Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả

4.1.1. Tình hình tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023

Trong giai đoạn 2014 – 2023 thì tỷ lệ DPRRTD của các NHTM Việt Nam có chiều hướng gia tăng và có những sự thay đổi được biểu diễn dưới biểu đồ sau:

Hình 4.1: Tình hình tỷ lệ DPRRTD của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ năm 2014 – 2023

Dựa trên biểu đồ hình 4.1 thì năm 2015 dưới sức ép của các quy định NHNN về siết chặt RRTD tại các ngân hàng thì tỷ lệ này giảm từ 0,88% xuống 0,794%. Tuy nhiên, sau đó từ năm 2016 đến năm 2019 thì tỷ lệ tăng đều mỗi năm từ 0,794% đến 1,639%, nguyên nhân được xác định do các NHTM tiến hành chạy đua tăng trưởng tín dụng nên bắt đầu có sự nới lỏng các quy định làm cho RRTD tăng theo. Đến năm 2020 thì tỷ lệ này giảm còn 1,569% nhưng với ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 thì tỷ lệ này có phần tăng nhanh hơn giai đoạn trước đó. Do tình hình kinh tế khó khăn chung, nên khách hàng dù là doanh nghiệp hay cá nhân đều gặp trở ngại trong lưu thông hàng hóa, nên nguồn trả nợ bị ứ đọng làm cho các nhóm nợ quá hạn nhảy liên tục, từ đó hình thành nợ xấu và làm lịch sử tín dụng kém đi. Nhưng nhìn chung thì tỷ lệ này vẫn được duy trì với mức dưới 3% là ngưỡng cho phép của NHNN đối với HĐKD cấp tín dụng của các NHTM tại Việt Nam.

4.1.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn trong bảng sau:

Bảng 3.1: Thống kê mô tả

Biến Quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
LLR 240 1,45% 0,91% 0,01% 3,84%
SIZE 240 33,13 1,28 30,39 36,24
ROE 240 18,54% 9,48% 3,40% 69,12%
LGR 240 6,41% 1,26% 2,53% 12,16%
ME 240 1,76% 0,55% 0,67% 3,465
CAR 240 12,79% 5,26% 4,04% 33,04%
GDP 240 5,83% 1,72% 2,58% 8,02%
INF 240 2,87% 0,94% 0,63% 4,08%
STA 240 0,16 0,37 0 1

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Bảng 4.1 cho thấy với tỷ lệ RRTD (LLR) qua các năm có GTTB là 1,45% và có độ lệch chuẩn 0,91%, do đó cho thấy các NHTM có sự khác biệt về tỷ lệ này về mặt GTTB. Trong đó, tại VIETCAP năm 2016 có mức tỷ lệ LLR nhỏ nhất là 0,01%  và tại năm 2023 thì VIB có tỷ lệ LLR lớn nhất 3,84%.

Đối với quy mô của các NHTM (SIZE) theo Log(Tổng tài sản) thì trung bình qua các năm từ 2014 – 2023 là 33,13 và không có sự khác biệt quá lớn với độ lệch 1,28. Quy mô này nhỏ nhất thuộc về SGB năm 2014 với giá trị là 30,32 và lớn nhất là 36,23 thuộc về BIDV năm 2023. Mặt khác, các NHTM như VCB, CTG, BID, AGR có sở hữu Nhà nước nước trên 51% luôn đứng đầu trong quy mô tài sản.

Tỷ suất sinh lời trên VCSH bình quân được các NHTM năm 2014 – 2023 duy trì với mức trung bình là 18,54% với độ lệch chuẩn cao là 9,84%. Do đó, có sự khác biệt tỷ lệ này giữa các ngân hàng. Trong đó, GTNN là 3,40% của SCB năm 2015 và GTLN là 3,21% của STB năm 2016. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Đối với tăng trưởng tín dụng thì giai đoạn 2014 – 2023 tỷ lệ trung bình của các NHTM là 6,41% và độ lệch chuẩn thấp 1,26%, điều này chứng minh việc các ngân hàng vẫn đang chú trọng tăng trưởng này để thu được nhiều lợi nhuận hơn. Tăng trưởng thấp nhất là 2,54% của MSB năm 2014 và lớn nhất của VPB với tỷ lệ 12,16% trong năm 2023.

Đối với tỷ lệ chi phí hoạt động thì giai đoạn 2014 – 2023 tỷ lệ trung bình của các NHTM là 1,76% và độ lệch chuẩn thấp 0,55%, điều này chứng minh sự khác biệt tại các NHTM với việc sử dụng chi phí hoạt động để vận hành vẫn tồn tại. Tỷ lệ này thấp nhất là 0,68% của SCB năm 2016 và lớn nhất của ACB với tỷ lệ 3,45% trong năm 2023.

Đối với hệ số an toàn vốn thì giai đoạn 2014 – 2023 thì trung bình là 12,79% với độ lệch chuẩn là 5,26%, từ đó có thể thấy các ngân hàng vẫn duy trì mức tỷ lệ này với mức ổn định trên 9%, và vẫn có sự mức khác biệt giữa các NHTM trong việc duy trì hệ số an toàn vốn. Trong đó, tỷ lệ nhỏ nhất là 4,04% của SCB năm 2020 và lớn nhất là 33,04% của SGB năm 2014.

Đối với vĩ mô nền kinh tế thì đại diện bởi GDP và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2014 – 2023 thì dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm là 5,83% với độ lệch thấp, trong đó thấp nhất là 2,58% trong năm 2021 và cao nhất là 8,02% năm 2022. Đối với tỷ lệ lạm phát thì trung bình mỗi năm là 2,87%, trong đó năm 2015 thấp nhất với tỷ lệ 0,63% và cao nhất là 4,08% năm 2014. Ngoài ra thì trong luận văn có sử dụng sở hữu Nhà nước, đại dịch Covid 19 nhưng chúng tồn tại dưới dạng biến giả nhận hai giá trị 0,1. Do đó, có tính đặc thù theo nhóm hoặc theo năm nên không trình bày thống kê mô tả tại mục này.

4.2. Kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

4.2.1. Phân tích tương quan

Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không ? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967). Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập và trích xuất tại Phụ lục 2. Khi xét độ lớn các hệ số tương quan trên ma trận thấp hơn 0,8 điều này cho thấy mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiệm trọng.

4.2.2. Kết quả kiểm định cho các mô hình hồi quy

Như đã đề cập tại chương 3 thì ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn này đó là Pooled OLS, FEM và REM nhằm xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố đến RRTD tại các NHTM Việt Nam. Đồng thời, tại đây sẽ tiến hành kiểm định Hausman giữa mô hình FEM và REM để tìm ra mô hình phù hợp để thực hiện các kiểm định sâu hơn nhằm kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu:

Bảng 4.2: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM

Tên biến LLR
OLS FEM REM
SIZE 0,003*** 0,005*** 0,004***
ROE -0,019*** -0,018*** -0,016***
LGR 0,240*** 0,147** 0,166***
ME 0,446*** -0,069 0,084
CAR -0,0001 -0,0003** -0,0003*
GDP -0,032 -0,027 -0,030
INF 0,045 0,049 0,049
STA -0,002 0 -0,007*
R-square 54,53% 60,84% 60,03%

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Với kết quả tại bảng 4.2 thì hệ R2 đều lớn hơn 50%. Điều này cho thấy các biến số độc lập có ý nghĩa thống kê giải thích được trên 50% sự thay đổi của LLR. Ngoài ra, kết quả hồi quy của ba mô hình có sự tương đồng về sự tác động tích cực của biến số SIZE, LGR đến LLR và biến số ROE tác động tiêu cực đến LLR. Tuy nhiên, với biến số CAR thì không ý nghĩa với Pooled OLS nhưng lại có ý nghĩa với FEM, REM. Biến ME có ý nghĩa với Pooled OLS nhưng lại không có ý nghĩa với FEM, REM. Nhưng khi xét về chiều ảnh hưởng thì các biến số đều có sự tương đồng. Do đó, mô hình vẫn có sự phù hợp về số liệu, nên cần kiểm định lựa chọn mô hình nào phù hợp để tiếp tục kiểm định.

4.2.3. Kiểm định lựa chọn mô hình

Luận văn này sẽ tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình thông qua ba kiểm định tương ứng dưới bảng 4.3 như sau:

Bảng 4.3: Kiểm đinh lựa chọn mô hình

Kiểm định Pooled OLS và FEM FEM và REM Pooled OLS và REM
F – test F (7,209)   = 46,38

Prob > F    = 0,000

Hausman chi2(6)       =       8,64

Prob>chi2  =      0,2793

Breus –

Pargan test

chibar2(01)      =   224,66

Prob > chibar2 =   0,0000

Kết quả Chọn FEM Chọn REM Chọn REM

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp.

Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM thì luận văn sử dụng kiểm định Breus – Pargan test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình REM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > chibar2 là 0,000 thấp hơn 5% nên bác bỏ H0, do đó mô hình REM phù hợp. Với hai kiểm định trên thì ta thấy FEM và REM phù hợp hơn Pooled OLS. Do đó, kiểm định Hausman dưới đây sẽ kết luận mô hình phù hợp nhất cho luận văn này.

Khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Kết quả tại Bảng 6 cho thấy giá trị P – value của kiểm định này cao hơn 5% nên chấp nhận H0, hay nói cách khác thì mô hình REM phù hợp hơn, do đó mô hình này phù hợp với việc thực hiện các kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả.

4.2.4. Kiểm định khuyết tật của mô hình REM

Trong các hiện tượng khuyết tật của mô hình REM cần kiểm định là hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan thì kết quả kiểm định dưới bảng sau:  Bảng 4.4: Kết quả kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình REM

Hiện tượng phương sai sai số thay đổi Hiện tượng tự tương quan
chi2 (24)   =      224,66

Prob>chi2 =      0,0000

F(1,23)   =     72,99

Prob > F =      0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình. Kết quả kiểm định tại bảng 4.4 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Kết quả kiểm định tại bảng 7 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng tự tương quan.

4.2.5. Khắc phục khuyết tật của mô hình REM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Như vậy khi xác định được mô hình REM đã có tồn tại hai hiện tượng phương sai số thay đổi và tự tương quan thì cần phải tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS, nhằm xác định kết quả cuối cùng để thảo luận và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tương ứng.

Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Biến độc lập Biến phụ thuộc LLR
Hệ số hồi quy Sai số chuẩn P-value
SIZE 0,003*** 0,001 0,000
ROE -0,015*** 0,003 0,000
LGR 0,134*** 0,037 0,000
ME 0,170* 0,085 0,045
CAR -0,0001 0,0001 0,256
GDP -0,004 0,010 0,645
INF 0,033* 0,016 0,039
STA -0,003 0,002 0,129
cons -0,089*** 0,018 0,000
Wald chi2(8) 167,09
Prob > chi2 0,0000

Nguồn: Kết quả trích xuất từ STATA 14.0

Với biến phụ thuộc là LLR   thì sau khi kiểm định các hiện tượng khuyết tật và khắc phục tương ứng thì nhận được kết quả P – value của mô hình theo phương pháp FGLS là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng minh được mô hình cuối cùng này phù hợp với tổng thể và có ý nghĩa thống kê phân tích tiếp theo. Mặt khác, bảng 8 cũng thể hiện sự tương đồng cao về dấu ảnh hưởng của các biến độc lập trong mô hình đến LLR. Do đó có sự phù hợp để thảo luận kết quả này. Dựa trên kết quả bảng 4.5 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau:

LLRi,t = -0,089 + 0,003∗SIZEi,t – 0,015∗ROEi,t + 0,134∗LGRi,t + 0,17∗MEi,t +0,033∗INFt

4.3. Kiểm định giả thuyết thống kê và thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

4.3.1. Kiểm định giả thuyết thống kê

Dựa trên kết quả bảng 4.5 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi yếu tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ tiến hành bác bỏ và ngược lại.

Bảng 4.6: Kết quả tổng hợp

Giả thuyết nghiên cứu Biến độc   lập LLR Kết luận giả thuyết
Kỳ vọng Kết quả
Dấu P-value
H1 SIZE Dương (+) Dương (+) 0,000 Chấp nhận
H2 ROE Âm (-) Âm (-) 0,000 Chấp nhận
H3 LGR Dương (+) Dương (+) 0,000 Chấp nhận
H4 ME Dương (+) Dương (+) 0,045 Chấp nhận
H5 CAR Dương (+) Âm (-) 0,256 Bác bỏ
H6 GDP Âm (-) Âm (-) 0,645 Bác bỏ
H7 INF Dương) Dương (+) 0,039 Bác bỏ
H8 STA Dương (+) Âm (-) 0,129 Bác bỏ
R2 60,03%

Nguồn: Tổng hợp kết quả tính toán

Bảng 4.6 đã trình bày kỳ vọng về giả thuyết và kết quả đối sánh. Mặt khác, đối với biến LLR thì SIZE, ROE, LGR, ME, INF đã giải thích được 60,03% sự thay đổi của LLR. Tuy nhiên, về chiều hướng tác động của số biến số độc lập đến biến phụ thuộc tương đồng với kỳ vọng ban đầu, nên phần dưới đây luận văn sẽ tiến hành thảo luận kết quả này với bối cảnh các NHTM Việt Nam.

4.3.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô ngân hàng có mối quan hệ thuận chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Với hệ số hồi quy là 0,003 có nghĩa là khi quy mô ngân hàng tăng 1% thì RRTD tăng 0,3%. Kết quả này và giả thuyết ban đầu có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến RRTD. Kết quả này tương đồng với các công trình của Barra và Ruggiero (2022); Nguyễn Quỳnh Hoa (2020). Điều này có nghĩa khi quy mô ngân hàng càng lớn thì khả năng tiếp cận của khách hàng càng dễ dàng, do đó việc ngân hàng cho vay càng nhiều hơn từ đó làm tiềm ẩn RRTD trong tương lai. Mặt khác, quy mô càng lớn có nghĩa là chi phí đầu tư càng lớn nên các ngân hàng muốn cho vay nhiều hơn để có thu nhập nhiều hơn nhằm bù đắp sự đầu tư đó, nên có phần nới lỏng các quy định để khách hàng tiếp cận dễ hơn, nên tạo ra RRTD nhiều hơn. Ngoài ra, các ngân hàng có quy mô lớn thì khẩu vị RRTD cũng có phần được nới rộng hơn, nên quyết định cấp tín dụng sẽ nhanh và có phần tự tin hơn với các khách hàng có lịch sử tín dụng có phần mạo hiểm.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ suất sinh lời có mối quan hệ nghịch chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Với hệ số hồi quy là -0,015 có nghĩa là khi quy mô ngân hàng tăng 1% thì RRTD giảm 0,015%. Kết quả này và giả thuyết ban đầu có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến RRTD. Kết quả này tương đồng với các công trình của Antony và Suresh (2023); Nguyễn Kim Quốc Trung (2019). Điều này có nghĩa, khi ngân hàng có tỷ lệ ROE tăng thì nguồn VCSH được sử dụng hiệu quả để thu được nhiều hơn lợi nhuận Hay nói cách khác, việc cho vay hiệu quả thu được nợ cả gốc lẫn lãi từ khách hàng nên thu nhập và lợi nhuận cũng tăng theo, từ đó RRTD tại ngân hàng cũng được giảm thiểu đáng kể.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ thuận chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Với hệ số hồi quy là 0,134 có nghĩa là khi tăng trưởng tín dụng tăng 1% thì RRTD tăng 0,134%. Kết quả này và giả thuyết ban đầu có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến RRTD. Kết quả này tương đồng với các công trình của Naili và Lahrichi (2020); Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021); Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2023). Điều này có nghĩa khi tăng trưởng tín dụng, đặc biệt trong trường hợp các ngân hàng chạy đua nhau để nới rộng dư nợ hoặc tăng trưởng nóng, thì buộc phải nới lỏng các quy định hay chính sách cho vay để khách hàng vay dễ hơn. Từ đó, các tiêu chí về lịch sử hay chất lượng tín dụng có thể được bỏ qua, nên tạo ra tiềm ẩn RRTD trong tương lai. Do đó, việc tăng trưởng nhanh chóng hoặc bất chấp các quy định thì sẽ tạo ra những rủi ro lớn cho ngân hàng trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ chi phí hoạt động có mối quan hệ thuận chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Với hệ số hồi quy là 0,17 có nghĩa là khi tỷ lệ chi phí hoạt động tăng 1% thì RRTD tăng 0,17%. Kết quả này và giả thuyết ban đầu có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến RRTD. Kết quả này tương đồng với các công trình của Manz (2019); Phạm Dương Phương Thảo và Nguyễn Linh Đan (2018). Điều này có nghĩa khi tỷ lệ chi phí hoạt động tăng cao thì để bù đắp được các khoản đó thì buộc các ngân hàng phải gia tăng cho vay để thu được lợi nhuận, từ đó tăng trưởng tín dụng sẽ bị kéo theo và như đã lập luận trên thì việc này làm cho các chính sách của ngân hàng dễ dàng hơn và tăng tính RRTD hơn.

Kết quả nghiên cứu cho rằng tỷ lệ an toàn vốn có mối quan hệ nghịch chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Nhưng P – value lớn hơn 5% do đó biến số này không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM. Kết quả này và giả thuyết ban đầu không có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến TTTD. Nên kết quả này không tương đồng với Naili và Lahrichi (2020); Naili và Lahrichi (2022); Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2023). Điều này có nghĩa là đối với các NHTM thì tỷ lệ an toàn vốn là phần quy định của NHNN buộc phải thực hiện, tuy nhiên việc duy trì tỷ lệ này chưa hẳn đã đi theo với khẩu vị rủi ro của các ngân hàng, do đó có thể không tồn tại mối quan hệ giữa tỷ lệ này với RRTD.

Kết quả nghiên cứu cho rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nghịch chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Nhưng P – value lớn hơn 5% do đó biến số này không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM. Kết quả này và giả thuyết ban đầu không có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến TTTD. Nên kết quả này không tương đồng với Naili và Lahrichi (2022); Nguyễn Kim Quốc Trung (2019); Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021); Phạm Hải Nam (2021). Điều này có nghĩa là trong môi trường kinh tế có sự thay đổi tăng trưởng hay sụt giảm, thì tùy vào quan điểm và định hướng của ngân hàng với hoạt động tín dụng nên RRTD cũng tùy thuộc vào những hoạt động đó, hay nói cách khách sự tăng trưởng GDP là một khía cạnh có thể không ảnh hưởng đến RRTD tại ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ chi phí lạm phát có mối quan hệ thuận chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Với hệ số hồi quy là 0,033 có nghĩa là khi tỷ lệ lạm phát tăng 1% thì RRTD tăng 0,033%. Kết quả này và giả thuyết ban đầu có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến RRTD. Kết quả này tương đồng với các công trình của Naili và Lahrichi (2020); Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021); Phạm Hải Nam (2021); Nguyễn Kim Quốc Trung (2022). Điều này có nghĩa khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng làm sự lưu thông khó khăn nên nguồn trả nợ vay của các khách hàng có phần hạn chế, việc nhảy các nhóm nợ quá hạn cũng sẽ tăng theo. Hay nói cách khác tỷ lệ lạm phát là thành tố kích thích RRTD tăng theo.

Kết quả nghiên cứu cho rằng sở hữu Nhà nước có mối quan hệ nghịch chiều với RRTD tại các NHTM Việt Nam. Nhưng P – value lớn hơn 5% do đó biến số này không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM. Kết quả này và giả thuyết ban đầu không có sự đồng nhất về chiều ảnh hưởng đến TTTD. Nên kết quả này không tương đồng với Naili và Lahrichi (2020); Antony và Suresh (2023).

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Chương này tập trung vào việc phân tích tình hình chung của RRTD thông qua tỷ lệ DPRRTD của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023. Ngoài ra, tiến hành thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu, phân tích sự tương quan và hồi quy. Đồng thời, tiến hành kiểm định sự lựa chọn các mô hình và REM được chọn để phân tích. Sau khi phát hiện các hiện tượng khuyết tật và khắc phục thì mô hình REM cho các kết quả đó là các biến số ảnh hưởng tích cực đến RRTD tại các NHTM Việt Nam đó là quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát. Ngược lại biến số ảnh hưởng tiêu cực đến RRTD tại các NHTM Việt Nam đó là ROE. Ngoài ra, hệ số an toàn vốn, tăng trưởng kinh tế và sở hữu Nhà nước không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Kết luận Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Luận văn này đã thực hiện việc tổng hợp các khung lý thuyết liên quan đến RRTD và các yếu tố ảnh hưởng đến nó tại các NHTM. Đồng thời, thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định các yếu tố được xây dựng trong mô hình nghiên cứu và có sự ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam là quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ suất sinh lời, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ an toàn toàn vốn, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, sở hữu Nhà nước. Sau đó, thông qua nghiên cứu định lượng với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 NHTM Việt Nam từ 2014 – 2023 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Các biến số ảnh hưởng tích cực đến RRTD tại các NHTM Việt Nam đó là quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát. Ngược lại biến số ảnh hưởng tiêu cực đến RRTD tại các NHTM Việt Nam đó là ROE. Ngoài ra, hệ số an toàn vốn, tăng trưởng kinh tế và sở hữu Nhà nước không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam. Từ các kết quả nghiên cứu này thì các hàm ý quản trị tương ứng sẽ được đề xuất phần dưới đây

5.2. Hàm ý quản trị

5.2.1. Đối với quy mô các ngân hàng thương mại

Đối với các NHTM khi mở rộng quy mô đồng nghĩa với việc sẽ mở rộng mạng lưới chi nhánh hay phòng giao dịch trên địa bàn hoạt động. Do đó, khi mở rộng thì các NHTM cần lựa chọn các vị trí trung tâm, đắc địa tạo sự thuận lợi cho việc tiếp cận của khách hàng. Đặc biệt các vị trí cần khu công nghiệp hay liên kết tại các dự án tốt cần được quan tâm. Nhưng các NHTM cần phải bám sát vào quy định của quy định 21/2013/TT-NHNN về quy định tỷ lệ nợ xấu luôn dưới 3% thì mới được mở rộng tầm cỡ chi nhánh hay phòng giao dịch.

Các NHTM cần điều chỉnh quy mô theo hướng tận dụng lợi thế theo quy mô để phát triển hoạt động, giảm thiểu chi phí tiếp cận nguồn tài trợ từ bên ngoài. NHTM cần xem xét việc mở rộng quy mô với việc tuyển dụng đầu vào kỹ lưỡng, vì khi quy mô NHTM được mở rộng mà đội ngũ làm việc không hiệu quả thì cũng không phát huy hết được lợi thế theo quy mô. Việc mở rộng này cần gắn liền với việc đánh giá hiệu quả đóng góp của nhân viên để có chế độ lương, thưởng phù hợp nhằm khuyến khích họ làm việc tốt hơn; đồng thời các chương trình đào tạo huấn luyện nhân viên cũng cần được tổ chức định kỳ cùng các kỳ thi đánh giá năng lực nhân viên khi thực hiện nghiệp vụ. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Ngoài ra, việc gia tăng quy mô ngân hàng cần chú trong việc đầu tư vào công nghệ hay kỹ thuật ngân hàng để đánh giá các khoản vay một cách hiệu quả, nhằm tiếp cận khách hàng muốn vay hơn là các hoạt động bán lẻ khác. Mặt khác, công nghệ hiện đại phát hiện được các khách hàng có lịch sử tín dụng không tốt, tính toán các kế hoạch cho vay chính xác hơn. Từ đó, tạo ra điều kiện TTTD tốt hơn hạn chế nợ xấu cho các ngân hàng trong tương lai.

5.2.2. Đối với tăng trưởng tín dụng

Kết quả nghiên cứu đúc kết rằng tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng cùng chiều với nợ xấu ngân hàng. Với điều kiện phải đảm bảo được vấn đề thanh khoản, NHTM nên tập trung tăng trưởng tín dụng một cách hợp lý trên cơ sở tận dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được. Vì khi tỷ lệ cho vay tăng nghĩa là tốc độ tăng của dư nợ cho vay cao hơn tốc độ tăng của tài sản. Khi đó rủi ro thanh khoản sẽ càng tăng, rủi ro tín dụng sẽ càng tăng. Các ngân hàng cần tập trung tiếp thị riêng đối với từng phân khúc khách hàng, tiếp cận khách hàng mục tiêu cụ thể, tập trung vào các khách hàng có tiềm năng. Tuy nhiên, khi ngân hàng tăng tỷ lệ cho vay thì cũng cần lưu ý đến việc đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định của NHNN, thực hiện chặt chẽ quy định trước, trong và sau khi cho vay để đảm bảo nguồn vốn giải ngân được dùng đúng mục đích, sử dụng vốn hiệu quả.

5.2.3. Đối với tỷ suất lợi nhuận

Các NHTM Việt Nam hiện đang trong thời điểm cạnh tranh nhau rất nhiều về thị phần hoạt động hay sức ảnh hưởng trong hệ thống ngân hàng. Đa phần các ngân hàng muốn phát triển tín dụng và tăng sức nóng của tăng trưởng tín dụng để thu được nhiều lợi nhuận hơn. Vì vậy, các công cụ quản lý tín dụng được nới lỏng để gia tăng các khoản vay, đây chính là việc dẫn đến nợ xấu. Chính vì thế, đối với tỷ suất sinh lời các NHTM cần phải chọn chiến lược hoạt động bền vững ổn định, tránh tình trạng tăng trưởng tín dụng nóng, đồng thời hoạt động tín dụng gắn chặt với các công cụ quản lý hoạt động tín dụng để phòng ngừa các rủi ro nợ xấu và hạn chế nợ xấu cho ngân hàng.

Ngoài ra, hạn chế sự ảnh hưởng quá lớn của hoạt động tín dụng đến NHTM thì việc gia tăng lợi nhuận bằng cách đa dạng hóa các hoạt động cho vay, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, tạo ra lợi nhuận bằng các kênh bán hàng khác như kinh doanh chứng khoán, ngoại tệ, bảo hiểm.

5.2.4. Đối với công tác quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

Thứ nhất, các NHTM cần có hoạt động xử lý nợ xấu hiệu quả, gắn liền việc xử lý này với trách nhiệm của các cá nhân trong ngân hàng cụ thể là cán bộ tín dụng, thẩm định và các đơn vị ký duyệt hồ sơ vay. Đồng thời, cần tuân thủ các nguyên tắc liên quan đến định giá, xác định các mục đích sử dụng vốn và tầm soát sau giải ngân. Ngoài ra, với các dự án hay phương án kinh doanh cần có sự đánh giá, hay xếp hạng tính khả thi về sự thu hồi hay thanh toán gốc lãi. NHTM cần có các phương án thu hồi, xử lý hoặc bán nợ xấu với tổ chức VAMC nhằm giải quyết triệt để nợ xấu và hạn chế việc trích lập dự phòng để giảm lợi nhuận.

Thứ hai, các NHTM cần tăng cường các công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ để mang tính tầm soát, răn đe các bộ phận cần phải thực hiện đúng quy trình lẫn chính sách tín dụng. Mặt khác, các hoạt động kiểm toán kiểm soát nội bộ cần được thực hiện thường xuyên và độc lập với tình hình NHTM. Đặc biệt gắn trách nhiệm với các cá nhân phụ trách các hoạt động này với tổn thất tín dụng của NHTM.

Thứ ba, các NHTM cần gia tăng chất lượng nguồn nhân lực của mình để hạn chế rủi ro tín dụng thông qua việc tuyển dụng, lựa chọn hay phân bổ các vị trí công việc cho đội ngũ có chuyên môn, hiểu biết và có đạo đức nghề nghiệp. Đặc biệt cần có chế tài để xử lý nghiêm minh các trường hợp lợi ích nhóm, cấu kết với khách hàng nhằm qua mặt NHTM để tạo ra tiềm ẩn RRTD. Ngoài ra, gia tăng việc trao đổi, trau dồi chuyên môn cho các nhân sự liên quan, cũng như gắn lợi ích tài chính để tạo động lực làm việc và tuân thủ quy định NHTM.

5.3. Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

5.3.1. Hạn chế nghiên cứu

Thứ nhất, “nghiên cứu này được nghiên cứu tại giai đoạn thời gian chưa đủ dài nên chưa số quan sát được nghiên cứu chưa đủ lớn để kết luận vấn đề.

Thứ hai, các yếu tố đưa vào mô hình vẫn còn ít và chủ yếu là kế thừa từ các nghiên cứu trước vẫn chưa có những biến mới để đo lường tác động nên do thời gian và năng lực nghiên cứu có hạn.

Thứ ba, nghiên cứu vẫn chỉ lấy 24 NHTM Việt Nam để đại diện cho hệ thống NHTM có thể dẫn đến số liệu chưa đủ và điều kiện để kết luận chính xác

5.3.2. Hướng nghiên cứu mở rộng

Thứ nhất, trong những nghiên cứu tiếp theo sẽ gia tăng giai đoạn thời gian hơn nữa không chỉ bắt đầu từ năm 2014 mà có thể trước đó.

Thứ hai, nghiên cứu tiếp theo sẽ tiến hành khảo lược các công trình gần đây để tìm được các khoảng trống mới và đưa thêm các biến mới để nghiên cứu.

Thứ ba, sẽ gia tăng số lượng ngân hàng không dừng lại tại 24 NHTM hoặc có thể mở rộng” phạm vi ra ngoài Việt Nam.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Chương 5 Tác giả trình bày kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD của các NHTM Việt Nam. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các NHTM Việt Nam để hạn chế RRTD thông qua việc điều chỉnh các nhân tố ảnh hưởng tới nó. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993