa thống kê
INF Có ý nghĩa thống kê 1%
GDP + + Không có ý nghĩa thống kê
L1.ZSCORE + + Có ý nghĩa thống kê 1%

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu từ phần mềm Stata 14

Bảng 4.6 cho thấy kết quả nghiên cứu có chiều hướng tác động tương đồng với giả thuyết ban đầu mà tác giả kỳ vọng, có biến ROE cho kết quả ngược. Sau đây là những phân tích về kết quả mô hình ảnh hưởng của quy mô ngân hàng, rủi ro tài trợ và rủi ro tín dụng đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021:

  • Quy mô ngân hàng – SIZE

Quy mô ngân hàng có hệ số hồi quy là 3.8818 cho thấy SIZE có tác động cùng chiều đến sự ổn định của ngân hàng ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả này đúng với kỳ vọng ở giả thuyết H1 đặt ra của mô hình nghiên cứu. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của (Adusei (2015), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020), Tăng Mỹ Sang (2020). Nếu các ngân hàng hoạt động kinh doanh tốt, đạt lợi nhuận cao thì việc mở rộng quy mô sẽ tạo ra được nhiều cơ hội để thu hút khách hàng từ đó nâng cao sự ổn định của ngân hàng từ việc huy động được nhiều hơn tiền gửi). Kết quả này ủng hộ cho về lý thuyết kinh tế quy mô.

  • Rủi ro tài trợ – FUNDRISK: Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Rủi ro tài trợ có hệ số hồi quy là 0.6126 cho thấy FUNDRISK có tác động cùng chiều đến sự ổn định của ngân hàng ở mức ý nghĩa thống kê 5%. Kết quả này đúng với kỳ vọng ở giả thuyết H2 đặt ra của mô hình nghiên cứu. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả Enkhbold và Otgonshar (2013), Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020). Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết tấm đệm của vốn ngụ ý rằng các ngân hàng có tấm đệm của vốn tương đối thấp thì sẽ cố gắng xây dựng lại tấm đệm vốn thích hợp hơn bằng cách huy động vốn nhiều hơn và các ngân hàng có tấm đệm của vốn tương đối cao thì sẽ cố gắng duy trì tấm đệm này. Vốn càng nhiều thì càng có khuynh hướng hấp thụ các cú sốc bất lợi càng tốt và do đó sẽ gia tăng khả năng ổn định của ngân hàng cũng như giảm khả năng phá sản của ngân hàng.

  • Rủi ro tín dụng (NPL)

Rủi ro tín dụng thông qua tỷ lệ NPL có hệ số hồi quy -12.6904 cho thấy NPL có tác động ngược chiều đến sự ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam với mức ý nghĩa 1%, phù hợp với giả thuyết H3 của mô hình và phù hợp với nghiên cứu của các tác giả: Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Chand và cộng sự (2021), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020). Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết thông tin bất cân xứng của Akerlof (1970), đối với hoạt động tín dụng, nếu ngân hàng không có đầy đủ thông tin của khách hàng vay vốn thì có thể xảy ra rủi ro không thu hồi được gốc, lãi và nợ xấu gia tăng và làm giảm sự ổn định của ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu của các biến kiểm soát trong mô hình:

  • Tỷ lệ lợi nhuận (ROE)

ROE trong bảng kết quả nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê nên không cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa ROE và sự ổn định của ngân hàng. Kết quả này không giống như kết quả nghiên cứu của các tác giả: Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020), Tăng Mỹ Sang (2020), Nguyễn Quốc Anh và Dương Nguyễn Thanh Phương (2021), Nguyễn Thị Hương và Nguyễn Thị Thu Huyền (2022).

  • Tỷ lệ Dư nợ cho vay / Tổng tài sản (LTA)

Biến LTA có hệ số hồi quy 0.5831 cho thấy tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam với mức ý nghĩa 5%, phù hợp với giả thuyết H5 của mô hình và nghiên cứu của Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020), Tăng Mỹ Sang (2020).

  • Tỷ lệ tài sản thanh khoản /tổng tài sản (LIQ)

Biến LIQ có hệ số hồi quy 2.9050 với mức ý nghĩa 1% cho thấy LIQ tác động cùng chiều của tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng dư nợ đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam. Kết quả này phù hợp với kỳ vọng của tác giả ở giả thuyết H6 và các tác giả như: Adusei (2015), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020). Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt. Các NHTM có thanh khoản cao càng gia tăng tính ổn định thông qua sự gia tăng hấp thụ các cú sốc thanh khoản. Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

  • Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản (CTA)

Biến CTA có hệ số hồi quy – 45.1806 với mức ý nghĩa 1% cho thấy CTA tác động ngược chiều của chi phí hoạt động trên tổng tài sản đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam. Kết quả này phù hợp với kỳ vọng của tác giả ở giả thuyết H7 và các tác giả như: Otgonshar (2013), Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021). Kết quả cho thấy sự mất ổn định của các ngân hàng dường như có liên quan đến vấn đề quản trị của các ngân hàng.

  • Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA)

ETA trong bảng kết quả nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê nên không cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa ETA và sự ổn định của ngân hàng. Kết quả này không giống như kết quả nghiên cứu của các tác giả: Enkhbold và Otgonshar (2013), Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021)

  • Tỷ lệ lạm phát (INF)

Lạm phát có hệ số hồi quy là -2.8641 cho thấy INF tác động ngược chiều đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam với mức ý nghĩa 1%, phù hợp với giả thuyết H9 của mô hình và các nghiên cứu của Enkhbold và Otgonshar (2013), Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020), Tăng Mỹ Sang (2020), Nguyễn Quốc Anh và Dương Nguyễn Thanh Phương (2021), Nguyễn Thị Hương và Nguyễn Thị Thu Huyền (2022).

  • Tăng trưởng kinh tế (GDP) Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

 Tăng trưởng GDP không có ý nghĩa thống kê, khác với giả thuyết nghiên cứu H10 mà tác giả đề ra và các kết quả nghiên cứu của: Enkhbold và Otgonshar (2013), Adusei (2015), Khan và các cộng sự (2017), Ali và Puah (2018), Dahir và các cộng sự (2018), Kiemo và cộng sự (2019), Chand và cộng sự (2021), Nguyễn Quý Quốc và cộng sự (2020), Tăng Mỹ Sang (2020), Nguyễn Quốc Anh và Dương Nguyễn Thanh Phương (2021), Nguyễn Thị Hương và Nguyễn Thị Thu Huyền (2022).

  • Biến trễ sự ổn định ngân hàng (L.ZSCORE)

Kết quả nghiên cứu cho thấy biến trễ sự ổn định ngân hàng năm trước có tác động cùng chiều với năm sau vì hệ số hồi quy 0.7696 với mức ý nghĩa 1%.

Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đã trả lời được các câu hỏi nghiên cứu một cách cụ thể về vấn đề ảnh hưởng của quy mô ngân hàng, rủi ro tài trợ và rủi ro tín dụng đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô ngân hàng và rủi ro tài trợ có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam, rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng. Các biến kiểm soát có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng như: tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ thanh khoản, các biến kiểm soát có ảnh hưởng ngược chiều như: chi phí trên tổng tài sản, lạm phát; biến trễ sự ổn định có ảnh hưởng cùng chiều đến ZSCORE. Biến ETA, ROE và GDP không có ý nghĩa thống kê.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Trong Chương 4 dữ liệu thu thập được tác giả tiến hành tính toán, xử lý, thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy thông qua sự hỗ trợ của phần mềm STATA. Tác giả đã tiến hành phân tích ảnh hưởng của quy mô ngân hàng, rủi ro tài trợ và rủi ro tín dụng đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021. Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đã được tác giả tiến hành thông qua việc xác định ba mô hình hồi quy đó là POOLED OLS; mô hình hồi quy tác động cố định FEM, mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên REM và mô hình GMM. Từ đó, tác giả kiểm định sự phù hợp của ba mô hình và chọn ra mô hình phù hợp cuối cùng đó là mô hình GMM.

Kết luận của mô hình này cho thấy quy mô ngân hàng và rủi ro tài trợ có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam, rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng. Các biến kiểm soát có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng như: tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ thanh khoản, các biến kiểm soát có ảnh hưởng ngược chiều như: chi phí trên tổng tài sản, lạm phát; biến trễ sự ổn định có ảnh hưởng cùng chiều đến ZSCORE. Biến ETA, ROE và GDP không có ý nghĩa thống kê. Từ kết quả này tác giả cũng đã tiến hành kiểm định các giả thuyết đưa ra và định hình các khuyến nghị chính sách cho chương 5.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

5.1. Kết luận kết quả nghiên cứu

Tác giả thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô ngân hàng, rủi ro tài trợ và rủi ro tín dụng đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam xuất phát từ tính cấp thiết là các NHTM Việt Mam cần đảm bảo sự ổn định trong hoạt động. Dữ liệu thu thập từ 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn năm 2011 – 2021, cho thấy quy mô ngân hàng và rủi ro tài trợ có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam, rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng. Các biến kiểm soát có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng như: tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ thanh khoản, các biến kiểm soát có ảnh hưởng ngược chiều như: chi phí trên tổng tài sản, lạm phát; biến trễ sự ổn định. Biến ETA, ROE và GDP không có ý nghĩa thống kê. Luận văn đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đây là cơ sở để đề xuất những khuyến nghị chính sách ở phần tiếp theo.

5.2.  Khuyến nghị chính sách Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

5.2.1. Đối với NHTM Việt Nam

Một là, biến quy mô ngân hàng có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng nên các NHTM Việt Nam cần xem xét mở rộng quy mô ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động tương ứng, đảm bảo việc mở rộng quy mô trong tầm kiểm soát, từ đó nâng cao sự ổn định ngân hàng. Khi mở rộng quy mô của mình các ngân hàng cần lưu ý đến việc tập trung gia tăng các loại tài sản có tính thanh khoản cao để phòng ngừa cho các rủi ro.

Hai là, biến rủi ro tài trợ có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định của NHTM Việt Nam. Vì vậy các nhà quản trị ngân hàng cần xem xét đến vấn đề gia tăng huy động thông qua tiền gửi để giảm thiểu rủi ro tài trợ, gia tăng sự ổn định. Tuy nhiên việc gia tăng huy động cần tính toán hợp lý về tính kỳ hạn của tiền gửi và cho vay, tránh tình trạng mất thanh khoản thi khách hàng rút tiền ồ ạt.

Ba là, biến rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam nên các nhà quản trị cần xem xét các giải pháp hạn chế, giảm thiểu nợ xấu. NHTM cần phân loại và đánh giá chính xác tình hình nợ xấu hiện nay: Phân loại nợ xấu để có biện pháp riêng xử lý phù hợp. Nợ xấu của các NHTM là do không có khả năng chi trả của khách hàng, trong đó phần lớn là doanh nghiệp, mối tương tác hai chiều giữa hoạt động cấp tín dụng NHTM và quá trình sản xuất kinh doanh có mối liên hệ chặt chẽ, xử lý không tốt dẫn đến sự sụp đỗ dây chuyền cho nền kinh tế. Hơn nữa, các NHTM cần thực hiện công tác thanh tra, giám sát đảm bảo tuân thủ quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng. phối hợp VAMC xử lý các khoản nợ xấu, trích lập các khoản dự phòng đã bán cho VAMC, xử lý nguồn trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu, phát mãi tài sản bảo đảm cho các khoản vay để thu hồi nợ,  chủ động phối hợp với khách hàng trong việc xác định lại khả năng thực sự của khách hàng, nguồn tiền để trả nợ đang nằm ở dạng nào, ngân hàng chủ động thực hiện các giải pháp về cơ cấu lại nợ, ân hạn thêm thời gian trả nợ cho các cá nhân doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính tạm thời; hoặc ngân hàng sẽ hỗ trợ miễn giảm lãi suất để thực hiện các khoản cho vay mới, tạo thêm điều kiện để trả nợ ngân hàng.

  • Đối với các biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu: Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Một là, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có ảnh hưởng cùng chiều đến sự ổn định của NHTM Việt Nam. Vì vậy trong quá trình cho vay các NHTM cần xem xét vấn đề tăng trưởng tín dụng cao nhưng không để chất lượng tín dụng kém dễ dẫn đến nợ xấu tăng cao. Bên cạnh đó NHTM cần có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp để họ có thể tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí thấp nhất, các khoản mục cho vay phải dựa trên tiềm lực tài chính, dự án khả thi, và sức khỏe thực sự của doanh nghiệp, vì dòng vốn cho vay nếu không được sử dụng hiệu quả sẽ rất khó kiểm soát và gặp nhiều rủi ro.

Hai là, tỷ lệ thanh khoản có tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng nên NHTM Việt Nam cần phải phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý trong việc nắm giữ các tài sản thanh khoản để vừa đạt được mục tiêu lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh vừa duy trì tốt khả năng thanh khoản để đối phó với những tác động xấu của thị trường. Đồng thời, luôn duy trì và nâng cao khả năng thanh khoản thông qua việc xây dựng mối quan hệ ngày càng sâu sắc và toàn diện đối với những nhà cung cấp nguồn vốn lớn, truyền thống đi kèm với đa dạng hóa các nguồn huy động để tránh phụ thuộc vào số ít kênh nào đó.

Ba là, tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản có ảnh hưởng ngược chiều đến sự ổn định ngân hàng nên việc kiểm soát và sử dụng chi phí hợp lý là điều các nhà quản trị NHTM cần quan tâm để đảm bảo sự ổn định ngân hàng

5.2.2. Đối với NHNN

NHHN cần nâng cao vai trò định hướng trong quản lý và tư vấn cho các NHTM Việt Nam thông qua việc thường xuyên phân tích thông tin thị trường, đưa ra các dự báo và nhận định khách quan mang tính khoa học để các NHTM Việt Nam có cơ sở tham khảo và định hướng trong việc hoạch định chính sách thanh khoản vừa đảm bảo phát triển vừa phòng ngừa được rủi ro.

NHNN cần phải thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát có hiệu quả những hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam, đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững của hệ thống ngân hàng.

5.2.3. Đối với Chính phủ

Chính phủ cần có những chính sách hoạch định kích thích tăng trưởng nền kinh tế hay các chính sách tiền tệ hay tài khóa để có thể kiểm soát được tốc độ tăng trưởng trong nền kinh tế cũng như duy trì tốt tỷ lệ lạm phát của Việt Nam.

5.2.4. Hạn chế của đề tài

Thứ nhất, thời gian nghiên cứu của tác giả chỉ thu thập dữ liệu từ 30 NHTM VN trong thời gian 11 năm từ 2011 – 2021, chưa đủ thông tin cả hệ thống NHTM Việt Nam, số liệu nghiên cứu theo năm là khá chi tiết khi báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chậm nộp.

Thứ hai, nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá sự ổn định của NHTM dựa trên chỉ tiêu ZSCORE mà chưa đánh giá dựa trên các chỉ tiêu khác. Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

Thứ ba, vẫn còn nhiều nhân tố nội tại và vĩ mô chưa được xem xét trong mô hình có ảnh hưởng đến sự ổn định của các NHTM nên cần có thêm nhiều nghiên cứu khác cùng chủ đề.

5.2.5. Đề xuất hướng nghiên cứu mới

Từ những hạn chế nêu trên của bài viêt, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai là tăng số lượng mẫu nghiên cứu, tăng thêm các biến nội tại và vĩ mô, sử dụng các mô hình và phương pháp nghiên cứu khác nhau để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự ổn định của NHTM một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Xu hướng nghiên cứu mới tác giả sẽ kéo dài thời gian nghiên cứu thêm và sẽ nghiên cứu thêm các NHTM tại Việt Nam một cách đầy đủ hơn. Đồng thời sẽ dùng nhiều chỉ tiêu để đo lường sự ổn định ngân hàng để tìm ra sự đo lường hợp lý và chính xác cụ thể hơn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

Tại chương này tác giả đã tiến hành đưa ra những khuyến nghị để đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của các NHTM tại Việt Nam. Các khuyến nghị này không chỉ dừng lại ở chủ thế ngân hàng mà còn có cả các cơ quan có thẩm quyền. Nâng cao hiệu quả về việc hoạt động an toàn và giữ vững cơ cấu tài sản và nguồn vốn hợp lý là những giải pháp hợp lý để phòng tránh rủi ro. Đồng thời tại chương này tác giả cũng đã khái quát được những hạn chế cũng của nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo của mình với chủ đề này. Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Tác động của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả của quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993