Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nội dung luận văn: Luận văn này đã thực hiện việc tổng hợp các khung lý thuyết liên quan đến giá cổ phiếu tại các công ty niêm yết. Đồng thời, thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định các yếu tố được xây dựng trong mô hình nghiên cứu và có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là quy mô công ty; cổ tức trên mỗi cổ phiếu; tỷ lệ chi trả cổ tức; lợi nhuận sau thuế; thu nhập trên mỗi cổ phiếu; tỷ suất sinh lời; tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát.
Sau đó, thông qua nghiên cứu định lượng với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 171 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2012 – 2022 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến số ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đó là thu nhập trên mỗi cổ phiếu, cổ tức trên mỗi cổ phiếu, lợi nhuận ròng, tăng trưởng kinh tế. Ngược lại biến số ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đó là tỷ suất sinh lời và tỷ lệ lạm phát. Ngoài ra, quy mô công ty và tỷ lệ chia cổ tức không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ các kết quả nói trên thì luận văn đã tiến hành đề xuất các hàm ý liên quan để công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thể gia tăng giá cổ phiếu trong tương lai.
Từ khóa: Giá cổ phiếu, quy mô công ty, cổ tức, thu nhập mỗi cổ phiếu, vĩ mô nền kinh tế.
ABSTRACT Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Title: Factors affecting stock prices of companies listed on the Vietnamese stock market.
Content: This thesis has synthesized theoretical frameworks related to stock prices in listed companies. At the same time, through reviewing related studies, identify research gaps. From there, the first research objective resolved is to identify the factors built into the research model that affect stock prices of companies listed on the Vietnamese stock market, namely company scale. ty; dividends per share; dividend payout ratio; Profit after tax; earnings per share; profitability ratio; economic growth; inflation rate.
Then, through quantitative research with secondary data collection of 171 companies listed on the Vietnamese stock market from 2012 – 2022 and tabular design, multivariate regression processing, the research objective is Second rescue completed. Research results show that the variables that positively affect stock prices of companies listed on the Vietnamese stock market are earnings per share, dividends per share, net profit, economic growth. On the contrary, the variables that negatively affect the stock prices of companies listed on the Vietnamese stock market are profitability rates and inflation rates. In addition, company size and dividend ratio do not have a statistically significant effect on stock prices of companies listed on the Vietnamese stock market. From the above results, the thesis proposed relevant implications for companies listed on the Vietnamese stock market to increase their stock prices in the future.
Keywords: Stock price, company size, dividends, earnings per share, macroeconomics.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do thực hiện đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một trong những bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình phát hành và mua bán chứng khoán hay là kênh lưu chuyển các dòng vốn trong nền kinh tế, nhằm thực hiện việc đầu tư vào các hoạt động kinh doanh của các công ty hay tài trợ các dự án tăng trưởng kinh tế của Chính phù. Do đó, TTCK được xem là công cụ phản ánh sức khỏe của nền kinh tế, hay thang đo đo lường cho sự phát triển của một quốc gia, đồng thời, nếu giá chứng khoán được điều chỉnh nhanh chóng thì đây là TTCK hiệu quả mỗi khi có sự xuất hiện về thông tin mới khiến cho tâm lý nhà đầu tư thay đổi, hay có sự điều tiết các chính sách vĩ mô của nền kinh tế (Nguyễn Khắc Hùng và cộng sự, 2019). Trong đó, TTCK thực hiện chức năng của chính là huy động các khoản tiết kiệm nhỏ trong xã hội và tập trung trở thành các nguồn tài trợ lớn cho các công ty hay các tổ chức khác dưới hình thức mua cổ phiếu của các công ty niêm yết. Mặt khác, với mục đích giúp cho các công ty phát triển việc tăng nguồn tài trợ, đầu tư thông qua việc huy động các nguồn vốn gia tăng vốn tự có của công ty, thay cho các khoản vay nợ với chi phí cao hay sự kiểm soát chặt chẽ giải ngân từ các ngân hàng thương mại nên TTCK luôn được Chính phủ tạo điều kiện phát triển nhanh chóng (Nguyễn Khắc Hùng và cộng sự, 2019). Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Việt Nam hiện là một trong những quốc gia mới nổi năng động nhất thế giới với nền kinh tế và TTCK tăng trưởng nhanh chóng (Ngân hàng Thế giới, 2020). TTCK của Việt Nam bao gồm hai sàn giao dịch chứng khoán chính đó là Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) có vốn điều lệ trên 120 tỷ đồng và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) thì các công ty niêm yết có vốn hóa trên 30 tỷ đồng (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam, 2020). Số lượng công ty niêm yết tăng từ 5 công ty năm 2000 lên 995 công ty vào năm 2023. TTCK Việt Nam đang chuyển từ thị trường cận biên sang thị trường mới nổi. Vốn hóa thị trường đã tăng gần ba lần trong giai đoạn 2014 – 2023, từ 52,43 tỷ USD lên 240 tỷ USD (Ngân hàng Thế giới, 2023). Hiện nay, TTCK của Việt Nam đang từng bước hoàn thiện cơ cấu và phát triển thành kênh huy động vốn trong giai đoạn 2011 – 2023 đạt hơn 4,5 triệu tỷ đồng gấp hơn 10 lần so với giai đoạn 2001 – 2010, đóng góp hơn 20% vào tổng GDP của quốc gia. Chính sư tăng trưởng này góp phần tái cơ cấu hệ thống tài chính của Việt Nam theo hướng cân bằng và bền vững hơn. Trong đó, cổ phiếu của các công ty hiện tại là một trong những động lực chính giúp chỉ số VN – Index tăng mạnh trong thời gian gần đây, đặc biệt sau giai đoạn khó khăn của khủng hoảng kinh tế năm 2018 thì TTCK tăng trưởng đáng kể chủ yếu dựa vào sự tăng giá của cổ phiếu công ty. Mặt khác, các công ty bắt đầu có động thái chuyển từ hình thức truyền thống chuyển lên sàn chứng khoán niêm yết làm cho giá trị TTCK cũng như giá các cổ phiếu công ty tăng lên. Tuy nhiên, sự phục hồi này vẫn còn vấp phải những sự chưa ổn định và thiếu tính bền vững và khiến các nhà đầu tư lo lắng trước các quyết định đầu tư vào cổ phiếu công ty (Thời báo tài chính, 2023).
Các công ty có giá trị cao sẽ thu hút được sự tin tưởng của các nhà đầu tư, giá cổ phiếu cao thì phản ánh được giá trị của công ty. Đồng thời, Laksitaputri (2012) cho rằng thị trường vốn hiệu quả thì giá cổ phiếu sẽ phản ánh tất cả các thông tin và thị trường biến động thông qua sự biến động về giá cổ phiếu. Giá cổ phiếu của công ty sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản lẫn kỹ thuật; hay thu nhập là cách để các nhà đầu tư định giá công ty nhưng các chỉ số khác thì lại được sử dụng để dự đoán giá cổ phiếu. Đặc biệt, giá cổ phiếu dựa trên kỳ vọng của nhà đầu tư, thái độ hay cảm xúc của mình (Sukesti và cộng sự, 2020). Tuy nhiên, định giá cổ phiếu thường được căn cứ vào tình hình tài chính của công ty, trong đó đo lường giá trị nội tại của chứng khoán là cách kiểm tra các yếu tố kinh tế và tài chính. Tỷ suất lợi nhuận của công ty là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Nếu công ty tạo ra lợi nhuận đủ và cao hơn giai đoạn trước thì các nhà đầu tư sẽ quan tâm đến việc mua cổ phiếu và làm tăng giá cổ phiếu. Nhưng nếu công ty không tính toán đủ lợi nhuận hay bị lỗ thì việc các nhà đầu tư có thể không mua hay bán tháo số cổ phiếu thì giá cổ phiếu có xu hướng giảm giá. Do đó, mô hình đánh giá giá cổ phiếu thường dựa trên nền tảng lợi nhuận và mức độ sử dụng tài sản hiệu quả của công ty để tạo ra lợi nhuận, hay tính vững chắc về mặt tài chính của công ty sẽ quyết định nhiều đến giá cổ phiếu. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Hiện nay, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty xoay quanh các vấn đề như các công ty có các khoản nợ phải trả cao, thì các khoản lãi cao sẽ làm cho lợi nhuận công ty suy giảm và làm giảm tỷ suất sinh lời trên tài sản ROA hay làm giảm giá cổ phiếu (Ullah và cộng sự, 2020). Hoặc cấu trúc vốn của công ty thông qua hệ số nợ trên VCSH có tác động tiêu cực đến lợi nhuận công ty, nhưng nếu công ty có khả năng quản lý phù hợp sẽ ảnh hưởng tích cực đến giá trị công ty do tạo được đòn bẩy tài chính hiệu quả, đồng thời tạo ra lá chắn thuế tốt cho công ty. Nhưng Mule và cộng sự (2015) lại cho rằng cơ cấu vốn lại ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị công ty vì nợ gia tăng thì lợi nhuận công ty suy giảm, điều này cho thấy khả năng quản lý chủ công ty không tốt hay thiếu tính hiệu quả. Do đó, công ty không thu hút các nhà đầu tư (Khan và cộng sự, 2017). Đồng thời, Zainudin và cộng sự (2017), Ahmad và cộng sự (2018) còn cho rằng tỷ lệ chi trả cổ tức làm giảm giá trị công ty có thể làm giảm giá cổ phiếu. Ngoài ra, các công trình còn xem xét các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của công ty. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa tập trung vào xem xét lợi nhuận ròng EAT của công ty tạo ra, vì đây được xem là chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận công ty khi thực hiện các nghĩa vụ trả nợ, thuế nó ảnh hưởng trực tiếp đến các tỷ suất sinh lời cũng như các chính sách khác của công ty. Mặt khác, trong giai đoạn gần đây thì đại dịch Covid 19 là một trong những dịch bệnh ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng cũng cần được nghiên cứu.
Vì vậy, giá cổ phiếu được xem là chỉ số quan trọng và được chú ý nhiều nhất trên TTCK. Biến động giá cổ phiếu trên TTCK do sự ảnh hưởng bởi hệ sinh thái tồn tại trong thị trường kinh tế, sự biến động này ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của công ty, vị trí hay năng lực cạnh tranh của công ty. Do đó, xuất phát từ tầm quan trọng của TTCK và giá cổ phiếu của công ty niêm yết (CTNY) nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ, nhằm đề xuất với các CTNY trên TTCK Việt Nam các hàm ý để gia tăng giá cổ phiếu trong thời gian sắp tới.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng hợp các khung lý thuyết liên quan và tình hình nghiên cứu để xác định các yếu tố và đo lường mức độ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý cho các CTNY nhằm gia tăng giá cổ phiếu trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu cụ thể được chi tiết hóa từ mục tiêu tổng quát như sau:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
- Thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
- Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý mang tính khả thi cho các CTNY trên TTCK Việt Nam nhằm tăng giá cổ phiếu trong tương lai. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu thì các câu hỏi sau cần được giải quyết đó là:
- Thứ nhất, các yếu tố nào ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu các hàm ý mang tính khả thi nào được đề xuất cho các CTNY trên TTCK Việt Nam nhằm tăng giá cổ phiếu trong tương lai?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Luận văn thu thập dữ liệu thứ cấp của 171 CTNY trên TTCK Việt Nam. Nguyên nhân vì 171 CTNY này có số liệu công bố trên các kênh truyền thông đại chúng đầy đủ với các báo cáo cân đối kế toán, BCTC qua các năm từ 2012 – 2022.
Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp của các CTNY được thu thập trong giai đoạn từ năm 2012 – 2022. Vì trong giai đoạn này có những biến đổi kinh tế như năm 2018 khủng hoảng, 2020 – 2021 thì xuất hiện địa dịch Covid 19.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp hai phương pháp chính đó là định tính và định lượng. Trong đó nghiên cứu định tính nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu thứ nhất đó là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY, thông qua việc tổng hợp khung lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh TTCK Việt Nam.
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn vẫn là nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết được hai mục tiêu đó là đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam và từ đó đề xuất các hàm ý chính sách. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thì cần thiết nhất là thu thập dữ liệu thứ cấp của 171 CTNY trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022 và thiết kế dạng bảng. Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, luận văn sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng. Với kết quả đó tạo cơ sở để kết luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất các hàm ý chính sách cho các CTNY trên TTCK Việt Nam.
1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
1.6.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
Thông qua tổng hợp khung lý thuyết nền tảng về giá cổ phiếu của các CTNY và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, đồng thời với các khoảng trống nghiên cứu được xác định từ các lược khảo thì luận văn đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh TTCK Việt Nam. Từ đó, luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm và làm cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu tiếp theo với cùng sự quan tâm về giá cổ phiếu của các CTNY.
1.6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu cung cấp các cơ sở để luận văn đề xuất các hàm ý cho các lãnh đạo của các CTNY có những chiến lược hay hoạt động nhằm làm tăng được giá cổ phiếu của công ty trong tương lai; tạo cơ sở để gia tăng sức mạnh hay sức ảnh hưởng của công ty trên TTCK Việt Nam.
1.7. Bố cục dự kiến của luận văn
Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu
Trong Chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành; từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, Chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, Chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Trong Chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến giá cổ phiếu cũng như các tiêu chí đo lường, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các CTNY; đồng thời, lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu.
Chương 3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Trong Chương này, luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ Chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các CTNY trên TTCK Việt Nam. Sau đó, Chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu. Cuối cùng Chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Trong chương này, luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập từ các CTNY tại TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan.
Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị
Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu tại các CTNY trên TTCK Việt Nam; từ đó, tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các CTNY nhằm tăng giá cổ phiếu trong tương lai.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả giới thiệu về đề tài: sự cần thiết của đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Tác giả cũng trình bày ý nghĩa của nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn. Thông qua đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý thuyết của các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam và lược khảo các nghiên cứu liên quan được trình bày trong Chương 2.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Lý thuyết về cổ phiếu và giá cổ phiếu
2.1.1. Lý thuyết về cổ phiếu
2.1.1.1. Khái niệm cổ phiếu
Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) tại công ty cổ phần được việc thành lập dựa trên sự đóng góp vốn từ nhiều người. Trong đó, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần, người góp vốn vào doanh nghiệp được gọi là cổ đông thông qua việc mua cổ phiếu. Do đó, cổ phiếu được gọi là giấy tờ có giá chứng nhận cho sự góp vốn kinh doanh vào các công ty cổ phần, đại diện cho sự sở hữu của các cổ đông. Đồng thời, cổ phiếu cũng có thể xem là một loại hàng hóa đặc biệt và được mua bán trên thị trường theo quy luật cung cầu.
2.1.1.2. Phân loại cổ phiếu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011), cổ phiếu được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí như hình thức, lợi ích mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông hoặc người nắm giữ, đặc điểm phát hành, v.v. Cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất theo quyền của người nắm giữ bao gồm cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi.
Cổ phiếu phổ thông là cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty. Người sở hữu số cổ phần này là chủ sở hữu công ty, có quyền tham gia các cuộc họp và biểu quyết quyết định những vấn đề quan trọng của công ty tại đại hội đồng cổ đông, có quyền biểu quyết và ứng cử vào ban Giám đốc công ty.
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu tương đối đặc biệt. Người sở hữu số cổ phiếu này được hưởng những ưu đãi nhất định về quyền biểu quyết, cổ tức, hoàn lại tiền, v.v., nhưng đồng thời bị giới hạn ở một số quyền nhất định so với cổ phiếu phổ thông. Ví dụ: cổ phiếu ưu đãi cổ tức bị hạn chế về quyền biểu quyết và cổ phiếu ưu đãi biểu quyết bị hạn chế về thời gian chuyển nhượng….
2.1.2. Lý thuyết về giá cổ phiếu của công ty niêm yết
2.1.2.1. Mệnh giá của cổ phiếu
Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng mệnh giá là giá trị được ghi trên cổ phiếu. Loại giá này thường được dùng làm căn cứ hạch toán công ty và ít có giá trị thực tiễn đối với các nhà hoạch định chiến lược trong việc phân tích giá cổ phiếu và nhà đầu tư trong việc lựa chọn đầu tư. Đồng thời, theo Điều 13 Luật Chứng khoán (2019), mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng ở Việt Nam là 10.000 đồng (mười nghìn đồng).
2.1.2.2. Giá sổ sách của cổ phiếu
Giá sổ sách của cổ phiếu phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty tại một thời điểm xác định. Đồng thời, giá trị sổ sách của cổ phiếu có thể tăng hay giảm phụ thuộc số cổ phiếu thường phát hành hay sự thanh đổi giữa tài sản, tổng nợ hay cổ phiếu ưu đãi (Bodie và cộng sự, 2014). Giá trị sổ sách của cổ phiếu được xác định thông qua giá trị lịch sử tồn tại của tài sản và nợ nhưng không phản ánh giá trị hiện tại của cổ phiếu:
Giá trị sổ sách = Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Giá trị cổ phiếu ưu đãi tại các công ty có thể có hoặc không? Nhưng nếu công ty có tồn tại cổ phiếu ưu đã thì giá trị của nó có thể được tính theo mệnh giá hay giá mua của cổ đông, tùy thuộc vào hình thức của cổ phiếu ưu đãi, cộng thêm phần cổ tức chưa trả cho cổ đông vào các kỳ trước đó (Bodie và cộng sự, 2014).
2.1.2.3. Giá nội tại của cổ phiếu
Giá nội tại của cổ phiếu được xem là trị bên trong của cổ phiếu không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài công ty. Với giá trị nội tại của cổ phiếu thì giả định đặt ra là cổ phiếu cần được nắm giữ mãi mãi và được tính dựa trên mô hình chiết khấu dòng tiền về thời điểm hiện tại. Dòng tiền này là các khoản tiền cổ tức hay số tiền thu được giả định trong tương lai. Giá trị nội tại của cổ phiếu là một trong những công cụ để các công ty tính toán trong các hoạt động mua bán, sáp nhập hay chia tách, hợp nhất … Bodie và cộng sự (2014) cho rằng giá trị nội tại của cổ phiết được tính toán dựa trên những tín hiệu giao dịch nhất định. Giá nội tại và giá thị trường của cổ phiếu có thể khác nhau, nếu giá nội tại thấp hơn giá thị trường có nghĩa là cổ phiếu đang được định giá cao và ngược lại thì cổ phiếu đang được định giá thấp. Giá nội tại của cổ phiếu có thể được tính dựa trên các mô hình:
Mô hình chiết khấu dòng cổ tức: Dựa trên các khoản cổ tức trả hàng năm chiết khấu về hiện tại với tỷ suất sinh lời cần thiết.
Mô hình chiết khấu dòng tiền: Dựa trên các các khoản tiền phát sinh ở tương lai của công ty chiết khấu về hiện tại với tỷ suất sinh lời cần thiết.
Mô hình định giá cổ phiếu theo chỉ số P/E: Phương pháp định giá cổ phiếu theo chỉ số P/E thường được sử dụng để so sánh các giá trị tương đối của các doanh nghiệp, đặc biệt đối với các cơ hội tăng trưởng trong tương lai. Phương pháp này thường được áp dụng phổ biến tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển.
2.1.2.4. Giá thị trường của cổ phiếu
Angkouw và cộng sự (2018) cho rằng giá cổ phiếu của các CTNY thường được mô tả với giá thị trường của cổ phiếu đó, hay nó được xem là giá của một cổ phần được bán tại một CTNY, nó được xem là một công cụ phái sinh hoặc tài sản tài chính. Giá cổ phiếu có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc nội tại công ty hay liên quan đến các biến động thị trường, kinh tế, chính trị. Mặt khác, TTCK là môi trường phản ánh những kỳ vọng về điều kiện kinh tế sẽ xảy ra trong tương lai vì tại thị trường này các nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu với mức giá cao vì họ tin tưởng rằng công ty sẽ làm ăn có lãi. Do đó, giá cổ phiếu tăng thì các nhà đầu tư sẽ kỳ vọng vào nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại nó giảm thì tín hiệu của nền kinh tế suy thoái (Mankiw, 2010).
Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cho rằng giá cổ phiếu hay giá cả của cổ phiếu trên thị trường được xác định tại một thời điểm xác định. Nó tùy thuộc vào tín hiệu cung cầu của trên TTCK mà giá thị trường có thể thấp hơn hoặc cao giá trị thực hoặc giá trị định giá tại thời điểm mua bán. Trong đó, quan hệ cung cầu của cổ phiếu chịu ảnh hưởng nhiều của các khía cạnh kinh tế, chính trị hay xã hội, … Tuy nhiên, giá cổ phiếu của một CTNY phụ thuộc vào khả năng sinh lời của nó và giá của nó có hai loại là giá mở cửa hoặc giá đóng của. Giá đóng cửa là giá khớp lệnh lần cuối cùng trong ngày và nó cũng là giá mở cửa cho ngày giao dịch hôm sau. Vì vậy, giá đóng cửa luôn được chọn làm giá tham chiếu để tính giá thị trường của cổ phiếu để đảm bảo tính chính xác. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Nguyễn Khắc Hưng và cộng sự (2019) cho rằng giá cổ phiếu hay giá thị trường của nó, là giá mà nhà đầu tư muốn sở hữu hoặc muốn bán nó trong tương lai, thì cần phải bỏ ra thời điểm hiện tại. Giá của cổ phiếu này luôn biến động và thể hiện các tín hiệu của cung cầu trên thị trường.
Tóm lại, tại nghiên cứu này, giá của cổ phiếu được xem là giá trị thị trường của nó, đây là mức giá mà cổ phiếu đó được mua bán trên thị trường tại một thời điểm xác định và được xác định là mức giá đóng cửa vào ngày giao dịch cuối cùng của năm. Giá cổ phiếu tăng hay giảm phần nào có thể phản ánh được kì vọng của nhà đầu tư với sự tăng trưởng hay suy thoái của công ty. Đồng thời, giá của cổ phiếu có những sự thay đổi hay biến động chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố thuộc nội tại của CTNY hay tình hình vĩ mô của nền kinh tế.
2.1.3. Lý thuyết liên quan đến giá trị thị trường của cổ phiếu công ty
2.1.3.1. Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH)
Lý thuyết thị trường hiệu quả được giả định dựa trên nhiều cơ sở, các nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường phản ứng nhanh chóng với những thông tin mới được công bố. Khi thông tin mới về cổ phiếu xuất hiện, nhà đầu tư đánh giá lại giá trị nội tại của cổ phiếu và điều chỉnh giá nhanh chóng. Do đó, tại bất kỳ thời điểm nào, giá cổ phiếu đều phản ánh tất cả thông tin sẵn có và thể hiện ước tính tốt nhất về giá trị thực của cổ phiếu (Cleary, 2001). Có ba dạng lý thuyết thị trường hiệu quả: dạng yếu, dạng bán mạnh và dạng mạnh. Tuy nhiên, dạng bán mạnh của EMH đã tạo cơ sở cho hầu hết các nghiên cứu (Russel và Torbey, 2002). Dạng mạnh của EMH nêu rõ rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin có sẵn, bao gồm cả thông tin cá nhân. Tuy nhiên, Russell và Torbey (2002) nhận thấy rằng công trình của Seyhun (1986, 1998) cung cấp đủ bằng chứng cho thấy mọi người đang tìm kiếm lợi nhuận từ giao dịch dựa trên thông tin không chính xác về giá cả (Russel và Torber, 2002). Do đó, dạng mạnh của EMH không tồn tại trong thế giới thực và thị trường không hiệu quả. Dạng bán mạnh của EMH khẳng định rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả thông tin được công bố trong quá khứ và gần đây; không có chứng khoán được định giá thấp hoặc được định giá quá cao và do đó, quy tắc giao dịch không có khả năng tạo ra lợi nhuận vượt trội. Khi thông tin mới được phát hành, nó sẽ được tích hợp đầy đủ vào giá cả một cách nhanh chóng. Sự sẵn có của dữ liệu trong ngày cho phép các thí nghiệm cung cấp bằng chứng về thông tin công cộng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong vòng vài phút (Russel và Torbey, 2002). Các dạng EMH yếu cho rằng giá hoặc lợi nhuận trong quá khứ phản ánh giá hoặc lợi nhuận trong tương lai. Tuy nhiên, cấu trúc của dạng yếu có thể được mở rộng để bao gồm việc dự báo lợi nhuận trong tương lai bằng cách sử dụng kế toán cho các biến số kinh tế vĩ mô. Những bất đồng về mức độ hiệu quả của thị trường cần được kiểm tra hoặc đưa vào nghiên cứu.
2.1.3.2. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên của giá chứng khoán Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên giả định rằng thông tin mới về cổ phiếu được phổ biến một cách ngẫu nhiên. Do đó, sự thay đổi giá là ngẫu nhiên và không liên quan đến những thay đổi giá trước đó (Cleary, 2001). Do đó, lý thuyết cho chúng ta biết rằng nếu giá cổ phiếu tuân theo một bước đi ngẫu nhiên thì thị trường có thể được coi là hiệu quả theo nghĩa là nó trừ đi tất cả thông tin sẵn có (Dockery và cộng sự, 2001). Giả thuyết này đã được thử nghiệm rộng rãi trên thị trường vốn (Dockery và cộng sự, 2001). Nhìn chung, bằng chứng có phần hỗn tạp (Dockery và cộng sự, 2001), tức là một số nhà nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào về mô hình giá cổ phiếu, trong khi những người khác ủng hộ lý thuyết bước đi ngẫu nhiên.
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho rằng sự biến động của giá cổ phiếu là không thể dự đoán được. Điều này có nghĩa là tất cả các phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản và các phân tích khác… đều chỉ lãng phí thời gian của chúng ta. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên dựa trên thị trường hoàn hảo. Điều này có nghĩa là mọi thông tin đều được phản ánh vào sự vận động của thị trường. Tuy nhiên, bằng cách áp dụng lý thuyết bước đi ngẫu nhiên, xác suất và toán học, nhà đầu tư hoàn toàn có thể đánh bại thị trường.
2.1.3.3. Lý thuyết kỳ vọng hợp lý
Lý thuyết kỳ vọng hợp lý dựa trên giả định rằng con người có lý trí và đưa ra các quyết định kinh tế thông minh sau khi xem xét tất cả các thông tin có sẵn và sẽ sử dụng nó một cách thông minh. Những sai lầm trong quá khứ có thể tránh được bằng cách sử dụng thông tin để dự đoán sự thay đổi (Cleary, 2001). Lý thuyết này đề cập đến một giả thuyết trong kinh tế học cho rằng dự đoán của các bên liên quan về giá trị của các biến số kinh tế (ví dụ: lãi suất) không sai một cách hệ thống và sai lệch với giá trị thực tế là ngẫu nhiên. Một công thức cho rằng những kỳ vọng hợp lý là những kỳ vọng nhất quán với mô hình, sao cho các tác nhân trong mô hình cho rằng các dự đoán của mô hình là chính xác. Giả định kỳ vọng hợp lý được sử dụng trong nhiều mô hình kinh tế vĩ mô hiện đại, lý thuyết trò chơi và các ứng dụng khác của lý thuyết lựa chọn hợp lý.
Lý thuyết kỳ vọng hợp lý định nghĩa kỳ vọng hợp lý là những kỳ vọng giống với dự đoán tốt nhất về tương lai sau khi sử dụng tất cả thông tin có sẵn. Do đó, nó giả định rằng đầu ra dự báo không khác biệt đáng kể so với cân bằng thị trường (cân bằng thị trường). Theo đó, những kỳ vọng hợp lý về cơ bản không khác biệt hay khác biệt nhưng có thể dự đoán được từ kết quả cân bằng. Theo đó, nó giả định rằng mọi người không mắc phải lỗi hệ thống khi dự báo tương lai và các lỗi dự báo đó là ngẫu nhiên. Trong mô hình kinh tế, lý thuyết này giả định rằng giá trị kỳ vọng của một biến sẽ bằng giá trị được mô hình dự đoán.
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá thị trường của cổ phiếu tại công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Fadiran và Olowookere (2016) cho rằng cổ phiếu cũng giống như các loại hàng hóa dịch vụ khác, do đó giá của chúng cũng sẽ được hình thành dựa trên mối quan hệ cung cầu và sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài công ty.
2.1.4.1. Nhóm yếu tố thuộc bên ngoài công ty
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Perkins (2011) cho rằng tăng trưởng kinh tế được đo lường thông qua tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hay thu nhập bình quân của người dân tại một thời điểm nhất định. Một nền kinh tế có sự gia tăng của các chỉ tiêu này thì đang tồn tại dấu hiệu tăng trưởng hay rủi ro thị trường có thể được giảm thiểu, điều này ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Khi nền kinh tế tăng trưởng, tiềm lực tài chính và nhu cầu đầu tư, tích lũy và gia tăng thu nhập của các đối tượng trong nền kinh tế sẽ tăng theo. Do đó, cổ phiếu với vai trò là loại hàng hóa đặc biệt trên TTCK, khi thu nhập chung của nền kinh tế tăng, làm cho cầu cổ phiếu tăng theo từ đó đẩy giá cổ phiếu cũng cao hơn. Mặt khác, tăng trưởng trong nền kinh tế làm cho các hoạt động đầu tư vào cổ phiếu cũng có điều kiện gia tăng, luồng vốn đầu tư vào cổ phiếu tăng nhưng lượng cung không thay đổi cũng tác động làm cho giá cổ phiếu tăng theo. Điều này cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ thuận chiều đối với giá cổ phiếu (Purwaningsih và cộng sự, 2020).
Tỷ lệ lạm phát: Ahmad và cộng sự (2018) cho rằng tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế được xem là tỷ lệ đo lường mức độ tăng giá chung của các loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Do đó, khi chiết khấu dòng tiền để định giá cổ phiếu thì lạm phát sẽ là một trong những khía cạnh ảnh hưởng rất lớn đến suất sinh lời kỳ vọng, do rủi ro của thị trường có sự thay đổi khi có lạm phát. Khi nền kinh tế có lạm phát cao thì đồng tiền có xu hướng mất đi sức mua, các thu nhập thực giảm đi thì các công ty đòi hỏi phải có một tỷ suất sinh lời cao hơn. Do đó, khi tỷ suất sinh lời kì vọng cao hơn thì việc định giá doanh nghiệp theo mô hình chiết khấu có xu hướng giảm và giá cổ phiếu cũng sẽ giảm theo. Hay nói cách khác, khi lạm phát gia tăng và đồng tiền mất giá thì các đối tượng trong nền kinh tế thường sẽ ưu tiên nắm giữ các loại tài sản thực có giá trị hơn và giảm nhu cầu đầu tư, đồng thời, lạm phát tăng thì thu nhập thực tế của người dân giảm nên các luồng đầu tư vào cổ phiếu không sôi nổi. Vì vậy cầu cổ phiếu cũng suy giảm, dẫn đến giá cổ phiếu cũng giảm theo (Ahmad và cộng sự, 2018). Mặt khác, khi nền kinh tế có lạm phát tăng cao thì dấu hiệu tăng trưởng không ổn định, thiếu tính bền vững, lãi suất cho vay sẽ gia tăng nhằm bù đắp phần thu nhập bị giảm, làm cho khuynh hướng đầu tư không còn trở nên hấp dẫn, các hoạt động kinh doanh của công ty trở nên chậm chạp do lưu thông hàng hóa chậm đi ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận do đó giá cổ phiếu cũng sẽ giảm theo (Nguyễn Thanh Duy và cộng sự, 2020).
2.1.4.2. Nhóm yếu tố thuộc bên trong công ty Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Quy mô công ty: Scott (1977) cho rằng khi công ty có quy mô càng lớn thì càng dễ dàng trong việc có chỗ đứng trên thị trường, các hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu thụ hàng hóa dịch vụ có phần thuận lợi hơn các công ty có quy mô nhỏ hơn. Ngoài ra, quy mô là một trong những khía cạnh phản ánh sức mạnh tài chính của công ty, nó là tấm đệm cho các rủi ro phá sản của công ty. Đồng thời, Bas và cộng sự (2009) cho rằng quy mô công ty càng lớn thì các hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận cũng ít có sự biến động, đặc biệt là vấn đề bất cân xứng thông tin được giảm nhẹ nên tạo ra sự an toàn trong cảm giác đối với các nhà đầu tư (Myers và Majluf, 1984). Mặt khác, khi quy mô công ty càng lớn thì sẽ khiến cho các nhà đầu tư kỳ vọng nhiều vào sự tăng trưởng trong tương lai, vì vậy sẽ làm cho cổ phiếu tăng giá, hay nói cách khác thay đổi quy mô công ty là một trong những phương thức có thể thay đổi giá cổ phiếu. Xét về khía cạnh cung cầu, khi quy mô công ty tăng thì kỳ vọng của nhà đầu tư càng lớn làm cho cầu về cổ phiếu cũng tăng theo nên giá cổ phiếu cũng sẽ tăng theo.
Tỷ suất sinh lời của công ty: Zainudin và cộng sự (2018) cho rằng tỷ suất sinh lời phản ánh việc công ty sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình hay VCSH như ROA, ROI, ROE. Tuy nhiên, khi phân tích với khía cạnh liên quan đến cổ phiếu thì ROE thường được sử dụng nhiều hơn, vì nó đo lường khả năng sinh lời từ đồng vốn của chủ đầu tư cũng như chủ sở hữu bỏ ra để đầu tư vào công ty. Các nhà đầu tư thường dựa trên các chỉ số sinh lời của công ty để phán đoán và ra quyết định, thông qua các phân tích cùng với các cổ phiếu của các công ty khác cùng ngành, do đó nếu các chỉ số này tốt thì cho thấy công ty có hoạt động kinh doanh tốt hơn và thu hút các sự đầu tư vào cổ phiếu của công ty. Tuy nhiên, trong mô hình chiết khấu để định giá cổ phiếu thì nếu tỷ suất sinh lời tăng nếu các yếu tố khác không đổi, thì dòng tiền ròng của công ty gia tăng hay giá trị nội tại của cổ phiếu hiện giá về hiện tại cũng sẽ giảm theo. Trong điều kiện cân bằng thì giá trị nội tại ngang bằng giá trị thị trường, với sự gia tăng giá trị nội tại của cổ phiếu sẽ kéo dài chênh lệch giữa giá nội tại và giá thị trường của cổ phiếu, tạo ra cơ sở để giá thị trường của cổ phiếu tăng theo (Purwaningsih và cộng sự, 2020).
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu: Lợi nhuận được chia trên mỗi cổ phiếu là một trong những khía cạnh để phản ánh hiệu quả kinh doanh trong năm của công ty, lợi nhuận được tính trên mỗi cổ phiếu là lợi nhuận ròng sau khi trừ phần cổ tức ưu đãi. Đồng thời, chỉ tiêu này đo lường trên mỗi cổ phiếu đầu tư vào công ty thì các cổ đông hay nhà đầu tư sẽ nhận được bao nhiêu lợi nhuận? Do đó, khi lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu càng tăng thì càng thu hút các nhà đầu tư mua vào cổ phiếu của công ty (Sharif và cộng sự, 2015). Mặt khác, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng chứng tỏ lợi nhuận của công ty tăng, vốn mà các nhà đầu tư bỏ ra thu được lợi nhuận, nên họ sẽ có nhu cầu tiếp tục nhu cầu với cổ phiếu từ đó làm tăng cầu của cổ phiếu, do đó giá cổ phiếu tăng theo. Đồng thời, với mô hình định giá cổ phiếu với chỉ số P/E thì giá trị nội tại sẽ phụ thuộc vào thu nhập ròng kỳ vọng trên mỗi đơn vị cổ phiếu và P/E bình quân ngành. Với P/E ngành giữ nguyên giá trị thì khi lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng sẽ làm cho giá nội tại cổ phiếu tăng theo, tạo điều kiện cho giá thị trường cũng tăng theo.
Chính sách cổ tức: Cổ tức là phần lợi nhuận kinh doanh được phân phối cho các cổ đông của công ty, hay cổ tức phản ảnh phần lợi nhuận được chia cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp chứ không phải toàn bộ lợi nhuận sẽ được phân phối tất cả. Sự ảnh hưởng của cổ tức đến giá của cổ phiếu phụ thuộc vào đặc điểm của các nhà đầu tư. Miller và Rock (1985) lại cho rằng các nhà đầu tư không phản ứng với chính sách cổ tức nhưng lại tập trung vào các thông tin tại chính sách cổ tức. Hay nói cách khác khi công ty chi trả cổ tức với mức tỷ lệ cao thì các nhà đầu tư cảm thấy hứng thú, hứa hẹn gắn bó hay thu hút hơn các nhà đầu tư khác vào cổ phiếu của mình, từ đó, đẩy cầu cổ phiếu tăng cao và giá cổ phiếu cũng sẽ tăng lên. Nếu xét trên bình diện của mô hình định giá thì việc gia tăng tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm tăng giá trị nội tại của cổ phiếu, làm cho nó trở nên hấp dẫn và giá của cổ phiếu tên thị trường của tăng theo. Tuy nhiên, Abdullah và cộng sự (2015) lại lập luận với một khía cạnh khác, khi công ty gia tăng tỷ lệ chi trả cổ tức đặc biệt là bằng tiền mặt thì sẽ làm cho tài sản của công ty giảm, nên định giá giảm cũng sẽ làm giá cổ phiếu giảm. Mặt khác, khi chi trả cổ tức nhiều thì việc các dự án đầu tư khác của công ty sẽ không có nguồn vốn nhiều để vận hành, nên cơ hội hiệu quả sẽ thu hẹp và không sinh ra nhiều lãi trong tương lai, nên giá trị kỳ vọng của cổ phiếu cũng giảm theo. Do đó, tín hiệu chi trả cổ tức có thể mang lại mặt tích cực hay tiêu cực cho giá cổ phiếu.
2.2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
2.2.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Sighn và Tandoc (2019) trong nghiên cứu về giá cổ phiếu với sự tác động của chính sách chia cổ tức tại các CTNY thuộc TTCK Ấn Độ, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp thu thập được từ 50 CTNY từ năm 2008 – 2017, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu, nhưng cổ tức, tỷ suất ROE, lợi nhuận sau thuế EAT thì lại ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu tại các CTNY.
Purwaningsih và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về giá cổ phiếu dưới sự ảnh hưởng của tăng trưởng bán hàng, chính sách cổ tức tại các CTNY thuộc nhóm ngành chế tạo tại TTCK Indonesia, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp thu thập được từ 35 CTNY từ năm 2016 – 2018, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất ROA, tỷ lệ chia cổ tức và tăng trưởng GDP có ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu nhưng tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ lạm phát thì không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Sukesti và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, với vai trò trung gian của hiệu quả kinh doanh của công ty thì nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 136 CTNY thuộc ngành xây dựng trên TTCK Indonesia từ năm 2014 – 2018, đồng thời sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ nợ trên tài sản ảnh hưởng tiêu cực đến ROA, nhưng lợi nhuận ròng và quy mô công ty lại ảnh hưởng tích cực ROA. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ trên tài sản, ROA và lợi nhuận lại ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu. Đồng thời, ROA thể hiện vai trò trung gian của mình để gia tăng giá cổ phiếu khi tỷ lệ nợ trên tài sản và lợi nhuận tăng lên.
Saputra (2022) trong nghiên cứu về tổng nợ, doanh thu và lợi nhuận ròng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY thuộc nhóm ngành thực phẩm, đồ uống thì nhóm tác giả đã dử dụng số liệu của 20 CTNY trên TTCK Indonesia từ năm 2018 – 2021, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng nợ ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu và lợi nhuận ròng ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu của các CTNY.
Magribi và cộng sự (2023) trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cấu trúc tài sản, chính sách cổ tức và tăng trưởng bán hàng đến giá của cổ phiếu, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 7 công ty ngành xây dựng tại TTCK Indonesia từ năm 2015 – 2019, cùng với mô hình hồi quy đa biến OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc tài sản, chính sách chia cổ tức và tăng trưởng bán hàng ảnh hưởng tích cực đến giá của cổ phiếu tại các CTNY.
2.2.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2019) trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chính sách cổ tức đến giá cổ phiếu tại các CTNY, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 248 CTNY tại TTCK Việt Nam từ năm 2014 – 2017, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng tài sản ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu. Nhưng thu nhập mỗi cổ phiếu, cổ tức được chia, tỷ lệ nợ dài hạn và tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu.
Nguyễn Thanh Duy và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về cổ phiếu của các CTNY phi tài chính với sự ảnh hưởng của chính sách cổ tức, nhóm tác giả đã số liệu thứ cấp của 141 CTNY tại TTCK Việt Nam từ năm 2011 – 2016, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ chia cổ tức, cổ tức được chia, quy mô công ty, thu nhập mỗi cổ phiếu và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu.
Hồ Thị Lam và Hồ Thuỵ Phương Trâm (2020) trong nghiên cứu tác động của chính sách cổ tức đối với giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp của 100 CTNY trong giai đoạn 2010-2018, đồng thời sử dụng PPNC định lượng với mô hình hồi quy theo phương pháp hồi quy FGLS trên dữ liệu bảng của 100 CTNY trên sàn HoSE và HNX, nhóm tác giả đã tìm thấy bằng chứng về tác động của CSCT đến giá cổ phiếu, ủng hộ lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay và lý thuyết phát tín hiệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy cổ tức chi trả, thu nhập sau thuế EAT, thu nhập trên một cổ phiếu có có ảnh hưởng cùng chiều, ngược lại, tỷ lệ chi trả cổ tức và ROE có ảnh hưởng ngược chiều đến giá cổ phiếu.
Lại Cao Mai Phương và cộng sự (2022) trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực bất độc sản niêm yết tại Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 30 CTNY trong lĩnh vực bất động sản tại TTCK Việt Nam từ năm 2016 – 2020, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy lãi suất và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu.
Đào Thị Tuyết và Trần Phước (2023) trong nghiên cứu vềviệc thông tin trên BCTC ảnh hướng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 217 CTNY tại TTCK Việt Nam từ năm 2017 – 2021, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời ROA, giá trị sổ sách và P/E ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu của các công ty.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
| Tác giả/năm | Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu | Kết quả nghiên cứu |
| Sighn và Tandoc (2019) | Dữ liệu 50 CTNY từ năm 2008 – 2017. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM. | Thu nhập trên mỗi cổ phiếu, tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. Cổ tức, tỷ suất ROE, lợi nhuận sau thuế EAT ảnh hưởng tiêu cực (-) đến giá cổ phiếu. |
| Purwaningsih và cộng sự (2020) | Dữ liệu 35 CTNY từ năm 2016 – 2018. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS. | Tỷ suất ROA, tỷ lệ chia cổ tức và tăng trưởng GDP ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. |
| Sukesti và cộng sự (2020) | Dữ liệu 136 CTNY thuộc ngành xây dựng trên TTCK Indonesia từ năm 2014 – 2018. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. | Tỷ lệ nợ trên tài sản, ROA và lợi nhuận ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. |
| Saputra (2022) | Dữ liệu 20 CTNY thuộc nhóm ngành thực phẩm, đồ uống trên TTCK Indonesia từ năm 2018 – 2021. Mô hình đa biến OLS. | Lợi nhuận ròng ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu.
Tổng nợ ảnh hưởng tiêu cực (-) đến giá cổ phiếu. |
| Magribi và cộng sự (2023) | Dữ liệu 7 CTNY thuộc nhóm xây dựng trên TTCK Indonesia từ năm 2015 – 2019. Mô hình đa biến OLS. | Cấu trúc tài sản, chính sách chia cổ tức và tăng trưởng bán hàng ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. |
| Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2019) | Dữ liệu 248 CTNY từ năm 2014 – 2017. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM. | Tăng trưởng tài sản ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. Thu nhập mỗi cổ phiếu, cổ tức được chia, tỷ lệ nợ dài hạn và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tiêu cực (-) đến giá cổ phiếu. |
| Nguyễn Thanh Duy và cộng sự (2020) | Dữ liệu 141 CTNY trên TTCK Việt Nam từ năm 2016 – 2020. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM. | Tỷ lệ chia cổ tức, cổ tức được chia, quy mô công ty, thu nhập mỗi cổ phiếu và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tiêu cực (-) đến giá cổ phiếu. |
| Hồ Thị Lam và Hồ Thuỵ Phương Trâm (2020) | Dữ liệu bảng của 100 CTNY trên sàn HoSE và HNX. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM. | Cổ tức chi trả, thu nhập sau thuế EAT, thu nhập trên một cổ phiếu có có ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. Tỷ lệ chi trả cổ tức và ROE ảnh hưởng tiêu cực (-) đến giá cổ phiếu. |
| Lại Cao Mai Phương và cộng sự (2022) | Dữ liệu 30 CTNY thuộc nhóm ngành bất động sản trên TTCK Việt Nam từ năm 2011 – 2016. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM. | Lãi suất và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tiêu cực (-) đến giá cổ phiếu. |
| Đào Thị Tuyết và Trần Phước (2023) | Dữ liệu 217 CTNY trên TTCK Việt Nam từ năm 2017 – 2021. Mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM. | Tỷ suất sinh lời ROA, giá trị sổ sách và P/E ảnh hưởng tích cực (+) đến giá cổ phiếu. |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.2.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu liên quan về giá cổ phiếu cũng như
các yếu tố ảnh hưởng đến nó thông qua các công trình trong nước và nước ngoài, thì luận văn nhận thấy các khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, đối với nghiên cứu nước ngoài, các tác giả chủ yếu tập trung vào các yếu tố bên trong công ty và các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất hay giá vàng. Tuy nhiên, yếu tố lạm phát thường có mức độ ảnh hưởng không đáng kể, mặc dù yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của thị trường là rất lớn. Khi tỷ lệ lạm phát tăng và giá cả tăng sẽ ảnh hưởng đến việc tiêu thụ hàng hóa và lưu thông vốn trong nền kinh tế. Mặt khác, nếu chính sách của chính phủ tạo điều kiện thuận lợi thì lạm phát sẽ giúp giá tăng ổn định và khiến giá cổ phiếu tăng (Antono và cộng sự, 2019). Vì vậy, theo tác giả, vẫn tồn tại mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và giá của cổ phiếu nên đây là khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định.
Thứ hai, các nghiên cứu chưa tập trung vào lợi nhuận sau thuế ETA, trong khi chỉ tiêu này được coi là chỉ tiêu thu nhập ròng mà công ty hoặc cổ đông được chia sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả lãi vay và thuế thu nhập. Nói cách khác, chỉ số này phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty nên ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập trên mỗi cổ phiếu cũng như khả năng sinh lời ROE.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty.
Trong Chương 2, luận văn đã tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến giá cổ phiếu, các tiêu chí đo lường và hay mô hình định giá của cổ phiếu. Đồng thời, lược khảo các nghiên cứu liên quan để xác định các khoảng trống nghiên cứu nhằm tạo cơ sở đề xuất cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho Chương 3.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến giá cổ phiếu ở các công ty

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty […]