Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích tương quan
4.1.1. Tình hình thay đổi giá cổ phiếu bình quân của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2012 – 2022
Để xem xét tình hình thay đổi giá cổ phiếu của các CTNY tên TTCK Việt Nam thì sẽ dựa trên giá trị bình quân tại mỗi năm trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2012 – 2022. Sự thay đổi này được thể hiện dưới đồ thị sau:
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn sự thay đổi về giá cổ phiếu của các CTNY tên TTCK Việt Nam từ năm 2012 – 2022
Dựa trên đồ thị Hình 4.1 ta có thể thấy giá cổ phiếu bình quân của 171 CTNY mà luận văn thu thập có xu hướng tăng trong giai đoạn 2012 – 2022 từ 16.625 đồng/cổ phiếu lên đến 31.678 đồng/cổ phiếu. Sự tăng trưởng này được duy trì đều đặn vào mỗi năm. Tuy nhiên, năm 2019, 2020 thì giá bình quân có xu hướng giảm từ 34.913 đồng/cổ phiếu năm xuống còn 28.808 đồng/cổ phiếu, 26.659 đồng/cổ phiếu lần lượt cho năm 2019, 2020. Nguyên nhân, do sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế năm 2018 và sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 nên làm cho tình hình hoạt động kinh doanh chung của thị trường diễn biến xấu, nên giá cổ phiếu có xu hướng trượt giá. Nhưng giai đoạn sau đó thì giá cổ phiếu bình quân được các CTNY kiểm soát và tăng giá đều đặn. Do đó, nhìn chung thì TTCK Việt Nam vẫn có sự ổn định mặc dù giá cổ phiếu riêng rẻ của các công ty hay nhóm ngành có sự biến động nhưng xét về bình quân vẫn có sự tăng trưởng.
4.1.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn. Dựa vào kết quả này thì luận văn sẽ trình bày tình hình tổng quát của các biến số và sự khác biệt nếu có trong dữ liệu thu thập giữa các CTNY. Kết quả được trình bày trong bảng sau:
Bảng 4.1: Thống kê mô tả
| Biến | Đơn vị | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất |
| SP | Ngàn đồng | 27,29 | 23,68 | 2,12 | 226,5 |
| SIZE | 28,18 | 1,30 | 25,12 | 33,68 | |
| DPS | Ngàn đồng | 0,158 | 0,155 | 0 | 2,1 |
| DPR | % | 69,63% | 2,76% | -11,07% | 82,64% |
| EAT | Tỷ đồng | 392,83 | 1435,218 | -312,939 | 18657,4 |
| EPS | Ngàn đồng | 3,403 | 3,351 | -6,635 | 38,608 |
| ROE | % | 13,83% | 10,24% | -79,54% | 98,21% |
| GDP | % | 5,81% | 1,63% | 2,58% | 8,02% |
| CPI | % | 3,74% | 2,20% | 0,63% | 9,09% |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Dựa trên Bảng 4.1 ta thấy giá cổ phiếu (SP) trung bình của 171 CTNY tại TTCK Việt Nam là 27,29 ngàn đồng với độ lệch chuẩn cao là 23,68 ngàn đồng, điều này cho thấy có sự khác biệt lớn về giá cổ phiếu trong các CTNY do sự khác biệt về quy mô, lĩnh vực hoạt động hay những đặc thù riêng của công ty. Trong đó giá cổ phiếu nhỏ nhất là 2,12 ngàn của công ty TRC năm 2020 và cao nhất là 226,5 ngàn đồng của CTD năm 2018. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Đối với quy mô của công ty (SIZE) thì với Log (Tổng tài sản) trung bình là 28,18 với độ lệch là 1,3. Quy mô công ty nhỏ nhất là 25,12 của GTA năm 2015 và quy mô lớn nhất là 33,68 của TCM năm 2019.
Cổ tức được chia trên mỗi cổ phiếu công ty (DPS) trung bình là 0,158 ngàn đồng, với mức lệch chuẩn tương ứng cao 0,155, điều này cho thấy các CTNY có sự khác biệt trong việc chia cổ tức trên cổ phiếu do có sự khác nhau về quy mô, lĩnh vực hoạt động hay những đặc thù riêng của công ty. Trong đó cổ tức trên mỗi cổ phiếu được chia thấp nhất là 0 ngàn đồng và cao nhất là 2,1 ngàn đồng của KDC năm 2015.
Tỷ lệ chia cổ tức (DPR) trung bình là 69,63% với độ lệch chuẩn là 2,76%, cho thấy mức độ phổ biến của tỷ lệ chia cổ tức này của các CTNY có nét tương đồng, tuy nhiên việc chia cổ tức này phụ phuộc vào định hướng của công ty trong việc tái đầu tư hay phòng ngừa cho các rủi ro kinh doanh trong tương lai. Trong đó, tỷ lệ nhỏ nhất là -11,07% của HT1 năm 2012 và lớn nhất 82,64% của PXS năm 2018.
Lợi nhuận ròng (EAT) trung bình của các công ty là 392,83 tỷ đồng với độ lệch chuẩn cao là 1435,22 tỷ đồng, điều này cho thấy sự khác biệt rất lớn của lợi nhuận ròng của các CTNY vì sự khác nhau về quy mô, lĩnh vực hoạt động hay những đặc thù riêng của công ty. Trong đó, lợi nhuận ròng thấp nhất là -312,94 của TDH năm 2022 và cao nhất là 18657,2 tỷ đồng của VCB năm 2022.
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) trung bình của các công ty là 3,402 ngàn đồng với độ lệch chuẩn có là 3,321 ngàn đồng, điều này cho thấy các CTNY có sự khác biệt trong việc tính toán thu nhập trên cổ phiếu do có sự khác nhau về quy mô, lĩnh vực hoạt động hay những đặc thù riêng của công ty. Trong đó, thu nhập trên mỗi cổ phiếu nhỏ nhất là -6,636 ngàn đồng của SMC năm 2016 và lớn nhất là 38,608 ngàn đồng của SFC năm 2020.
Tỷ suất sinh lời (ROE) trung bình của các công ty là 13,82% với độ lệch chuẩn cao là 10,24%, điều này cho thấy các CTNY có sự khác biệt với tỷ suất sinh lời do có sự khác nhau về quy mô, lĩnh vực hoạt động hay những đặc thù riêng của công ty. Trong đó ROE thấp nhất là -79,55% của PXS năm 2020 và cao nhất là 91,28% của KDC năm 2016.
Đối với vĩ mô nền kinh tế thì đại diện bởi GDP và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2013 – 2022 thì dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm là 5,81% với độ lệch thấp, trong đó thấp nhất là 1,63% trong năm 2021 và cao nhất là 8,02% năm 2022. Đối với tỷ lệ lạm phát thì trung bình mỗi năm là 3,74%, với độ lệch chuẩn là 2,20% trong đó năm 2015 thấp nhất với tỷ lệ 0,63% và cao nhất là 9,09% năm 2012.
4.1.3. Phân tích tương quan của các biến số độc lập Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967). Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập tại bảng sau:
Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập
| SIZE | DPS | DPR | EAT | EPS | ROE | GDP | CPI | |
| SIZE | 1,000 | |||||||
| DPS | -0,048 | 1,000 | ||||||
| DPR | -0,030 | 0,062 | 1,000 | |||||
| EAT | 0,034 | 0,058 | -0,029 | 1,000 | ||||
| EPS | 0,021 | 0,517 | -0,086 | 0,135 | 1,000 | |||
| ROE | 0,032 | 0,571 | -0,084 | 0,029 | 0,076 | 1,000 | ||
| GDP | -0,010 | 0,018 | 0,009 | -0,015 | 0,022 | 0,035 | 1,000 | |
| CPI | -0,003 | 0,025 | -0,009 | -0,043 | 0,021 | 0,044 | -0,063 | 1,000 |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Dựa trên Bảng 4.2 và xét độ lớn giữa hệ số tương quan giữa các biến số độc lập thì lớn nhất là 0,571 thấp hơn 0,8. Điều này chứng mình mô hình có các biến độc lập không tương quá lớn với nhau, hay khả năng xảy ra đa cộng tuyến nghiệm trọng không có trong mô hình.
4.2. Kết quả kiểm định mô hình hồi quy Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
4.2.1. Kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS – FEM – REM
Như đã đề cập tại Chương 3 thì ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn này đó là Pooled OLS, FEM và REM nhằm xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Đồng thời, tại đây sẽ tiến hành kiểm định Hausman giữa mô hình FEM và REM để tìm ra mô hình phù hợp để thực hiện các kiểm định sâu hơn nhằm kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu:
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM
| Tên biến | SP | ||
| OLS | FEM | REM | |
| SIZE | -0,208 | 0,379 | 0,215 |
| DPS | 27,22*** | 11,81*** | 15,11*** |
| DPR | -0,035 | -0,087 | -0,077 |
| EAT | 0,004*** | 0,003*** | 0,003*** |
| EPS | 5,620*** | 4,742*** | 4,975*** |
| ROE | -57,24*** | -60,24*** | -61,04*** |
| GDP | 52,44* | 59,45*** | 58,17*** |
| CPI | -177,5*** | -173,6*** | -173,9*** |
| R-square | 62,05% | 60,45% | 61,14% |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Dựa trên kết quả Bảng 4.3 thì các mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM đều có hệ số R2 đều lớn hơn 60%, điều này có nghĩa có biến số có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY tại TTCK Việt Nam, sẽ giải thích được hơn 60% sự thay đổi của giá cổ phiếu.
Đồng thời, các biến số ảnh hưởng tích của đến giá cổ phiếu bao gồm DPS, EAT, EPS, GDP với các mức ý nghĩa 5%, 10%. Các biến số ảnh hưởng tiêu cực bao gồm ROE, CPI với mức ý nghĩa 1%. Mặt khác, SIZE và DPR không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, do các giá trị P – value của các biến số này lớn hơn 5%.
Nhưng nhìn chung về kết quả của ba mô hình hồi quy trên thì về chiều hướng ảnh hưởng của các biến số độc lập đến giá cổ phiếu đều có sự tương đồng, điều này có nghĩa là dữ liệu thu thập có sự phù hợp, tạo điều kiện tin cậy để thực hiện các kiểm định tiếp theo. Tuy nhiên, nhằm tạo ra tính thống nhất thì cần phải lựa chọn mô hình phù hợp nhất trong ba mô hình nói trên. Vì vậy, các kiểm định lựa chọn mô hình được trình bày dưới phần sau:
4.2.2. Kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Luận văn này sẽ tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình thông qua ba kiểm định tương ứng dưới Bảng 4.4 như sau:
Bảng 4.4: Kiểm định lựa chọn mô hình
| Kiểm định | Pooled OLS và FEM | FEM và REM | Pooled OLS và REM |
| F – test | F (8,1691) = 190,56
Prob > F = 0,000 |
||
| Hausman | chi2(6) = 67,79
Prob>chi2 = 0,000 |
||
| Breus –
Pargan test |
F (8,1691) = 120,14
Prob > F = 0,000 |
||
| Kết quả | Chọn FEM | Chọn FEM | Chọn REM |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp.
Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM thì luận văn sử dụng kiểm định Breus – Pargan test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình REM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > chibar2 là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình REM phù hợp. Với hai kiểm định trên thì ta thấy FEM và REM phù hợp hơn Pooled OLS. Do đó, kiểm định Hausman dưới đây sẽ kết luận mô hình phù hợp nhất cho luận văn này.
Khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Kết quả tại Bảng 4.4 cho thấy giá trị P – value của kiểm định này thấp hơn 5% nên chấp nhận H0, hay nói cách khác thì mô hình FEM phù hợp hơn, mặt khác trong ba mô hình thì tính vững của mô hình FEM vững nhất. Do đó mô hình FEM phù hợp với việc thực hiện các kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả.
4.2.3. Kiểm định khuyết tật mô hình FEM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
4.2.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến
Kiểm định đa cộng tuyến sẽ dựa trên tổng hợp về hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến số. Trong đó, cặp giả thuyết như sau H0 là mô hình không có đa cộng tuyến và H1 là mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
| Biến số | VIF |
| ROE | 2,75 |
| EPS | 2,43 |
| DPS | 1,57 |
| EAT | 1,06 |
| DPR | 1,03 |
| CPI | 1,01 |
| SIZE | 1,01 |
| GDP | 1,01 |
| VIF trung bình | 1,48 |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Dựa vào kết quả Bảng 4.5 ta thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF đều thấp hơn 5 và giá trị trung bình VIF thấp hơn 5. Điều này cho thấy giả thuyết H0 được ủng hộ, hay nói cách khác mô hình không có đa cộng tuyến. Do đó, dữ liệu độc lập và có sự tin cậy để tiếp tục kiểm định. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
4.2.3.2. Kiểm định phương sai thay đổi
Hiện tượng này xuất hiện sẽ làm cho phương sai các phần dư không phải là dạng hằng số, điều này dẫn đến chúng sẽ thay đổi với các quan sát khác nhau và không tuân theo phân phối chuẩn ngẫu nhiên. Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình.
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi của mô hình FEM
| Hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
| chi2 (24) = 43374,48
Prob>chi2 = 0,0000 |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Kết quả kiểm định tại Bảng 4.5 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.2.3.3. Kiểm định tự tương quan
Hiện tượng này xuất hiện khi các biến quan sát trong bảng dữ liệu có tương quan với nhau. Nguyên nhân tạo ra hiện tượng này là sai lệch khi lập mô hình và thu thập dữ liệu. Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình FEM
| Hiện tượng tự tương quan |
| F (1,23) = 20,409
Prob > F = 0,0000 |
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Kết quả kiểm định tại Bảng 4.6 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình FEM có tồn tại hiện tượng tự tương quan. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
4.2.3.4. Khắc phục hiện tượng khuyết tật mô hình FEM
Như vậy, khi xác định được mô hình FEM đã có tồn tại hai hiện tượng phương sai số thay đổi và tự tương quan thì cần phải tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS nhằm xác định kết quả cuối cùng để thảo luận và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS
| Biến độc lập | Biến phụ thuộc SP | ||
| Hệ số hồi quy | Sai số chuẩn | P-value | |
| SIZE | -0,208 | 0,260 | 0,426 |
| DPS | 27,22*** | 2,721 | 0,000 |
| DPR | -0,035 | 0,124 | 0,777 |
| EAT | 0,004*** | 0,0002 | 0,000 |
| EPS | 5,620*** | 0,158 | 0,000 |
| ROE | -57,24** | 5,465 | 0,000 |
| GDP | 52,44* | 20,787 | 0,012 |
| CPI | -177,5*** | 15,424 | 0,000 |
| cons | 19,82** | 7,496 | 0,000 |
| Wald chi2(8) | 3057,27 | ||
| Prob > chi2 | 0,0000 | ||
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0
Với biến phụ thuộc là SP thì sau khi kiểm định các hiện tượng khuyết tật và khắc phục tương ứng thì nhận được kết quả P – value của mô hình theo phương pháp FGLS là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng minh được mô hình cuối cùng này phù hợp với tổng thể và có ý nghĩa thống kê phân tích tiếp theo. Mặt khác, Bảng 4.7 cũng thể hiện sự tương đồng cao về dấu ảnh hưởng của các biến độc lập trong mô hình đến SP. Do đó có sự phù hợp để thảo luận kết quả này. Dựa trên kết quả Bảng 4.7 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau: SPi,t = 19,82 + 27,22DPSi,t + 0,004EATi,t + 5,620EPSi,t – 57,24ROEi,t + 52,44GDPt – 177,5CPIt Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
4.2.4. Kiểm định và kết luận giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên kết quả Bảng 4.8 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi yếu tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ tiến hành bác bỏ và ngược lại.
Bảng 4.9: Kết quả tổng hợp
| Giả thuyết nghiên cứu | Biến độc lập | SP | Kết luận giả thuyết | ||
| Kỳ vọng | Kết quả | ||||
| Dấu | P-value | ||||
| H1 | SIZE | Dương (+) | Âm (-) | 0,426 | Bác bỏ |
| H2 | DPS | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Chấp nhận |
| H3 | DPR | Âm (-) | Âm (-) | 0,777 | Bác bỏ |
| H4 | EAT | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Chấp nhận |
| H5 | EPS | Dương (+) | Dương (+) | 0,000 | Chấp nhận |
| H6 | ROE | Âm (-) | Âm (-) | 0,000 | Chấp nhận |
| H7 | GDP | Dương (+) | Dương (+) | 0,012 | Chấp nhận |
| H8 | CPI | Âm (-) | Âm (-) | 0,000 | Chấp nhận |
| R2 | 60,45% | ||||
Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Tóm lại, dựa trên kết quả Bảng 4.8 thì các biến số cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS), lợi nhuận ròng (EAT), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ suất sinh lời (ROE), tăng trưởng kinh tế (GDP) và tỷ lệ lạm phát (CPI) có ý nghĩa thống kê với P – value thấp hơn 5%, đồng thời kết quả hồi quy FGLS có dấu và chiều ảnh hưởng tương đồng với giả thuyết nghiên cứu nên chấp nhận. Ngược lại, quy mô công ty (SIZE), tỷ lệ chia cổ tức (DPR) có ý nghĩa thống kê với P – value lớn hơn 5%, do đó, hai biến số này không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Mặt khác, với R2 là 60,45% thuộc [0; 1] và lớn hơn 50% có thể thấy mô hình này phù hợp với tổng thể hồi quy. Hay nói cách khác, cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS), lợi nhuận ròng (EAT), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tỷ suất sinh lời (ROE), tăng trưởng kinh tế (GDP) và tỷ lệ lạm phát (CPI) giải thích được 60,45% sự thay đổi của giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Kết quả này sẽ được luận giải như sau:
4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Kết quả Bảng 4.8 đã tổng hợp chung về mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Ngoài ra, dựa trên hệ số ước lượng của các biến số độc lập ta biết được chiều ảnh hưởng của chúng đến giá cổ phiếu, nếu ta dựa trên độ lớn của nó ta có thể biết được mức độ ảnh hưởng từ cao xuống thấp của các biến số lần lượt là: Tỷ lệ lạm phát (β = -177,5); tỷ suất sinh lời (β =-57,24); tăng trưởng kinh tế (β = 52,44); cổ tức trên mỗi cổ phiếu (β = 27,22); thu nhập trên mỗi cổ phiếu (β = 5,620); lợi nhuận ròng (β = 0,004). Các kết quả này được luận giải theo các tham số hồi quy của các biến số từ cao xuống thấp như sau:
Đối với tỷ lệ lạm phát phát (CPI) thì hệ số hồi quy là β = -177,5, điều này có nghĩa là khi tỷ lệ lạm phát tăng 1% thì giá cổ phiếu giảm 177,5 ngàn đồng. Kết quả này cho thấy khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì giá cả hàng hóa leo thang việc tiêu thụ hàng hóa của nền kinh tế sẽ chậm chạp và kém phát triển hơn so với tỷ lệ lạm phát thấp trong nền kinh tế. Do đó ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của các công ty và kéo theo giá trị thị trường của cổ phiếu cũng sẽ giảm theo, mặc dù đây là tình huống chung nhưng các ngành nghề dù thuộc đặc thù nào cũng sẽ bị ảnh hưởng. Vào thời điểm lạm phát tăng cao thì đồng tiền mất giá nhanh chóng, lượng hàng hóa tiêu thụ chậm chạp, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh hay đầu tư đều xuất hiện và có tốc độ tăng nhanh hơn. Do đó, các CTNY sẽ có tình trạng kinh doanh không thuận lợi hay có phần khó khăn hơn, vì vậy các nguồn thu nhập hay lợi nhuận sẽ có xu hướng suy giảm. Điều này làm cho năng lực tài chính, sức mạnh, giá trị công ty có khả năng bị giảm sút và giá cổ phiếu trên thị trường nói chung của các CTNY sẽ giảm theo. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lại Cao Mai Phương và cộng sự (2022). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Đối với tỷ suất sinh lời (ROE) thì hệ số hồi quy là β = -57,24, điều này có nghĩa là khi tỷ suất sinh lời tăng 1% thì giá cổ phiếu giảm 57,24 ngàn đồng. Kết quả này cho thấy khi doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời gia tăng, đặc biệt là ROE, điều này cho thấy vốn chủ sở hữu huy động đã được sử dụng một cách hiệu quả để doanh nghiệp tạo ra được lợi nhuận ròng. Điều này có thể tạo ra sự thuận lợi cho doanh nghiệp về mặt lợi nhuận, nhưng khi xét về mô hình chiết khấu dòng tiền đặc biệt là dòng cổ tức thì các nhà đầu tư sẽ sử dụng tỷ suất sinh lời như tỷ suất kỳ vọng hay tái chiết khấu của mình. Do đó, khi tỷ suất kỳ vọng càng cao thì giá cổ phiếu sẽ được định giá thấp hơn. Điều này tương đồng với nghiên cứu của Sighn và Tandoc (2019).
Đối với tăng trưởng kinh tế (GDP) thì hệ số hồi quy là β = 52,44, điều này có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế tăng 1% thì giá cổ phiếu tăng 52,44 ngàn đồng. Kết quả này cho thấy khi tỷ lệ này tăng lên có nghĩa là nền kinh tế phát triển thì tạo ra cơ hội làm ăn thuận lợi cho các CTNY. Do đó, tạo điều kiện cho thu nhập cũng như lợi nhuận hay thu nhập trên mỗi cổ phiếu cũng tăng lên và làm cho giá cổ phiếu của CTNY từ đó cũng tăng theo. Hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế sẽ được tiêu thụ tốt hơn, các dòng tiền nguồn vốn trong nền kinh tế lưu thông thuận lợi. Do đó, thời điểm có tăng trưởng kinh tế thì các CTNY cũng sẽ thuận tiện hơn trong việc hoạt động kinh doanh, từ đó thu nhập hay lợi nhuận gia tăng với tốc độ nhanh hơn. Về mặt tổng thể khi có sự tăng trưởng kinh tế thì bộ mặt của các CTNY cũng có điều kiện thuận lợi để gia tăng nên việc định giá giá trị của CTNY cũng sẽ cao hơn. Kết hợp các yếu tố đó thì giá cổ phiếu của các CTNY cũng sẽ được định giá cao hơn trong nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng tốt. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sighn và Tandoc (2019).
Đối với cổ tức trên một cổ phiếu (DPS) thì hệ số hồi quy là β = 27,22, điều này có nghĩa là khi cổ tức trên mỗi cổ phiếu tăng 1 ngàn đồng thì giá cổ phiếu tăng 27,22 ngàn đồng. Kết quả này cho thấy khi các CTNY có cổ tức trên mỗi cổ phiếu tăng đều đặn thì lúc này các nhà đầu tư sẽ có cái nhìn tốt hơn về cổ phiếu, từ đó đánh giá cổ phiếu của công ty là loại cổ phiếu tốt làm cho sức hấp dẫn của cổ phiếu tăng theo từ đó giá cổ phiếu cũng gia tăng. Nếu xét ở mô hình chiết khấu dòng tiền khi cổ tức của cổ phiếu gia tăng và tỷ suất sinh lời không thay đổi thì hiện giá cổ phiếu về hiện tại để định giá của cổ phiếu này cũng sẽ tăng lên. Kết quả này luận giải cho việc các nhà đầu tư thường coi cổ tức cổ phiếu trên mỗi cổ phiếu là một gợi ý về lợi nhuận tăng trong giai đoạn tới, ủng hộ cho lý thuyết phát tín hiệu. Các nhà đầu tư thường cho rằng việc chỉ trả cổ tức của CTNY là hoạt động mang thông tin là tín hiệu cho họ. Bởi lẽ thị trường luôn tồn tại hiện tượng bất cân xứng thông tin, nhà đầu tư luôn nắm ít thông tin về công ty hơn ban quản trị; vì vậy họ cho rằng cổ tức mang tín hiệu thông tin mà nhà quản trị muốn truyền tải (Bhattacharya, 1979; Aharony và Swary, 1980; Asquith và Mullins, 1983). Do đó, việc tăng cổ tức trên mỗi cổ phiếu làm tăng kỳ vọng của nhà đầu tư về sự phát triển và gia tăng lợi nhuận trong tương lai, kéo theo sự gia tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của CTNY và giá cổ phiếu tăng lên tương ứng. Một lý do khác có thể là lượng cổ tức trên mỗi cổ phiếu tăng lên đồng nghĩa với thu nhập nhiều hơn cho các cổ đông. Nhiều nhà nghiên cứu như Travlos và cộng sự (2001), Akbar và Baig (2010) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa chúng. Cổ tức càng nhiều, thu nhập của các nhà đầu tư càng tăng, điều này sẽ làm tăng nhu cầu của các nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của công ty trên thị trường cuối cùng gây ra tăng giá cổ phiếu, kết quả này chứng minh lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay là đúng đắn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sighn và Tandoc (2019); Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2019); Nguyễn Thanh Duy và cộng sự (2020). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
Đối với thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) thì hệ số hồi quy là β = 5,620, điều này có nghĩa là khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng 1 ngàn đồng thì giá cổ phiếu tăng 5,62 ngàn đồng. Kết quả này luận giải khi thu nhập trên mỗi cổ phiếu càng tăng thì có nghĩa là giá trị định giá cho cổ phiếu theo mô hình chiết khấu có thể được gia tăng, điều này làm cho giá cổ phiếu cũng sẽ từ đó tăng lên. Mặt khác, thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng hàm ý sự gia tăng thu nhập của cổ đông và khuyến khích nhu cầu đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp. Khi các CTNY có thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng một cách đều đặn thì các nhà đầu tư hay cổ đông sẽ có niềm tin lớn hơn đối với cổ phiếu về sự khả năng sinh lời hay lợi nhuận tạo ra từ nó. Từ đó, sức hấp dẫn của cổ phiếu này trên thị trường sẽ được gia tăng làm cho cầu về cổ phiếu này cũng tăng theo, từ đó giá cổ phiếu của các CTNY này trên thị trường cũng được đẩy lên theo.
- Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sighn và Tandoc (2019).
Đối với lợi nhuận ròng (EAT) thì hệ số hồi quy là β = 0,004, điều này có nghĩa là khi lợi nhuận ròng tăng 1 tỷ đồng thì giá cổ phiếu tăng 0,004 ngàn đồng. Kết quả này cho thấy khi các CTNY có lợi nhuận ròng tăng thì khả năng thu nhập hay cổ tức được chia trên một cổ phiếu cũng gia tăng. Lợi nhuận ròng là cơ sở mà các nhà đầu tư hay cổ đông sẽ xem xét dựa trên báo cáo hoạt động kinh doanh của CTNY để đánh giá về khả năng tiêu thụ hàng hóa hay dịch vụ và lợi nhuận được tạo ra có khả thi hay đạt kỳ vọng của họ? Mặt khác, lợi nhuận ròng phản ánh được khả năng quản lý hay chiến lược kinh doanh của lãnh đạo của các CTNY để tạo ra lợi nhuận hay thu nhập cho các cổ đông. Do đó, lợi nhuận ròng là một trong những tiêu chí để đánh giá về giá trị hay khả năng phát triển của CTNY trong tương lai. Nếu chỉ tiêu này tăng đều đặn vào mỗi năm thì giá của cổ phiếu cũng từ đó sẽ được đánh giá cao hay tăng theo giá trị thị trường của CTNY. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sighn và Tandoc (2019)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Chương này tập trung thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu, phân tích sự tương quan và hồi quy. Đồng thời, tiến hành kiểm định sự lựa chọn các mô hình và FEM được chọn để phân tích. Sau khi phát hiện các hiện tượng khuyết tật và khắc phục thì mô hình FEM cho các kết quả đó là các biến số ảnh hưởng tích cực đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam đó là thu nhập trên mỗi cổ phiếu, cổ tức trên mỗi cổ phiếu, lợi nhuận ròng, tăng trưởng kinh tế. Ngược lại biến số ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam đó là tỷ suất sinh lời và tỷ lệ lạm phát. Ngoài ra, quy mô công ty và tỷ lệ chia cổ tức không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
5.1. Kết luận
Luận văn đã tiến hành thực hiện tổng hợp khung lý thuyết nền tảng liên quan đến giá cổ phiếu tại các CTNY, các chỉ tiêu đo lường và các lý thuyết liên quan đến cổ phiếu tại các CTNY. Ngoài ra, tổng hợp các yếu tố lý thuyết ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các CTNY. Đồng thời, thông qua các lược khảo liên quan trong nước và nước ngoài, luận văn xác định được các khoảng trống của nghiên cứu này, từ đó, tạo cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu phù hợp cho bối cảnh của các CTNY về giá của cổ phiếu. Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được hoàn thành đó là biến phụ thuộc đại diện cho giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam được xác định SP. Đồng thời, SP bị tác động bới các biến độc lập là Quy mô công ty; Cổ tức trên mỗi cổ phiếu; Tỷ lệ chi trả cổ tức; Lợi nhuận sau thuế; Thu nhập trên mỗi cổ phiếu; Tỷ suất sinh lời; Tăng trưởng kinh tế; Tỷ lệ lạm phát.
Thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 171 CTNY trên TTCK Việt Nam từ năm 2012 – 2022 và tiến hành thống kê, kiểm định, khắc phục các hiện tượng thì mô hình FGL được sử dụng để kết luận. Từ đó, mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành với kết quả về mức độ ảnh hưởng từ cao xuống thấp của các biến số đến SP đó là Tỷ lệ lạm phát (β = -177,5); tỷ suất sinh lời (β =-57,24); tăng trưởng kinh tế (β = 52,44); cổ tức trên mỗi cổ phiếu (β = 27,22); thu nhập trên mỗi cổ phiếu (β = 5,620); lợi nhuận ròng (β = 0,004). Ngoài ra, quy mô công ty (SIZE), tỷ lệ chia cổ tức (DPR) có ý nghĩa thống kê với P – value lớn hơn 5%, do đó hai biến số này không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Từ kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở cho luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị khả thi đến các CNTY trên TTCK Việt Nam để gia tăng giá cổ phiếu trong tương lai, tương ứng với các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Các hàm ý đó được trình bày dưới phần sau:
5.2. Hàm ý quản trị Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
5.2.1. Đối với cổ tức trên mỗi cổ phiếu
Thứ nhất, công ty cần xây dựng chính sách cổ tức theo cách tối đa hóa sự giàu có của cổ đông. Cổ tức trên mỗi cổ phiếu có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu, do đó, để gia tăng giá cổ phiếu, công ty có thể xem xét gia tăng cổ tức trên mỗi cổ phiếu. Song, để đưa ra mức chi trả hợp lý, công ty cần đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa chính sách cổ tức, chính sách đầu tư và tài trợ. Chính sách đầu tư là chính sách chiến lược hàng đầu của công ty. Cách đầu tư của một công ty là vấn đề mấu chốt tạo ra giá trị mới và ấn định mức lợi nhuận tương lai cũng như tiềm năng cổ tức tương lai. Mỗi công ty tùy vào đặc điểm kinh doanh, điều kiện kinh tế thị trường hiện tại lại có những chính sách đầu tư và phát triển khác nhau. Cần phải có chính sách đầu tư tổng thể và chính sách đầu tư cho từng giai đoạn cũng như cho từng năm tài chính đáp ứng với mục tiêu doanh thu và lợi nhuận đã được hoạch định. Một chính sách đầu tư chỉ có thể trở thành hiện thực nhờ vào chính sách tài trợ. Chính sách tài trợ tác động đến nhiều khía cạnh tài chính của một công ty nó tác động cơ cấu nguồn vốn và từ đó nó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, chi phí sử dụng vốn và rủi ro tài chính của công ty.
Từ chính sách tài trợ tổng thể cần hoạch định kế hoạch tài trợ cụ thể cho từng giai đoạn phù hợp với kế hoạch đầu tư. Một khi nhận thấy kế hoạch đầu tư quá lớn vượt quá xa năng lực tài chính của công ty thì cần phải có sự điều chỉnh lại kế hoạch đầu tư cho phù hợp. Trong chính sách và kế hoạch tài trợ một vấn đề rất quan trọng là hoạch định nguồn tài trợ bên trong và nguồn tài trợ bên ngoài. Vấn đề này liên quan mật thiết đến chính sách cổ tức của công ty. Như đã nêu, chính sách cổ tức ấn định phần lợi nhuận để trả cổ tức và phần lợi nhuận giữ lại tái đầu tư. Việc trả cổ tức quyết định số lợi nhuận lưu giữ nhiều hay ít, điều này ảnh hưởng tới nguồn vốn bên trong tài trợ cho các nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty trong tương lai. Mặt khác, việc trả cổ tức sẽ làm giảm lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài của công ty.
Do vậy, cần tránh tình trạng công ty đang trong quá trình tăng trưởng nhanh, nhu cầu vốn cho đầu tư rất lớn nhưng công ty vẫn trả cổ tức ở mức cao. Chính sách cổ tức của công ty cần kết hợp chặt chẽ với chính sách đầu tư, chính sách tài trợ để hướng đến mục tiêu chung là tối đa hóa giá trị của công ty.
Thứ hai, nhà đầu tư thường ưa thích lợi nhuận chắc chắn thông qua hình thức cổ tức, vì vậy, việc chi trả cổ tức hàng quý với tỷ lệ nhỏ cùng với chi trả bổ sung hằng năm nên được xem xét chú trọng để tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư, từ đó, ổn định giá cổ phiếu. Điều này cũng giúp công ty có sự chủ động trong việc đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận tái đầu tư cho các giai đoạn tiếp theo. Công ty có thể trả cổ tức cho cổ đông bằng tiền, trả bằng cổ phiếu hay kết hợp vừa trả bằng tiền vừa trả bằng cổ phiếu. Mỗi hình thức trả có những ưu điểm và những hạn chế khác nhau. Vấn đề quan trọng là lựa chọn hình thức trả cổ tức phù hợp với đặc điểm và tình hình của công ty trong mỗi giai đoạn nhất định. Chu kỳ sống của công ty thường bao gồm các giai đoạn: giai đoạn hình thành hay khởi sự, giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn ổn định và giai đoạn suy thoái. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau về mức độ hoạt động, về đầu tư và nhu cầu vốn đầu tư; về mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lời. Do vậy, khi hoạch định hay hoàn thiện chính sách cổ tức cần phải tính đến đặc điểm của từng giai đoạn để xây dựng một chính sách cổ tức thích hợp.
Thứ ba, đối với các nhà đầu tư, chính sách cổ tức ngoài việc cung cấp thông tin về tình trạng của công ty còn cho thấy rõ ràng có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và giá trị của công ty, do đó, nhà đầu tư cần tìm hiểu về chính sách cổ tức của công ty để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Nhà đầu tư có thể xem xét lựa chọn các công ty có chính sách cổ tức ổn định, có sự tăng trưởng về cổ tức trên mỗi cổ phiếu qua các năm cũng như xem xét thêm các yếu tố tài chính khác như lợi nhuận sau thuế và thu nhập trên mỗi cổ phiếu ổn định. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
5.2.2. Đối với thu nhập trên mỗi cổ phiếu
Mối quan tâm chính đối với các cổ đông là số tiền lãi. Thu nhập trên mỗi cổ phiếu tăng hàm ý sự gia tăng thu nhập của cổ đông và khuyến khích nhu cầu đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp. Thu nhập trên mỗi cổ phiếu cao chứng tỏ công ty đã sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chi trả cổ tức cho các cổ đông, đồng thời chỉ có một phần nhỏ lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư và ngược lại. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần có kế hoạch và chiến lược phát triển kinh doanh tốt, tối đa hóa lợi nhuận, cắt giảm chi phí không cần thiết, như vậy cổ phiếu của công ty mới có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.
5.2.3. Đối với vĩ mô nền kinh tế
Lạm phát là một trong những nguyên nhân gây bất ổn kinh tế, làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư. Vì vậy, trong điều hành kinh tế vĩ mô nhà hoạch định chính sách cần phải kiềm chế và kiểm soát lạm phát trong giới hạn hợp lý bằng các biện pháp thắt chặt cung tiền tệ và mở rộng cầu tiền tệ. Bên cạnh đó, kiểm soát chặt chẽ phương án giá và mức giá đối với các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; giám sát chặt chẽ kê khai giá của doanh nghiệp đối với mặt hàng bình ổn, mặt hàng kê khai giá; … Tất cả những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước định giá thì cần điều chỉnh cho phù hợp, theo từng thời điểm, tránh hiện tượng tăng giá ồ ạt. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giá, trong đó có việc hoàn thiện các định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ theo lộ trình bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí thực hiện dịch vụ vào giá.
Trường hợp mức giá cao hơn mức phí hiện hành thì cần có lộ trình điều hành phù hợp bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, các bộ, ngành cần thực hiện tổ chức và quản lý tốt thị trường trong nước, ổn định tâm lý thị trường. Mặt khác, một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát là niềm tin của người dân vào các chính sách vĩ mô. Nếu người dân còn quan ngại về những bất ổn trong chính sách, luôn kỳ vọng vào sự mất giá của đồng tiền thì lạm phát cũng bị đẩy lên cao. Vì thế, việc khắc phục vấn đề này cần một sự nhất quán và minh bạch trong điều hành chính sách, tránh tạo ra các cú sốc, đồng thời thông tin kịp thời việc thay đổi chính sách đến người dân, chú ý đến định hướng dư luận xã hội, ngăn chặn kịp thời các tin đồn trên thị trường tiền tệ. Đây là những việc làm rất cần thiết để tạo niềm tin cho từng doanh nghiệp và cho các tầng lớp dân cư trong điều kiện hiện nay.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
5.3.1. Hạn chế của đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã gặp phải các hạn chế sau:
Dữ liệu từ BCTC: hạn chế của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ BCTC của các công ty niêm yết từ năm 2012 đến năm 2022 nên chắc chắn khó có thể tránh được những thiếu sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu và ảnh hưởng đến kết quả.
Một số biến độc lập khác có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Hạn chế của tác giả là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Trong các nghiên cứu tiếp theo, tác giả xin đề xuất một số hướng như sau:
- Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các yếu tố tác động đến giá trị thị trường của cổ phiếu được sử dụng trong luận văn.
- Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình.
- Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh thực trạng giá trị thị trường của cổ phiếu của các CTNY Việt Nam.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả CTNY Việt Nam và một số CTNY trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5
Chương 5 đã trình bày kết luận tổng quát về kết quả đạt được của luận văn, đồng thời chỉ ra các mối quan hệ ảnh hưởng giữa các biến số độc lập đến giá cổ phiếu của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Từ đó đề xuất các hàm ý quản trị cho các công ty tăng giá trị cổ phiếu trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến giá cổ phiếu của các công ty […]