Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Xây dựng giả thuyết:

Mục đích mà tác giả hướng đến là tìm ra những nhân tố tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2021. Trong luận văn này, giả thuyết được đưa ra như sau:

3.1.1. Dòng tiền hoạt động kinh doanh của công ty:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là dòng tiền quan trọng nhất trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ vì nó thể hiện khả năng tạo tiền từ nội tại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu trả nợ, chia lãi cho các chủ sở hữu và gia tăng đầu tư. Bản thân dòng tiền hoạt động kinh doanh cho thấy được dòng tiền thực mà doanh nghiệp đang có, chứ không phải các chỉ số sổ sách theo nghiệp vụ, là những gì thực thu và thực chi của một doanh nghiệp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh chính. Thậm chí chỉ cần việc có sự chênh lệch về tỷ trọng của dòng OCF với những dòng tiền còn lại đã là cảnh báo đáng quan ngại cho những nhà đầu tư. Bởi vì việc tập trung vào việc làm chính của doanh nghiệp (tức sản xuất, kinh doanh theo mục đích chủ đạo) mới là việc quan trọng nhất.

Theo Platt, H.D và Platt, M.B (2006); Võ Thị Thu Nguyệt (2007); Phạm Thị Hồng Vân (2005), tác giả đề xuất tỷ lệ dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (OCF) trên doanh thu thuần vào nghiên cứu của mình. Nếu tỷ lệ này thấp thể hiện doanh nghiệp đang không tập trung tối đa vào việc tạo ra dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chính hoặc có sự gia tăng các khoản phải thu hay thực chất nhằm thể hiện doanh nghiệp đang thực hiện chính sách nới lỏng nhằm gia tăng doanh thu bán hàng nhưng lợi nhuận vẫn chưa thu về thật sự.  Cũng ở phần các lý thuyết có liên quan mà tác giả có đề cập, bản chất của việc so sánh giữa OCF và doanh thu thuần đã là một sự đánh đổi. Tuy nhiên khi dòng tiền thực OCF chiếm tỷ trọng nhỏ luôn chứa ẩn rủi ro cho chính sách lựa chọn này của doanh nghiệp. Khi dòng tiền thực tế trong doanh nghiệp không cao là một điều hết sức nguy hiểm, từ đó suy ra chính sách này của doanh nghiệp sẽ là một yếu tố có thể dẫn đến kiệt quệ tài chính cho doanh nghiệp đó (nhất là khi đến hạn những khoản nợ). Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Giả thuyết H1: Các doanh nghiệp có Dòng tiền hoạt động kinh doanh càng thấp có dễ rơi vào rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

3.1.2. Đòn bẩy tài chính:

Bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản, tổng nợ bao gồm tất cả các loại nợ trên phần nợ của Bảng cân đối kế toán. Theo định đề I của M&M, trong thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp khi các quyết định đầu tư của doanh nghiệp đã có sẵn. Trong lý thuyết đánh đổi tác giả có đề cập ở trên, các doanh nghiệp lại quan tâm đến cấu trúc vốn vì việc sử dụng nhiều nợ có thể là một cấu trúc vốn hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp do lợi ích tấm chắn thuế từ nợ. Tuy nhiên điều này cũng gắn liền với rủi ro của doanh nghiệp nhất là khi doanh nghiệp không sử dụng nợ phù hợp với đặc điểm của mình, vấn đề lựa chọn thời gian và số lượng nợ không phù hợp là tiền đề dẫn đến khả năng kiệt quệ tài chính cao cho doanh nghiệp trong tương lai. Một doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao đôi khi quá thận trọng khi thực hiện quyết định đầu tư, dễ dàng bỏ qua những cơ hội đầu tư tốt, không tối đa giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, tỷ lệ nợ còn phản ảnh cứ một đồng tài sản được tài trợ từ bao nhiêu đồng nợ, chỉ số này càng lớn chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp thấp và ngược lại.

Từ lý thuyết nền tảng: lý thuyết đánh đổi cho thấy tồn tại một chi phí rủi ro kiệt quệ tài chính khi sử dụng nợ quá nhiều trên tổng tài sản; hay từ lý thuyết trật tự phân hạng cũng đã cho ta thấy các khoản nợ chỉ nằm ở mức ưu tiên thứ 2 (lý thuyết này bổ sung rõ nghĩa hơn cho lý thuyết đánh đổi), vì các khoản nợ luôn chứa đựng một chi phí và một rủi ro nhất định.

Theo John R.Graham, Solani Hazarika và Narasimhan (2011); Ohlson (1980); Wilson (2013); Võ Thị Thu Nguyệt (2007); Phạm Thị Hồng Vân (2005); Trần Thị Bích Ngọc (2013); Lương Trọng Đức (2012), tác giả đã đề xuất chỉ tiêu đòn bẩy tài chính vào nghiên cứu của mình, có thể đây là chỉ tiêu hầu như mọi nghiên cứu đề được đề xuất.

Giả thuyết H2: Doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng cao thì càng dễ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

3.1.3. Quy mô công ty:

Công ty nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và nhận nguồn hỗ trợ tài chính từ bên ngoài như ngân hàng, thị trường chứng khoán vì họ có ít tài sản hơn những công ty có quy mô lớn hơn để thế chấp, gây nhiều bất lợi cho công ty nhỏ trong việc vay nợ. Hay những công ty nhỏ ít có khả năng thuyết phục những nhà đầu tư góp vốn cho mình. Ngoài ra, các công ty nhỏ không có một bộ máy vững mạnh để điều hành, giúp đưa ra những quyết định kịp thời tại những thời điểm quan trọng. Những công ty nhỏ sẽ có cơ cấu quản lý đơn giản hơn so với những công ty lớn hay thậm chí sẽ không có những đội ngũ chuyên biệt thực hiện công việc giám sát, kiểm soát thị trường chuyên nghiệp để đưa những dự báo kịp thời cho doanh nghiệp. Những hành vi bất chính dễ nổi lên trong các công ty nhỏ gây ra hiện tượng thông tin bất cân xứng cho khách hàng, chủ nợ hay thậm chí là che mắt luôn cả những nhà quản trị. Vì bản thân giữa các chủ thể này luôn tiềm ẩn một mâu thuẫn về lợi ích nhất định (lý thuyết chi phí đại diện). Vậy những doanh nghiệp lớn sẽ có lợi thế trong việc kiểm soát những chi phí này. Theo Ohlson (1980); Phạm Thị Hồng Vân (2005); Võ Thị Thu Nguyệt (2007); Lương Trọng Đức (2012), tác giả đưa biến quy mô công ty vào nghiên cứu của mình.

Giả thuyết H3: Các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì càng ít có khả năng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

3.1.4. Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản ngắn hạn: Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Vốn lưu động ròng là nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn. Như vậy, trường hợp vốn lưu động ròng dương nghĩa là nguồn vốn dài hạn không chỉ đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn thừa để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Doanh nghiệp không lấy nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn hay nói cách khác, toàn bộ tài sản dài hạn của doanh nghiệp được tài trợ toàn bộ bằng các nguồn vốn ổn định, tức nguồn vốn dài hạn. Như vậy với câu hỏi đặt ra là một cơ cấu tài trợ như thế nào là thích hợp và làm giảm khả năng cho doanh nghiệp rơi vào khả năng kiệt quệ tài chính. Theo Solani Hazarika và Narasimhan (2011), Võ Thị Thu Nguyệt (2007) đề xuất, Lương Trọng Đức (2012) đề xuất; Trần Thị Bích Ngọc (2013), tác giả đề xuất đưa ra chỉ số Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản ngắn hạn để nghiên cứu về các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính ở nghiên cứu của mình và tiến hành kiểm định.

Chỉ tiêu này cho thấy tài sản ngắn hạn được tài trợ bao nhiêu phần trăm bởi nguồn vốn dài hạn. Nếu tỷ lệ này cao doanh nghiệp sẽ có cơ cấu tài chính an toàn, rủi ro thanh toán thấp, ngược lại là doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, rủi ro thanh toán sẽ cao nhưng đồng thời chi phí sử dụng vốn thấp. Tuy nhiên như nhận định ban đầu về kiệt quệ tài chính là “mất khả năng thanh toán”, nên tác giả sẽ xoay quanh lý thuyết để đưa ra cơ sở nhận định. Ở một vài nghiên cứu cùng liên quan đến kiệt quệ tài chính, thậm chí những tác giả xem đây là một chỉ tiêu tương đồng với tính thanh khoản của một doanh nghiệp. Từ 2 ý vừa nêu tác giả sẽ đưa ra giả thuyết cho chỉ số này.

Giả thuyết H4: Các doanh nghiệp có hệ số vốn lưu động ròng trên tài sản ngắn hạn càng cao thì càng ít có khả năng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. 

3.1.5. Lợi nhuận giữ lại chia tổng tài sản

Lợi nhuận giữ lại là thu nhập ròng (sau thuế) còn lại cho doanh nghiệp sau khi các công ty đã trả cổ tức cho các cổ đông. Việc giữ lại lợi nhuận giúp: Thứ nhất, đối với động cơ phòng ngừa, các doanh nghiệp duy trì được tính thanh khoản để phản ứng lại các tình huống bất ngờ không dự đoán trước được. Thứ hai, đối với động cơ giao dịch, giữ lại lợi nhuận để đáp ứng các hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp. Thứ ba, doanh nghiệp có thể giữ lại tiền mặt nội bộ để tận dụng các cơ hội đầu tư do sự hiện hữu của vấn đề bất cân xứng thông tin có thể làm tăng chi phí tài trợ bên ngoài, thậm chí có thể dẫn đến bỏ qua các cơ hội đầu tư có NPV dương. Vì thế, nhà quản trị nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt để giảm chi phí tài trợ bên ngoài. Thứ tư, đối với động cơ về thuế, các doanh nghiệp có thể thích giữ lại lợi nhuận hơn là chi trả cổ tức cho cổ đông để tránh phải nộp thuế trên cổ tức.

Như đã nêu ở trên, tác giả đề xuất tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản và dựa vào lý thuyết trật tự phân hạng, những nhà đầu tư hiện tại có nhiều thông tin hơn những nhà đầu tư mới. Điều này làm cho chi phí nguồn vốn mới được tài trợ trở nên đắt đỏ hơn so với nguồn vốn hiện tại. Vì vậy, doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ từ lợi nhuận giữ lại sẽ được ưu tiên hơn hết và làm giảm khả năng doanh nghiệp rơi vào kiệt quệ tài chính.

Tác giả dựa vào nghiên cứu của Edward I. Altman (1968,2000); Phạm Thị Hồng Vân (2005) đề xuất, để đưa yếu tố này vào mô hình của mình và cho ra giả thuyết. Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Giả thuyết H5: Các doanh nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản càng thấp càng dễ rơi vào kiệt quệ tài chính.

3.1.6. Lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho tổng tài sản

Ở đề tài như đã nêu ở trên tác giả có căn cứ vào EAT để phân loại một doanh nghiệp có rơi vào kiệt quệ tài chính hay không. Tuy nhiên nếu muốn xem xét đến yếu tố lợi nhuận trước thuế và lãi vay có tác động đến kiệt quệ tài chính hay không là một điều hết sức cần thiết. Ban đầu tác giả có đề cập đến quan điểm dòng tiền trong phần chương 2: tức một doanh nghiệp, nhà đầu tư thì yêu thích chỉ số lợi nhuận, còn những nhà quản trị thì yêu thích dòng tiền. Cũng trong chương này tác giả cũng đã đề cập đến lợi ích của việc quản trị doanh thu, chi phí với dòng tiền OCF.

Nhằm thể hiện tính toàn diện trong nghiên cứu, bên cạnh đề cao khả năng tạo tiền của doanh nghiệp thì việc có lợi nhuận cao cũng có đặc điểm hấp dẫn riêng của doanh nghiệp đó: ví dụ như chính sách bán hàng nới lỏng thực hiện rất tốt. Do vậy một doanh nghiệp có chỉ số lợi nhuận (loại bỏ tác động của thuế và lãi vay, vì chỉ tiêu lãi vay đã có đo lường trước đó thông qua EAT) càng cao, càng thể hiện chính sách bán hàng thu hút khách hàng rất tốt (doanh thu cao) và quản trị chi phí rất tốt (chi phí thấp). Tức nghĩa chỉ số này càng cao thì khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính càng thấp.

Dựa theo nghiên cứu của Edward I. Altman (2000); Ohlson (1980); Platt, H.D và Platt, M.B (2006); Võ Thị Thu Nguyệt (2007), tác giả đã dưa chỉ tỷ lệ này vào mô hình nghiên cứu của mình.

Giả thuyết H6: Các doanh nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản càng cao càng ít có khả năng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

3.1.7. Dòng tiền hoạt động kinh doanh chia tổng nợ

Thay vì việc đo lường khả năng trả nợ thông qua bảng cân đối kế toán (Doanh thu hay tài sản) việc đo lường bằng chỉ số này, tác giả nhằm nhấn mạnh vai trò của dòng tiền. Việc đề cao tính thanh khoản của dòng tiền thực thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh là điều rất đáng lưu ý. Tương tự những lập luận trên về dòng tiền, tỷ lệ dòng tiền hoạt động sản xuất kinh doanh trên tổng nợ, cho thấy khả năng đảm bảo các khoản nợ của doanh nghiệp bằng chính dòng tiền thực tạo từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Theo Wilson (2013) tác giả đề ra giả thuyết 7.

Giả thuyết H7: Các doanh nghiệp có tỷ lệ dòng tiền hoạt động kinh doanh trên chia tổng nợ càng cao càng ít có khả năng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.

3.2. Đề xuất mô hình nghiên cứu: Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

3.2.1. Điều kiện của dữ liệu thu thập và biến lựa chọn trong mô hình nghiên cứu:

Việc lựa chọn các biến và dữ liệu sử dụng trong mô hình phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Thứ nhất, số liệu được lựa chọn là số liệu từ bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ được doanh nghiệp công bố công khai theo số liệu trên trang www.vietstock.vn.

Thứ hai, các biến trong mô hình phải có đầy đủ dữ liệu cần thiết trong giai đoạn 2016 –2021 (đối với các doanh nghiệp bị hủy niêm yết thì phải có đủ dữ liệu từ năm niêm yết trở về năm 2014).

Thứ ba, mô hình hồi quy và các biến được lựa chọn phải là mô hình bao gồm các biến đã được các nhà kinh tế khác nghiên cứu và công bố trong các báo cáo trước đây.

3.2.2. Xây dựng mô hình nghiên cứu:

3.2.2.1. Mô hình nghiên cứu tổng quát:

Từ các biến đã lựa chọn ở phần trên và dựa vào cách tiếp cận của các nghiên cứu đã công bố trong và ngoài trước. Kết hợp với các giả thuyết đã nêu, tác giả đề xuất mô hình áp dụng trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính như sau:

Trong đó:

  • β0: Hệ số góc của mô hình  βi: Hệ số hồi quy của biến Xit
  • Xit: Các biến độc lập các nhau của doanh nghiệp i tại thời điểm t
  • t: thời gian: 1,2,3…6 năm  uit: phần dư của mô hình

3.2.2.2. Mô hình nghiên cứu cụ thể:

Tác giả sử dụng mô hình Binary Logistic cho mô hình nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) với biến phụ thuộc Y. Thay vì chúng ta ước lượng giá trị của biến phụ thuộc Y theo biến độc lập X như ở hồi quy đa biến, thì trong hồi quy Binary Logistic, chúng ta sẽ ước lượng xác suất xảy ra sự kiện Y (probability) khi biết giá trị X. Biến phụ thuộc Y có hai giá trị 0 và 1, với 0 là không xảy ra sự kiện và 1 là xảy ra sự kiện. Như vậy, biến Y nhận giá trị 1 nếu công ty xảy ra kiệt quệ tài chính trong bất cứ thời điểm nào trong năm 2016 – 2021, và Y nhận giá trị 0 trong trường hợp ngược lại:

Trong đó: 

  • − Pi: xác suất xảy ra sự kiện, trong trường hợp này là xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp.
  • − 1-Pi: Xác suất không xảy ra sự kiện, trong trường hợp này là xác suất không xảy ra kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp. 

3.2.3. Đo lường các biến: Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

3.2.3.1. Đo lường biến phụ thuộc:

Ở nghiên cứu này, với mong muốn là mang lại một minh chứng chuẩn thực nhất về những nhân tố tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp phù hợp với mẫu nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu của tác giả nhận thấy được cơ bản có 2 cách để xác định doanh nghiệp có rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay không (cách xác định biến phụ thuộc). Tác giả đưa cả 2 cách xác định này thành biến DIS cho mô hình 1 và biến DIS1 cho mô hình 2.

Mô hình 1: Tham khảo những nghiên cứu cùng lĩnh vực ở Việt Nam: Phạm Thị Hồng Vân (2005), Phạm Thị Ngọc Uyên (2015), Huỳnh Hữu Lập (2012), Trần Nhật Giang (2018), tác giả đưa ra nguồn dữ liệu để xác định công ty rơi vào kiệt quệ gồm có:

Công ty bị hủy niêm yết trên sàn HOSE, HNX (ngoại trừ trường hợp sáp nhập và chuyển sàn) trong giai đoạn từ 2016 – 2021 do thu thập được từ công ty VietStock hoặc tuyên bố phá sản hoặc chứng khoán bị đưa vào diện kiểm soát, cảnh báo.

Nguồn thứ hai là các công ty bị rơi vào diện kiểm soát hoặc cảnh báo yết trên sàn HOSE, HNX (chỉ xét trên 2 chỉ tiêu là lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối) trong giai đoạn từ 2016 – 2021.

  • Đây là cơ sở lựa chọn biến DIS cho mô hình số 1.

Mô hình 2: Tham khảo những nghiên cứu của nước ngoài cũng như áp dụng đánh giá tại Việt Nam: Trần Nhật Giang (2018), Huỳnh Cát Tường (2008), Atlman (1968,2000), cho thấy mô hình Z-core thích hợp để đo lượng khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của một doanh nghiệp. Từ đó tác giả lựa chọn biến DIS1 là biến phụ thuộc cho mô hình số 2 (các bước thực hiện mô hình Z-core được ghi nhận ở Phụ lục).

3.2.3.2. Đo lường biến độc lập:

Các biến độc lập được đo lường như sau:

  1. OCF: Dòng tiền hoạt động của công ty = ii. LEV: Đòn bẩy tài chính =  SIZE: Quy mô của công ty = Logarit thập phân của doanh thu
  2. VLĐRTSNH: Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản ngắn hạn
  3. RETA: Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản
  4. NITA: Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia tổng tài sản = OCFTL: Tỷ lệ dòng tiền hoạt động kinh doanh chính trên tổng nợ Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Bảng 3.1 Tổng hợp các biến độc lập

STT KÝ HIỆU GIẢI THÍCH BIẾN CÁCH TÍNH DẤU KỲ VỌNG NGUỒN THAM KHẢO
1. Dòng tiền hoạt động của công ty OCF   Platt, H.D và Platt, M.B (2006); Võ Thị Thu Nguyệt (2007); Phạm Thị Hồng Vân (2005) đề xuất
2. LEV Đòn bẩy tài chính   + John R.Graham, Solani Hazarika và Narasimhan (2011); Ohlson (1980); Wilson (2013); Võ Thị Thu Nguyệt (2007); Phạm Thị Hồng Vân (2005); Trần Thị Bích Ngọc (2013); Lương Trọng Đức (2012)
3. SIZE Quy mô của công ty Logarit thập phân của doanh thu Ohlson (1980); Phạm Thị Hồng Vân (2005); Võ Thị Thu Nguyệt (2007); Lương Trọng Đức (2012)
4. VLĐRT SNH Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên tài sản ngắn hạn   Solani Hazarika và Narasimhan (2011), Võ Thị Thu Nguyệt (2007) đề xuất, Lương Trọng Đức (2012) đề xuất; Trần Thị Bích Ngọc (2013) đề xuất
5. RETA Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản   Edward I. Altman (1968,2000); Phạm Thị Hồng Vân (2005) đề xuất
6. NITA Tỷ lệ lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia tổng tài sản Edward I. Altman (2000); Ohlson (1980); Platt, H.D và Platt, M.B (2006); Võ Thị Thu Nguyệt (2007);
7. OCFTL Tỷ lệ dòng tiền hoạt động   Wilson (2013)

3.3. Dữ liệu nghiên cứu: Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

3.3.1. Dữ liệu thu thập:

Tác giả thu thập dữ liệu thứ cấp của các công ty phi tài chính (loại bỏ các tổ chức tín dụng như: ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty tài chính, vì những công ty này có cơ cấu tài sản và vốn khác với các công ty sản xuất kinh doanh khác) trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) bằng cách sử dụng báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã kiểm toán của các công ty đó công bố công khai trong giai đoạn 2016 – 2021. Mẫu nghiên cứu của tác giả ban đầu bao gồm 697 công ty được niêm yết trên HOSE, HNX trong giai đoạn từ 2016 – 2021.

Tác giả thu thập dữ liệu kế toán của công ty từ các báo cáo tài chính của các công ty nói trên từ trang web www.vietstock.vn. Trang web này cung cấp một lịch sử ngắn gọn của công ty, bảng công đối kế kế toán, bảng kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ và các thông tin hữu ích khác.

Tác giả sử dụng hai cơ sở để xác định công ty có trở thành kiệt quệ trong giai đoạn 2016 – 2021. Thứ nhất, biến phụ thuộc cho mô hình số 1: (1) Nguồn đầu tiên là danh sách các công ty bị phá sản, hủy niêm yết trên sàn HOSE, HNX (ngoại trừ trường hợp sát nhập và chuyển sàn) trong giai đoạn từ 2016 – 2021 do thu thập được từ công ty Viet Stock. (2) Nguồn thứ hai là các công ty bị rơi vào diện kiểm soát hoặc cảnh báo yết trên sàn HOSE, HNX (chỉ xét trên 2 chỉ tiêu là lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối) trong giai đoạn từ 2016 – 2021. Thứ hai, biến phụ thuộc cho mô hình số 2: Tác giả đo lường theo mô hình Z-core để xác định doanh nghiệp có rơi vào trạng thái kiệt quệ tài chính hay không.

3.3.2. Xử lý dữ liệu: Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Bước 1: Đầu tiên trong 697 công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX tính đến thời điểm hiện tại, được thu thập từ trang web www.vietstock.vn giai đoạn từ 2016 – 2021, tác giả đã loại bỏ 74 Công ty không có số liệu đầy đủ và theo tiêu chuẩn đã đề ra ở trên.

Bước 2: Tác giả tiếp tục phân loại các công ty có được cho là kiệt quệ tài chính theo 2 điều kiện đã đề ra, tác giả được hai biến phụ thuộc DIS và DIS1.

Bước 3: Tác giả đã xây dựng bộ dữ liệu gồm 623 Công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX thời gian nghiên cứu là 6 năm từ 2016 – 2021, ta có kích cỡ mẫu gồm 3.738 quan sát.

Tác giả sử dụng phần mềm Excel để xử lý dữ liệu cơ bản để tính toán và tạo ra giá trị của những biến số cần phân tích trong mô hình. Từ đó xây dựng một dữ liệu dạng bảng thông qua việc kết hợp các chuỗi dữ liệu theo thời gian (từ 2016 – 2021) của các dữ liệu nghiên cứu theo không gian (các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam).

3.4. Phương pháp hồi quy:

3.4.1. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng:

Đối với dữ liệu bảng, có rất nhiều phương pháp để ước lượng hồi quy cho mô hình nghiên cứu. Mỗi phương pháp để có ưu nhược điểm của nó và hầu hết các nghiên cứu sử dụng từ mô hình phổ biến nhất đến phức tạp hơn, phù hợp với dữ liệu nghiên cứu.

Như đã trình bày ở trên, do biến phụ thuộc nhận giá trị là 0 và 1 nên mô hình hồi quy được lựa chọn trong mô hình nghiên cứu là mô hình logit. Với dữ liệu hồi quy là dữ liệu bảng thì có 2 mô hình thông dụng để chạy hồi quy là: mô hình các yếu tố ảnh hưởng cố định (Fixed Effect model – FEM) và mô hình các yếu tố tác động ngẫu nhiên (Random Effect model – REM). Mô hình FEM phân tích những khác biệt về các hệ số chặn của nhóm, trong khi đó giả sử rằng các độ dốc là giống nhau và sai số không đổi. Ngược lại, mô hình REM phân tích những thành phần của phương sai và sai số, trong khi giả sử rằng các hệ số chặn là không thay đổi và các độ dốc là giống nhau.

3.4.2. Trình tự thực hiện nghiên cứu định lượng: Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Bằng phương pháp xử lý số liệu và ước lượng hồi quy được trình bày ở phần trên, nghiên cứu thực hiện lần lượt theo trình tự sau:

3.4.2.1. Phân tích thống kê mô tả:

Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập nhằm có cái nhìn tổng quát nhất về mẫu nghiên cứu. Thông qua mô tả, tóm tắt thống kê các biến độc lập cho thấy được giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và bé nhất của từng biến nghiên cứu.

3.4.2.2. Phân tích hồi quy:

Sau khi phân tích tương quan kiểm tra có tồn tại mối tương quan giữa các biến hay không thì phân tích hồi quy được dùng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập với các biến phụ thuộc, qua đó cho biết chiều tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc. Phương pháp này sẽ cho phép tác giả đưa ra những bằng chứng xác thực để trả lời các câu hỏi nghiên cứu của luận văn. Thông qua phương pháp hồi quy Binary logistic, hằng số và các tham số của mô hình sẽ được ước lượng. Hệ số Prob (P-value) của kết quả phân tích hồi quy cho biết mức độ tác động của từng biến độc lập lên biến phụ thuộc. Các mức ý nghĩa thống kê thường được sử dụng là 1%, 5% hoặc 10% (hay nói cách khác độ tin cậy là 99%, 95% hoặc 90%). Trong luận văn này, tác giả chọn mức thống kê có ý nghĩa là 5%, tức là biến độc lập chỉ được xem là có ảnh hưởng mạnh đến biến phụ thuộc khi giá trị Prob của từng biến độc lập trong mô hình hồi quy nhỏ hơn 5% (p-value < 5%) và ngược lại.

Các bước thực hiện phân tích hồi quy và kiểm định trong đề tài này:

Bước 1: So sánh mô hình theo phương pháp FEM (tác động cố định) với phương pháp REM (tác động ngẫu nhiên), tác giả kiểm chứng bằng kiểm định Hausman cho cả mô hình 1 và mô hình 2.

Giả thuyết kiểm định được đưa ra:

  • H0: Mô hình REM là mô hình phù hợp
  • H1: Mô hình FEM là mô hình phù hợp

Bước 2: Sau khi lựa chọn phương pháp chạy mô hình phù hợp, kiểm định ý nghĩa các hệ số, đo lường độ chính xác cho cả mô hình 1 và mô hình 2. Nêu ý nghĩa của hệ số đo lường và sắp xếp mức độ tác động thì tác giả chỉ giải thích dựa trên mô hình số 1.

Luận văn trình bày theo đúng các bước và thực hiện các kiểm định theo đúng các bước và thực hiện các kiểm định nhằm đưa ra kết luận hợp cho nghiên cứu.

3.5. Sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

Sơ đồ 3.1. Sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Từ cơ sở lý thuyết nền tảng và những khung lý thuyết liên quan ở chương 2, tác giả đã đưa ra 7 giả thuyết ban đầu liên quan đến các nhân tố tác động đến kiệt quệ tài chính. Ngoài ra, tác giả đã trình bày dữ liệu nghiên cứu, xác định các biến nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cùng các mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả sẽ trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả trong chương 4. Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính
Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính
1 năm trước

Luận văn: PPNC tác động đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993