Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam.
Nội dung luận văn: Luận văn này đã thực hiện việc tổng hợp các khung lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến nó tại các NHTM. Đồng thời, thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định các nhân tố được xây dựng trong mô hình nghiên cứu và có sự tác động đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam là quy mô ngân hàng; tỷ suất sinh lời; tăng trưởng tín dụng; tỷ lệ chi phí hoạt động; hệ số an toàn vốn; sở hữu nhà nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát.
Sau đó, thông qua nghiên cứu định lượng với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 NHTM Việt Nam từ 2014 – 2023 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến số ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam đó là quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát. Ngược lại biến số ảnh hưởng tiêu cực đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam đó là ROE. Ngoài ra, hệ số an toàn vốn, tăng trưởng kinh tế và sở hữu Nhà nước không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam. Từ các kết quả nói trên thì luận văn đã tiến hành đề xuất các hàm ý liên quan đến việc gia tăng quy mô ngân hàng; gia tăng vốn chủ sở hữu; quản lý tốt chi phí hoạt động; đảm bảo tăng trưởng tín dụng ổn định.
Từ khóa: Rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, hệ số an toàn vốn, vĩ mô nền kinh tế.
ABSTRACT Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Title: Factors affecting credit risk at Vietnamese commercial banks.
Content: This thesis has synthesized theoretical frameworks related to credit risk and factors affecting it at commercial banks. At the same time, through reviewing related studies, identify research gaps. From there, the first research objective resolved is to identify the factors built into the research model that have an impact on credit risk at Vietnamese commercial banks: bank size; profitability ratio; credit growth; operating expense ratio; capital adequacy ratio; state ownership; economic growth rate; inflation rate.
Then, through quantitative research with secondary data collection of 24 Vietnamese commercial banks from 2014 – 2023 and panel design, multivariate regression processing, the second research objective is completed. Research results show that the variables that affect credit risk in Vietnamese commercial banks in the same direction are bank size, credit growth, operating cost ratio, and inflation rate. On the contrary, the variable that negatively affects credit risk at Vietnamese commercial banks is ROE. In addition, capital adequacy coefficient, economic growth and State ownership do not have a statistically significant impact on credit risk at Vietnamese commercial banks. From the above results, the thesis has proposed implications related to increasing bank size; increase equity; good management of operating costs; ensure stable credit growth.
Keywords: Credit risk, bank size, capital adequacy ratio, macroeconomics.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là tổ chức trung gian tài chính thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ, trong đó nhiệm vụ chính yếu đến từ việc huy động vốn từ các chủ thể thừa vốn sau đó phân phối lại cho các đối tượng cần vốn để xoay chuyển hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế. Hay nói cách khác, việc huy động và phân phối này chính là sự tạo ra các khoản vay hay còn được gọi là cấp tín dụng, vì vậy các khoản vay tại các NHTM cần được đảm bảo với nguyên tắc an toàn và thể hiện sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, từ đó đem lại lợi nhuận cũng như sự phát triển của nền kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Tuy nhiên, các khoản cấp tín dụng chỉ đem lại lợi nhuận cho các NHTM khi các đối tượng khách hàng thanh toán gốc và lãi đúng hạn, nếu việc thanh toán gốc lãi bị trì hoãn thì sẽ tạo ra các khoản nợ quá hạn và nợ xấu, chính việc này sẽ tạo ra sự sụt giảm về kết quả kinh doanh cũng như ổn định của các NHTM, hay đây cũng được xem rủi ro của NHTM cụ thể đó là rủi ro tín dụng (RRTD). Vì khi NHTM xuất hiện RRTD thì các NHTM bị đe dọa bởi các khoản tiền gửi của khách hàng không thể thanh toán khi đến hạn, phải tiến hành trích lập dự phòng RRTD, gia tăng chi phí xử lý nợ,… điều này làm ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cũng như tái đầu tư vào các hạng mục khác của NHTM.
Từ tình hình thực tiễn trong thời gian vừa qua thì tại Việt Nam các NHTM đang trong giai đoạn nỗ lực để kìm hãm và duy trì tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu ở mức an toàn, bảo đảm được quy định của NHNN. Theo báo cáo từ NHNN cho biết cuộc xung đột tại Ukraine và dịch bệnh Covid-19 đã gây ra nhiều khó khăn cho nhiều doanh nghiệp trong nước, đã dẫn đến việc họ buộc phải đóng cửa hoặc hạn chế sản xuất, gây ra tác động tiêu cực lớn đối với hoạt động kinh doanh và gây ra tác động nghiêm trọng đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp. Trong giai đoạn từ 2020 – 2021, tại Việt Nam sự gia tăng về tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu nội bảng, cùng với việc nợ tiềm ẩn chuyển sang trạng thái nợ xấu một cách nhanh chóng và có chiều hướng tăng nhanh. Thực tế đã cho thấy, để đối mặt với tình hình nợ xấu ngày càng phức tạp, các tổ chức tài chính đã chủ động bằng cách phân loại nợ và tiến hành việc trích lập dự phòng RRTD (chiếm khoảng 80% thị phần tổng tài sản). Mức dự phòng này đã tăng lên đáng kể, đạt mức cao chưa từng có là 150% vào cuối năm 2021. Năm 2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng cùng với nợ đã được chuyển cho VAMC (Công ty quản lý tài sản Việt Nam), cùng với những khoản nợ tiềm ẩn đã chuyển thành dạng nợ xấu, duy trì ở mức khá cao là 6,31%. Năm 2022, tỷ lệ nợ xấu nội bảng trên toàn hệ thống duy trì ở mức 2% so với tổng dư nợ. Tuy nhiên, đến thời điểm cuối tháng 2/2023, tỷ lệ nợ xấu nội bảng đã tăng lên 2,91% (so với chỉ 1,49% vào năm 2021 và mức 2% vào năm 2022). Do đó, các NHTM bắt buộc phải có những đề xuất cũng như động thái cụ thể để quản lý cũng như kiểm soát tối đa nợ quá hạn, nợ xấu tại ngân hàng mình. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Hơn nữa những khó khăn trong lĩnh vực tài chính thể hiện ở thực tế thời gian gần đây sự sáp nhập, hợp nhất và mua lại với giá 0 đồng đã diễn ra ở một số ngân hàng thương mại Việt Nam. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên xuất phát từ hậu quả của hoạt động tín dụng, việc quản lý và kiểm soát hoạt động tín dụng không tốt đã làm cho nợ xấu tăng lên, kéo theo sự suy giảm lợi nhuận của các ngân hàng, thậm chí là mất vốn. RRTD được đại diện bởi nợ xấu tại các NHTM Việt Nam không phải mới phát sinh trong những năm gần đây mà thực chất đã tích tụ từ rất nhiều năm trước, với những biến động xấu của kinh tế vĩ mô, hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ làm giảm khả năng trả nợ của người đi vay thì rủi ro tín dụng càng trở thành vấn đề nóng bỏng của nền kinh tế.
Để tạo nền tảng tài chính cho các ngân hàng dần lành mạnh và phục hồi ổn định thì việc xem xét và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Chúng không chỉ làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế mà ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
Tính đến thời điểm hiện nay thì các nghiên cứu tiêu biểu về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM thì các tác giả chủ yếu tập trung vào hai nhóm nhân tố chủ yếu đó là nội tại của ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Điển hình trên thế giới các nghiên cứu của Tole và cộng sự (2019); Hazimi và William (2020); Antony và Suresh (2023) đề cập đến các nhân tố thuộc NHTM như quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lợi, tăng trưởng tín dụng, các hoạt động đa dạng hóa thu nhập, các hoạt động quản lý,.. và các nhân tố vĩ mô như tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá ngoại tệ đều ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM. Các kết quả này đều tương đồng với các nghiên cứu tại Việt Nam, tiêu biểu như Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Nguyễn Minh Kiều (2015); Nguyễn Văn Thuận và Dương Hồng Ngọc (2015), Nguyễn Thị Kim Phụng và Nguyễn Thị Nhật Tân (2022). Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu chưa có sự đồng nhất vì sự thay đổi của bối cảnh kinh tế, chính sách tiền tệ của từng gian đoạn,.. Mặt khác, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các yếu tố nội tại của ngân hàng nhưng các vấn đề liên quan như tính chất sở hữu, đại dịch Covid 19,… Do đó vẫn còn những khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết.
Từ những nghiên cứu trên, cho thấy vẫn còn nhiều lỗ hổng trong các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam đến thời điểm hiện tại. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu nhằm phân tích và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng RRTD tại các NHTM giai đoạn 2014 – 2023. Từ đó, đề xuất với các nhà quản trị NHTM các hàm ý nhằm hạn chế rủi ro này thông qua việc điều chỉnh các nhân tố ảnh hưởng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Luận văn này được thực hiện nhằm xác định và đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD tại các NHTM Việt Nam thông qua số liệu phản ảnh trong giai đoạn 2014 – 2023. Từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm kiểm soát cũng như hạn chế rủi ro này tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn tới.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát được cụ thể hóa thành ba mục tiêu như sau:
- Thứ nhất là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam.
- Thứ hai là đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD tại các NHTM Việt Nam.
- Thứ ba là từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm đề xuất các hàm ý chính sách khả thi cho các NHTM nhằm hạn chế RRTD trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu tương ứng như sau:
- Thứ nhất là các nhân tố nào ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam ?
- Thứ hai là mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD tại các NHTM Việt Nam như thế nào ?
- Thứ ba là từ kết quả thực nghiệm thì các hàm ý chính sách nào được đề xuất cho các NHTM nhằm hạn chế RRTD trong tương lai ?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp của 24 NHTM Việt Nam trên tổng số là 31 NHTM. Nguyên nhân tác giả lựa chọn số lượng là 24 ngân hàng vì giá trị của số ngân hàng này chiếm hơn 75% giá trị của hệ thống, đồng thời số NHTM này có dữ liệu đầy đủ và được công bố trên các kênh thông tin đại chúng từ 2014 – 2023.
Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2014 – 2023 là vì đây là khoảng thời gian sau khủng hoảng của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, trong giai đoạn này chứng kiến hệ thống NHTM đi từ trạng thái phát triển hưng thịnh từ 2014 – 2015 sau đó bắt đầu bão hòa và suy thoái. Mặt khác, trong năm 2020 – 2021 diễn ra đại dịch Covid 19 nên hệ thống NHTM chịu sự ảnh hưởng tiêu cực đáng kể với chủ trương đóng của nền kinh tế để chống dịch của Chính phủ.
1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Luận văn sử dụng kết hợp hai phương pháp chính đó là định tính và định lượng. Trong đó nghiên cứu định tính nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu thứ nhất đó là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM, thông qua việc tổng hợp khung lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh NHTM Việt Nam. Ngoài ra, nghiên cứu định tính còn được thể hiện qua việc đánh giá tình hình chung của RRTD tại các NHTM Việt Nam thông qua dữ liệu chung được thống kê từ 2014 – 2023.
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn vẫn là nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết được hai mục tiêu đó là đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD tại các NHTM Việt Nam và từ đó đề xuất các hàm ý chính sách. Với phương pháp nghiên cứu định lượng thì cần thiết nhất là thu thập dữ liệu thứ cấp của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023 và thiết kế dạng bảng. Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, luận văn sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng. Với kết quả đó tạo cơ sở để kết luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất các hàm ý chính sách cho các NHTM Việt Nam.
1.6. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp các NHTM có thể lựa chọn các giải pháp thích hợp để tác động đến các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý quản trị hay kiến nghị để giảm thiểu được rủi ro tín dụng và đảm bảo sự an toàn trong quá trình hoạt động của các ngân hàng.
1.7. Bố cục của luận văn
Luận văn có bố cục 5 chương và nội dung tổng quát từng chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Trong chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Trong chương này luận văn sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết nền tảng liên quan đến RRTD cũng như các tiêu chí đo lường, các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan và thông qua nhận xét các khoảng trống nghiên cứu. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Trong chương này luận văn sẽ dựa trên các các khoảng trống nghiên cứu từ chương 2 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh các NHTM Việt Nam. Sau đó, chương này sẽ trình bày về phương pháp đo lường biến, lấy mẫu và thu thập dữ liệu. Cuối cùng chương này sẽ trình bày các phương pháp tính toán và ý nghĩa của các hệ số tính toán.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong chương này luận văn sẽ dựa trên dữ liệu thứ cấp thu thập đánh giá ban đầu về tình hình RRTD tại các NHTM trong giai đoạn 2014 – 2023. Sau đó sẽ tiến hành thống kê mô tả, xem xét sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó, thực hiện hồi quy dữ liệu cho ra kết quả các mô hình tương ứng và kiểm định sự phù hợp, các khuyết tật và khắc phục chúng để cho ra kết quả cuối cùng. Từ kết quả đó sẽ kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận đối sánh kết quả này với các nghiên cứu liên quan.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Trong chương này luận văn sẽ kết luận tóm tắt các kết quả đã đạt được, đánh giá lại mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD của các NHTM Việt Nam. Từ đó tạo ra cơ sở để đề xuất các hàm ý khả thi cho các NHTM Việt Nam để hạn chế RRTD thông qua việc điều chỉnh các nhân tố ảnh hưởng tới nó.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương này luận văn sẽ trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ đó chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho luận văn. Đồng thời, chương này cũng trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu để giải quyết các mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Cuối cùng, chương cũng chỉ ra được mặt đóng góp về thực tiễn của luận văn này.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
2.1.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Theo Fitch (1997) thì RRTD là một loại rủi ro mà ngân hàng không thể nhận được khoản thanh toán của người vay với khoản nợ như đã thỏa thuận trong hợp đồng, dẫn đến sai hạn trả nợ và nghĩa vụ trả nợ. Điều này tạo điều kiện hình thành RRTD tại NHTM, đây là một loại rủi ro song song với rủi ro lãi suất tại ngân hàng.
Santomero (1997) cũng cho rằng RRTD tại NHTM được hình thành từ việc mà khách hàng vay tiền không sẵn sàng hoặc không có năng lực để thanh toán các khoản gốc và lãi vay như đúng thời hạn mà đã giao kết với ngân hàng.
Crouhy và cộng sự (2006) cũng cho rằng RRTD là một trong những rủi ro xảy ra trong quá trình cấp tín dụng, nó được phát sinh khi khách hàng được cấp tín dụng không muốn hay không có khả năng để thanh toán các khoản nợ đúng hạn với ngân hàng. Điều này tương đồng với định nghĩa của Ủy ban Basel (2006) về RRTD, ngoài ra Ủy ban này cũng cho rằng RRTD là rủi ro mà ngân hàng phải hứng chịu sự thất thoát tài sản khi bên khách hàng được cấp tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện như trên hợp đồng, trong đó bao gồm cả gốc và lãi của khoản vay.
Nguyễn Văn Tiến (2015) đã cho rằng RRTD là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM hay trên thị trường tài chính. Đây được xem là rủi ro mà khách hàng không thể chi trả được khoản nợ vay của mình với ngân hàng khi đã đến hạn thanh toán. Điều đó dẫn đến ngân hàng hay còn được gọi là bên cho vay phải chịu rủi ro này khi chấp nhận hợp đồng tín dụng. Biểu hiện chính của RRTD là khách hàng chậm trả nợ, trả không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn kể cả gốc và lãi. Do đó, tạo ra những tổn thất rất lớn về tài chính cũng như thu nhập trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Tóm lại, từ những định nghĩa trên thì đối với luận văn này thì RRTD được hiểu là rủi ro trong hoạt động của NHTM và nó xuất hiện trong việc cấp tín dụng cho khách hàng của NHTM. Trong đó khách hàng có thể là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các cá nhân, RRTD sẽ xảy ra khi các đối tượng này không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đúng hạn đã cam kết với NHTM. Sự sai hạn này có thể là trả chậm, trả không đúng giá trị nợ, không trả nợ gồm gốc lãi cho ngân hàng mặc dù đã cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn. Chính vì vậy tạo ra rủi ro hoạt động cho ngân hàng, hay nói cách khác RRTD là rủi ro tạo ra tổn thất về tài chính, suy giảm tài sản hay làm cho NHTM có sự suy kém về hoạt động kinh doanh và dẫn đến những rủi ro hoạt động khác cũng như sự ổn định cho ngân hàng. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
2.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) có nhiều cách để tiếp cận với RRTD trong đó có hai cách tiếp cận chính đó là phụ thuộc vào mức độ tổn tất, đối tượng sử dụng và phạm vi của RRTD.
2.1.2.1. Theo mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng
Khi căn cứ vào mức độ tổn thất của rủi ro tín dụng thì sẽ có hai loại rủi ro là mất vốn và đọng vốn. Trong đó:
Rủi ro mất vốn là rủi ro mà khách hàng không thể trả nợ được khoản được cấp tín dụng khi đến hạn của hợp đồng, trong đó có cả vốn gốc và lãi vay. Vào thời điểm này thì NHTM chỉ phụ thuộc vào việc thu hồi khoản này khi tiến hành thanh lý TSĐB của khách hàng khi thế chấp. Đối với rủi ro mất vốn thì ngân hàng sẽ bị gia tăng chi phí khi đòi nợ, chi phí hoạt động quản lý, giám sát hay suy giảm lợi nhuận và bắt buộc ngân hàng phải tăng giá trị chi phí do dự phòng RRTD để xóa nợ.
Rủi ro đọng vốn là rủi ro mà khách hàng khi đến hạn thanh toán mà chưa thực hiện nghĩa vụ hoạc chỉ trả một phần cho ngân hàng, điều này dẫn đến các khoản vốn thu hồi của ngân hàng bị đọng lại, đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng và thanh toán lãi hay gốc cho các khoản tiền gửi huy động khi đến hạn.
2.1.2.2. Theo đối tượng sử dụng
Theo đối tượng sử dụng thì RRTD có ba nhóm chính đó là rủi ro khách hàng cá thể hay chính là các cá nhân vay vốn ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích kinh doanh hay cải thiện đời sống. Thứ hai là rủi ro từ các tổ chức kinh tế, định chế tài chính hay công ty thực hiện vay vốn ngân hàng để duy trì hoạt động kinh doanh, bổ sung vốn lưu động hay các hoạt động đầu tư khác. Cuối cùng đó là rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý đây là rủi ro liên quan đến diện rộng đề cập đến sự ảnh hưởng của nền kinh tế nói chung, thiên tai, địch hại, chiến tranh,… có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh tế nói chung của nền kinh tế và ngành ngân hàng nói riêng.
2.1.2.3. Theo phạm vi của rủi ro tín dụng
Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân chia RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống.
RRTD cá biệt là rủi ro xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân như đặc điểm ngành hay loại hình kinh tế của khách hàng vay, tình hình và khả năng tài chính của khách hàng, khả năng quản trị của khách hàng và đạo đức nghề nghiệp, cùng với đó là các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác.
RRTD hệ thống là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống bao gồm: Sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu…
2.1.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
RRTD tại các NHTM có nhiều nguyên nhân dẫn đến trong đó tập trung vào các khía cạnh khách quan, từ phía khách hàng và từ phía NHTM (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
2.1.3.1. Nguyên nhân từ các khía cạnh khách quan
Môi trường kinh tế: Vấn đề này đề cập đến sự tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế nói chung. Nếu hoạt động của NHTM được đặt trong môi trường kinh tế tăng trưởng thì kinh doanh của ngân hàng sẽ ổn định, bền vững điều này tạo điều kiện cho hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng phát triển và gặp ít rủi ro. Ngược lại nếu môi trường kinh tế có sự suy giảm hay khó khăn kéo dài thì hoạt động kinh doanh lẫn cấp tín dụng tại ngân hàng cũng bị ảnh hưởng xấu theo. Mặt khác, với sự hội nhập về kinh tế sẽ tạo môi trường tự do hóa khiến các hoạt động kinh doanh có những nét thuận lợi cho ngân hàng, nhưng từ đó tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt cho các ngân hàng tạo ra sự đào thải, từ đó làm cho các NHTM gặp nguy cơ với RRTD khi muốn gia tăng sự cạnh tranh của mình bằng cách gia tăng dư nợ tín dụng nhanh chóng.
Môi trường pháp lý: Vấn đề này đề cập những sự bất cập hay khoảng trống trong việc ban hành, áp dụng hay thi hành luật pháp hoặc sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, tạo ra sự khó khăn trong việc quản trị, ngăn chặn và phòng ngừa các rủi ro tại ngân hàng.
Môi trường xã hội: Hoạt động kinh doanh của các đối tượng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và NHTM luôn phải chịu sự tác động của các biến động về kinh tế, chính trị trong nước và nước ngoài. Những sự biến động này chủ yếu tập trung vào sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại, sức mua của đồng tiền, nhu cầu tiêu dùng,… chính những sự thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế, các doanh nghiệp và kể cả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
2.1.3.2. Nguyên nhân đến từ khách hàng đi vay Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
RRTD tại các NHTM đến từ khách hàng đi vay điển hình nhất đó chính là việc mà khách hàng sử dụng vốn vay không đúng với cam kết trên hợp đồng tín dụng, hay nói cách khác là sử dụng vốn sai mục đích. Từ đó tạo ra sự sai lệch trong việc hoạt động kinh doanh hay nguồn thu nhập để trả nợ nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. Đồng thời, khách hàng vay vốn có khả năng quản lý hoạt động kinh doanh và hoạch định chiến lược kém nên thu nhập không ổn định và kém hiệu quả. Mặt khác, các hoạt động kinh doanh của khách hàng không có tính ổn định, thiếu sự bền vững, hay tình hình tài chính có sự không rõ ràng dẫn đến nguồn trả nợ cho ngân hàng gặp khó khăn. Đặc biệt, các khách hàng thiếu hay không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng, hoặc muốn chiếm dụng vốn này để thực hiện các mục đích cá nhân khác và có thái độ bất hợp tác với nhân viên tín dụng hay bộ phận thu hồi nợ, đây được xem là hiện tượng cố tình thực hiện hành vi chiếm đoạt hay lừa đảo của khách hàng.
Ngoài các khách hàng cá nhân thì các khách hàng doanh nghiệp khi trình bày các phương án kinh doanh, các khoản thu nhập để trả nợ để cho các NHTM và các cấp phê duyệt, thì có sự thông đồng để tránh được các sự kiểm tra, phân tích và xem xét kĩ lưỡng nhằm đạt được mục đích vay vốn. Từ đó, tạo ra tiềm ẩn nguy cơ rủi ro không trả được nợ của khách hàng
Đối với các khách hàng là doanh nghiệp thì việc đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh, tập trung vào việc đầu tư một lúc nhiều lĩnh vực hay dự án làm cho quá tải khả năng quản trị cũng như quản lý hoạt động kinh doanh thống nhất. Đặc biệt, khi tập trung vào các ngành nghề kinh doanh không phải thế mạnh của mình mà chỉ đi theo lợi nhuận thì sẽ không có đủ kiến thức, kinh nghiệm hay trải nghiệm rủi ro về mọi khía cạnh, dẫn đến gia tăng nguy cơ thua lỗ, giải thể hay phá sản,… từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín doanh nghiệp và điểm tín dụng với ngân hàng.
Tại một thực tế khác với việc được tự do hóa khi vay vốn thì một doanh nghiệp có thể thiết lập cùng lúc nhiều hợp đồng tín dụng với các NHTM khác nhau. Do đó, việc theo dõi, kiểm soát, quản lý dòng tiền của khách hàng từ các cán bộ tín dụng sẽ trở nên khó khăn, phức tạp, đặc biệt là tình trạng sử dụng vốn vay chồng chéo. Điều này dẫn đến hiệu ứng rủi ro kéo theo khi các doanh nghiệp không quản lý được khả năng tài chính, thì việc mất khả năng thanh toán liên tục xảy ra.
Cuối cùng, tình hình tài chính của khách hàng đặc biệt là các doanh nghiệp non trẻ có quy mô nhỏ thường yếu kém, thiếu sự minh bạch rõ ràng, quy mô vốn chủ sở hữu (VCSH) kém, cơ cấu tài chính dễ bị mất cân đối. Nguyên nhân đến từ công tác kế toán chưa được củng cố vững chắc, chủ yếu mang tính thời vụ do đó số liệu luôn có lỗ hổng, thiếu đồng bộ dẫn đến việc ngân hàng phân tích bị sai lệch, đặc biệt các khách hàng cố ý là số liệu hợp lý để qua mắt ngân hàng nhằm đạt được mục đích.
2.1.3.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Tại các NHTM thì nguyên nhân dẫn đến RRTD lớn nhất đó chính là việc các thủ tục trong ngân hàng có quá nhiều sơ hở. Ngoài ra, chính sách tín dụng của ngân hàng thiếu sự rõ ràng làm cho hoạt động này có những sai lệch, điều này tạo cơ hội cho khách hàng trục lợi và sử dụng thủ đoạn để qua mắt ngân hàng. Một số NHTM chưa định hướng về cơ cấu cho vay với các kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn nên các quy định đảm bảo vẫn chưa phù hợp.
Đội ngũ cán bộ tín dụng (CBTD) chưa nắm vững các nghiệp vụ tín dụng, chịu sự áp lực của doanh số giải ngân do đó bỏ qua các quy định tín dụng mà cho khách hàng vay vào các dự án, hoạt động kinh doanh không hiệu quả, rủi ro cao mà bỏ qua các khách hàng có lịch sử tốt. Điều này cho thấy đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ làm việc là một trong những nguyên nhân gây ra RRTD tại ngân hàng. Mặt khác, sự lỏng lẻo, chủ quan hoặc những tâm lý đối phó của đội ngũ cán bộ tín dụng trong quá trình kiểm tra, kiểm soát và giám sát khoản vay có được sử dụng đúng mục đích hay không ? Làm cho việc phát hiện kịp thời các sai sót hay rủi ro bị hạn chế, dẫn đến việc khách hàng chiếm đoạt vốn vay.
Cuối cùng, ngân hàng gặp phải tình trạng bất cân xứng về thông tin khách hàng, dẫn đến việc đánh giá điểm tín dụng hay chất lượng khách hàng về thẩm định dự án, phương án kinh doanh hay phương án đề xuất vay vốn không hợp lý. Từ đó, tạo ra việc giá trị khoản cấp tín dụng bị sai lệch so với năng lực kinh doanh của khách hàng nên dẫn đến việc khó thu hồi nợ, sai lệch với chu kì kinh doanh hay vòng quay vốn lưu động của khách hàng. Cùng với đó, là tình trạng các NHTM thường quan tâm nhiều đến giá trị TSĐB của khách hàng mang đi thế chấp nhưng không lưu tâm đến dòng tiền thanh toán nợ của khách hàng, hoặc có những trường hợp do chạy đua để gia tăng dư nợ tín dụng mà đội ngũ cán bộ bỏ qua các quy định thắt chặt với TSĐB, ràng buộc bới các tiêu chuẩn nhằm phòng ngừa rủi ro. Chính điều này làm dẫn đến phát sinh RRTD và gây tổn thất các mặt cho NHTM.
2.1.4. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì RRTD tại các NHTM thường được đo lường bời ba chỉ tiêu chính là nợ quá hạn, nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng (DPRRTD). Tuy nhiên, các giá trị này được thể hiện dưới dạng tỷ lệ trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
2.1.4.1. Nợ quá hạn Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Nợ quá hạn tại các NHTM được định nghĩa là một phần hay toàn bộ nợ gốc cho khách hàng vay đã quá ngày trả tại bất cứ lý do gì ? Theo thông tư số 02/2023/TTNHNN quy định về phân loại nợ, trích lập DPRRTD và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thì nợ quá hạn được xem là khoản cấp tín dụng bao gồm gốc và lãi có một phần hay toàn toàn bộ giá trị đã quá thời hạn thanh toán.
Hay nói cách khác nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức vay của các NHTM không thể chi trả đúng hạn với gốc, lãi theo đúng như thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. Mặc dù việc quá hạn này không được phép hay không đủ điều kiện để gia hạn nợ từ ngân hàng. Nợ quá hạn được chia thành 5 nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng. Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày.
Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất.
2.1.4.2. Nợ xấu
Nguyễn Đăng Dờn (2011) cho rằng nợ xấu là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên. Mặt khác, các TSĐB đen thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng sẽ được tiến hành thanh lý để xử lý nợ nhưng khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ này.
Ngoài ra, nợ xấu được xác định thông qua quy định chung của quốc tế và hiệu chỉnh theo tình hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt động kinh doanh riêng của hệ thống NHTM. Theo TT11/2021/TTNHNN thì các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3,4,5 được xếp vào tính chất khó thu hồi hay dẫn đến không thu hồi được thì được xem là nợ xấu. Các khoản nợ này gia tăng thì các NHTM buộc phải đối diện với sự suy giảm tài sản, lợi nhuận lẫn uy tín của mình do bị đe dọa bởi các khoản thanh toán tiền gửi tiết kiệm khi đến hạn. Vì vậy, nợ xấu được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng khoản cấp tín dụng và dấu hiệu đáng báo động của RRTD tại các NHTM. Chỉ tiêu nợ xấu được phản ánh như sau:
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày. Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất gốc): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi trên 360 ngày, nhóm nợ này thì các khoản cơ cấu lần thứ nhất và lần thứ hai không thể thanh toán được gốc lãi cho ngân hàng.
Trong đó, nợ quá hạn được phản ánh qua hai công thức đo lường như sau:
2.1.4.3. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Ashour (2019) cho rằng DPRRTD được xem là một khoản chi phí quản lý được tính trước cho chi phí vận hành của các NHTM, khoản dự phòng này nhằm dự phòng trước cho sự tổn thất có thể sinh ra từ các khoản nợ nợ quá hạn khó thu hồi hoặc không thu hồi được của NHTM. Trong đó thì IMF chia dự phòng này thành hai khoản là dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Với dự phòng chung thì ngân hàng dựa trên tổng dư nợ cho vay không có thông tin khách quan hoặc có sự suy giảm về khoản cấp tín dụng cho khách hàng nhưng tổng dư nợ vẫn giảm giá trị do có phát sinh các nguy cơ về RRTD, khoản dự phòng chung này sẽ được đưa vào nguồn vốn cấp 2 làm đệm cho những tổn thất trong tương lai được hạn chế. Ngược lại, dự phòng riêng thì tùy thuộc vào giá trị của các nhóm nợ và tỷ lệ trích lập riêng rẻ theo nhóm.
Trích lập DPRRTD được xem là quá trình nhận biết và quản trị sớm các sự tổn thất từ các khoản cấp tín dụng hay ước lượng sự mất mát tài sản của ngân hàng, vì khi hoạt động tín dụng diễn ra thì ngân hàng đã phải luôn đối mặt với việc khách hàng sẽ không có hoặc mất đi khả năng thanh toán gốc lãi bất kì lúc nào, hay nói cách khác là vi phạm nguyên tắc hoàn trả. Vì vậy, khoản dự phòng này là nguồn dự trữ để ngân hàng đối mặt với những rủi ro tiếp theo từ hoạt động tín dụng không hiệu quả (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Theo quyết định số 22/VBNN – NHNN ban hành ngày 04/06/2014 thì các khoản nợ xấu thuộc nhóm nợ quá hạn 3,4,5 thì mới được trích lập DPRRTD và đây là trích lập cụ thể. Như đã đề cập phía trước khoản dự phòng là chi phí quản lý trả trước và được kết chuyển thành chi phí hoạt động của ngân hàng, do đó trích lập DPRRTD càng cao thì lợi nhuận ngân hàng kỳ đó càng suy giảm, giá trị tài sản cũng giảm theo hay hiệu quả HĐKD của NHTM cũng kém đi. Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được tính bằng chỉ số như sau:
Tóm lại, luận văn đã tổng hợp được ba tiêu chí để phản ánh cho RRTD tại các NHTM. Tuy nhiên, tác giả quyết định lựa chọn tỷ lệ trích lập DPRRTD để đại diện cho RRTD của các NHTM tại luận văn này. Vì tỷ lệ này chỉ được trích lập khi ngân hàng xuất hiện nợ quá hạn nhóm 3,4,5 hay còn được gọi là xuất hiện nợ xấu. Do đó, tỷ lệ này xuất hiện cũng đã bao hàm được nội dung của nợ quá hạn và nợ xấu đang diễn ra tại các NHTM. Mặt khác, tỷ lệ này càng tăng cao sẽ ảnh hưởng đến cả lợi nhuận và sự ổn định của NHTM, vì vậy sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình RRTD mà các NHTM đang bị đe dọa.
2.2. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
2.2.1. Lý thuyết về chu kỳ kinh tế
Samuelson và Nordhalls (1948) cho rằng “Chu kỳ kinh doanh là một sự dao động của tổng sản lượng quốc dân, của thu nhập và việc làm thường kéo dài trong một giai đoạn được đánh dấu bằng một sự mở rộng hay thu hẹp trên quy mô lớn trong hầu hết các khu vực của nền kinh tế, thường trong một khoảng thời gian từ 02 – 10 năm”.
Trong đó chu kỳ kinh tế có hai giai đoạn chính đó là giai đoạn suy thoái và giai đoạn mở rộng, điểm cự trị của các đỉnh và đáy là giai đoạn chuyển hướng của chu kỳ, sự đi xuống của một chu kỳ gọi là suy thoái đây là một giai đoạn mà trong đó GDP thực tế giảm xuống ít nhất trong hai quý liên tiếp và suy thoái bắt đầu tại một đỉnh và kết thúc tại một đáy. Trong giai đoạn suy thoái cầu về lao động giảm làm thất nghiệp gia tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, giá chứng khoán thường sẽ giảm xuống khi các nhà đầu tư cảm nhận được chu kỳ kinh tế đi xuống. Giai đoạn mở rộng là hình ảnh phản chiếu của suy thoái, mỗi nhân tố trên sẽ hoạt động theo chiều ngược lại. Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau. Điều này cho thấy, tính chu kỳ kinh tế lan rộng đến các đối tượng trong nền kinh tế, hay điển hình nó thể hiện qua GDP và tỷ lệ lạm phát. Khi nền kinh tế đạt được sự tăng trưởng thì các đối tượng rất thuận lợi trong kinh doanh, đòn bẩy của ngân hàng tạo ra hiệu quả và khả năng trả nợ của các đối tượng vay cũng dễ hơn nên nợ xấu được thu hẹp. Nhưng ngược lại, trong chu kỳ kinh tế có sự thu hẹp, khó khăn hay lạm phát đang tăng thì việc cho vay và thu hồi nợ kém thuận lợi, đây là điều kiện tạo ra nợ xấu nhiều hơn cho ngân hàng.
2.2.2. Lý thuyết về quy mô của ngân hàng
Boyd và Gertler (1994) đã trình bày về giả thuyết “Quá lớn để phá sản” và cho rằng quy mô có mối quan hệ mật thiết với nợ xấu tại ngân hàng. Giả thuyết này cho rằng các NHTM có quy mô lớn thường có khẩu vị rủi ro lớn hơn các tổ chức có quy mô nhỏ hơn, thông qua đó tham vọng huy động và tăng trưởng cho vay sẽ nhanh hơn, từ đó dẫn đến chất lượng tín dụng suy giảm từ các khách hàng có lịch sử tín dụng kém cũng tăng theo. Trong khi đó, việc các NHTM quá lớn càng lao vào các rủi ro nợ xấu thì tấm đệm chắn lớn nhất đó chính là việc mà Chính phủ sẽ ngăn không cho nó phá sản nhằm hạn chế các rủi ro hệ thống. Hay nói cách khác, khi các NHTM có quy mô càng lớn khi đạt ngưỡng nguy cơ lớn đến nhất định thì RRTD cũng sẽ cao nhất. Nhưng cũng liên quan đến quy mô ngân hàng thì hiệu ứng quy mô của Salas và Saurina (2002) lại cho rằng các NHTM có quy mô lớn sẽ tận dụng lợi thế của mình trong công cuộc đa dạng hóa các nguồn thu nhập, nhằm chia nhỏ các rủi ro từ tín dụng ra tránh tập trung quá lớn.
2.2.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Akerlof (1970) đã sử dụng lý thuyết thị trường quả chanh, trong đó nhấn mạnh việc trao đổi mua bán trên thị trường với thông tin về sản phẩm giữa đơn vị bán và người mua không giống nhau. Cụm từ “quả chanh” biểu thị cho các loại hàng hóa dịch vụ có chất lượng kém. Với thị trường quả chanh thì sự bất cân xứng thường xuyên xảy ra, đặc biệt với bối cảnh một trong hai bên có sự nắm bắt chi tiết hơn về thông tin hơn bên còn lại. Việc bất cân xứng này dẫn đến việc sự tin cậy giữa hai bên bị phá vỡ và bất ổn trong thị trường. Điều này dẫn đến việc người mua sẽ từ chối mua hàng với việc ngờ hoặc hay không tin chất lượng sản phẩm dịch vụ do biết quá ít thông tin, hoặc chấp nhận mua với giá thấp hơn hay sau khi mua nhận ra chất lượng không như mình nghĩ và cắt đứt quan hệ mua bán. Với các tình huống xảy ra như trên thì Akerlof (1970) đã cho thấy thị trường kinh doanh không hoàn hảo và bất cân xứng về thông tin là hệ quả dẫn đến vấn đề đó, nó đe dọa rất lớn đến rủi ro của các bên kinh doanh hay nó nhấn mạnh đến lựa chọn đối nghịch hay rủi ro đạo đức.
Do đó, khi xét đến khía cạnh của nợ xấu của ngân hàng. Khi các NHTM tiến hành hoạt động cấp tín dụng thì việc xem xét các thông tin của khách hàng là điều bắt buộc, do đó các khách hàng có xu hướng sẽ tuân thủ các quy định ban đầu để tiếp cận được vốn. Nhưng sau đó, các mục đích sử dụng vốn hay các thông tin xác thực của khách hàng sẽ rất khó để ngân hàng kiểm soát, lúc này các NHTM sẽ bị rơi vào tình trạng thông tin bất cân xứng. Nên để thu hẹp tình trạng này thì các ngân hàng tận dụng sự lớn mạnh của nguồn lực để kiểm soát, bỏ thêm chi phí hoạt động để quản lý các khoản vay, đa dạng hóa các nguồn thu để có thêm các thông tin,… Tất cả nhằm mục đích hướng tới giảm thiểu nợ xấu tại ngân hàng.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Nhu đã đề cập phía trên thì RRTD được bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân bao gồm cả khách quan nền kinh tế, từ khách hàng cũng như ngân hàng. Do đó, các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD cũng sẽ xuất phát từ nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Trong đó, cụ thể như sau:
2.3.1. Nhóm các nhân tố thuộc nội tại ngân hàng thương mại
2.3.1.1. Quy mô ngân hàng
Boyd và Gertler (1994) trong nghiên cứu về giả thuyết quá lớn để phá sản đã khẳng định quy mô của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nợ xấu, trong lý thuyết này thì nhóm tác giả cho rằng các NHTM có quy mô về tài sản lớn thường có bước đệm tốt nên sẽ có khẩu vị rủi ro cao hơn, nên thường sẽ chấp nhận RRTD cao hơn để tăng trưởng dư nợ. Do đó, các quy định hay các điều kiện thắt chặt ngăn ngừa RRTD sẽ được nới lỏng, đặc biệt là rất lạc quan với lịch sử tín dụng xấu của khách hàng, vì vậy tạo ra cơ hội tiềm ẩn cho nợ xấu hay RRTD xuất hiện. Nếu tình trạng này lan ra diện rộng tại hệ thống NHTM thì để duy trì sự ổn định của thị trường thì các NHTW buộc phải hỗ trợ để hạn chế nhưng những hậu quả xấu sẽ ảnh hưởng đến cả thị trường (Stern và Feldman, 2004). Hay nói cách khác, với những lập luận trên thì quy mô ngân hàng có ảnh hưởng lớn và cùng chiều sinh ra RRTD cho NHTM.
Ngược lại với lập luận trên thì Salas và Saurina (2002) lại cho rằng khi các NHTM có quy mô lớn thì việc tiếp cận khách hàng trở nên dễ dàng hơn, đồng thời với bối cảnh cạnh tranh nhau giữa các NHTM càng nhiều thì việc đa dạng hóa các nguồn thu nhập sẽ được các tổ chức chú ý đến. Hay nói cách khác, ngoài việc tập trung hoạt động tín dụng hay bán buôn thì các NHTM sẽ tái cơ cấu sang mảng bán lẻ, đầu tư hay các nguồn thu từ các dịch vụ khác để thu được lợi nhuận nhiều hơn. Từ đó, sẽ hạn chế được sự ảnh hưởng lớn của hoạt động tín dụng cũng như giảm thiểu được RRTD gây ra cho ngân hàng. Mặt khác, các NHTM có quy mô càng lớn thì điều kiện tài chính và sự trang bị nguồn lực cho việc tầm soát chất lượng tín dụng của khách hàng, xử lý nợ xấu càng chuyên nghiệp và đặc biệt là duy trì được uy tín với khách hàng gửi tiền tiết kiệm. Do đó, quy mô ngân hàng với bối cảnh này thì càng lớn sẽ càng hạn chế được RRTD. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
2.3.1.2. Tỷ suất sinh lời
Tỷ suất sinh lời là tiêu chí đề cập đến khả năng chịu đựng rủi ro của NHTM để tìm kiếm được lợi nhuận nhiều hơn từ hoạt động kinh doanh. Hu và cộng sự (2004) cho rằng các NHTM có xu hướng duy trì sự phát triển của HĐKD bằng cách thiết lập mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, thông tin an toàn nhằm hạn chế RRTD, đặc biệt là nợ xấu để hạn chế được khoản DPRRTD, từ đó tiết kiệm được chi phí và tăng được lợi nhuận. Hay nói cách khác, tỷ suất sinh lời được xem là một trong những vấn đề đối lập với RRTD, khi tỷ suất được duy trì gia tăng thì RRTD cũng có thể được xem được hạn chế và giảm thiểu tốt nhất.
Tuy nhiên, tại một khía cạnh khác Boudriga và cộng sự (2009); Nikolaidou và Vogiazas (2011) cũng cho rằng với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các NHTM với nhau thì tăng trưởng tín dụng được xem là hoạt động cấp thiết để các ngân hàng duy trì thị phần cũng như lợi nhuận trong ngắn hạn. Do đó, khẩu vị rủi ro của các NHTM có thể được gia tăng và việc tăng trưởng dư nợ tín dụng cũng sẽ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ tạo ra nợ xấu hay RRTD trong thời gian dài hạn tới.
2.3.1.3. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng
Foos và cộng sự (2010) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều của dư nợ tín dụng tăng trưởng mỗi năm với RRTD tại các NHTM sau thời gian hai đến ba năm. Nhóm tác giả đã lập luận rằng khi nền kinh tế tăng trưởng, điều kiện làm ăn thuận lợi nên việc các khách hàng gia tăng nhu cầu mở rộng vốn lưu động trở nên phổ biến, cùng với đó là cơ hội lớn đến các NHTM nâng cao sự cạnh tranh. Để thực hiện được sự cạnh tranh của mình thì các NHTM sẽ tiến hành giảm lãi suất cho vay hoặc linh hoạt các cơ chế hay chính sách cho vay đối với khách hàng. Tuy nhiên, việc giảm lãi suất cho vay sẽ bị vướng phải sự phản đối của các cổ đông hay chủ ngân hàng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến cổ tức hay thu nhập của họ. Do đó, với tình huống này thì các NHTM sẽ ưu tiên cho phương án nới lỏng các điều kiện xét duyệt cấp tín dụng thông qua giảm thiểu tiêu chuẩn với các TSĐB thế chấp, bỏ qua các lịch sử xấu về tín dụng của khách hàng, các thông tin về hoạt động kinh doanh hay nguồn tiền để trả nợ cũng không được phân tích kĩ lưỡng. Chính các vấn đề này sẽ tích lũy dần rủi ro trong tương lai đặc biệt là sự suy thoái kéo đến. Hay khi điều kiện suy thoái tiếp nối sự tăng trưởng thì các khoản vay đến từ các khách hàng không chất lượng sẽ có độ trễ vài năm. Đặc biệt, tăng trưởng tín dụng theo hướng này sẽ làm gia tăng giá trị trích lập DPRRTD trong tương lai, điều này tương đồng với nghiên cứu của Thiagarajan và cộng sự (2011) khi nhóm tác giả cũng chỉ ra RRTD với độ trễ hai năm chịu ảnh hưởng từ tăng trưởng tín dụng tại các NHTM. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Tuy nhiên với một khía cạnh khác thì tăng trưởng tín dụng là không làm gia tăng RRTD mà có thể làm suy giảm, đó là trường hợp mà khách hàng gia tăng về nhu cầu đi vay nhằm gia tăng vốn lưu động từ vốn ngân hàng để tiết kiệm chi phí sử dụng nợ. Do đó, các NHTM sẽ đối mặt với việc này thông qua gia tăng lãi suất cho vay hay nâng các tiêu chí xét duyệt tín dụng lên cao hơn nhằm sàng lọc khách hàng chất lượng. Trong trường hợp này thì tốc độ tăng trưởng trưởng tín dụng hiện tại hoặc có độ trễ một năm lại làm suy giảm RRTD (Clair, 1992).
2.3.1.4. Tỷ lệ chi phí hoạt động
Berger và De Young (1997) cho rằng hiệu quả quản lý chi phí tại các ngân hàng thương mại được biểu diễn thông qua tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập của ngân hàng. Tỷ lệ này ảnh hưởng rất lớn đến nợ xấu và RRTD của NHTM trong tương lai. Điều này được luận giải rằng khi các NHTM có tỷ lệ chi phí hoạt động tăng cao có nghĩa là khả năng quản lý chi phí yếu kém, do đó để bù đắp được các chi phí này thì các NHTM buộc phải gia tăng dư nợ tín dụng để tìm kiếm thêm lợi nhuận, chính vì vậy là gia tăng nguy cơ tiềm ẩn RRTD. Mặt khác, Hess và cộng sự (2008) cũng chỉ ra rằng sự khác biệt giữa các NHTM quản lý tốt và không tốt tỷ lệ chi phí hoạt động, nếu quản lý tốt thì sẽ giảm thiểu được RRTD, nhưng ngược lại tỷ lệ này không được kiểm soát và ràn trải cho các hạng mục kinh doanh khác thì RRTD sẽ dễ tăng cao do hoạt động tăng trưởng dư nợ để bù đắp.
2.3.1.5. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Hiệp ước Basel (2002) quy định rằng việc nâng cao năng lực tài chính là điều kiện cần và đủ để NHTM vừa nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường vừa có đủ tiềm lực để áp dụng vận hành mô hình quản trị rủi ro hiệu quả, qua đó đảm bảo an toàn hoạt động của mình nói riêng và an toàn toàn hệ thống tài chính nói chung. Delis và Kouretas (2011) cho rằng tỷ lệ này cao hơn hay các yêu cầu về vốn khắt khe hơn, ngụ ý rằng NHTM thận trọng hơn trong hành vi cho vay. Ngược lại, tỷ lệ này thấp dẫn đến gia tăng các khoản nợ xấu, do nhà quản lý ngân hàng dễ dàng bỏ qua các yếu tố đạo đức, tăng danh mục cho vay trong khi ngân hàng chưa đủ vốn hóa. Các ngân hàng có tỷ lệ vốn sở hữu so tổng tài sản tương đối thấp có thể dễ dàng đáp ứng tư tưởng mạo hiểm bằng cách tăng mức độ rủi ro của danh mục cho vay và đầu tư của mình, kết quả là RRTD cao hơn trung bình trong tương lai (Berger và DeYoung, 1997; Fofack, 2005). Hay nói cách khác tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng lớn thì tiềm lực tài chính của các NHTM càng lớn, hoạt động tín dụng không đe dọa nhiều đến việc ngân hàng sinh lợi mà thay vào đó các NHTM có thể thuận lợi trong việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh hay đầu tư.
2.3.1.6. Hệ số an toàn vốn Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Keeton và Morris (1987) cho rằng các NHTM có tỷ trọng vốn chủ sở hữu thấp sẽ có khả năng cao hơn dẫn đến nguy cơ gia tăng nợ xấu trong tương lai. Một số NHTM có vốn và khả năng thanh toán thấp sẽ sẵn sàng mạo hiểm đầu tư vào các khoản tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận hơn nhằm cải thiện khả năng thanh khoản cho ngân hàng. Hệ quả là chi phí lãi gia tăng cho khách hàng vay khi các nhà quản lý tăng huy động vốn với mức lãi suất cao, đồng nghĩa với việc NHTM sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro và tổn thất hơn, đồng thời một số nghiên cứu thực nghiệm khác cũng củng cố giả thuyết này như Berger và DeYoung (1997), Salas và Saurina (2002).
Tuy nhiên, Shrieves và Dahl (1992) chỉ ra rằng, khi hệ số an toàn vốn của các NHTM gia tăng, các nhà quản trị ngân hàng và chủ sở hữu cũng có động lực để giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhằm “tận dụng” sự cải thiện từ niềm tin của thị trường do chất lượng vốn của ngân hàng thương mại tăng lên thay vì mở rộng rủi ro.
2.3.2. Nhóm các nhân tố thuộc vĩ mô nền kinh tế
2.3.2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Khi nền kinh tế tăng trưởng, tiêu dùng tăng mạnh làm cho các doanh nghiệp bán hàng tốt hơn và sẵn sàng đầu tư mở rộng sản xuất, nhu cầu cấp tín dụng gia tăng, doanh số bán hàng, lợi tức của doanh nghiệp và thu nhập của cá nhân gia tăng góp phần làm tăng khả năng hoàn trả nợ vay. Khi điều kiện kinh tế xấu đi trong tình trạng trì trệ và suy thoái kinh tế làm cho sức mua của người tiêu dùng giảm sút khiến doanh số bán và lợi tức của các doanh nghiệp suy giảm. Tồn kho của doanh nghiệp gia tăng một cách miễn cưỡng, điều đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi tức của các cá nhân lẫn doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của người đi vay. Hơn nữa, suy thoái kinh tế có thể có tác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng bởi vì lãi suất thấp trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế góp phần làm xói mòn biên lợi nhuận của ngân hàng. Hầu hết kết quả của các cuộc nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và rủi ro tín dụng của ngân hàng cho thấy mối quan hệ ngược chiều. Điều đó có nghĩa là khi nền kinh tế tăng trưởng thì RRTD giảm xuống và ngược lại khi nền kinh tế suy thoái thì rủi ro tín dụng tăng lên. Mối quan hệ ngược chiều này đã được kiểm chứng qua các nghiên cứu của Louzis và cộng sự (2012), Nkusu (2011), Castro (2013). Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế liên tục có thể sẽ làm cho ngân hàng ỷ lại và sẽ cho vay dễ dàng hơn, nguy cơ RRTD gia tăng theo Schechman và Gaglianone (2011). Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng thường kéo theo giá cả tăng nhanh hơn khi sản lượng tăng trưởng mạnh. Lạm phát làm mất giá đồng tiền, giảm tỷ lệ lợi nhuận nói chung. Giá cả gia tăng dẫn đến gia tăng về nhu cầu tín dụng khi giá cả nguyên vật liệu và chi phí lao động gia tăng. Do đó một khi giai đoạn lạm phát diễn ra, các công ty có thể bị ảnh hưởng mạnh và các cá nhân gặp phải các khó khăn lớn về tài chính. Kết quả là nó trở nên gánh nặng khi kinh tế suy giảm mà người vay không thể gánh nổi.
2.3.2.2. Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát tăng làm giảm giá trị thực của khoản vay và giảm các khoản nợ không có khả năng trả nợ (Jabra và cộng sự, 2017). Mặt khác, lạm phát làm mất giá đồng tiền, giảm tỷ lệ lợi nhuận nói chung. Khi lạm phát gia tăng tương quan dẫn đến lãi suất tăng do chính sách thắt chặt tiền tệ. Cùng với các phí tổn khác, chi phí của dịch vụ nợ cũng gia tăng, doanh nghiệp và cá nhân đi vay có thể gặp khó khăn khi trả nợ. Nên việc cấp tín dụng tại các NHTM được hạn chế do đó, tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và RRTD. Tuy nhiên, Castro (2013) cho rằng lạm phát cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực lên RRTD vì nó sẽ làm giảm thu nhập thực tế của người đi vay khi tiền lương là cố định, làm giảm khả năng trả nợ của người vay. Do đó, tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát và RRTD.
2.4. Tổng quan nghiên cứu trước
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Prastiwi và Anik (2020) trong nghiên cứu về đa dạng hóa tín dụng đến RRTD và hiệu quả kinh doanh tại các NHTM Indonesia, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của các NHTM trong giai đoạn 2015 – 2018, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự đa dạng hóa tín dụng và quy mô ngân hàng có tác động làm gia tăng RRTD nhưng lại làm suy giảm lợi nhuận của các NHTM. Ngoài ra, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi làm giảm lợi nhuận nhưng lại không ảnh hưởng đến RRTD.
Misman và Bhatti (2020) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM thuộc khối ASEAN và Hồi giáo, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu của 40 NHTM Hồi giáo từ năm 2000 – 2011, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy đa biến FEM và REM. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lượng tài chính ảnh hưởng tích cực đến RRTC, quy mô ngân hàng và hiệu quả quản lý ảnh hưởng đến việc làm giảm RRTD tại các NHTM. Mặt khác, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính, suất sinh lời NIM, nhóm đặc thù ngân hàng, thời gian khủng hoảng không ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM.
Naili và Lahrichi (2020) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD, nhóm tác giả đã tổng hợp kết quả về các nhân tố của 40 công trình khác từ năm 1987 – 2019 và định ra hưởng nghiên cứu tương lai. Kết quả nghiên cứu nhóm tác giả không lập luận theo hướng các giả thuyết nghiên cứu mà trình bày những luận điểm kết quả từ các nghiên cứu khác về sự ảnh hưởng của các nhân tố. Trong đó, nhóm tác giả đã chỉ ra RRTD tại các NHTM chịu ảnh hưởng của các nhân tố tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, nợ công, thể chế môi trường, hệ số CAR, quy mô ngân hàng, hiệu quả quản lý chi phí, hiệu quả kinh doanh, tăng trưởng tín dụng, thu nhập ngoài lãi, trách nhiệm xã hội, cấu trúc sở hữu, sự cạnh tranh. Mỗi nghiên cứu khác nhau đều có sự lập luận khác nhau về mức độ cũng như chiều ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTD.
Naili và Lahrichi (2022) trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM tại các quốc gia thuộc nhóm kinh tế mới nổi của vùng Đông và Bắc Mỹ, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp của 50 NHTM từ năm 2000 – 2019, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy FEM, REM, GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy RRTD được đại diện bởi tỷ lệ nợ xấu, các nhân tố ảnh hưởng đến là quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời, GDP làm cho RRTD giảm tại các NHTM. Ngược lại, các nhân tố hệ số an toàn vốn CAR, tỷ lệ sở hữu tập trung; nợ công, tỷ lệ thất nghiệp lại ảnh hưởng làm gia tăng RRTD tại các NHTM.
Barra và Ruggiero (2022) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Italia và sự khác nhau giữa việc áp dụng Basel II, III tại các NHTM của quốc gia này, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của các NHTM trong giai đoạn 1994 – 2015 và chia ra hai nhóm ngân hàng hợp tác, không hợp tác, đồng thời sử dụng các mô hình GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy có nét tương đồng giữa hai NHTM trong việc áp dụng Basel II, III với các nhân tố chính sách tín dụng, ROA, tiền gửi trên cho vay, tỷ lệ chi phí hoạt động làm giảm RRTD tại các NHTM. Ngược lại VCSH trên tài sản, tổng tài sản lại làm gia tăng RRTD. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Khan và cộng sự (2023) trong nghiên cứu về các nhân tố đặc thù của NHTM ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM tại Pakistan, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của các NHTM trong giai đoạn 2007 – 2017, đồng thời sử dụng mô hình hồi quy REM để kết luận kết quả. Với nghiên cứu này nhóm tác giả sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho RRTD của NHTM là tỷ lệ nợ xấu và chỉ số Z – Score. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất sinh lời ROE, tỷ lệ thanh khoản ảnh hưởng làm gia tăng RRTD. Ngược lại, ROA, chênh lệch lãi suất và quy mô ngân hàng lại ảnh hưởng làm giảm RRTD.
Antony và Suresh (2023) trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD thực nghiệm từ các NHTM Ấn Độ, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 31 NHTM từ năm 2012 – 2021, đồng thời nhóm tác giả sử dụng các mô hình Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ xấu được lựa chọn để đại diện cho RRTD. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM, tuổi ngân hàng, loại hình sở hữu, đa dạng hóa thu nhập ảnh hưởng tích cực đến RRTD.
Ngược lại, quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời ROE, tỷ lệ chi phí hoạt động làm giảm RRTD tại các NHTM.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Kim Quốc Trung (2019) trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM tại Việt Nam, trong giai đoạn 2009-2017 với việc xem xét các biến vi mô và vĩ mô. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cùng với mô hình hồi quy theo phương pháp GMM để kiểm tra và ước lượng sự tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến NPL bao gồm tăng trưởng GDP, tỷ lệ dự phòng (LLP), tỷ lệ chi phí trên thu nhập, ROE, ROA và độ trễ một năm của biến nợ xấu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dự phòng và độ trễ một năm của nợ xấu có ảnh hưởng tích cực đến nợ xấu. Ngược lại, tăng trưởng GDP, ROE có ảnh hưởng tiêu cực đến nợ xấu và tỷ lệ chi phí trên thu nhập không ảnh hưởng đến nợ xấu.
Nguyễn Quỳnh Hoa (2020) nghiên cứu về sự tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến RRTD của các NHTM tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 16 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018. Nghiên cứu này sử dụng hồi quy đa nhân tố với phương pháp ước lượng bằng mô hình GMM hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ cùng chiều với RRTD gồm RRTD năm trước, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hiệu quả quản lý, tăng trưởng kinh tế và quy mô ngân hàng. Ngược lại, môi trường kiểm soát và lạm phát có tác động ngược chiều đến RRTD.
Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021) trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD trong hoạt động cho vay tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 23 NHTMCP niêm yết trong giai đoạn 2009 – 2019, đồng thời sử dụng phương pháp GMM với mô hình hồi quy để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nợ xấu năm trước, tỷ lệ lạm phát làm gia tăng RRTD tại các NHTM. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lại làm giảm RRTD tại các NHTM. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Phạm Hải Nam (2021) trong nghiên cứu cách thức kiểm soát RRTD tại các NHTM Việt Nam, tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 30 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2007 – 2018, đồng thời sử dụng phương pháp Bayes để kết luận. Trong đó, tỷ lệ nợ xấu được lựa chọn đại diện cho RRTD. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ cho vay, số ngày báo cáo, chất lượng kiểm toán, tuổi ngân hàng, tỷ lệ lạm phát làm ảnh hưởng tích cực đến RRTD. Ngược lại, chuyên môn hội đồng tài chính, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, đòn bẩy tài chính, quy mô ngân hàng và tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng làm suy giảm RRTD tại các NHTM.
Nguyễn Kim Quốc Trung (2022) trong nghiên cứu về các vấn đề đại diện và kiểm soát nội bộ đến RRTD tại các NHTM Việt Nam, tác giả đã sử dụng số liệu của 31 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2009 – 2019, đồng thời sử dụng các mô hình Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Trong đó, nợ xấu được tác giả sử dụng đại diện cho RRTD, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro, tỷ lệ lạm phát làm gia tăng RRTD. Ngược lại, môi trường kiểm soát, vấn đề trung gian và tỷ lệ chi phí trên thu nhập có ảnh hưởng làm giảm RRTD tại các NHTM.
Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2023) trong nghiên cứu về tác động của các nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến các NHTM Việt Nam với tiếp cận nền tảng lập trình Python, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu của 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2020, sử dụng kết quả lập trình Python để kết luận. Nhóm tác giả sử dụng tỷ lệ dự phòng RRTD để đại diện cho RRYD. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ cân bằng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu, tỷ suất sinh lợi ROA, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ CAR làm gia tăng RRTD. Ngược lại quy mô ngân hàng lại làm suy giảm RRTD.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
| Tác giả/năm | Đại diện cho RRTD | Dữ liệu nghiên cứu | Phương pháp nghiên cứu |
Kết quả nghiên cứu |
| Prastiwi và Anik (2020) | Nợ xấu | Các NHTM tại Indonesia trong giai đoạn 2015 – 2018 | Mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp OLS. | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Đa dạng hóa tín dụng. |
| Misman và Bhatti (2020) | Nợ xấu | 40 NHTM Hồi giáo thuộc khối ASEAN và Hồi giáo từ năm 2000 – 2011 | Mô hình hồi quy đa biến FEM và REM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Chất lượng tài chính. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Quy mô ngân hàng và hiệu quả quản lý. |
| Naili và Lahrichi (2020) | Tỷ lệ dự phòng RRTD, Nợ xấu | 40 công trình khác từ năm 1987 – 2019 | Tổng hợp kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD từ các nghiên cứu khác | Các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD bao gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, nợ công, thể chế môi trường, hệ số CAR, quy mô ngân hàng, hiệu quả quản lý chi phí, hiệu quả kinh doanh, tăng trưởng tín dụng, thu nhập ngoài lãi, trách nhiệm xã hội, cấu trúc sở hữu, sự cạnh tranh. |
| Naili và Lahrichi (2022) | Nợ xấu | 50 NHTM từ năm 2000 – 2019 tại các quốc gia thuộc nhóm kinh tế mới nổi của vùng Đông và Bắc Mỹ | Mô hình hồi quy FEM, REM, GMM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Hệ số an toàn vốn CAR, tỷ lệ sở hữu tập trung; nợ công, tỷ lệ thất nghiệp. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời, GDP. |
| Barra và Ruggiero (2022) | Nợ xấu | Các NHTM Italia và sự khác nhau giữa việc áp dụng Basel II, III trong giai đoạn 1994 – 2015 | Mô hình hồi quy REM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: VCSH trên tài sản, tổng tài sản. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Chính sách tín dụng, ROA, tiền gửi trên cho vay, tỷ lệ chi phí hoạt động. |
| Khan và cộng sự (2023) | Nợ xấu và Z – Score | Các NHTM tại Pakistan trong giai đoạn 2007 – 2017 | Mô hình hồi quy OLS | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Tỷ suất sinh lời ROE, tỷ lệ thanh khoản. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: ROA, chênh lệch lãi suất và quy mô ngân hàng. |
| Antony và Suresh (2023) | Nợ xấu | 31 NHTM tại Ấn Độ từ năm 2012 – 2021 | Mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM, tuổi ngân hàng, đa dạng hóa thu nhập, loại hình sở hữu. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Tỷ suất sinh lời ROE, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động. |
| Nguyễn Kim Quốc Trung (2019) | Nợ xấu | Các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009- 2017 | Mô hình hồi quy theo phương pháp GMM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Tỷ lệ DPRRTD và độ trễ một năm. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Tăng trưởng GDP, ROE. |
| Nguyễn Quỳnh Hoa (2020) | Nợ xấu | 16 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2008- 2018 | Mô hình hồi quy theo phương pháp GMM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: RRTD năm trước, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hiệu quả quản lý, tăng trưởng kinh tế và quy mô ngân hàng. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Môi trường kiểm soát và lạm phát. |
| Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021) | Nợ xấu | 23 NHTMCP niêm yết trong giai đoạn 2009 – 2019 | Mô hình hồi quy theo phương pháp GMM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Tỷ lệ nợ xấu năm trước, tỷ lệ lạm phát. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng kinh tế. |
| Phạm Hải Nam (2021) | Nợ xấu | 30 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2007 – 2018 | Phương pháp Bayes | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Tỷ lệ cho vay, số ngày báo cáo, chất lượng kiểm toán, tuổi ngân hàng, tỷ lệ lạm phát.
Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: chuyên môn hội đồng tài chính, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, đòn bẩy tài chính, quy mô ngân hàng và tốc độ tăng trưởng kinh tế. |
| Nguyễn Kim Quốc Trung (2022) | Nợ xấu | 31 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam từ 2009 – 2019 | Mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro, tỷ lệ lạm phát. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Môi trường kiểm soát, vấn đề trung gian và tỷ lệ chi phí trên thu nhập. |
| Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2023) | DPRRTD | 30 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2020 | Nền tảng lập trình Python | Nhân tố ảnh hưởng gia tăng RRTD: Tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ cân bằng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu, tỷ suất sinh lợi ROA, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ CAR. Nhân tố ảnh hưởng suy giảm RRTD: Quy mô ngân hàng. |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
Nhìn chung các nghiên cứu được các tác giả đều đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố thuộc đặc thù ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, vẫn có những khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định được:
Thứ nhất, trong các nghiên cứu trước đây thì các nhóm yếu tố nội tại và vĩ mô nền kinh tế đã được các tác giả sử dụng. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng là một trong những khía cạnh quan trọng trong việc thực hiện chức năng tài chính của các NHTM và ảnh hưởng rất nhiều đến RRTD. Trong đó, Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021) đã sử dụng hiệu ứng tuyến U để xem xét sự ảnh hưởng của tăng trưởng tín dụng đến chất lượng tín dụng tại các NHTM Việt Nam, kết quả cho thấy nếu các ngân hàng có mức tăng trưởng hợp lý thì sẽ duy trì được chất lượng nhưng nếu tại một ngưỡng không hợp lý vì buông lỏng các quy định sẽ ảnh hưởng đến RRTD. Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa cập nhật số liệu đến gần đây khi nền kinh tế Việt Nam trải qua giai đoạn Covid 19, do đó tăng trưởng tín dụng sẽ có những thay đổi hay ảnh hưởng sâu sắc đến RRTD. Mặt khác, các nghiên cứu tại Việt Nam vẫn chưa tập trung nhiều vào tăng trưởng tín dụng đến RRTD.
Thứ hai, các NHTM Việt Nam có hai nhóm là sở hữu Nhà nước trên 50% và ngược lại. Đối với hai nhóm này thì định hướng về phát triển dư nợ tín dụng sẽ có phần khác biệt do đó sẽ ảnh hưởng đến nguy cơ phát sinh RRTD. Hay nói cách khác, khi có sở hữu Nhà nước nhiều thì chiến lược tăng trưởng tín dụng hay khẩu vị RRTD sẽ có phần khác biệt so với các NHTM tư nhân. Tuy nhiên, qua lược khảo các nghiên cứu vẫn chưa tập trung vào cấu trúc sở hữu của các NHTM. Vì vậy, tạo ra khoảng trống nghiên cứu cần nghiên cứu.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương này đã tổng hợp khung lý thuyết nền tảng liên quan đến RRTD, các chỉ tiêu đo lường RRTD tại các NHTM và các nhân tố ảnh hưởng đến nó qua các nghiên cứu trước đây. Đồng thời, trong chương này đã lược khảo các nghiên cứu liên quan trong nước và nước ngoài để xác định được các khoảng trống nghiên cứu, từ đó tạo cơ sở cho chương 3 để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng […]